Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ ñến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng dưa chuột bản ñịa của ñồng bào H’Mông tại 3.2.2.. Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
NGUYỄN QUỐC VIỆT
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT THÂM CANH DƯA CHUỘT BẢN ðỊA CỦA ðỒNG BÀO H'MÔNG
TẠI MỘC CHÂU - SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : TRỒNG TRỌT
Mã số: 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THỊ MINH HẰNG
HÀ NỘI – 2012
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam ñoan rằng các thông tin trích dẫn sử dụng trong luận văn ñều ñược ghi rõ nguồn gốc và mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn
Tác giả luận văn
NGUYỄN QUỐC VIỆT
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện ựề tài và hoàn thành luận văn này, tôi ựã nhận ựược sự quan tâm, giúp ựỡ của các thầy, cô giáo, các tập thể, cá nhân cùng bạn bè ựồng nghiệp
Lời ựầu tiên cho tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ựến TS Trần Thị Minh Hằng, ựã tận tình hướng dẫn, giúp ựỡ và truyền thụ kiến thức cho tôi trong suốt quá trình thực hiện ựề tài cũng như hoàn chỉnh luận văn
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Lãnh ựạo Viện đào tạo sau ựại học, các thầy cô giáo Bộ môn Rau Ờ Hoa Ờ Quả - cây cảnh, Khoa Nông học, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội ựã giúp ựỡ và tạo mọi ựiều kiện thuận lợi trong quá trình học tập cũng như thời gian tôi thực hiện ựề tài và hoàn thành công trình nghiên cứu này
Cuối cùng tôi xin cảm ơn bạn bè, ựồng ghiệp, gia ựình và người thân ựã luôn tạo ựiều kiện thuận lợi, khắch lệ, ựộng viên giúp ựỡ tôi trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 09 tháng 09 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Việt
Trang 42.2 Yêu cầu ñiều kiện ngoại cảnh của cây dưa chuột 6
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật canh tác dưa
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về thời vụ trồng dưa chuột 10
2.3.2 Tình hình nghiên cứu về khoảng cách, mật ñộ trồng dưa chuột 11
2.3.3 Tình hình nghiên cứu về tỉa nhánh cho dưa chuột 14
Trang 52.3.4 Tình hình nghiên cứu về liều lượng bón phân NPK cho dưa chuột 16 2.3.5 Tình hình nghiên cứu về sử dụng phân bón lá trong sản xuất nông
3.1 Vật liệu, ñịa ñiểm, và thời gian nghiên cứu 22
3.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ ñến sinh trưởng phát triển, năng
suất và chất lượng dưa chuột bản ñịa của ñồng bào H’Mông tại
3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp với biện pháp
tỉa nhánh ñến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng dưa chuột bản ñịa của ñồng bào H’Mông tại Mộc Châu - Sơn La 23 3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón NPK ñến sinh
trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng dưa chuột bản ñịa
3.2.4 Nội dung 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của số lần phun phân bón lá
Pomior ñến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng dưa chuột bản ñịa của ñồng bào H’Mông tại Mộc Châu - Sơn La 24
Trang 64.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến sinh trưởng
phát triển và năng suất, phẩm chất của giống dưa chuột bản ñịa
4.1.1 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến thời gian qua các giai ñoạn sinh
trưởng phát triển của giống dưa chuột bản ñịa H'Mông 28 4.1.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến khả năng sinh trưởng của giống
4.1.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến khả năng ra hoa ñậu quả của dưa
4.1.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất của dưa chuột bản ñịa H'Mông 32 4.1.5 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến tình hình nhiễm sâu bệnh hại trên
ñồng ruộng, cấu trúc và chất lượng quả của dưa chuột bản ñịa
4.2 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp biện pháp cắt tỉa ñến
quá trình sinh trưởng phát triển và năng suất, phẩm chất của Dưa
4.2.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp với
biện pháp cắt tỉa nhánh ñến thời gian qua các giai ñoạn sinh trưởng
4.2.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp với
biện pháp cắt tỉa nhánh ñến khả năng sinh trưởng phát triển của dưa
4.2.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp với
biện pháp cắt tỉa nhánh ñến khả năng ra hoa ñậu quả của dưa chuột
Trang 74.2.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp với
biện pháp cắt tỉa nhánh ñến tình hình nhiễm sâu bệnh hại trên ñồng ruộng, cấu trúc và chất lượng quả của dưa chuột bản ñịa H'Mông 41 4.2.5 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp với
biện pháp cắt tỉa nhánh ñến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của dưa chuột bản ñịa của ñồng bào H'Mông 43 4.2.6 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp với
biện pháp cắt tỉa nhánh ñến cấu trúc và chất lượng quả của dưa
4.3 Ảnh hưởng của liều lượng bón NPK (13:13:13) ñến quá trình sinh
trưởng phát triển và năng suất, phẩm chất của Dưa chuột bản ñịa
4.3.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón NPK (13:13:13)
ñến thời gian qua các giai ñoạn sinh trưởng chủ yếu của dưa chuột
4.3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón NPK (13:13:13)
ñến khả năng sinh trưởng của dưa chuột bản ñịa H’Mông 49 4.3.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón NPK (13:13:13)
ñến khả năng sinh ra hoa ñậu quả của dưa chuột bản ñịa H’Mông 50 4.3.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón NPK (13:13:13)
ñến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của dưa chuột bản
4.3.5 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón NPK (13:13:13)
ñến tình hình nhiễm sâu bệnh hại trên ñồng ruộng, cấu trúc và chất
4.4 Ảnh hưởng của thời gian phun phân bón lá Pomior ñến sinh trưởng,
phát triển, năng suất và chất lượng dưa chuột bản ñịa H’Mông 57
Trang 84.4.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phun phân bón lá
Pomior ñến thời gian qua các giai ñoạn sinh trưởng chủ yếu của
4.4.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phun phân bón lá
Pomior ñến khả năng sinh trưởng của dưa chuột bản ñịa H’Mông 58 4.4.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phun phân bón lá
Pomior ñến khả năng sinh ra hoa ñậu quả của dưa chuột bản ñịa
4.4.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phun phân bón lá
Pomior ñến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của dưa
4.4.5 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phun phân bón lá
Pomior ñến tình hình nhiễm sâu bệnh hại trên ñồng ruộng, cấu trúc
và chất lượng quả của dưa chuột bản ñịa H'Mông 62
Trang 10DANH MỤC BẢNG
4.1 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến thời gian qua các giai ñoạn
sinh trưởng chủ yếu của giống dưa chuột bản ñịa H'Mông 28 4.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến một số chỉ tiêu sinh trưởng
4.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến khả năng ra hoa ñậu quả
4.4 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến yếu tố cấu thành năng suất và
4.5 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến tình hình nhiễm sâu bệnh hại
trên ñồng ruộng, cấu trúc và chất lượng quả của dưa chuột bản
4.6 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp với biện pháp tỉa
nhánh ñến thời gian qua các giai ñoạn sinh trưởng chủ yếu của
4.7 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp với tỉa nhánh ñến
khả năng sinh trưởng phát triển của dưa chuột bản ñịa H'Mông 38 4.8 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp với tỉa nhánh ñến
khả năng ra hoa ñậu quả của dưa chuột bản ñịa H'Mông 40 4.9 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp với tỉa nhánh ñến
tình hình nhiễm sâu bệnh hại trên ñồng ruộng của dưa chuột bản
4.10 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp với tỉa nhánh ñến
yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của dưa chuột bản ñịa
4.11 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp với tỉa nhánh ñến
cấu trúc và chất lượng quả dưa chuột bản ñịa H'Mông 45
Trang 114.12 Ảnh hưởng của liều lượng bón NPK (13:13:13) ñến thời gian
qua các giai ñoạn sinh trưởng chủ yếu của dưa chuột bản ñịa
4.13 Ảnh hưởng của liều lượng bón NPK (13:13:13) ñến khả năng
4.14 Ảnh hưởng của liều lượng bón NPK (13:13:13) ñến khả năng
4.15 Ảnh hưởng của liều lượng bón NPK (13:13:13) ñến yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất của dưa chuột bản ñịa H’Mông 51 4.16 Ảnh hưởng của liều lượng bón NPK (13:13:13) ñến tình hình
nhiễm sâu bệnh hại trên ñồng ruộng, cấu trúc và chất lượng quả
4.17 Hiệu lực của phân NPK ñến năng suất dưa chuột bản ñịa
4.18 Hiệu quả kinh tế khi sản xuất 1 ha dưa chuột bản ñịa với lượng
4.19 Ảnh hưởng của số lần phun Pomior ñến thời gian qua các giai
ñoạn sinh trưởng chủ yếu của dưa chuột bản ñịa H’Mông 57 4.20 Ảnh hưởng của số lần phun Pomior ñến khả năng sinh trưởng
4.21 Ảnh hưởng của số lần phun Pomior ñến khả năng ra hoa ñậu
4.22 Ảnh hưởng của số lần phun Pomior ñến yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất của dưa chuột bản ñịa H’Mông 61 4.23 Ảnh hưởng của số lần phun Pomior ñến tình hình nhiễm sâu
bệnh hại trên ñồng ruộng, cấu trúc và chất lượng quả của dưa
Trang 12DANH MỤC HÌNH
4.1 Vườn dưa của ñồng bào H’mông trồng trên nương ngô và vườn
4.2 Chiều dài quả dưa chuột bản ñịa H’Mông tại các công thức thí
nghiệm khoảng cách kết hợp cắt tỉa khác nhau 46
Trang 131 MỞ ðẦU
1.1.Tính cấp thiết của ñề tài
Dưa Chuột bản ñịa của ñồng bào H’Mông có tên khoa học là Cucumis
sativus L., thuộc họ bầu bí Cucurbitaceae ðây là giống dưa chuột ñặc sản bản
ñịa ñược cộng ñồng dân tộc H’mông thuộc các tỉnh vùng cao Tây Bắc như Sơn
La, ðiện Biên, Lai Châu gây trồng và giữ giống từ lâu ñời Quả có ñặc ñiểm rất
to, ruột trắng, cùi dày, khả năng chịu bảo quản cao, nhiều hạt, vỏ quả trơn bóng, màu xanh sáng xen lẫn những vết sọc xanh mờ, ăn giòn, ngọt mát và có mùi rất thơm ñặc trưng của dưa chuột ðây là lợi thế của dưa chuột bản ñịa so với các loại dưa chuột hiện ñang ñược sản xuất rộng rãi
Tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, loại dưa chuột này ñược bà con ñồng bào H’mông ở các xã vùng cao trồng duy nhất một vụ trong năm, trồng xen trong các nương ngô, nương lúa như một sản phẩm phụ vừa ñể lấy quả ăn, vừa ñem bán cho khách du lịch ven quốc lộ 6 ñể tăng thêm nguồn thu Hiện tại dưa chuột bản ñịa của ñồng bào H’Mông thường trồng vào ñầu mùa mưa, tháng 2 - 3 ñể thu hoạch cùng với ngô tháng 6 - 7, mỗi cây dưa chuột bản ñịa cho 2 - 3 quả, mỗi sào thường cho sản lượng 200 - 300 kg
Với lợi thế là loại cây bản ñịa ñặc sản, có giá trị kinh tế cao, dưa chuột bản ñịa của ñồng bào H’Mông hiện nay không chỉ cung cấp cho người dân ñịa phương mà còn cung cấp cho khách du lịch, các nhà hàng, khách sạn và thị trường Hà Nội Giá bán dưa chuột bản ñịa trên thị trường khá cao, giá bán tại các chợ ñịa phương dao ñộng từ 10.000 - 15.000 ñồng/kg, ñắt hơn nhiều so với dưa chuột thông thường Nắm bắt ñược ñiều ñó, gần ñây
ñã có một số hộ gia ñình tự phát chuyển cây dưa chuột bản ñịa của ñồng bào H’Mông từ vị trí, vai trò là cây trồng phụ trên nương sang gieo trồng và sản xuất tại vườn nhà nhằm cung cấp sản phẩm cho thị trường, mang lại nguồn thu nhập ñáng kể cho gia ñình
Trang 14Trước thực trạng trên, ngành nông nghiệp tỉnh Sơn La nói chung, huyện Mộc Châu nói riêng ựang rất quan tâm ựến việc mở rộng diện tắch trồng dưa chuột bản ựịa ựể ựáp ứng nhu cầu của thị trường, góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân ựịa phương Tuy nhiên, sản xuất dưa chuột bản ựịa của ựồng bào HỖMông tại các ựịa phương hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm canh tác truyền thống của cộng ựộng, người dân chưa có cơ hội ựược tiếp cận với những tiến bộ kỹ thuật mới Việc nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dưa chuột bản ựịa theo hướng tăng năng suất, cải tiến chất lượng là rất cần thiết nhằm xây dựng quy trình canh tác hợp lý giống dưa chuột này cho người dân ựịa phương
Xuất phát từ những phân tắch và nhận ựịnh trên, chúng tôi tiến hành thực
hiện ựề tài: ỘNghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh dưa chuột
bản ựịa (Cucumis sativus L.) của ựồng bào HỖMông tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn LaỢ
1.2 Mục ựắch và yêu cầu
1.2.1 Mục ựắch
Xác ựịnh ựược thời vụ, khoảng cách trồng kết hợp với biện pháp tỉa nhánh, liều lượng bón phân NPK và phân bón lá Pomior thắch hợp nhằm tăng năng suất và chất lượng dưa chuột bản ựịa của ựồng bào HỖMông trồng tại Mộc Châu - Sơn La, trên cơ sở ựó xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh dưa chuột bản ựịa của ựồng bào HỖmông theo hướng sản xuất hàng hoá tại ựịa phương
1.2.2 Yêu cầu
đánh giá ựược ảnh hưởng của thời vụ trồng, khoảng cách trồng kết hợp biện pháp tỉa nhánh, liều lượng bón phân NPK và phun phân bón lá Pomior ựến khả năng sinh trưởng, phát triển, tình hình sâu bệnh hại, năng suất và chất lượng của giống dưa chuột bản ựịa của ựồng bào HỖMông trồng tại huyện Mộc Châu - tỉnh Sơn La
đánh giá ựược hiệu quả bón phân và hiệu quả kinh tế cho sản xuất dưa chuột bản ựịa HỖMông trong ựiều kiện canh tác của ựịa phương
Trang 151.3 Ý nghĩa của ñề tài:
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của ñề tài là cơ sở cho việc xây dựng quy trình sản xuất thâm canh dưa chuột bản ñịa của ñồng bào H’Mông tại Mộc Châu - Sơn La; cung cấp các dẫn liệu khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo trên các giống dưa chuột bản ñịa của Việt Nam
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của ñề tài là những ñóng góp có ý nghĩa thiết thực trong việc phát triển sản xuất giống dưa chuột bản ñịa của ñồng bào H’Mông tại Mộc Châu - Sơn La, nâng cao hiệu quả sản xuất, góp phần xoá ñói giảm nghèo cho nông dân của huyện Mộc Châu - tỉnh Sơn La
Trang 162 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc, phân bố của cây dưa chuột
Dưa chuột (Cucumis sativus L.) cĩ lịch sử canh tác lâu đời, được phát
hiện ở hầu hết các châu lục, Nhiều tài liệu cho rằng, hầu hết các loại dưa chuột
ở Châu Phi cĩ nguồn gốc từ dãy núi Hymalya, nơi cĩ nhiều lồi dưa chuột hoang dại cĩ quan hệ chặt chẽ với lồi Cucumis hardwckii Royle [11]
Theo Kallo (1988) cho rằng Trung Quốc là trung tâm thứ hai hình thành cây dưa chuột bởi các giống dưa chuột Trung Quốc cĩ hàng loạt tính trạng lặn cĩ giá trị như quả dài, tạo quả khơng qua thụ tinh (Partenogenez), gai quả trắng, khơng đắng…
Các tài liệu cổ khác của Trung Quốc cho rằng ngay từ thế kỷ thứ IV ở đây đã cĩ trồng dưa chuột Từ việc phát hiện ra dạng cây cĩ hồn tồn hoa cái trong tập đồn giống từ Trung Quốc, giống như các dạng cây này của Nhật được phát hiện trước đĩ, Merezhko A.F (1984) [44], cho rằng dưa chuột Trung Quốc được trồng từ lâu ở những vùng cĩ điều kiện tương đối giống như điều kiện của Nhật Tác giả cũng giả định rằng dưa chuột Nhật và Trung Quốc cĩ cùng một nguồn gốc
Qua các di chỉ khảo cổ, các thư tịch cũ, nhiều tài liệu xác định sự tồn tại của dưa chuột ở các vùng Trung Á từ 3000 năm trước (Decandole A.P 1984) [28] Hiện nay dưa chuột được trồng hầu như khắp các vùng nơng nghiệp trên thế giới (ðồn Ngọc Lân, 2006) [9] Swiader, J.M., và CS (1996) [59] đã viết: “cây dưa chuột cĩ nguồn gốc từ Ấn ðộ cách đây khoảng 3000 năm Từ Ấn ðộ nĩ được mang đến Italia, Hy Lạp… và mãi về sau nĩ mới được đưa đến Trung Quốc Cây dưa chuột cĩ mặt ở châu Âu là từ Italia và nhiều sử sách ghi lại rằng nĩ cĩ ở Pháp từ những năm đầu của thế kỷ IX, ở Anh từ thế kỷ XIV và ở Bắc Mỹ từ giữa thế kỷ XVI, lồi cây này ngày nay đã mất đi tổ tiên và nơi phát sinh, đặc biệt là nĩ đã cho nhiều dịng mới
ở mức độ cao hơn” Khi tìm hiểu nguồn gốc phát sinh của các loại cây trồng, nhà thực vật nổi tiếng người Ấn ðộ Chakrovarty (1956) [26] cũng cho rằng dưa chuột
Trang 17hoang dại cho ựến nay vẫn chưa ựược xác ựịnh Tuy vậy hiện nay vẫn song song tồn tại các ý kiến khác nhau về nguồn gốc của loại cây này Nhiều nhà nghiên cứu ựã thống nhất với ý kiến ựầu tiên của Decadole A.P (1984) [28] rằng dưa chuột có nguồn gốc từ Tây Bắc Ấn độ Các tác giả ựó chứng minh sự tồn tại hơn hai nghìn năm của dưa chuột ở vùng này và cho rằng từ ựây chúng lan dần sang phắa Tây và xuống phắa đông
Ở nước ta, việc phát hiện ra các dạng cây dưa chuột dại, quả rất nhỏ mọc tự nhiên ở các vùng đồng bằng Bắc bộ và các dạng dưa chuột quả to, ựang mọc hoang dại ở các vùng núi cao phắa bắc Việt Nam ựã khẳng ựịnh nguồn gốc phát sinh khác của loại cây này (Phan đình Phụng, 1975; Taracanov, Dgiôn, Trần Khắc Thi, 1977; Trần Khắc Thi, Vũ Tuyên Hoàng, 1979)[15] Lịch sử nước ta cũng ựã ghi nhận sự tồn tại lâu ựời của dưa chuột như một trong số những cây trồng ựầu tiên của tổ tiên ta: ỘẦ Trước thời ựại Hùng Vương, chủ nhân của các nền văn hóa Hoà Bình, Bắc Sơn, Quỳnh Văn
ựã biết trồng cây ăn quả, cây có củ, rau, ựậu, dưa các loại,ẦỢ Tuy nhiên dưa chuột ựược trồng từ bao giờ ựến nay vẫn chưa ựược rõ Tài liệu sớm nhất có nhắc ựến dưa chuột là sách ỘNam phương thảo mộc trạngỢ của Kế Hàm có từ năm Thái Khang thứ 6 (285) giới thiệu: ỘẦ cây dưa leo hoa vàng, quả dài cỡ gang tay, ăn mát vào mùa hèỢ Mô tả rõ hơn cả là cuốn ỘPhủ biên tạp lụcỢ (năm 1775) Lê Quý đôn ựã ghi rõ tên dưa chuột và vùng trồng là đàng Trong (từ Quảng Bình ựến Hà Tiên) và Bắc Bộ [7]
Nghiên cứu ựặc tắnh sinh vật học của các giống dưa chuột Việt Nam Trần Khắc Thi, Vũ Tuyên Hoàng (1979) ựã phân các giống hiện nay thành 2 kiểu sinh thái (ecotype): Miền núi và ựồng bằng Kiểu sinh thái miền núi có nhiều ựặc tắnh hoang dại và thắch ứng với ựiều kiện (chịu lạnh, chống bệnh phấn trắng, phản ứng chặt với ựộ dài ngàyẦ); kiểu sinh thái ựồng bằng có thể là sản phẩm tiến hóa của dưa chuột miền núi ựột biến và tác ựộng của con người trong quá trình canh tác và chọn lọc
Trang 18Cho ñến nay cây dưa chuột ñược trồng rộng khắp Việt Nam từ Bắc chí Nam với diện tích năm 2003 là 18,409 ha Với những tài liệu thu thập ñược chứng tỏ vật liệu di truyền của dưa chuột ở nước ta rất phong phú, cơ sở cho công tác nghiên cứu chọn tạo giống dưa chuột
2.2 Yêu cầu ñiều kiện ngoại cảnh của cây dưa chuột
2.2.1 Yêu cầu về nhiệt ñộ
Dưa chuột thuộc nhóm cây trồng nông nghiệp ưa nhiệt Theo số liệu của nhiều nhà nghiên cứu, nhiệt ñộ bắt ñầu cho cây sinh trưởng ở khoảng 12-150C, nhiệt ñộ tối thích 25-
300C Vượt khỏi ngưỡng nhiệt ñộ này, các hoạt ñộng sống của cây bị dừng lại, còn nếu hiện tượng này kéo dài cây sẽ bị chết ở nhiệt ñộ 35-400C (Alexanyan S.M 1994) [20], Theo Benett P.J et al 2001 [22] nhiệt ñộ thích hợp cho dưa chuột sinh trưởng, phát triển là 18,3-23,90C, nhiệt ñộ tối thấp là 15,60C và tối cao là 32,20C Theo Mai Thị Phương Anh và
CS (1996) [1] thì nhiệt ñộ thích hợp cho dưa chuột sinh trưởng phát triển là 25-300C, nhiệt
ñộ cao từ 35-400C kéo dài cây sẽ chết Nhiệt ñộ dưới 150C cây sẽ bị rối loạn ñồng hóa và dị hóa, các giống sinh trưởng khó khăn, ñốt ngắn, lá nhỏ, hoa ñực màu vàng nhạt (Tạ Thu Cúc, 2007) [3] Hạt dưa chuột có sức sống cao, tốt có thể nảy mầm ở nhiệt ñộ thấp từ 12-
130C Nhiệt ñộ ñất tối thiểu phải ñạt 160C Ở nhiệt ñộ này hạt nảy mầm sau 9-16 ngày, nếu nhiệt ñộ ñất khoảng 210C thì hạt sẽ nảy mầm sau 5-6 ngày Do vậy mà các nhà khoa học ñã nghiên cứu ñể rút ngắn thời gian nảy mầm, tỷ lệ nảy mầm cao cũng như nảy mầm ñều ñể ñảm bảo thời gian cho thu hoạch (Tatlioglu, 1993) Trồng dưa chuột ngoài ñồng nếu gặp nhiệt ñộ 12,80C kéo dài sẽ gây hại cho cây (Wayne L Schrader, aguiar J.L., Mayberry K.S 2002) Nhiệt ñộ quá cao sẽ gây hiện tượng quả có màu nhạt, quả có thể bị ñắng (Motes J.;
W Roberts và CS 1999) [44]
Dưa chuột là cây rất mẫn cảm với nhiệt ñộ thấp, do ñó không thể bảo quản dưa chuột trong thời gian dài ở nhiệt ñộ 7-100C (Jennifer và CS 2000) [36] Theo Kapitsimadi C.M và cộng sự (1991) [39], khi nghiên cứu tác ñộng của nhiệt ñộ ñến sinh trưởng và khả năng bảo quản của 4 giống dưa chuột cho thấy: nếu chiếu sáng 21 giờ ở nhiệt ñộ 120C cây con sẽ bị chết Còn khi bảo quản ở nhiệt ñộ 11,
Trang 1912 và 140C thì cho kết quả các giống khác nhau có ñộ mẫm cảm với nhiệt ñộ thấp khác nhau, kết quả nghiên cứu cho thấy giữa nhiệt ñộ tối thiểu cho hạt nảy mầm
và nhiệt ñộ bảo quản của các giống có tương quan chặt chẽ
Nghiên cứu của Helmy Y.I và CS (1999) [33] cho thấy khi huấn luyện cây con từ chế ñộ nhiệt 250C xuống 120C trong 2-3 ngày và chuyển trực tiếp từ 250C xuống nhiệt ñộ xử lý 60C thì cây sẽ ra hoa sớm hơn 5 ngày và năng suất cao hơn ñối chứng Như vậy, nếu huấn luyện cây con ở nhiệt ñộ thấp sẽ tăng tính chịu rét ở dưa chuột
Tổng số nhiệt ñộ không khí trung bình ngày ñêm cần thiết cho sinh trưởng, phát triển dưa chuột vào khoảng 1.500 - 2.5000C, còn ñể cho quá trình tạo quả thương phẩm là 800 - 10000C (Kulturnaya và CS, 1994) [40]
Bộ rễ cây trong ñiều kiện lạnh trong một thời gian ngắn ảnh hưởng trực tiếp ñến bộ lá cây Trường hợp bộ rễ bị lạnh kéo dài sẽ làm chết một phần rễ có chức năng hút các chất dinh dưỡng, do vậy sẽ dẫn ñến hiện tượng phá vỡ sự tương quan giữa bộ rễ và bộ phận thân lá và kết quả cuối cùng là cây bị chết Kết quả thí nghiệm của Tarocanov G (1975) [60] ñã chứng minh rằng hiện tượng chết rễ do lạnh diễn ra chậm hơn so với các giống phía Bắc Cũng ở ñây, tác giả quan sát thấy trong ñiều kiện ñất trồng lạnh, có hiện tượng giảm sút các chất dinh dưỡng, trước tiên là photpho, giảm tốc ñộ vận chuyển các chất khoáng từ rễ lên cây và các sản phẩm quang hợp từ lá xuống rễ
ðể có sản phẩm dưa chuột vào tháng 3 - 4 góp phần giải quyết hiện tượng khan hiếm rau trong kỳ giáp vụ thứ nhất và ñể trồng dưa chuột trong vụ ñông ở phía Bắc nước ta, rất cần thiết có các giống dưa chuột chịu lạnh cao ðể giải quyết công việc này, các nhà chọn giống có thể sử dụng các giống dưa chuột ñịa phương của Việt Nam và Trung Quốc làm vật liệu khởi ñầu do chúng có biểu hiện khả năng chống chịu với ñiều kiện bất thuận trên (Trần Khắc Thi, Vũ Tuyên Hoàng, 1979; Trần Khắc Thi, Phạm Mỹ Linh, 2006) [15], [16]
Trang 20Cường ñộ ánh sáng 15.000 - 17.000 Klux thích hợp cho dưa chuột sinh trưởng, phát triển giúp cho cây tăng hiệu suất quang hợp, tăng năng suất, chất lượng quả và rút ngắn thời gian lớn của quả (Mai Thị Phương Anh và CS 1996, Trần Khắc Thi, 2003) [1], [13] Trong ñiều kiện cường ñộ ánh sáng thấp cây sinh trưởng yếu, thậm chí rất khó hồi phục mặc dù sau ñó ñược cung cấp ñầy ñủ ánh sáng (Lin W.C và CS 2000) [40] Theo Jolliefe P.A.; W.C Lin, 1997 [37], hiệu quả của việc tỉa thưa cành và che bóng cho quả ñã cải thiện ñược tốc ñộ tăng trưởng quả, màu sắc quả và diệp lục của vỏ quả
Chất lượng ánh sáng có tác dụng làm tăng hoặc giảm màu sắc quả và ảnh hưởng tới thời gian bảo quản quả sau thu hoạch Nghiên cứu của Lin W.C và CS., 2000 [40] với giống dưa chuột quả dài trồng trong nhà kính cho thấy: vào mùa hè dùng lớp lọc ñể giảm cường ñộ ánh sáng hoặc biến ñổi quang phổ ánh sáng ảnh hưởng tới thời gian bảo quản quả dưa chuột
2.2.3 Yêu cầu về ẩm ñộ
Trong quả dưa chuột chứa 90 % nước Tuy lượng nước chứa trong cây có thấp hơn nhưng lượng nước thoát hơi của nó là vô cùng lớn Hệ số thoát hơi nước, một chỉ tiêu xác ñịnh hiệu quả sử dụng nước của cây thông qua lượng nước mà cây
Trang 21hút từ ñất ñối với dưa chuột dao ñộng trong khoảng từ 450 - 700 (Suin K., 1974) [56] Yêu cầu của dưa chuột với ñộ ẩm của không khí và nhất là do hàng loạt ñặc ñiểm sinh vật học của nó quyết ñịnh Tập hợp tất cả các ñặc tính có liên quan tới mức cân bằng ñộ ẩm ñã chứng tỏ mức ñộ ưa nước cao của loại cây này Philov A (1940-1960) (dẫn theo Trần Khắc Thi, 1985) [14] ñã chứng minh rằng nhóm sinh thái ưa hạn Tây Á có ñặc ñiểm khác biệt là lá tròn to, nhăn, gân lá mỏng, vỏ quả dày, gai to, mô quả hình thành từ tế bào dài, thành tế bào mỏng, thân và quả mềm, chứa lượng nước lớn
Nguyên nhân chính sự mẫn cảm cao ở dưa chuột tới ñộ ẩm không khí và ñất; theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu là do bộ rễ của cây yếu (Rukovodstvo,1939) [53] Ngoài ra, ở các loại cây này lượng nước chứa trong tế bào lớn do cấu tạo tế bào lớn và ñộng thái sinh trưởng của cây rất cao (Ivanov A.I.,1983) [34]
Ngoài ra, các nghiên cứu ảnh hưởng của ñộ ẩm không khí tới dưa chuột còn ñược thấy trong các báo cáo của Boos G.V và CS (1990) [24] Các thí nghiệm này ñã chứng minh rằng, giảm ñộ ẩm không khí có tác ñộng nghịch, trước tiên tới chiều dài thân, cành, nhất là trong trường hợp ñộ ẩm của ñất cũng giảm Ở dưa chuột, hoa cái phân bố phần lớn ở các cành, sự thay ñổi ñộ ẩm không khí và ñất liên quan tới chiều cao thân chính và lượng cành các cấp, ñất
có liên quan tới năng suất của cây
2.2.4 Yêu cầu về dinh dưỡng khoáng
Như ñã nói ở trên cây dưa chuột có nguồn gốc từ vùng nhiệt ñới ẩm nên cây ñã quen thích nghi với ñiều kiện dinh dưỡng ñầy ñủ trên bề mặt của lớp ñất rừng nhiệt ñới ẩm Trong ñiều kiện trồng trọt nó ñòi hỏi nền dinh dưỡng cao trong ñất Do bộ rễ phát triển yếu, phân bố chủ yếu trên bề mặt ñất nên dưa chuột không có khả năng sử dụng các chất dinh dưỡng ở tầng sâu hơn của ñất Mặt khác, là loại cây có thời gian sinh trưởng ngắn, tốc ñộ hình thành các cơ quan sinh dưỡng cao và tất cả các quá trình này ñều phụ thuộc chặt chẽ vào môi trường bên ngoài (ánh sáng, nhiệt ñộ, ñộ ẩm không khí và ñất) (Harazono, Y và
CS 1984) [31]
Trang 22Sự thiếu hụt một vài yếu tố dinh dưỡng ở dưa chuột ñã ñược nghiên cứu
và rút ra kết luận như sau:
- Thiếu ñạm cây bắt ñầu có màu xanh nhạt, sinh trưởng chậm, lá già có màu trắng bợt bắt ñầu từ mép lá hướng vào trong
- Thiếu kali: cây sinh trưởng chậm, lá xanh nhạt bề mặt lá xuất hiện những ñám màu xanh, trắng xen kẽ nhau, mép lá xoăn lại, lá non mất diệp lục
- Thiếu Magiê: Cây sinh trưởng chậm, lá nhỏ, rải rác những ñốm lá chết trên phiến lá Sau những ñốm lá chết ñó lan rộng ra và kết hợp với nhau làm lá khô, cuối cùng chết cả lá
- Thiếu lưu huỳnh: Lá cuối cùng có màu xanh nhạt, những lá dưới có màu xanh bình thường
- Thiếu lân: Cây sinh trưởng chậm, lá chuyển từ màu xanh ñậm sang màu ghi làm lá khô và chết
- Thiếu canxi: Cây sinh trưởng bình thường, lá ít màu xanh (ít diệp lục) mép lá xoăn, khô cứng
- Thiếu Bo: Cây sinh trưởng chậm, lá trở nên dày, xanh ñậm, ñỉnh ngọn khô héo, những lá gốc chuyển màu nâu và xoăn mép lá lại [1]
Cùng với nồng ñộ dung dịch muối trong ñất, ñộ chua có ý nghĩa quan trọng ñối với dưa chuột Theo KAYA và CS. (2003) [38] dưa chuột thuộc nhóm các cây rau mẫn cảm với phản ứng chua của dung dịch ñất ðiều kiện thích hợp nhất cho sinh trưởng, phát triển và tạo quả của loài cây này là nền ñất hơi chua (pH: 5-5,5)
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật canh tác dưa chuột ở trong và ngoài nước:
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về thời vụ trồng dưa chuột
Trong ñiều kiện ñồng bằng, trung du Bắc Bộ nhiệt ñộ trung bình từ 18 –
240C thì có thể bố trí thời vụ hợp lý ñể tăng vụ, dưa chuột có thể trồng 2 vụ là xuân hè và thu ñông Vụ Xuân là vụ chính, gieo hạt cuối tháng giêng ñầu tháng 2 thời tiết lúc này vẫn còn rét nên tiến hành gieo hạt vào trong bầu, Nếu gieo sớm
Trang 23hơn, thời tiết quá lạnh sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng và cây sinh trưởng yếu
Vụ thu ñông gieo cuối tháng 9 ñầu tháng 10, ñối với một số giống chịu lạnh tốt
có thể gieo cuối tháng 10 ñầu tháng 11 (Tạ Thu Cúc và CS., 1998)[4]
Cây dưa chuột phát triển thích hợp ở vùng nhiệt ñới, nhiệt ñộ ngày thích hợp cho dưa tăng trưởng là 300C và nhiệt ñộ ban ñêm 24 – 260C Ở các tỉnh miền Nam và miền Trung có thể trồng dưa leo quanh năm Cây dưa leo phát triển tốt trong mùa mưa hơn mùa khô, các vụ trồng có những thuận lợi và khó khăn khác nhau:
- Vụ hè thu: gieo vào tháng 4, 5, 6 mùa này ñễ trồng dưa cho năng suất cao, ít sâu bệnh, ít tốn công tưới nước
- Vụ thu ñông: gieo vào tháng 7, 8, 9 mùa này mưa nhiều, ñậu trái kém dễ
bị bệnh ñốm phấn
- Vụ ñông xuân: gieo vào tháng 10, 11, 12 vụ này ít mưa, thường có dịch
bọ trĩ, sâu vẽ bùa và bệnh ñốm phấn nên phải có biện pháp phòng trừ tốt
- Vụ xuân hè: gieo vào tháng 1, 2, 3 mùa này không mưa, nhiệt ñộ cao, nếu tưới không ñủ nước cây sinh trưởng kém, quả thường bị ñắng, bọ trĩ sâu xanh thường xuất hiện nhiều, ảnh hưởng năng suất rất lớn (http://Trangnong.com.vn)[68]
2.3.2 Tình hình nghiên cứu về khoảng cách, mật ñộ trồng dưa chuột
Khoảng cách và mật ñộ lý tưởng là hai vấn ñề làm tăng năng suất và chất lượng ñến mức cao nhất nhưng chi phí không tăng lên quá mức Thông thường, tất cả các cây trồng có xu hướng làm tăng năng suất trên một ñơn vị diện tích khi tăng mật ñộ cây trồng nhưng chỉ tăng tới một giới hạn nhất ñịnh Vượt qua giới hạn này, năng suất có thể không tăng nữa và thậm chí còn giảm xuống Mỗi phương thức sản xuất khác nhau sẽ có một khoảng cách trồng thích hợp khác nhau [5]
Tại Michigan, dưa chuột ñược thu hoạch duy nhất một lần bằng cơ giới
ðể tối ưu hóa năng suất cũng như kích thước quả dưa chuột thương phẩm, trong nhiều trường hợp, người sản xuất thường sử dụng mật ñộ cao ñể trồng với hơn
Trang 24300.000 cây/ha (Cantliffe, Phatak, 1975) [25] Từ những năm 2003, người dân
ñã trồng dưa chuột với khoảng cách hàng x cây thu hẹp ñến 28 x 10 cm, tương ứng với mật ñộ khoảng 355.000 cây/ha [25]
Mật ñộ trồng cao có thể làm tăng ñộ ẩm trong tán cây và gia tăng thời gian ẩm ướt của lá, làm giảm sự thâm nhập và chuyển ñộng của không khí và ánh sáng mặt trời (Burdon và Chilvers, 1982) [23] Do ñó mật ñộ trồng có thể
có tác ñộng ñáng kể về mức ñộ sâu, bệnh hại (Burdon và Chilvers, 1982; Scherm, 2005) [23] Legard và CS (2000) [41] cho rằng tỷ lệ quả bị thối
Botrytis (gây ra bởi Botrytis cinerea Pers: Fr) tăng khi mật ñộ trồng ñược tăng
lên Trong những năm gần ñây, tỷ lệ mắc bệnh thối quả dưa chuột do
Phytophthora capcisi Leonian ñã tăng lên rất nhiều, buộc người trồng phải xem
xét lại những biện pháp kỹ thuật họ ñang sử dụng và mật ñộ trồng ñược xem
như là một phần của một phương pháp tổng hợp ñể giảm tỷ lệ capcisi P
Các nghiên cứu về ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến năng suất và chất lượng quả dưa chuột ñã ñược tiến hành bởi nhiều nhà khoa học (Cantliffe, Phatak, 1975; Hogue, Heeney, 1974; Nerson, 1998; Schultheis và CS, 1998; Staub và CS, 1992 Widders, 1989) [25], [32], [47], [54], [58], [63] Trong các nghiên cứu tiến hành ở Michigan, bằng cách sử dụng các mật ñộ khác nhau, từ 44.000 - 194.000 cây/ha, Widders và CS (1989) cho thấy, mật ñộ trồng tối ưu cho một lần thu hoạch của giống Tamor và Castlepik là 77.000 cây/ha
Tại Bắc Carolina, Schultheis và CS (1998) [54] cho rằng, mật ñộ tối ưu khi trồng các giống Sumter, Regal và H-19 tương ứng là 200.000, 240.000 và 330.000 cây/ha Những kết quả này cho thấy, mật ñộ trồng tối ưu có thể khác nhau rất nhiều giữa các giống và ñiều kiện chăm sóc
Các nhà khoa học trường ðại học Michigan State (2004) [43] ñã tiến hành thí nghiệm ñánh giá ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến sinh trưởng, phát triển của giống dưa chuột Vlaspik với 12 công thức mật ñộ khác nhau, gồm 4 khoảng cách hàng (30, 46, 61, 76 cm) và 3 khoảng cách cây (10, 13, 15 cm)
Trang 25Kết quả cho thấy, khi tăng mật ñộ trồng, tổng số quả/cây giảm, nhưng tổng sản lượng trên một ñơn vị diện tích tăng Trung bình số lượng quả/cây tại mỗi công thức giảm từ 1,2 – 2,4 quả/cây khi tăng mật ñộ từ 88.000 - 330.000 cây/ha [43]
Ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến năng suất dưa chuột cũng tương tự như
số quả/cây Khi mật ñộ tăng, trọng lượng quả giảm, nhưng tổng trọng lượng trên một ñơn vị diện tích tăng lên Tổng sản lượng thương phẩm tăng từ khoảng 13 tấn/ha (mật ñộ 88.000 cây/ha) ñến 22 tấn/ha (mật ñộ 330.000 cây/ha) [43]
Như vậy, khoảng cách trồng thay ñổi theo phương thức sản xuất, ñặc ñiểm của giống, thời vụ trồng và chất dinh dưỡng trong ñất
Tại Việt Nam, theo PGS.TS Tạ Thu Cúc (2007) [3], tại một số ñịa phương như Yên Mỹ - Hưng Yên, dưa chuột ñược trồng trên ñộng ruộng với khoảng cách và mật ñộ như sau:
Theo các tác giả Nguyễn Quý Bình, Lê Thị Nhâm, Trần Khắc Thi, Trương Văn Nghiệp, Christian Langlais (2009) [2], giống dưa chuột quả nhỏ và dưa chuột ăn tươi trồng với khoảng cách cây: 35 cm trong vụ ñông và 40 cm trong vụ xuân, tương ứng với mật ñộ: 30.000 - 33.000 cây/ha Giống dưa chuột bao tử trồng với khoảng cách cây: 60 cm trong vụ ñông và 70 cm trong vụ xuân, tương ứng với mật ñộ: 15.000 - 20.000 cây/ha
Trang 262.3.3 Tình hình nghiên cứu về tỉa nhánh cho dưa chuột
Tỉa nhánh cho cây trồng có nhiều tác dụng trong sản xuất rau quả Cây dưa chuột có tập tính phân nhánh mạnh, tỉa nhánh tạo ra cây có ít thân ñể tập trung dinh dưỡng nuôi quả Do ñó, quả to hơn vì các chất dinh dưỡng của cây không ñược chuyển ñến cho các nhánh khác Từ ñó có thể trồng ñược nhiều cây hơn trong cùng một diện tích
Theo tác giả Phạm Quang Thắng (2010) [12], việc tỉa nhánh cho dưa chuột có ảnh hưởng lớn ñến quá trình sinh trưởng, phát triển và khả năng ra hoa ñậu quả của dưa chuột bản ñịa H’Mông tại Thuận Châu - Sơn La, theo ñó việc ñể lại 2 nhánh (1 thân chính và 2 nhánh cấp 1) cho thời gian sinh trưởng dài hơn (110 ngày) so với việc không tỉa nhánh hoặc ñể lại 1 nhánh (1 thân chính và 1 nhánh cấp 1) cho thời gian sinh trưởng ngắn nhất (103 ngày), ñể 2 nhánh (gồm 1 thân chính và 2 nhánh cấp 1) cho năng suất cao nhất, năng suất
cá thể cao (4,36 kg/cây) và năng suất thực thu cao nhất (98,54 tấn/ha) cao hơn nhiều so với việc không tỉa nhánh hoặc chỉ ñể 1 nhánh cho năng suất thấp nhất (1,63 Kg/cây), năng suất thực thu chỉ ñạt 77,85 tấn/ha
Khi sản xuất dưa chuột trong ñiều kiện nhà lưới, việc cắt tỉa tạo tán hợp
lý cho dưa chuột sẽ giúp quần thể sử dụng ánh sáng một cách hiệu quả, tạo tiền
ñề cho việc thu ñược năng suất cao Gobeil, G and Gosselin, A (1990) [30] ñã nghiên cứu việc sử dụng ánh sáng bổ sung kết hợp với 4 phương pháp cắt tỉa dưa chuột khác nhau, ñều hướng ñến việc loại bỏ bớt số quả/cây và các nhánh trên thân chính, cụ thể như sau:
- Phương pháp cắt tỉa 1, ñể bốn quả trên thân chính (mỗi nách lá một quả), hai ñốt (nách lá) tiếp theo không ñể quả, và trình tự này ñược lặp ñi lặp lại cho ñến khi cây cao ñến ñỉnh dây dàn thì cắt bỏ ngọn thân chính Tất cả các nhánh ñược loại bỏ hoàn toàn khỏi thân chính Phương pháp này do Blain
et al (1987) [21] xây dựng, cho phép sản xuất 12 - 14 quả/cây trong thời gian 2-3 tuần thu hoạch
Trang 27- Phương pháp thứ 2 sử dụng thêm một ñoạn các nhánh cấp 1 ñể tăng năng suất cá thể; bốn quả ñể lại trên thân chính, tiếp theo hai ñốt (nách lá) không ñể quả nhưng ñể nhánh phát triển và ñược cắt ngọn chỉ ñể lại 1 lá và 1 quả Lá trên nhánh
sẽ quang hợp và tăng cường cung cấp các sản phẩm quang hợp cho cây, tạo tiền ñề tạo ra số quả/cây nhiều hơn trên một ñộ dài nhất ñịnh của thân chính mà không ảnh hưởng ñến cây, và trình tự này cũng ñược lặp ñi lặp lại cho ñến khi cây cao ñến ñỉnh dây dàn thì cắt bỏ ngọn thân chính Phương pháp 2 cho phép tạo ra 18 - 20 quả trong 4-5 tuần thu hoạch
- Phương pháp 3 giống với phương pháp 1, khi cây cao ñến ñỉnh dây dàn thì cắt bỏ ngọn thân chính nhưng ñể lại 1 nhánh và uốn cong ñể tiếp tục thu hoạch thêm sáu quả trên nhánh ñó thì cắt bỏ ngọn Cây dưa chuột cắt tỉa theo phương pháp 3, có thể tạo ra 18 - 20 quả trong 4 hoặc 5 tuần thu hoạch
- Phương pháp cắt tỉa 4 tương tự phương pháp 1, ñể bốn quả trên thân chính (mỗi nách lá một quả), hai ñốt (nách lá) tiếp theo không ñể quả, và trình tự này ñược lặp ñi lặp lại cho ñến khi cây cao ñến ñỉnh dây dàn thì uốn cong ñể tiếp tục tăng trưởng kéo dài và thu thêm sáu quả thì cắt bỏ ngọn thân chính Với phương pháp này, cây dưa chuột cũng cho 18 - 20 quả trong 4 hoặc 5 tuần thu hoạch
Kết quả thí nghiệm cho thấy, số quả/cây dưa chuột khi sử dụng các phương pháp cắt tỉa 1, 2, 3, 4 lần lượt là 12,0; 16,0; 16,6 và 16,8 quả/cây Các phương pháp cắt tỉa 2, 3, 4 không có sự khác biệt ñáng kể về số quả/cây Tuy nhiên thời gian thu hoạch quả khi áp dụng 4 phương pháp cắt tỉa là khác nhau Phương pháp cắt tỉa 2 cho thời gian thu quả ngắn nhất (18 - 27 ngày), trong khi áp dụng phương pháp 3,
4 cho thời gian thu quả dài hơn (32 - 42 ngày) Phương pháp cắt tỉa 2 cho phép chồi nách phát triển, do ñó cung cấp bổ sung một nguồn auxin ñến cây dưa chuột,
ñể kích thích quả phát triển Ngoài ra, một phần quang hợp cho cây là từ các lá trên nhánh thứ cấp, hiệu quả quang hợp của các lá này có thể khác với lá trên thân chính [30] Năng suất dưa chuột khi áp dụng phương pháp cắt tỉa 2 là cao nhất (280 quả/m2) với 12 cây kế tiếp, trong khi phương pháp cắt tỉa 1 ñạt 240 quả/m2với 15 cây kế tiếp và các phương pháp cắt tỉa 3, 4 còn cho năng suất thấp hơn
Trang 28Tác giả Qian Hong (Trung Quốc), khi nghiên cứu trên giống Amata 765 cho thấy, chiều dài quả bị ảnh hưởng lớn bởi biện pháp cắt tỉa Khi ngắt toàn bộ nhánh trên thân chính từ ñốt thứ 10 trở xuống và ở ñốt thứ 10 chỉ ñể 1 lá và 1 quả trên nhánh thì chiều dài quả cao nhất và cao hơn hẳn các phương pháp cắt tỉa khác (dẫn theo Trần Thị Lệ, Nguyễn Hồng Phương, 2009) [10]
Việc tạo hình, tỉa nhánh cho dưa chuột còn tùy thuộc vị trí xuất hiện hoa (chủ yếu là hoa cái) và khả năng phân nhánh của giống mà có biện pháp tỉa nhánh thích hợp Theo TS Trần Thị Minh Hằng (2008) [6], sản xuất dưa chuột
ở Việt Nam có nhiều cách tỉa nhánh như:
ðể 1 thân chính hoặc 1 thân phụ
ðể 2 thân: 1 thân chính + 1 nhánh cấp 1 hoặc ñể 2 nhánh cấp 1
ðể 3 thân: 1 thân chính + 2 nhánh cấp 1 hoặc ñể 3 nhánh cấp 1
2.3.4 Tình hình nghiên cứu về liều lượng bón phân NPK cho dưa chuột
Trên Thế giới, ñã có nhiều công trình nghiên cứu về việc bón phân cho dưa chuột ñược công bố Rubeiz (1990) [52] quan sát thấy rằng phản ứng của dưa chuột với phân NPK ở mức 200-85-150 (kg/ha) có hiệu quả tốt Rehamn và
CS (1995) [51] quan sát thấy rằng NPK ở mức 140-60-150 kg/ha thể hiện tốt hơn, kết quả cho tỷ lệ nảy mầm cao nhất, số quả/cây nhiều, ñường kính quả tối
ña và trọng lượng quả lớn Q.M Kamran và ñồng tác giả (2008) [50], khi nghiên cứu ảnh hưởng của các liều lượng N khác nhau, ở mức bón 40 kg N/ha
và 80 kg N/ha thì không ảnh hưởng ñến chiều dài thân chính, không cho sự sai khác về chiều dài quả, chiều dài quả cũng như khối lượng quả cao nhất khi sử dụng 100 kg N/ha Nhưng mức bón 80 kg N/ha lại là mức cho số quả cao nhất Waseem et al (2008) [61] một lần nữa khẳng ñịnh kết luận của Q.M Kamran khi báo cáo rằng, sử dụng 100 kg N/ha ñã có ảnh hưởng ñáng kể ñến chiều dài quả và trọng lượng quả dưa chuột, nhưng sử dụng 80 kg N/ha là mức kinh tế nhất ñể nhận ñược số quả cao hơn và cuối cùng là năng suất cao nhất Phu, N.T., (1996) [48] cho rằng N và K có ảnh hưởng ñáng kể ñến năng suất giống
Trang 29dưa chuột Poung Nitơ và Kali với lượng 100-100 kg/ha có ảnh hưởng tích cực ñến số hoa, số quả, và sản lượng dưa chuột Choudhari (2002) [27] sử dụng NPK với lượng 150:90:90 kg/ha nhận thấy số lượng quả ñạt tối ña, trọng lượng quả lớn, năng suất cá thể và năng suất thực thu dưa chuột cao Naeem và CS (2002) [46] cho rằng, sử dụng các loại phân NPK khác nhau có ý nghĩa khác nhau ñến ngày ra hoa, ngày ñậu quả, số lượng nhánh trên cây, chiều cao cây, số lượng quả mỗi cây, ñộ dài của quả và tổng sản lượng dưa chuột Abdel-Mawgoud và CS (2005) [17] cho rằng, tăng lượng bón NPK trong một giới hạn nhất ñịnh sẽ ñáp ứng sự tăng trưởng của cây và tăng năng suất quả dưa chuột Ahmed và CS (2007) [19] báo cáo rằng, tăng hàm lượng nitơ sẽ làm tăng chiều dài quả, trọng lượng quả, chiều dài thân và năng suất dưa chuột
Gần ñây, các nhà khoa học Muhammad Saleem Jilani, Abu Bakar, Kashif Waseem và Mehwish Kiran (2007) [45], ñã tiến hành thí nghiệm bón phân cho dưa chuột với 5 mức NPK (Không bón NPK, 60-30-30 kg NPK/ha, 80-40-40 kg NPK/ha,100-50-50 kg NPK/ha và 120-60-60 kg NPK/ha) Kết quả cho thấy, thời gian ra hoa, thời gian ra quả lần ñầu và thời gian thu quả lần ñầu ñược rút ngắn khi tăng lượng bón NPK, cụ thể: Công thức không bón NPK có thời gian
ra hoa muộn nhất (47,99 ngày), tiếp ñến là công thức bón 60-30-30 kg NPK/ha với 44,77 ngày Các công thức bón 120-60-60 kg NPK/ha và 80-40-40 kg NPK/ha có thời gian ra hoa lần lượt là 42,66 và 41,44 ngày Công thức bón 100-50-50 kg NPK/ha có thời gian ra hoa sớm nhất (39,33 ngày) Sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng lớn làm cho cây còi cọc, sinh trưởng phát triển kém, nên có thời gian ra hoa muộn Khi tăng mức NPK sẽ làm cho cây sinh trưởng, phát triển mạnh hơn, có thời gian ra hoa sớm hơn
Số quả/cây ñạt cao nhất là ở mức bón 100-50-50 kg NPK/ha (35,5 quả), tiếp ñến là mức bón 60-30-30 kg NPK/ha và mức bón 80-40-40 kg NPK/ha với
số quả/cây tương ứng là 29,6 và 28,2 quả/cây Số quả/cây ñạt tối thiểu (24,5 quả) khi không bón NPK Kết quả cho thấy, chất dinh dưỡng thúc ñẩy tăng
Trang 30trưởng mạnh mẽ của cây dưa chuột, mà cuối cùng làm tăng số lượng quả trên cây, kết quả này cũng phù hợp với kết luận của Waseem và CS (2008) [62] khi khi sử dụng mức 80 kg N/ha là tối ưu ñể bón cho dưa chuột
Chiều dài quả dưa chuột tối ña ñạt 18,36 cm ñã ñược ghi nhận ở mức bón 100-50-50 kg NPK/ha, tiếp theo là mức 120-60-60 kg NPK/ha và mức 80 -40-40 kg NPK/ha với chiều dài quả lần lượt là 16,36 và 14,90 cm, trong khi
ñó chiều dài quả tối thiểu ñạt 13,32 cm ñược ghi nhận ở công thức không bón phân NPK
Khối lượng quả ñạt cao nhất ở các mức bón 100-50-50 kg NPK/ha và mức bón 80-40-40 kg NPK/ha với khối lượng quả tương ứng là 150,69 và 136,03 gam, tiếp theo là mức bón 80-40-40 kg NPK/ha và mức bón 60-30-30 kg NPK/ha với khối lượng quả lần lượt là 127,16 và 120,23 gam Khối lượng quả thấp nhất (109,6 gam) ñược ghi nhận ở công thức không bón NPK
Mức bón NPK khác nhau có ảnh hưởng ñáng kể ñến chiều dài thân chính cây dưa chuột, chiều dài thân ñạt tối ña (3,85 m) ở mức bón 120-60-60 kg NPK/ha, tiếp theo là mức bón 100-50-50 kg NPK/ha và mức bón 80-40-40 kg NPK/ha với chiều dài thân lần lượt là 2,53 và 2,13 m Chiều dài thân thấp nhất (1,95 m) khi không bón NPK Các kết quả cho thấy, việc bón phân NPK với mức cao hơn, sự tăng trưởng của cây sẽ mạnh hơn, mà cuối cùng dẫn ñến chiều dài thân ñạt tối ña ở mức bón 120-60-60 kg NPK/ha
Lượng bón khác nhau của phân NPK có ảnh hưởng quan trọng ñến năng suất dưa chuột Mức bón 100-50-50 kg NPK/ha tăng năng suất lên ñến 60,02 tấn, tiếp theo là mức bón 120-60-60 kg NPK/ha và mức bón 80-40-40 kg NPK/ha với năng suất tương ứng là 57,15 và 52,51 tấn/ha Năng suất ñạt thấp nhất (45,72 tấn/ha) khi không bón NPK
Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Mai Thị Phương Anh và CS [1] ñã chỉ ra rằng, ñể cho 1 tấn sản phẩm dưa chuột lấy từ ñất từ 0.8 – 1.36 kg ñạm; 0.27 – 0.9 kg P2O5 và 1.36 – 2.3 kg K2O Dưa chuột sử dụng kali có hiệu quả
Trang 31nhất, sau ñó ñến ñạm và cuối cùng là lân, khi bón 60N, 60P2O5 và 60 K2O thì
dưa chuột sử dụng 92% ñạm, 33% lân và 100% kali Bên cạnh các nguyên tố ña
lượng thì các nguyên tố vi lượng ñóng vai trò hết sức quan trọng (Trần Khắc Thi, 1985) [14] Các nghiên cứu của Youssef, A.M và CS (1996) [61] cho thấy, nếu bón Bo vào ñất nó làm tăng quá trình chín của quả Nếu dùng dung dịch các nguyên tố ña lượng bổ sung thêm thành phần một số nguyên tố vi lượng, quả thương phẩm sẽ có hàm lượng ñạm, lân, kali cao hơn ðiều ñó chứng tỏ vai trò quan trọng của nguyên tố vi lượng trong vận chuyển các chất dinh dưỡng trong cây Thí nghiệm của Soliman, E.M (1996) chứng minh rằng trộn hạt dưa chuột với phân vi lượng trước khi gieo sẽ tăng năng suất từ 50-60 tạ/ha (kết quả nghiên
cứu của Oglova V và Gralioz M năm 1975 (dẫn theo Trần Khắc Thi, 1985)
[14] Dưa chuột không chịu ñược nồng ñộ phân cao nhưng lại rất nhạy cảm với
sự thiếu dinh dưỡng ñặc biệt phân hữu cơ có tác dụng làm tăng năng suất dưa chuột rõ rệt [1] Kali và lân có vai trò quan trọng trong việc tạo quả có chất lượng, còn ñạm có tác dụng làm màu quả ñẹp, tuy nhiên ở thời kỳ ñầu của sự sinh trưởng cây dưa chuột cần nhiều ñạm và lân, ở giai ñoạn cuối cây không cần nhiều ñạm, nếu giảm cung cấp ñạm sẽ làm tăng thu hoạch một cách ñáng kể (Tạ Thu Cúc, 2007) [3]
Trần Thị Lệ, Nguyễn Hồng Phương (2009) [10], ñã tiến hành thí nghiệm sử dụng phân Wehg (OM: 5%, B:0,6%, NaOH: 0,7%, Chất béo: 0,03%) và Vườn sinh thái (acid amin: 104 g/l, Zn: 9,72 g/l, B: 5,82 g/l, Mo: 4,74 g/l, Cu: 2,8 ) trên giống Amata 756 với 8 công thức (75 kg N, 35 kg N, 35 kg N + 4,5 l Wehg, 35 kg N + 5 l Wehg, 35 kg N + 5,5 l Wehg, 35 kg N + 300 ml VST, 35 kg N + 450 ml VST, 35 kg
N + 600 ml VST, tính trên 1 ha) Kết quả cho thấy, số quả hữu hiệu cao nhất (2,8 quả/cây) ở mức bón 75 kg N/ha, tiếp theo 2,73 quả/cây (35 kg N + 600 ml VST), 2,67 quả/cây (35 kg N + 5,5 l Wehg) và thấp nhất 2,13 quả/cây (35 kg N) Kết quả thu ñược tương tự với năng suất lý thuyết và năng suất thực thu Năng suất thực thu cao nhất 14,96 tấn/ha (75 kg N/ha), tiếp ñến 14,65 tấn/ha (35 kg N + 600 ml VST), 14,48 tấn/ha (35 kg N + 5,5 l Wehg) và thấp nhất 12,57 tấn/ha (35 kg N) [10]
Trang 322.3.5 Tình hình nghiên cứu về sử dụng phân bón lá trong sản xuất nông nghiệp
Pomior là một loại phân bón qua lá ñược phối hợp nhiều chất dinh dưỡng
ña, trung và vi lượng, ñược phối hợp với các chất phức hoạt nhằm tăng khả năng bám dính và khả năng thẩm thấu nhanh chất dinh dưỡng vào trong cây Sản phẩm do PGS.TS Hoàng Ngọc Thuận, ðại Học Nông nghiệp Hà Nội nghiên cứu thuộc Dự án KC07.DA14/06, thuộc Chương trình Khoa học công nghệ trọng ñiểm cấp Nhà nước giai ñoạn 2006 – 2010)[69]
Pomior gồm trên 12 nguyên tố ña lượng, trung lượng và vi lượng có tác dụng cân ñối và bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây ñặc biệt vào các giai ñoạn khủng hoảng về dinh dưỡng ðặc biệt chủng loại phân Pomior P399 ñược nghiên cứu sử dụng riêng trên cây ăn trái, cà chua, … giúp cho cây cứng khoẻ, tăng cường sức chống chịu (giai ñoạn cây phân hoá mầm hoa và phát triển nụ hoa) Hàm lượng ñạm Amin trong các dạng Pomior P399 là 6,4mg/l, với 17 loại axit amin: Alamin, Arginin, Aspatic, Xystin, Glutamic, Glycin, Isoleuxin, Luexin, Lysin, Metionin, Phenylamin, prolin, Serin, Threonin, Tryptophan, Tyroxin, Valin (Kết quả phân tích của trung tâm công nghệ sinh học quốc gia) Sản phẩm ở dạng dung dịch màu xanh lá mạ hoặc xanh vàng , trong, ñặc sánh,
tỷ trọng từ 1,18- 1,22, ñộ pH 6,5- 7 (http://giongvtnncongnghecao.com.vn)[69]
ðể xác ñịnh ảnh hưởng của phân bón lá Pomior ñến các loại cây trồng, sau khi sử dụng phân bón lá Pomior trong nhiều năm cho cây lúa, cây ăn quả, rau, cà chua ñều cho hiệu quả cao (tăng từ 20 – 25% so với ñối chứng) Phân bón lá Pomior bổ sung ñầy ñủ các chất dinh dưỡng cho cây ðối với cây dưa chuột Pomior - P399 kích thích ra rễ, ra hoa mạnh và tăng tỷ lệ ñậu quả, chống rụng hoa trái tăng trưỏng quả nhanh, quả ñều, màu quả ñẹp P399 có thể dùng ở các thời kỳ ra hoa ñậu quả và thời kỳ mang quả P 399 có tác dụng làm tăng năng xuất, chất lượng quả tươi và tiết kiệm công lao ñộng Tạo sản phẩm nông nghiệp tốt, an toàn (http://hua.edu.vn) [70]
Trang 33Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng Pomior cho thấy; việc bón phân Pomior qua lá cho hoa lily là rất cần thiết, làm giảm tỉ lệ rụng nụ, tăng cường quá trình trao ñổi chất, hình thành và phát triển nụ rất tốt và là tác nhân quan trọng giúp cây nở hoa sớm Việc bổ sung dinh dưỡng qua lá bằng phân bón Pomior với nồng
ñộ 0,4% là mức bón phù hợp nhất (http://giongvtnncongnghecao.com.vn) [69]
Phân bón Pomior dùng ñể bón cho cây trồng bằng hình thức phun qua lá , nồng ñộ từ 0,3 – 0,6%, 2-3 lít/ha/1 lần phun; 5-20 phun một lần tùy tình chủng loại cây trồng, ñiều kiện ñất ñai, khí hậu, lượng phân bón lót và bón thúc qua rễ Phân bón Pomior có ảnh tốt ñến sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng của hầu hết các loại cây trồng ñã thử nghiệm: Rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây con trong vườn ươm, tăng tỷ lệ ghép sống, tỷ lệ sống của cây con nuôi cây mô tế
bào, tăng tỷ lệ cây xuất vườn (www.hua.edu.vn.)[70]
Kết quả sử dụng phân bón Pomior trên cây chè tại trung tâm nghiên cứu
và chuyển giao kỹ thuật sản xuất cây ăn quả Lâm ðồng cho thấy; khi phun Pomior nồng ñộ các chất tanin = 22% so với ñối chứng không phun là 16%; chất hoa tan là 48% so với ñối chứng không phun là 45%; hàm lượng NO-3 = 15,5%, so với ñối chứng là 16,2% Pomior không những ñã nâng cao năng suất chè an toàn mà còn góp phần tăng chất lượng chè thành phẩm một cách rõ rệt hiệu quả kinh tế do phun phân bón lá Pomior trên mô hình sản xuất chè an toàn ñạt mức cao (http://giongvtnncongnghecao.com.vn.) [69]
Trang 343 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu, ựịa ựiểm, và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu
- Giống: dưa chuột bản ựịa của ựồng bào HỖMông tại Mộc Châu Ờ Sơn La
- Phân bón:
+ Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh
+ NPK đầu Trâu 13:13:13 của công ty Cổ phần phân bón Bình điền (thành phần: 13%N, 13%K2O, 13%P2O5, 1%CaO, 0,6% MgO, 6%S, 90ppmFe, 15ppm Zn, 10ppm Cu, 90ppm Bo)
+ Pomior 298 của công ty Cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Phú Thọ (Thành phần: 10,75%N; 5,5%P2O5; 4,8%K2O; 0,4%CaO; 540mg/l Mg++; 163mg/l Cu++; 322mg/l FeO; 236mg/l Zn+; 163mg/l Mn++; 84mg/l B; 78,4mg/l
Ni++; 3mg/l Mo++; chất ựiều tiết sinh trưởng ≤ 0,2%; 17 loại axit amin)
3.1.2 địa ựiểm nghiên cứu
Các thắ nghiệm ựược bố trắ tại bản Áng, xã đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
3.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 3 năm 2011 ựến tháng 12 năm 2011
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ ựến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng dưa chuột bản ựịa của ựồng bào HỖMông tại Mộc
Châu - Sơn La
Thắ nghiệm 1: ựược tiến hành với 7 công thức thời vụ gieo trồng khác nhau: Công thức 1: Gieo tháng 3/2011 Công thức 2: gieo tháng 4/2011 Công thức 3: gieo tháng 5/2011 Công thức 4: gieo tháng 6/2011 Công thức 5: gieo tháng 7/201 Công thức 6: gieo tháng 8/2011 Công thức 7: Gieo tháng 9/2011
Thắ nghiệm 1: ựược thực hiện trên nền phân bón/ha: 2 tấn phân hữu cơ vi
sinh Sông Gianh và 950 Kg NPK đầu Trâu 13:13:13 (tương ứng với liều lượng 120N: 120P2O5 :120K2O)
Trang 353.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp với biện pháp tỉa nhánh ñến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng dưa chuột bản ñịa của ñồng bào H’Mông tại Mộc Châu - Sơn La
Nội dung này ñược tiến hành với thí nghiệm 2 gồm hai nhân tố với 9 công thức thí nghiệm:
K là khoảng cách trồng (K1, K2, K3) và T là biện pháp cắt tỉa (T1, T2, T3)
K1: 30 cm x 70 cm ( khoảng cách cây x khoảng cách hàng)
K2: 40 cm x 70 cm ( khoảng cách cây x khoảng cách hàng)
K3: 50 cm x 70 cm (khoảng cách cây x khoảng cách hàng)
T1: Không tỉa (ñối chứng)
T2: ðể 2 nhánh (1 thân chính + 2 nhánh cấp 1)
T3: ðể 3 nhánh (1thân chính + 3 nhánh cấp 1)
Thí nghiệm 2 ñược thực hiện trên nền phân bón/ha: 2 tấn phân hữu cơ vi sinh
Sông Gianh và 950 Kg NPK ðầu Trâu 13:13:13 Thời vụ gieo trồng tháng 3
3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón NPK ñến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng dưa chuột bản ñịa H’Mông trồng tại Mộc Châu - Sơn La
Thí nghiệm 3 gồm 5 mức bón NPK ðầu Trâu (13:13:13) và một công thức ñối
Trang 36Thắ nghiệm 3 ựược tiến hành trồng với khoảng cách là 40 x 70 cm (cây x hàng), áp dụng biện pháp cắt tỉa ựể 2 nhánh; nền bón 2 tấn phân hữu cơ Sông Gianh/ha Thời vụ gieo trồng tháng 3
3.2.4 Nội dung 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của số lần phun phân bón
lá Pomior ựến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng dưa chuột bản ựịa của ựồng bào HỖMông tại Mộc Châu - Sơn La
Thắ nghiệm 4: Gồm 4 công thức phun phân bón lá Pomior 0,4%, một
công thức ựối chứng không phun phân bón lá Pomior
Công thức 1: Không phun (ựối chứng)
CT2: Phun 1 lần CT3: Phun 2 lần CT4: Phun 3 lần CT5: Phun 4 lần Cách phun: pha loãng Pomior ở nồng ựộ 0,4%, phun ướt ựều toàn bộ cây, 1 lắt/10m2 (1 ô thắ nghiệm) Bắt ựầu phun khi cây có 2 lá thật, 10 ngày/lần
CT 1 phun nước lã 4 lần, CT2 phun pomior 1 lần + phun nước lã 3 lần cuối; CT
3 phun pomior 2 lần + phun nước lã 2 lần cuối; CT 4 phun pomior 3 lần + phun nước
lã 1 lần cuối; CT 5 phun pomior 4 lần
Thắ nghiệm 4 ựược thực hiện với khoảng cách trồng: 40 x 70 cm (cây x hàng); áp dụng biện pháp cắt tỉa ựể 2 nhánh; nền bón 2 tấn phân hữu cơ Sông Gianh/ha, 950 Kg NPK (13:13:13); thời vụ gieo trồng tháng 3
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp bố trắ thắ nghiệm
- địa ựiểm bố trắ thắ nghiệm: Các thắ nghiệm ựược tiến hành trên ựất vườn
(đất có chất lượng khá tốt: hàm lượng mùn, ựạm, lân tổng số khá cao, thành phần cấp hạt nặng ) tại bản Áng, xã đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Trang 37+ Tổng diện tắch ô thắ nghiệm 3: 10 m2 x 18 ô = 180 m2
+ Tổng diện tắch ô thắ nghiệm 4: 10 m2 x 15 ô = 150 m2
+ Diện tắch bảo vệ: 200 m2
Tổng diện tắch thắ nghiệm: 1010 m2
3.3.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
- Thời gian sinh trưởng:
+ Thời gian từ gieo ựến 50% số cây mọc mầm (ngày)
+ Thời gian từ từ trồng ựến 50% số cây ra lá thật (ngày)
+ Thời gian từ trồng ựến 50% số cây xuất hiện tua cuốn (ngày)
+ Thời gian từ trồng ựến 50% số cây xuất hiện hoa cái ựầu tiên (ngày)
+ Thời gian từ trồng ựến 50% số cây xuất hiện hoa ựực ựầu tiên (ngày)
+ Thời gian từ trồng ựến 50% số cây ựậu quả ựầu tiên (ngày)
+ Thời gian từ trồng ựến thu quả ựợt ựầu (ngày)
+Thời gian từ trồng ựến thu quả ựợt cuối (tổng thời gian sinh trưởng) (ngày)
- Chiều dài thân chắnh (cm): ựo từ cổ rễ ựến ựỉnh sinh trưởng của thân chắnh
- Chiều dài của 15 ựốt ựầu tiên trên thân chắnh
- Chiều dài thân phụ/nhánh cấp 1 (cm): ựo từ gốc cành ựến ựỉnh sinh trưởng của thân phụ dài nhất
- Số lá trên thân chắnh (lá): ựếm số lá trên thân chắnh
- đường kắnh thân chắnh, thân phụ
* Các chỉ tiêu về tình hình phát triển:
- Số hoa cái và hoa ựực trên thân chắnh và thân phụ
- Xác ựịnh tỷ lệ hoa ựực và hoa cái trên cây (%)
- Tỷ lệ ựậu quả (%)
* Các chỉ tiêu về tình hình sâu bệnh hại
- đánh giá tình hình sâu hại
+ đối tượng sâu hại: ruồi ựục quả
+ Tỉ lệ quả bị ruồi ựục = (số quả bị ruồi ựục/tổng số quả theo dõi) x 100
Trang 38* Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
- Số quả trung bình trên cây (quả)
- Khối lượng trung bình quả (gam)
- Năng suất cá thể: cân khối lượng toàn bộ quả của một cây
- Năng suất thực thu (tấn/ha): năng suất thực tế thu ñược
- Năng suất lý thuyết (tấn/ha)
NSLT = Khối lượng TB quả x Số quả TB/cây x Mật ñộ trồng (cây/ha)
* ðặc ñiểm hình thái, cấu trúc quả
- Hình dạng và màu sắc quả
- Chiều dài và ñường kính quả (cm)
- ðộ dày thịt quả (cm)
- ðộ cứng của quả: ño bằng máy ño cầm tay Wagner instruments
* Phân tích chất lượng và dư lượng Nitrat
- Hàm lượng Vitamin C (mg/100g quả tươi)
- Hàm lượng ñường tổng số (gam)
- Dư lượng Nitrat (NO3 -) (mg/kg)
- ðộ Brix: Sử dụng máy ño cầm tay Master refactometer
* Hiệu quả phân bón = năng suất dưa chuột tăng thêm /1 kg phân bón NPK tăng thêm ở mỗi mức bón (thí nghiệm 3)
* Hiệu quả kinh tế: tổng chi, tổng thu, lãi thuần (Thí nghiệm 3, 4)
Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu ñược xử lý thống kê bằng chương trình IRRISTAT 5.0 và Excel
3.3.3 Kỹ thuật trồng trọt
* Thời vụ bố trí thí nghiệm 2,3,4: Gieo hạt vào giữa tháng 3/2011
Trang 39* Phương pháp gieo trồng: Gieo hạt trong khay bầu, khi cây ra 2 lá mầm
thì ñem trồng ra ruộng thí nghiệm
* Kích thước luống: rộng 1,2m; cao 20 cm, rãnh 40cm
* Bón lót: 2 tấn phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh/ha
- Cắm giàn: dùng cây dóc dài > 2m, cắm hình chữ A
- Tưới nước Giữ ẩm thường xuyên
- Bón thúc: 950 Kg NPK ðầu Trâu (13:13:13)/1 ha ở thí nghiệm 1, 2 và 4
và theo công thức bón ở thí nghiệm 3 vào 4 thời kỳ chủ yếu sau:
+ Xuất hiện lá thật ñầu tiên: thúc 20% NPK
+ Bắt ñầu ra hoa: thúc 20% NPK + Bắt ñầu ñậu quả: thúc 30% NPK + Sau thu hoạch lứa ñầu: thúc 30% NPK
- Phòng trừ sâu bệnh
* Thu hoạch: Thu hoạch quả 8 - 10 ngày tuổi
Trang 404 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến sinh trưởng phát triển và năng suất, phẩm chất của giống dưa chuột bản ñịa H’Mông tại Mộc Châu – Sơn La.
4.1.1 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến thời gian qua các giai ñoạn sinh trưởng phát triển của giống dưa chuột bản ñịa H'Mông
Sự sinh trưởng và phát triển của cây dưa chuột ñược tính từ khi hạt nảy mầm tới khi cây ra hoa, hình thành quả và kết thúc thu hoạch, quá trình này phụ thuộc vào bản chất di truyền của giống, ñiều kiện ngoại cảnh và ñiều kiện chăm sóc Nắm rõ thời gian sinh trưởng, phát triển của giống dưa chuột bản ñịa H’Mông ở các thời vụ
khác nhau là cần thiết nhằm bố trí thời vụ hợp lý Kết quả theo dõi của chúng tôi
ñược trình bày ở bảng 4.1
Bảng 4.1 - Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến thời gian qua các giai ñoạn
sinh trưởng chủ yếu của giống dưa chuột bản ñịa H'Mông
Thời gian từ trồng ñến … (Ngày) Thời
Xuất hiện
lá thật ñầu tiên (50%)
xuất hiện tua cuốn (50%)
Xuất hiện
nụ hoa ñực ñầu tiên (50%)
Xuất hiện
nụ hoa cái ñầu tiên (50%)
Thu hoạch quả lần ñầu (50%)
Thu hoạch quả lần cuối
Trong ñiều kiện khí hậu của Mộc Châu năm 2011, nhiệt ñộ lạnh của thời
vụ tháng 3 ảnh hưởng rõ rệt ñến khả năng nẩy mầm của hạt dưa chuột Vì vậy thời vụ gieo tháng 3 hạt nảy mầm chậm nhất so với các thời vụ khác, nảy mầm sau gieo 15 ngày Hạt nẩy mầm nhanh nhất, sau gieo 5 ngày khi gieo vào trung tuần tháng 6 và tháng 7 khi nhiệt ñộ ấm dần lên Gieo trung tuần tháng 4 hạt nảy mầm sau gieo 9 ngày, sớm hơn so với gieo tháng 3 nhưng muộn hơn so với các thời vụ khác