Các kết quả thu ựược góp phần xây dựng quy trình kĩ thuật bón phân cho cây chè tại ựịa phương ựể ựảm bảo cho cây sinh trưởng tốt, nâng cao năng suất và chất lượng, tăng hiệu quả kinh tế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ đÀO TẠO TRƯỜNG đẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TẠ đỨC VÂN
NGHIÊN CỨU LIỀU LƯỢNG BÓN PHÂN
CHO CHÈ DỰA TRÊN KẾT QUẢ PHÂN TÍCH đẤT
TẠI MƯỜNG KHƯƠNG, LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60 62 01
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn đình Vinh
Hà Nội - 2012
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam ñoan mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn ñã ñược cám ơn và các thông tin trích dẫn ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Tạ ðức Vân
Trang 3LỜI CÁM ƠN
để hoàn thành luận văn này, tác giả bày tỏ lòng biết ơn tới:
- TS Nguyễn đình Vinh Giảng viên Bộ môn cây công nghiệp & cây làm thuốc, Khoa Nông học, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội
- Tập thể giáo viên, Bộ môn Cây công nghiệp & cây làm thuốc - Khoa Nông học Ờ Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội
- Ban Giám hiệu, Viện ựào tạo Sau ựại học - Trường đại học Nông nghiệp
Hà Nội
- Tập thể bà con nông dân và lãnh ựạo các xã Lùng Vai, Thanh Bình huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận văn
Tạ đức Vân
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ðOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU vii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH x
PHẦN I 1
MỞ ðẦU 1
1 ðặt vấn ñề 1
2 Mục ñích và yêu cầu của ñề tài 4
2.1 Mục ñích 4
2.2 Yêu cầu 4
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của ñề tài 4
3.1 Ý nghĩa khoa học 4
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 5
4 Giới hạn của ñề tài 5
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 6
2.1 Giới thiệu chung về cây chè 6
2.1.1 ðặc tính thực vật học của cây chè 6
2.1.2 Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển chủ yếu của cây chè 7
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam 8
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới 9
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam 10
2.3 Cơ sở khoa học của kĩ thuật sử dụng phân bón cho cây chè 13
Trang 52.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về sử dụng phân bón
cho cây chè 16
2.4.1 Những nghiên cứu về sử dụng phân bón cho cây chè trên
thế giới 16
2.4.2 Các kết quả nghiên cứu kỹ thuật bón phân cho cây chè tại
Việt Nam 24
2.4.3 Các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của ñất trồng chè ñến sinh trưởng, phát triển của cây chè 29
PHẦN III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33 3.1 Vật liệu nghiên cứu 33
3.2 Nội dung nghiên cứu 34
3.3 Phương pháp nghiên cứu 34
3.3.1 Thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu 34
3.3.2 Bố trí thí nghiệm 34
3.3.3 Sơ ñồ thí nghiệm ( Cho cả hai thí nghiệm) 36
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi 36
3.4.1 Các chỉ tiêu và phương pháp lấy mẫu phân tích ñất 36
3.4.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây chè 36
3.4.3 Các chỉ tiêu về năng suất 38
3.4.4 Các chỉ tiêu liên quan ñến phẩm cấp chè nguyên liệu và
thành phẩm 38
3.4.5 Chỉ tiêu sâu, bệnh hại chính trên cây chè 40
3.4.6 Tính hiệu quả của từng công thức bón phân bón 40
3.4.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 41
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến thành phần hóa học của ñất trước và sau thí nghiệm 42
Trang 64.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ựến thành phần hóa học
của ựất trước và sau thắ nghiệm (thắ nghiệm tại xã lùng Vai) 42
4.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ựến thành phần hóa học của ựất trước và sau thắ nghiệm (thắ nghiệm tại xã Thanh Bình) 43
4.2 Diễn biến thời tiết khắ hậu tại Mường Khương Lào Cai
năm 2011 44
4.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón ựến sinh trưởng và năng suất của cây chè tại xã Lùng Vai, huyện Mường Khương 46
4.3.1 Ảnh hưởng của lượng phân bón ựến chiều cao cây chè 46
4.3.2 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ựến chiều rộng của tán chè 47
4.3.3 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ựến chỉ số diện tắch
lá (LAI) 48
4.3.4 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ựến ựộng thái tăng trưởng chiều dài búp chè 50
4.3.5 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ựến số ựợt sinh trưởng và số lứa hái 52
4.3.6 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ựến thành phần sâu bệnh hại chè 53
4.3.7 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ựến các yếu tố cấu thành năng suất 56
4.3.8 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ựến thành phần cơ giới búp 58
4.3.9 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ựến phẩm cấp nguyên liệu 59
4.3.10 đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân 60
4.4 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ựến sinh trưởng và phát triển của cây chè tại xã Thanh Bình 63
4.4.1 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ựến các chỉ tiêu sinh trưởng của tán cây chè 63
4.4.2 Ảnh hưởng của phân bón ựến chỉ số diện tắch lá (LAI) 64
Trang 74.4.3 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ựến số ựợt sinh trưởng và
số lứa hái của cây chè 65
4.4.4 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ựến thành phần sâu bệnh
hại chè 66
4.4.5 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ựến các yếu tố cấu thành năng suất chè 69
4.4.6 Ảnh hưởng của phân bón ựến thành phần cơ giới búp 70
4.4.7 đánh giá hiệu quả kinh tế của từng công thức bón phân 70
PHẦN V KẾT LUẬN 74
5.1 KẾT LUẬN 74
5.2 đỀ NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Hàm lượng một số nguyên tố khoáng trong chè và cây
trồng khác (% chất tro) 14
Bảng 2.2 Hàm lượng N trong chè nguyên liệu (% chất khô) 14
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của phân bón N, P, K ñến các chỉ tiêu hoá học của ñất trước và sau thí nghiệm 42
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của phân bón N, P, K ñến các chỉ tiêu hoá học của ñất trước và sau thí nghiệm 43
Bảng 4.3 Diễn biến thời tiết khí hậu tại Mường Khương,
Lào Cai năm 2011 44
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến chiều cao cây chè (cm) 46
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến chiều rộng và
ñộ dày tán chè (cm) 47
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến chỉ số diện tích lá (LAI) 49
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến ñộng thái tăng trưởng chiều dài búp chè (cm) 50
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến số ñợt sinh trưởng và số lứa hái 52
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến mật ñộ rầy xanh
hại chè (con/khay) 53
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến mật ñộ bọ cánh tơ
hại chè (con/búp) 54
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến mật ñộ nhện ñỏ
hại chè (con/lá) 55
Trang 10Bảng 4.12 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến các yếu tố cấu
thành năng suất 57
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến thành phần cơ giới búp 58
Bảng 4.14 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến phẩm cấp nguyên liệu 60
Bảng 4.15 Hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân cho chè tại xã Lùng Vai 60
Bảng 4.16 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến các chỉ tiêu sinh trưởng của tán cây chè 63
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến chỉ số diện tích lá (LAI) 64
Bảng 4.18 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến số ñợt sinh trưởng và số lứa hái 65
Bảng 4.19 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến mật ñộ rầy xanh
hại chè (con/khay) 66
Bảng 4.20 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến mật ñộ bọ cánh tơ
hại chè (con/búp) 67
Bảng 4.21 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến mật ñộ nhện ñỏ
hại chè (con/lá) 68
Bảng 4.22 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến các yếu tố cấu thành năng suất chè 69
Bảng 4.23 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñến thành phần cơ giới búp 70
Bảng 4.24 Hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân cho chè tại xã Thanh Bình 71
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón ñến ñộng thái tăng
trưởng chiều dài búp 51
Hình 2 ðo ñếm các chỉ tiêu sinh trưởng (thí nghiệm tại xã Thanh Bình) 92
Hình 3 ðiều tra sâu bệnh hại(thí nghiệm tại xã Thanh Bình) 92
Hình 4 Chè tại công thức thí nghiệm vào vụ thu hoạch
(thí nghiệm tại xã Thanh Bình) 93
Hình 5 Chè vào vụ thu hoạch (thí nghiệm tại xã Lùng Vai 93
Hình 6 Thu hoạch chè thí nghiệm (thí nghiệm tại xã Lùng Vai) 93
Trang 12PHẦN I
MỞ ðẦU
1 ðặt vấn ñề
Cây chè (Camellia sinensis O Kuntze) có nguồn gốc là cây hoang dại
ñược người Trung Quốc phát hiện vào năm 2738 trước công nguyên Trong tự nhiên cây chè có dạng thân bụi hoặc thân gỗ, khi trồng trọt nó ñược khống chế chiều cao bằng việc ñốn tỉa ñể hái lá và búp non Sản phẩm chè ñược sử dụng như một thứ nước uống hàng ngày Tùy thuộc vào công nghệ chế biến nguyên liệu thu hái mà ta có các sản phẩm khác nhau như chè xanh, chè ñen, chè Oolong, chè phổ nhĩ, chè vàng vv
Chè còn ñược sử dụng như một loại như một vị thuốc dân gian chữa các bệnh như sỏi thận, tả lị, ñau dạ dày Ngày nay con người ñã sản xuất nhiều loại chè có tác dụng giải nhiệt, an thần, chè lợi mật, chè lợi tiểu Khoa học hiện ñại ñã ñi sâu nghiên cứu bản chất cây chè và ñã phát hiện ra hàng trăm hoạt chất quý trong chè Thành phần hóa học chủ yếu của lá chè là Tanin chiếm 20-30%, cafein chiếm 2,5% Trong lá chè còn chứa nhiều loại vitamin A, B, K,
PP, ñặc biệt có rất nhiều vitamin C Chính vì vậy chè có tác dụng tốt trong phòng và chữa bệnh ñường ruột, chống nhiễm khuẩn (nhờ Tanin), có tác dụng lợi tiểu (do Teofilin, Teobromin), kích thích tiêu hóa mỡ, chống béo phì, chống sâu răng, hôi miệng Chất Catechin trong chè còn có chức năng ngăn ngừa phóng xạ, phòng chống ung thư, phòng bệnh huyết áp cao, chống lão hóa Cây chè là cây công nghiệp dài ngày có truyền thống lâu ñời ở Việt Nam, trải qua bao thăng trầm của quá trình phát triển sản xuất, nhưng chè vẫn
là cây trồng có vị trí quan trọng của nhiều tỉnh vùng núi và trung du nước ta Tuy mới chỉ trồng và phát triển với quy mô lớn từ khoảng 100 năm nay nhưng
nó ñã nhanh chóng trở thành cây công nghiệp mũi nhọn có giá trị kinh tế cao tham gia vào thị trường xuất khẩu Hiện nay, Việt Nam là một trong 5 nước có
Trang 13diện tớch trồng và sản lượng chố cao nhất thế giới Trong 10 năm qua, ngành chố ủó cú sự tăng trưởng ủỏng kể cả về diện tớch, năng suất và sản lượng Năm 2010, diện tớch chố cả nước ủạt gần 130 ngàn ha, trong ủú trờn 117 ngàn
ha cho thu hoạch với năng suất bỡnh quõn 73 tạ chố bỳp tươi/ha So với năm
2000, diện tớch chố tăng 45,4%, năng suất tăng 74,6%
Năm 2011, mặc dự diện tớch trồng chố cả nước giảm 2,8% so với năm
2010 (chủ yếu giống chố cũ, chố hạt), song diện tớch cho thu hoạch tăng 1,4% nờn sản lượng tăng 6,5%, ủạt 888,6 ngàn tấn Việc ỏp dụng KHCN cú tỏc ủộng ủỏng kể ủến việc cải tạo cỏc giống chố cũ, cải thiện năng suất, chất lượng, bước ủầu ỏp dụng cú hiệu quả SX VietGAP tại một số ủịa phương Cơ cấu chố giống mới (giõm cành) ủó chiếm trờn 52% diện tớch, dần thay thế cỏc giống cũ lạc hậu, năng suất thấp Trong ủú, giống chố LDP1 chiếm 13%, LDP2 chiếm 14%; PH1 chiếm 10% Việc tiờu thụ, xuất khẩu chố ủó cú nhiều thuận lợi
Ngoài hiệu quả về kinh tế, nghề trồng và chế biến chố cũn ủem lại hiệu quả lớn về xó hội, tạo việc làm và ủảm bảo thu nhập cho hàng triệu người ðồng thời phõn bố lại nguồn lao ủộng giữa cỏc vựng nụng thụn và thành thị, ủảm bảo cho nền kinh tế quốc dõn phỏt triển ủồng ủều, nõng cao ủời sống vật chất văn húa cho nhõn dõn ðặc biệt nghề trồng chố ủó giỳp cho ủồng bào cỏc dõn tộc vựng cao ủịnh canh, ủịnh cư, ổn ủịnh cuộc sống, giảm bớt nạn chặt phỏ rừng, ủốt nương rẫy, bảo vệ sinh thỏi gúp phần phủ xanh ủất trống ủồi nỳi trọc
ðối với tỉnh Lào Cai, trong những năm gần ủõy sản xuất, kinh doanh chố khụng ngừng tăng cả về diện tớch, năng suất, sản lượng mà cũn cú những chuyển biến tớch cực về giống, kỹ thuật canh tỏc, thu mua, chế biến và tiờu thụ sản phẩm Theo số liệu thống kê nếu đến hết năm 2007 toàn tỉnh có 3.638
ha chố Sản xuất và kinh doanh chố tập trung chủ yếu ở cỏc huyện như Bảo Thắng (nụng trường Phong Hải): 1665 ha; Mường Khương (nụng trường chố Thanh Bỡnh): 598 ha Huyện Bắc Hà: 465 ha; Bảo Yờn: 451 ha Thỡ ủến ủầu
Trang 14năm 2010, diện tích chè của toàn tỉnh ñã ñạt 4.067 ha, trong ñó có 3.603 ha chè kinh doanh, phân bổ chủ yếu ở các huyện: Bảo Thắng, Mường Khương, Bát Xát, Bảo Yên, Bắc Hà và thành phố Lào Cai Cơ cấu giống chè ñã có nhiều thay ñổi, từng bước ñáp ứng với nhu cầu của thị trường như: chè Shan chiếm 42% diện tích, các giống chè mới chiếm 32,3%, các giống chè chất
lượng cao 1,9% và giống chè Trung du chiếm 23,2% Năng suất búp chè kinh
doanh ñạt 42 tạ/ha/năm Toàn tỉnh Lào Cai hiện có 7 cơ sở chế biến chè với tổng công suất ñạt 100 tấn chè búp tươi/ngày
Mường Khương là một huyện vùng cao của tỉnh Lào Cai tình hình kinh
tế xã hội của huyện còn gặp nhiều khó khăn do ñường xá ñi lại khó khăn, ñịa hình phức tạp và có nhiều dân tộc cùng sinh sống ðịa hình ñồi dốc > 25%, ñộ cao 900m so với mực nước biển, ñất chủ yếu là ñất xám Feralit màu vàng ñỏ phát triển trên ñá granit¸ phiến thạch sét, ñộ dốc lớn, thành phần cơ giới nhẹ ðây là ñiều kiện ñất ñai thích hợp cho cây chè sinh trưởng, phát triển Trong nhiều năm qua cây chè ñược xác ñịnh là cây trọng ñiểm, cây xóa ñói giảm nghèo cho bà con vùng cao chính vì vậy mà lãnh ñạo UBND tỉnh Lào Cai cũng Như huyện Mường Khương luôn quan tâm ñến cây chè do vậy tình hình sản xuất, kinh doanh chè không ngừng tăng cả về diện tích, năng suất, sản lượng mà còn có những chuyển biến tích cực về giống, kỹ thuật canh tác Chỉ tính trong 3 năm từ 2007 ñến 2010 diện tích chè ñã tăng 58 % Diện tích từ
598 ha năm 2007 ñã tăng lên 1.022 ha năm 2010 về năng suất cũng có sự chuyển biến ñáng kể năng suất năm 2007 là > 40 tạ/ha ñến năm 2010 ñã ñạt
50 tạ/ha Tuy nhiên với ñiều kiện ñịa hình ñất ñai và thời tiết khí hậu thuận lợi cho cây chè như ở Mường Khương năng suất tăng như vậy vẫn còn khiêm tốn Nguyên nhân chính là do trong quá trình thâm canh bà con chủ yếu là quảng canh hay chỉ bón ñạm và lân, mà ít chú ý ñến bón cân ñối NPK và phân chuồng Mặt khác do ñịa hình ñi lại phức tạp còn gặp nhiều khó khăn nên các tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng cho cây chè còn chưa ñến ñược với ñồng
Trang 15bào nơi ựây do vậy canh tác của ựồng bào chủ yếu vẫn theo kinh nghiệm truyền thống ựặc biệt chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về hướng dẫn bón phân hợp lý trên cơ sở phân tắch các thành phần dinh dưỡng có sẵn trong ựất Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên và làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình bón phân cho cây chè hợp lý tại huyện Mường Khương, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu ựề tài: ỘNghiên cứu liều lượng bón phân cho chè dựa trên kết quả phân tắch ựất tại Mường Khương, Lào CaiỢ
2 Mục ựắch và yêu cầu của ựề tài
2.1 Mục ựắch
Xác ựịnh ựược các liều lượng bón phân hợp lý cho cây chè dựa trên các kết quả phân tắch ựất tại huyện Mường Khương, tỉnh Lao Cai Các kết quả thu ựược góp phần xây dựng quy trình kĩ thuật bón phân cho cây chè tại ựịa phương ựể ựảm bảo cho cây sinh trưởng tốt, nâng cao năng suất và
chất lượng, tăng hiệu quả kinh tế khi sử dụng phân bón cho cây chè
2.2 Yêu cầu
- Phân tắch các mẫu ựất, phân tắch hàm lượng mùn, N, P, K tổng số,
N, P, K dễ tiêu, pHkcl Dựa trên các kết quả phân tắch ựất ựể xây dựng các công thức nghiên cứu liều lượng bón phân cho cây chè
- đánh giá ảnh hưởng của các liều lượng bón phân ựến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng búp chè
- Xác ựịnh hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân cho cây chè tại huyện Mường Khương Lào Cai
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của ựề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả của ựề tài sẽ góp phần ựịnh hướng cho bà con nông dân và các cơ quan chuyên môn xác ựịnh ựược liều lượng bón phân hợp lý cho cây chè nhằm tạo ra năng suất cao, chất lượng tốt, ựồng thời giảm chi phắ
Trang 16do việc bón thừa phân trên ñịa bàn huyện, giảm thiểu tác hại ñến môi
trường và sức khỏe của người dân
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của ñề tài sẽ góp phần xây dựng ñược quy trình bón phân hợp
lý cho cây chè tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai
4 Giới hạn của ñề tài
Do thời gian có hạn, nên chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu tại hai xã Lùng Vai và Thanh Bình trên một số loại ñất chính của huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai
Thời gian nghiên cứu từ tháng 3 ñến tháng 11 năm 2011
Trang 17PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Giới thiệu chung về cây chè
2.1.1 ðặc tính thực vật học của cây chè
* Thân chè: Chè sinh trưởng trong ñiều kiện tự nhiên là cây ñơn trục,
chỉ có một thân chính, trên ñó phân ra các cấp cành Do ñặc ñiểm sinh trưởng
và do hình dạng phân cành khác nhau, người ta chia thân chè ra làm ba loại: thân gỗ, thân gỗ nhỡ (thân bán gỗ) và thân bụi
Thân gỗ là loại hình cây cao, to, có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành cao
Thân gỗ nhỡ hay thân bán gỗ là loại hình trung gian, có thân chính tương ñối rõ rệt, vị trí phân cành thường cao khoảng 20 - 30 cm ở phía trên
cổ rễ
Thân bụi là cây không có thân chính rõ rệt, tán cây rộng thấp, phân cành nhiều, vị trí phân cành cấp 1 thấp ngay gần cổ rễ Trong sản xuất thường gặp loại chè thân bụi do tác ñộng của kĩ thuật ñốn hàng năm Vì sự phân cành của thân bụi khác nhau nên tạo cho cây chè có các dạng tán: tán ñứng thẳng, tán trung gian và tán ngang
* Cành chè: Cành chè do mầm dinh dưỡng phát triển thành, trên cành
chia làm nhiều ñốt Chiều dài của ñốt biến ñổi rất nhiều (từ 1 - 10 cm) do giống và do ñiều kiện sinh trưởng ðốt chè dài là một trong những biểu hiện giống chè có năng suất cao Từ thân chính, cành chè ñược phân ra nhiều cấp: cành cấp 1, cấp 2, cấp 3 Hoạt ñộng sinh trưởng của các cấp cành trên tán chè rất khác nhau Theo lý luận phát dục giai ñoạn thì những mầm chè nằm càng sát phía gốc của cây càng có giai ñoạn phát dục non, sức sinh trưởng mạnh Còn những cành chè càng ở phía trên ngọn (mặt tán) thì càng có giai ñoạn phát dục già, sức sinh trưởng yếu, khả năng ra hoa kết quả mạnh Những
Trang 18cành chè ở giữa tán hoặc trên mặt tán, hoạt ñộng sinh trưởng thường mạnh hơn các cành ở rìa tán và ở phía dưới tán
* Búp chè: Búp chè là ñoạn non của một cành chè Búp ñược hình thành
từ các mầm dinh dưỡng, gồm có tôm (phần lá non ở trên ñỉnh của cành chưa xòe ra) và hai hoặc ba lá non Búp chè trong quá trình sinh trưởng cần có một lượng lớn vật chất dinh dưỡng mà lá non giữ một vai trò quan trọng trong việc quang hợp, tạo thành chất hữu cơ Búp chè chịu sự chi phối của nhiều yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong của nó Kích thước của búp thay ñổi tùy theo giống, loại phân và liều lượng phân bón, các khâu kỹ thuật canh tác khác như
ñốn, hái và ñiều kiện ñịa lý nơi trồng trọt v.v [10], [14]
2.1.2 Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển chủ yếu của cây chè
Theo tác giả Nguyễn Ngọc kính thì tổng thời kỳ phát dục của cây chè ñược chia làm 5 giai ñoạn, bao gồm:
Giai ñoạn phôi thai: ðây là giai ñoạn phôi hạt hoặc phôi của các mầm
dinh dưỡng Giai ñoạn phôi hạt là quá trình hình thành hạt: từ lúc cây ra hoa thụ phấn cho ñến lúc quả chín, quá trình này ñòi hỏi một năm Giai ñoạn phôi mầm của các mầm dinh dưỡng là từ lúc phôi mầm phát dục phân hóa cho ñến khi hình thành một búp (cành) mới, nếu tách rời cây mẹ thì nó có khả năng ra rễ ñể hình thành một cá thể mới Quá trình này cần 60 - 80 ngày
Giai ñoạn cây con: Từ lúc hạt nảy mầm cho ñến khi cây ra hoa kết
quả lần ñầu tiên, cần trên dưới 2 năm Trong ñiều kiện của Việt Nam thường
là cuối năm thứ nhất Thời kỳ này sinh trưởng dinh dưỡng phát triển mạnh, tán cây vươn theo chiều cao mạnh hơn phân cành, ñặc ñiểm sinh trưởng là
ưu thế ñỉnh ở hai ñầu
Giai ñoạn cây non: Từ lúc cây ra hoa kết quả lần ñầu tiên cho ñến lúc
cây ñược ñịnh hình (cây có một bộ khung tán rõ), khoảng 2 - 3 năm Trong ñiều kiện của Việt Nam: Từ năm thứ 2 ñến năm thứ 4 Thời kỳ này sinh
Trang 19trưởng dinh dưỡng vẫn chiếm ưu thế, thân chè ñã có một số cành nách, bộ rễ cũng ñã phát triển, có nhiều rễ bên
Giai ñoạn cây chè lớn: Sự phát dục của các khí quan trong cá thể cây
trồng ñạt mức cao nhất Sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực mạnh nhất, biểu hiện những ñặc trưng tốt xấu của một giống Thời kỳ này kéo dài khoảng 20 - 30 năm, dài ngắn tùy theo ñiều kiện giống, ñất ñai, trình
ñộ quản lý, chăm sóc và khai thác
Giai ñoạn cây chè già: Các khí quan của cá thể cây trồng ñã bắt ñầu
già yếu, chức năng sinh lý giảm, khả năng ra hoa kết quả ở thời kỳ ñầu nhiều, sinh trưởng dinh dưỡng kém Bộ phận tán cây có hiện tượng chết dần Khả năng sinh thực ở thời kỳ cuối cũng giảm thấp Cổ rễ bắt ñầu mọc một số cành vượt, lóng dài, da ñỏ, dấu hiệu của sự thay ñổi bộ khung tán cũ: nếu ñốn trẻ lại thì cây có khả năng phục hồi sinh trưởng tốt
Ngoài tổng chu kì phát dục, cây chè còn có chu kỳ phát dục hàng năm
Chu kỳ này bao gồm hai giai ñoạn: sinh trưởng và tạm ngừng sinh trưởng Trong giai ñoạn sinh trưởng, các loại mầm dinh dưỡng sẽ phát triển hình thành búp, lá non và những ñợt búp chè mới; hệ rễ tiếp tục phát triển hình thành các rễ bên và rễ hấp thụ Các mầm sinh thực phát triển thành nụ, hoa và quả Sinh trưởng dinh dưỡng cũng như sinh trưởng sinh thực phụ thuộc vào giống, tuổi của cây, ñiều kiện ngoại cảnh, trình ñộ quản lý chăm sóc Các giai ñoạn sinh trưởng này dài hay ngắn tùy thuộc vào ñiều kiện khí hậu, thời tiết của mỗi vùng [10], [14]
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam
Chè là cây trồng có lịch sử lâu ñời (trên 4000 năm) Ngày nay, cây chè ñã trở thành một cây không còn xa lạ với bất cứ một dân tộc nào trên thế giới Chè
là thứ nước uống có giá trị, phổ biến với những sản phẩm ña dạng và phong phú như chè ñen, chè xanh, chè vàng, chè phổ nhĩ, chè Oolong Ngoài việc ñáp ứng
Trang 20các nhu cầu giải khát, dinh dưỡng, thưởng thức chè ở nhiều nước ñã ñược nâng lên tầm văn hoá với cả những nghi thức trang trọng của trà ñạo
Chè ñược xem như vị thuốc cổ xưa, nó còn cổ hơn nhiều loại thuốc nổi tiếng từ hàng ngàn năm trước ñây Từ lâu, chè ñược dùng ñể chế biến các loại thuốc trợ tim, cầm máu, lợi tiểu, .Những công trình nghiên cứu gần ñây cho thấy uống nước chè có tác dụng làm giảm quá trình viêm ở người bệnh thấp khớp, viêm gan mãn tính, làm tăng tính ñàn hồi của thành mạch máu Nước chè ñược dùng ñiều trị có kết quả các bệnh như lị, xuất huyết dạ dày, xuất huyết não
và suy yếu mao mạch do tuổi già, làm giảm tác hại của phóng xạ [11] Hàng tỷ người trên thế giới ñã dùng chè làm nước uống hàng ngày và xu hướng hiện nay ở một số nước phương Tây, ñặc biệt các nước theo ñạo Hồi, số người uống chè rất nhiều
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
Nguồn gốc của cây chè là ở Trung Quốc, cây chè vào Nhật Bản ở thế
kỷ thứ 8, sang Ảrập thế kỷ 9, ñến Nga, Pháp, Mỹ thế kỷ 17 Bắt ñầu từ thế
kỷ 18 ñến nay, cây chè phát triển với tốc ñộ nhanh cả về diện tích, năng suất
và sản lượng
Theo tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO) cho biết giá chè thế giới năm 2012 sẽ tăng do cầu vượt cung Kể từ năm 2009, ñã xảy ra tình trạng cầu vượt cung về chè ñen [40]
Giá chè cao trong năm 2011 với mức bình quân 2,85 USD/kg, làm tăng 2,2% thu nhập về xuất khẩu chè của các nước sản xuất, ñồng thời tăng thu nhập cho các vùng nông thôn và an ninh lương thực cho các hộ nông dân các nước sản xuất và xuất khẩu chè
Năm 2010, tiêu thụ chè toàn thế giới tăng 5,6%, ñạt 4 triệu tấn do thu nhập bình quân ñầu người tăng, ñặc biệt là tại các nước Trung Quốc, Ấn ðộ
và các nền kinh tế mới nổi Tại Trung Quốc nước tiêu thụ chè lớn nhất thế giới, tổng tiêu thụ chè năm 2010 tăng 1,4%, ñạt 1,06 triệu tấn Ấn ðộ tăng 1%,
Trang 21ñạt 828,89 tấn Sản lượng chè năm 2010 tăng 4,2%, ñạt 4,1 triệu tấn, trong ñó chè ñen tăng 5,5% [39]
Trung Quốc là nước sản xuất chè lớn thứ nhất thế giới với sản lượng 1,4 triệu tấn, chiếm 33% sản lượng của thế giới Sản lượng chè ñen thế giới
dự kiến tăng 1,87% hàng năm trong vòng 10 năm tới, thấp hơn mức 1,99% trong thập niên vừa qua và sẽ ñạt 3,28 triệu tấn vào năm 2021 Tiêu thụ chè
dự kiến tăng 1,8%/năm và ñạt 3,36 triệu tấn năm 2021 [40]
Sản lượng chè xanh thế giới dự kiến ñạt 2,6 triệu tấn vào năm 2021, tăng 7,2% hàng năm do nhu cầu tăng mạnh từ Trung Quốc và mức tiêu thụ là 2,3 triệu tấn dự kiến cho năm 2021 [39]
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam
* Giai ñoạn ñầu 1890 - 1945
Những ñồn ñiền chè ở Việt Nam ñược thành lập ở Tình Cương (Phú
Thọ) 60 ha, ñến nay vẫn còn mang tên ñịa danh là Chủ Chè [22], ở ðức Phổ
(Quảng Nam) 250 ha
Trong những năm 1925 - 1940, người Pháp ñã mở thêm các ñồn ñiền chè ở cao nguyên Trung bộ với diện tích khoảng 2.750 ha
Tính ñến năm 1938, Việt Nam có 13.505 ha chè với sản lượng 6.100 tấn chè khô [15] Diện tích chè phân bố chủ yếu ở các vùng Trung du, miền núi Bắc Bộ và cao nguyên Trung bộ, trong ñó trên 75% diện tích do người Việt Nam quản lý
Năm 1939, Việt Nam ñạt sản lượng 10.900 tấn chè khô, ñứng thứ 6 sau
Ấn ðộ, Trung Quốc, Srilanka, Nhật Bản và Inñônexia [15]
ðặc ñiểm nổi bật ở giai ñoạn này là diện tích trồng chè phân tán mang tính tự cấp, tự túc, kỹ thuật canh tác sơ sài, phương thức quảng canh là chính
Ở giai ñoạn này có 3 cơ sở nghiên cứu chè ñược thành lập :
+ Trạm nghiên cứu chè Phú Hộ (Phú Thọ) thành lập năm 1918
+ Trạm nghiên cứu chè Plâycu (Gia Lai) thành lập năm 1927
Trang 22+ Trạm nghiên cứu chè Bảo Lộc (Lâm đồng) thành lập năm 1931
* Giai ựoạn 1945 - 1954
Giai ựoạn này bị ảnh hưởng của chiến tranh, các vườn chè bị bỏ hoang,
ắt ựược ựầu tư chăm sóc Diện tắch, sản lượng chè trong thời gian này bị giảm sút nhiều [15]
* Giai ựoạn 1954 - 1990
Giai ựoạn này nhờ có các chương trình phát triển nông nghiệp của Nhà nước ta, cây chè ựã dần ựược chú ý, chè là cây trồng có giá trị kinh tế cao, có tầm quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở vùng trung du và miền núi
Trong những năm 1958 - 1960, hàng loạt các nông trường chè ựược thành lập dưới sự quản lý của các ựơn vị quân ựội Từ những năm 1960 -
1970 chè ựược phát triển mạnh ở cả 3 khu vực: Quốc doanh, hợp tác xã chuyên canh chè và hộ gia ựình
Các cơ sở nghiên cứu chè ở Phú Hộ (Phú Thọ), Bảo Lộc (Lâm đồng) ựược củng cố và phát triển Hàng loạt các vấn ựề như giống, kỹ thuật canh tác, chế biến ựược ựầu tư nghiên cứu Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật ựược
áp dụng rộng rãi vào sản xuất, góp phần tăng nhanh diện tắch chè lên 60.000
ha (tăng 28%); sản lượng tăng từ 21.000 tấn chè khô lên 32.000 tấn chè khô (tăng 53,3%) [15]
Công nghệ chế biến chè cũng ựược phát triển mạnh, nhiều nhà máy chè xanh, chè ựen ựược xây dựng ở Phú Thọ, Nghĩa Lộ, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Ầ với sự giúp ựỡ về kỹ thuật, vật chất của Liên Xô (cũ), Trung Quốc Phần lớn chè ựược xuất khẩu sang Liên Xô (cũ) và các nước đông Âu [15]
* Giai ựoạn 1990 ựến nay
Giai ựoạn này, lúc ựầu bình quân mỗi năm diện tắch trồng chè tăng 4,16%, sản lượng tăng 6,9% Năm 1998 tổng diện tắch chè là 80.000 ha, trong
ựó trồng mới 1.400 ha, sản lượng 50.000 tấn chè búp khô Năm 2002, diện
Trang 23tích ñạt 98.000 ha, sản lượng ñạt 94.200 tấn chè khô Năm 2005 ñến tháng 2 năm 2006, tổng diện tích chè ñạt 125.000 ha, trong ñó diện tích chè kinh doanh ñạt 105.000 ha, sản lượng chè khô ñạt 133.350 tấn chè khô [7]
ðến năm 2010, diện tích chè cả nước ñạt 129,4 ngàn ha, trong ñó 113,3 ngàn ha cho thu hoạch với năng suất bình quân 73 tạ búp chè tươi/ha So với năm 2000, diện tích tăng 45,4%, năng suất tăng 74,6% Năm 2011, mặc dù diện tích chè cả nước giảm 2,8% so với năm 2010 song diện tích cho thu hoạch tăng 1,4% nên sản lượng thu hoạch vẫn tăng 6,5%, ñạt hơn 888,6 nghìn tấn búp tươi Hiện ngành chế biến chè cả nước có tổng công suất theo thiết kế 4.646 tấn/ngày, năng lực chế biến gần 1,5 triệu tấn búp/năm Trong ñó, có hơn 450 cơ sở chế biến chè quy mô công suất từ 1.000 kg chè búp tươi/ngày trở lên [2],[6]
Tuy nhiên, ñể ngành chè phát triển và nâng cao giá trị cần mối liên hệ chặt chẽ hơn giữa giữa người trồng chè với các doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ chè Phấn ñấu trong vòng 5 năm tới (2011-2015) ổn ñịnh diện tích ở 130 ngàn ha, với mức tăng trưởng sản lượng 6%/năm, ñưa kim ngạch xuất khẩu tăng ít nhất 2 lần so với hiện nay ðể ñạt ñược những mục tiêu này, ngành chè cần căn cứ vào nhu cầu thị trường, khẩn trương cơ cấu lại và ña dạng hóa sản phẩm trà Tập trung ñầu tư mới và nâng cấp các nhà máy chế biến theo hướng hiện ñại, sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao cũng như tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa người trồng chè với các doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ ñể nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển ổn ñịnh, tăng thu nhập cho người trồng chè [2]
Ngành chè Việt Nam ñã xuất khẩu ñến 110 quốc gia và khu vực trên thế giới, trong ñó có 3 nước ñạt kim ngạch trên 10 triệu USD là Pakistan , Nga, Trung Quốc Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu chè ñạt xấp xỉ 200 triệu USD, tuy giảm nhẹ so với năm 2010 nhưng cao gấp 3,4 lần so với năm
2000 [2]
Trang 242.3 Cơ sở khoa học của kĩ thuật sử dụng phân bón cho cây chè
Bón phân cho chè trong thời kỳ sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp ñến sinh trưởng, sản lượng và phẩm chất của chè Xây dựng một quy trình bón phân hợp lý cho chè cần phải căn cứ vào ñiều kiện ñất ñai cũng như ñiều kiện ngoại cảnh và ñặc ñiểm sinh lý của cây [10]
* Cơ sở khoa học của việc bón phân cho chè gồm những ñiểm chính như sau Cây chè có khả năng liên tục hút dinh dưỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như trong chu kỳ phát dục cả ñời sống của nó Mặc dù trong ñiều kiện của Việt Nam, về mùa ñông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, nhưng vẫn yêu cầu lượng dinh dưỡng tối thiểu, do ñó việc cung cấp dinh dưỡng cho cây cần ñầy ñủ và thường xuyên trong năm
Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây chè không có giới hạn rõ ràng và là một quá trình mâu thuẫn thống nhất Vì vậy, cần phải bón phân hợp lý ñể khống chế quá trình sinh thực cho cây chè thu hái búp và khống chế quá trình sinh trưởng dinh dưỡng cho cây chè thu hoạch hạt giống
Khả năng thích ứng với ñiều kiện dinh dưỡng của cây chè rất rộng rãi
Nó có thể sống ở nơi ñất rừng màu mỡ mới khai phá song cũng có thể sống
ở những nơi ñất nghèo dinh dưỡng và vẫn cho năng suất nhất ñịnh Do ñặc ñiểm ñó, muốn nâng cao năng suất chè chúng ta cần phải bón phân ñầy ñủ ðối tượng thu hoạch chè là búp và lá non Mỗi năm thu hoạch từ 5 –
10 tấn búp/ha, vì thế, lượng dinh dưỡng trong ñất mất ñi khá nhiều, nếu không bổ sung kịp cho ñất thì cây trồng sẽ sinh trưởng kém và cho năng suất thấp [10]
Theo Eden (1958) trong búp chè non có 4,5% N; 1,5% P2O5 và 1,2 - 2,5% K2O Những kết quả nghiên cứu của Jolemuanu cho thấy nhu cầu dinh
Trang 25dưỡng khoáng của cây chè rất lớn Ngoài ra hàng năm khối lượng cành lá ñốn cũng xấp xỉ bằng khối lượng búp và lá non ñã thu hoạch, ñất trồng chè trên sườn dốc thường bị sói mòn, cũng làm mất ñi của ñất một lượng dinh dưỡng lớn và theo Daraxêlia thì lượng ñạm bị rửa trôi thường bằng 1/3 tổng lượng ñạm bón vào ñất [10]
Bảng 2.1 Hàm lượng một số nguyên tố khoáng trong chè và cây trồng
khác (% chất tro)
Bảng 2.2 Hàm lượng N trong chè nguyên liệu (% chất khô)
Dạng ñạm Nhóm chè
(Nguồn Giáo trình cây công nghiệp 1996)
Từ những dẫn liệu trên ñây, cho thấy rằng cây chè có những ñặc ñiểm dinh dưỡng khác với một số cây trồng khác, nhu cầu về dinh dưỡng khoáng của cây chè rất lớn Vì vậy, cần xét từng ñiều kiện cụ thể ñể xây dựng chế
ñộ bón phân hợp lý cho chè [10]
Trang 26* Vai trò của phân khoáng ựối với cây chè
Mục ựắch của việc bón phân là nhằm bảo ựảm dinh dưỡng cân ựối cho cây trồng và không ựể các chất dự trữ trong ựất giảm xuống dưới mức cây cần Trên nguyên tắc duy trì ựộ phì sẵn có trong ựất dễ dàng và ựỡ tốn kém hơn là khôi phục ựộ phì của ựất do hậu quả của việc bón phân không hợp lý trong thời gian dài (Andre Gros, 1967) [1]
Sử dụng phân bón cho chè là vấn ựề khá phức tạp bởi tắnh ựa dạng và phức tạp của ựất ựai vùng ựồi núi Xu thế hiện nay các tác giả ựều cho rằng bón phân cho chè kết hợp 3 yếu tố N, P, K là cần thiết, song tỷ lệ và liều lượng bao nhiêu là hợp lý cũng rất phụ thuộc vào ựiều kiện ựất ựai, thời tiết
và khắ hậu của từng vùng Nhu cầu dinh dưỡng của cây chè ựược nhiều nhà nghiên cứu nhìn nhận từ các khắa cạnh khác nhau, hoặc hiệu suất thu hoạch trên ựơn vị phân bón, hoặc với một ựơn vị năng suất lấy ựi một lượng dinh dưỡng cần thiết các yếu tố khác nhau
Những kết quả nghiên cứu về nhu cầu phân bón và các thực nghiệm
về hiệu lực phân bón ựã chứng minh: ựạm là yếu tố chủ yếu ựối với cây chè, có tương quan chặt chẽ với năng suất Tương quan giữa năng suất chè với ựạm là tuyến tắnh với cả mức bón phân cao hơn 120kg N/ha Khi lượng bón trên 80 Ờ 90kg N/ha thì tối thiểu phải bón làm 2 lần Hiệu ứng của ựạm
là tác ựộng tắch lũy, vượt qua giới hạn của một năm mà phải tắnh qua các chu kỳ thu hái
Theo kết quả nghiên cứu ở Assam Ấn độ thấy rằng hiệu lực ựạm tăng ựều ựặn theo thời gian: hiệu suất của 1kg N của lần bón thứ 1, 2, 3 và 4 là 2kg, 4kg, 6kg và 8kg chè khô
Ở đông Phi hiệu suất của 1kg N là từ 4 Ờ 8kg chè khô Nếu như hiệu suất dưới 4 kg chè khô/kg N thì ựã xuất hiện yếu tố hạn chế P hoặc K Tác dụng ựầy ựủ của ựạm ựược thể hiện chỉ trên nền ựảm bảo các yếu tố khác (Willson K C, 1992) [38]
Trang 27Trong nhiệm kỳ kinh tế vài chục năm của ñời sống cây chè với các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Willson K C (1992) [38] ñã xác ñịnh rằng cây chè ở giai ñoạn ñầu sau trồng (1 – 3 tuổi) sang giai ñoạn cho thu búp (4 – 6 tuổi) lượng ñạm ñược bón làm nhiều lần, bón từ 30 kg N/ha tăng dần nhưng không vượt quá 100kg N/ha Hiệu lực của lượng ñạm 100kg N/ha ñạt cao nhất ở ñộ tuổi 7 – 8 ñến 10 – 12 tuổi Thời kỳ 10 – 12 tuổi lượng ñạm bón
có hiệu lực cao nhất từ 200 – 300 kg N/ha, nhưng năng suất búp của 1 kg N cao nhất không quá 200 kg N/ha ở những nương chè có mức năng suất 5 – 8 tấn ñọt tươi/ha, còn những nương chè có năng suất trên 10 tấn/ha ñầu tư ñến 300kg N/ha vẫn cho hiệu suất cao Tất cả các liều lượng bón trên 300kg N/ha không làm tăng năng suất chè và hiệu suất giảm Các nương chè trên 20 tuổi hiệu quả phân ñạm tốt nhất với liều lượng bón không nên quá 200kg N/ha Cũng theo Willson K.C and M.N Lifford (1992) [38] ñể thu hoạch 1 tấn chè búp tươi cần phải bón 32,0 - 33,5 kg N; 16,5 - 18,0 kg P2O5; 2,0 – 10,0kg
K2O Trong ñó chỉ một nửa dinh dưỡng bị lấy ñi bởi thu hái búp, ñược tích lũy trong 25 – 28% lượng vật chất khô trong búp thu hoạch Bởi vậy cung cấp lượng dinh dưỡng hằng năm cho cây chè cần quan tâm ñến sự tiêu hao cho quá trình duy trì bộ khung tán cây chè, bộ rễ, sinh khối phần ñốn hằng năm,
và duy trì hệ sinh vật ñất các quá trình rửa trôi, bốc hơi, cỏ dại…
2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về sử dụng phân bón cho cây chè
2.4.1 Những nghiên cứu về sử dụng phân bón cho cây chè trên thế giới
2.4.1.1 Những kết quả nghiên cứu về sử dụng các loại phân bón cho cây chè
Bằng phương pháp phân tích hoá học người ta ñã tìm thấy trong cây có
74 nguyên tố hoá học trong ñó 4 nguyên tố C, H, O, N chiếm tới 95% và là thành phần chủ yếu tạo nên chất hữu cơ của cây, các nguyên tố khoáng còn lại
có trong thành phần tro của cây nhưng với hàm lượng rất khác nhau ở các loại cây và các bộ phận khác nhau trên cùng một cây ðến nay người ta ñã xác
Trang 28ñịnh ñược 16 nguyên tố không thể thiếu ñược ñối với sự sinh trưởng và phát triển của cây Những nguyên tố này ñược gọi là chất dinh dưỡng cơ bản Chúng bao gồm các nguyên tố C, H, O ñược cây nhận từ khí quyển, còn lại là các nguyên tố N, P, K, S, Ca, Mg, Fe, Zn, Mn, Cu, B, Mo và Cl ñược cung cấp từ nguồn dự trữ trong ñất hoặc thông qua việc sử dụng phân bón
Phân vô cơ trong ñó 3 nguyên tố chính là N, P, K và một số nguyên tố trung lượng như Mg, S, Ca, Fe, Al, … vẫn ñược coi là nguồn phân bón không thể thiếu ñược với cây chè nói riêng cũng như các loại cây trồng nói chung Dinh dưỡng khoáng có liên quan mật thiết tới sinh trưởng phát triển của cây Trong ñó bộ lá chè là cơ quan mẫn cảm nhất phản chiếu mức ñộ tốt xấu của cây trồng và ñiều kiện dinh dưỡng của môi trường sống
* Những kết quả nghiên cứu về sử dụng phân ñạm cho cây chè
Cây chè là cây trồng thu hoạch lá nên ñạm là chất dinh dưỡng quan trọng nhất Năng suất búp phụ thuộc chặt chẽ vào lượng bón N (Marwaha và Sharma 1977 [32], Grice 1982 [30], Sandanam và Rajasingham 1987 [34] Trong cây, hàm lượng ñạm tập trung nhiều nhất ở các bộ phận non như búp và lá non, ñạm có ảnh hưởng rõ rệt ñến sinh trưởng của cây và có ảnh hưởng trực tiếp ñến năng suất Thiếu ñạm cây sinh trưởng kém, lá nhỏ, búp nhỏ và búp bị mù nhiều, do ñó năng suất thấp Yêu cầu về ñạm thay ñổi tùy theo loại ñất tuổi của cây và năng suất của vườn chè Tài liệu của trại thí nghiệm chè Phú Hộ - Phú Thọ cho thấy bón ñạm ñầy ñủ, sản lượng búp chè tăng 2 - 2,5 lần so với ñối chứng không bón Theo M.L Bziava (1973) liều lượng ñạm tăng, sản lượng búp sẽ tăng, song ñể ñạt ñược năng suất 10 T/ha bón 200 kg N/ha cho hiệu quả kinh tế cao nhất [10]
Về phẩm chất, nhiều tài liệu ở nước ngoài như Nhật Bản, Ấn ðộ, Srilanca ñều cho rằng bón ñạm không hợp lý, bón quá nhiều hoặc bón ñơn ñộc ñều làm giảm chất lượng chè (ñặc biệt là ñối với nguyên liệu dùng ñể
Trang 29chế biến chè ñen) Những công trình nghiên cứu của Liên Xô cho thấy liều lượng ñạm 300kg/ha thì hàm lượng tanin, cafein và vật chất hòa tan trong búp chè ñều cao, có lợi cho phẩm chất, song nếu vượt quá giới hạn trên thì phẩm chất chè giảm thấp Khi bón nhiều ñạm hàm lượng protein ở trong lá tăng lên Protein kết họp với tanin thành các hợp chất không tan vì thế lượng tanin trong chè bị giảm ñi Mặt khác khi bón nhiều ñạm, hàm lượng ancaloit trong chè tăng lên làm cho chè có vị ñắng [10]
Bón các dạng phân ñạm khác nhau có ảnh hưởng nhiều ñến sự phát triển của bộ rễ, cây chè có bộ rễ phát triển tốt làm cơ sở cho việc tăng năng suất Với 3 loại phân ñạm ñưa vào nghiên cứu (NH4)2SO4, (NH4)NO3, CaCN2thì dạng phân (NH4)NO3 có tác dụng tốt nhất ñến khối lượng bộ rễ, mà nhất là
rễ dẫn (khối lượng bộ rễ tăng gấp 3 lần so với bón P và K) Còn dạng CaCN2làm ảnh hưởng xấu ñến sự phát triển của bộ rễ (khối lượng bộ rễ giảm 3 lần
so với bón P, K)
Tác giả Othieno 1994 [33] cho biết việc bón N ñơn ñộc kéo dài nhiều năm (từ những năm 1960 ñến những năm 1990) ñã gây ra sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng ñặc biệt là P và K trong ñất Qua việc phân tích ñất và lá chè cho thấy cây chè ở Kenya cần loại phân có N, P, K, S với tỷ lệ phối hợp 25:5:5:5 hoặc N, P, K với tỷ lệ 20:10:10
Tác giả Wang Xia Ping 1989 [36] cho biết ñất trồng chè ở Trung Quốc rất nghèo và thiếu dinh dưỡng nên ngay từ những năm 1960 Trung Quốc ñã chú trọng bón ñủ N, P, K và tăng lượng phân bón trên những diện tích ñất thiếu hụt dinh dưỡng
* Những kết quả nghiên cứu về sử dụng phân lân với cây chè
Lân chứa trong búp khá lớn, cứ thu hoạch 1 tấn búp, tức ñưa ra khỏi ñất 4- 5 kg P2O5, mà lân có trong ñất, cây trồng khó sử dụng do ñất có khả năng hấp phụ và giữ chặt lân cao (ở ñất sét 73% lượng lân bị hấp phụ, ñất nâu rừng
Trang 30là 56%, ñất podzolic 69%, ñất nâu bạc 86% ) vì thế khi bón lân cho chè cần bón với lượng cao hơn nhiều so với yêu cầu của cây
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của bón N, P, K ñến năng suất búp Tác giả Othieno 1994 [33] ñã kết luận: khi bón P ñơn ñộc hoặc P kết hợp với K (không có ñạm), hiệu lực của 2 loại phân này hầu như không có tác dụng, chỉ làm tăng năng suất búp ñược 2- 3% so với công thức không bón phân, thí nghiệm lặp lại nhiều năm (5 năm) ñều cho kết quả tương tự Khi bón P, K trên nền N (300N) năng suất tăng 14% so với bón N ñơn ñộc
Theo các tài liệu nghiên cứu của Liên Xô, bón lân có ảnh hưởng tăng năng suất và phẩm chất búp chè rõ rệt J ðimitrôva (1965) cho rằng hiệu quả của phân lân ñược nâng lên một cách rõ rệt trên ñất ñã ñược bón N, K Ngược lại hiệu quả của phân lân thấp không những do lân bị cố ñịnh trong ñất mà còn do ñất thiếu N, K Một ñặc ñiểm cần chú ý là hiệu quả về sau của lân kéo dài tới 20 - 25 năm Trên ñất ñỏ (Liên Xô) hiệu quả về sau của lân thường cao hơn những năm bón trực tiếp Theo nghiên cứu của F H Urusatze thì hiệu quả trực tiếp của 3 năm bón lân với liều lượng 120 - 960kg/ha trên nền N, K là tăng sản lượng búp 5 -30% so với ñối chứng bón N, K Song hiệu quả tăng sản lượng bình quân trong 21 năm về sau là
60 - 78%
Những nghiên cứu của Cuaxanop (1954) T.C Mgaloblisvili (1966) ñều khẳng ñịnh bón phân lân trên nền N,K làm tăng hàm lượng catechin trong búp chè, có lợi cho phẩm chất
Ở nước ta, việc nghiên cứu hiệu quả của phân lân ñối với năng suất và phẩm chất búp mới tiến hành chưa ñược bao lâu Song kết quả sơ bộ rút ra từ thí nghiệm 10 năm bón phân N,P,K cho chè tại trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy: trên cơ sở bón 100 kgN/ha, bón thêm 50kg P2O5 qua từng năm không có sự chênh lệch gì ñáng kể về năng suất, nhưng từ năm thứ 7 trở ñi
Trang 31bội thu tăng dần một cách rõ rệt và sau 10 năm thì supe lân tỏ ra có hiệu lực chắc chắn và ñáng tin cậy Bình quân 10 năm 1kg P2O5 ñã làm tăng ñược 3,5kg búp chè
Kết quả phân tích lá chè và ñất trồng chè ở Liên Xô cho thấy: ở cây chè thiếu lân, hàm lượng lân (P2O5) trong lá là 0,27 - 0,28%, trong búp là 0,5 - 0,75% Cây chè ñủ dinh dưỡng hàm lượng lân tương ứng là 0,33 - 0,39% và 0,82 - 0,86% nếu trong ñất hàm lượng P2O5 dt dưới 30 - 32mg/100g ñất, là ñất thiếu lân [10]
* Những kết quả nghiên cứu về sử dụng phân kali với cây chè
Vai trò của kali có ảnh hưởng tới sinh trưởng và năng suất búp còn là vấn ñề chưa rõ ràng, có nhiều kết quả nghiên cứu khác nhau
Wanyoko và Othieno 1987 [37] với thí nghiệm bón K cho chè trong thời gian 5 năm, với 4 mức bón K khác nhau (0, 50, 100 và 250 kg
K2O/ha/năm) ñi tới kết luận: với mức bón kali khác nhau không làm tăng năng suất búp chè hàng năm ở mức có ý nghĩa
Với thí nghiệm bón N và K cho chè (2 mức bón N là 224 và 336 kg/ha kết hợp với 2 mức bón kali là 70 và 140 K2O) kéo dài 21 năm (từ năm 1973- 1993) cho thấy: ở các mức bón N và K khác nhau không làm tăng năng suất ở mức có ý nghĩa
Khi nghiên cứu bón kali cho chè trong 3 năm, với 3 mức bón K2O khác nhau (70, 140 và 200 kg/ha) trên nền bón N và P ñã kết luận: chè ñược bón kali năng suất tăng so với ñối chứng (nền) từ 21,0; 24,0 và 30,0% (ở mức bón kali tương ứng 70, 140 và 200 kg/ha)
Krishna Moothy 1985 [31] khi nghiên cứu ảnh hưởng của bón kali trên các loại ñất khác nhau, ñến năng suất chè ñã cho thấy: trên các loại ñất có hàm lượng kali tổng số và dễ tiêu nghèo, việc bón kali ñã làm tăng năng suất
ở mức ñộ tin cậy Nhu cầu K thay ñổi tùy theo loại ñất, cần ñịnh ra mức bón
Trang 32K phù hợp và cân ñối với các loại phân khác Trong ñiều kiện các chất dinh dưỡng ñủ và cân ñối cây chè cho năng suất cao Việc ñịnh ra mức bón kali chung là khó khăn, khi mà một trong các ñiều kiện như ñất ñai, ñịa hình, năng suất, kỹ thuật canh tác và thời tiết khí hậu khác nhau
Theo nghiên cứu của F.Hurisa (Liên Xô) thì hiệu quả trực tiếp của 3 năm bón lân và liều lượng 126 - 196 kg/ha trên nền N, K tăng sản lượng búp
5 - 30% so với ñối chứng chỉ bón N, K song hiệu quả tăng bình quân 21 năm
về sau là 60-78% Ở Liên Xô (cũ) trên ñất ñỏ hiệu quả phân lân ở những năm sau thường cao hơn năm trực tiếp bón [4]
Trên những nương chè mới trồng, phân kali không có hiệu quả vì trên những loại ñất mới khai phá hàm lượng K2O trong ñất ñủ cho yêu cầu sinh trưởng phát triển của cây (20 - 25mg K2O/100g ñất) ở những nơi thường xuyên bón N, K với liều lượng cao trong nhiều năm, ñất trở nên thiếu kali thì hiệu quả việc bón K2O rất rõ rệt, theo số liệu của G.S Goziaxivili (1949) bón K2O trên ñất ñỏ với liều lượng 80 - 320kg/ha có thể tăng sản 28 - 55%
so với ñối chứng bón N,P Những nghiên cứu của A.D Makharobitze (1948) cho thấy phẩm chất nguyên liệu trong các công thức bón phân khác nhau ñược xếp theo thứ tự sau: P, K, N và không bón Những kết quả nghiên cứu của Liên Xô cho thấy: hàm lượng kali trong lá dưới 0,5%, dấu hiệu thiếu kali biểu hiện rõ, trên 1% thì cây sinh trưởng bình thường Hàm lượng K2O dưới 15mg/100g ñất là thiếu kali, trên 15mg/100g ñất, cây sinh trưởng bình thường [10]
Kết quả sử dụng phân kali cho những nương chè sản xuất ở ta rất rõ rệt Kali có ảnh hưởng tốt ñến sinh trưởng và sản lượng búp
Tùy theo năng suất, lượng kali bón cho chè kinh doanh ñược quy ñịnh cụ thể như sau:
Loại ñạt năng suất búp tươi dưới 6t/ha, bón 40 - 60 kg K2O/ha
Trang 33Loại ñạt năng suất búp tươi từ 6 - 10t/ha, bón 60 - 80 kg K2O/ha
Loại ñạt năng suất búp tươi trên 10t/ha, bón 80 - 100 kg K2O/ha
Phân kali bón làm hai lần vào tháng 1 và tháng 7
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về phân bón cho chè mới bắt ñầu trong những năm gần ñây, vì vậy xác ñịnh tỷ lệ phối hợp N, P, K ñể ñạt hiệu quả kinh tế cao nhất còn ñang là vấn ñề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết [10]
* Những kết quả nghiên cứu về sử dụng phân hữu cơ với cây chè
Bón phân hữu cơ cho chè ngoài việc cung cấp thức ăn cho cây, còn có tác dụng cải thiện tính chất vật lý, hóa học, sinh vật học và chế ñộ nước trong ñất Nguồn phân hữu cơ gồm có phân chuồng, phân trấp, phân xanh
và các nguyên liệu ép xanh (dùng cành lá sau khi ñốn vùi vào giữa hai hàng chè) [10]
Người ta rất coi trọng hiệu quả về sau của việc bón phân hữu cơ cho chè Kết quả nghiên cứu của N.L.Bziava (1973) cho thấy trung bình 16 năm, phân chuồng làm tăng sản lượng búp 18%, phân xanh 16% và phân trấp 9% Theo quy trình hiện nay ñối với chè kinh doanh 3 năm, bón phân hữu cơ một lần với liều lượng 25t/ha [10]
* Nhận xét chung về bón phân ñối với năng suất chè
Với các kết quả nghiên cứu của một số tác giả ñã trình bày ở trên việc bón phân ñơn ñộc hoặc bón thiếu một nguyên tố nào ñó ñều có ảnh hưởng xấu ñến năng suất búp chè Trong số các nguyên tố bón ñơn ñộc thì N là yếu tố có ảnh hưởng ñến năng suất so với không bón phân, bón N làm tăng năng suất cao nhất, nhưng chỉ cao ở thời gian 3- 5 năm ñầu sau ñó giảm dần Bón N ñơn ñộc kéo dài gây ra sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng ñặc biệt là P và K (Othieno 1994) [33] Bón P hoặc P với K (không có ñạm) năng suất tăng không có ý nghĩa so với không bón phân Bón K ñơn ñộc hoặc không cân ñối
Trang 34với các nguyên tố khác, năng suất không thay ñổi giữa các lượng bón kali khác nhau
Khi bón ñủ các yếu tố N, P, K cây chè cho năng suất cao ñặc biệt là bón
vô cơ kết hợp với hữu cơ năng suất tăng 30-40% Hiện nay phân bón cho chè chủ yếu là bón ñủ và cân ñối N, P, K ngoài ra ở một số nước như Indonesia, Kenya, Srilanka còn chú ý ñến 2 nguyên tố trung lượng là Mg và S
2.4.1.2 Những kết qủa nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón ñến chất lượng chè
Chất lượng chè phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau như giống, khí hậu, kỹ thuật thu hái, ñất ñai và phân bón
Tác giả Ramasvamy 1983 [33] nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón ñến năng suất và chất lượng chè ñã kết luận: phân bón ảnh hưởng không ñáng
kể ñến phẩm chất chè chế biến ðối với phẩm chất chè việc bón phối hợp ñủ 3 yếu tố N, P, K chất lượng chè tốt hơn so với bón N ñơn ñộc Bón nhiều N ở bất kỳ dạng nào cũng ñều làm giảm phẩm chất chè Không thấy có ảnh hưởng xấu của K ñến phẩm chất chè khô Bón P có tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượng chè thành phẩm
De Geus 1982 [6] cho thấy chè ñược bón ñủ N, P, K ñã làm tăng phẩm chất chè Bón N ñơn ñộc nhất là bón N dạng Urê làm giảm phẩm chất chè rõ rệt, bón P làm tăng hương vị của chè ñen
White Head và Temple 1990 [35] cho biết việc bón N có ảnh hưởng xấu ñến chất lượng chè là do: khi bón N ñơn ñộc với lượng nhiều (trên 200N/ha) hàm lượng N tích lũy nhiều trong lá non và búp làm ảnh hưởng ñến quá trình tổng hợp axit amin, làm giảm các hợp chất như: Chlorophyll, Catesin, Caffein dẫn ñến làm giảm chất lượng chè
Như vậy phân bón có ảnh hưởng ñến phẩm chất chè khi các yếu tố ñược bón ñơn ñộc, không cân ñối Ảnh hưởng của phân bón ñến chất lượng chủ yếu là một số các yếu tố như kỹ thuật thu hái, quá trình chế biến, giống chè, ñiều kiện ñịa hình
Trang 352.4.2 Các kết quả nghiên cứu kỹ thuật bón phân cho cây chè tại Việt Nam
Năm 1969- 1979 với sự giúp ựỡ của Viện thổ nhưỡng nông hóa, trại thắ nghiệm chè Phú Hộ ựã tiến hành làm thắ nghiệm bón phân khoáng N, P, K cho chè Kết quả ựược tác giả đỗ Ngọc Quỹ và các cộng tác viên [21] cho biết: bón N và nhất là bón Kali có tác dụng rất rõ ựến việc làm tăng năng suất chè Bón lân năng suất ắt chênh lệch so với ựối chứng Bón kali làm cho
pHKCL của ựất ựược tăng lên
Phân bón còn ảnh hưởng ựến chất lượng nguyên liệu búp chè Việc bón phân ựạm ựơn ựộc với lượng cao (100N ựến 200kgN/ha) cho chè ựã cho thấy, với lượng bón 100kgN/ha- làm giảm hàm lượng tanin tổng số 1,4% và 2,8% với lượng 200kgN/ha Làm giảm lượng chất hòa tan tổng số là 0,6% với lượng bón 100N và 1% với lượng bón 200N Bón ựạm ựơn thuần năng suất tăng ựến năm thứ 7 và từ năm thứ 8 thì giảm dần
Phạm Kiến Nghiệp, 1984 [17, Khi nghiên cứu bón phân ựạm ựơn ựộc với lượng cao (100, 200, 300, 400kgN/ha) ] ở vùng chè Bảo Lộc- Lâm đồng cho thấy:
Lượng ựạm bón tăng dẫn tới năng suất tăng- nhưng hiệu suất sử dụng 1
kg N lại giảm Với lượng bón 100kgN/ha, 1 kg N cho thu hoạch 9 kg chè búp, còn lượng bón 400N 1 kg N cho thu hoạch 6 kg chè búp
Bón lượng ựạm cao ựã làm giảm hàm lượng tanin tổng số từ 1,3% ựến 2,9%, làm giảm chất hòa tan từ 1% ựến 3,1% nhưng lại làm tăng hàm lượng
N tổng số trong búp chè (so với không bón phân)
Với những số liệu trên ựã chứng tỏ bón ựạm ựơn ựộc với lượng cao có ảnh hưởng không tốt ựến chất lượng búp chè đó là một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng chè chế biến không cao
Ở Việt Nam vấn ựề sử dụng phân khoáng cho chè còn gặp nhiều khó khăn, phần lớn ựất trồng chè rất nghèo dinh dưỡng, ựịa hình ựa dạng và phức tạp, khả năng ựầu tư phân bón thâm canh cho chè rất hạn chế, kết quả nghiên
Trang 36cứu chưa nhiều Sử dụng N:P:K mất cân ñối, nhìn chung chú ý nhiều lượng bón N mà ít chú ý ñến các nguyên tố khác, vì thế ñã không phát huy ñược hiệu quả của bón phân, ñặc biệt chất lượng nguyên liệu chè giảm Lượng bón phân vô cơ ở Việt Nam thấp hơn các nước Nhật Bản, Srilanka Do vậy việc nghiên cứu liều lượng, tỷ lệ bón của một số yếu tố phân bón cho chè là rất cần thiết trong thâm canh chè hiện nay
Theo kết quả thống kê của FAO mức ñầu tư phân bón cho chè ở Việt Nam bình quân 200kg N, 50kg P2O5, 50kg K2O/ha Song theo hiệp hội phân bón quốc tế (IFA) mức phân bón khuyến nghị với chè kinh doanh là 90kg N, 240kg P2O5, 360kg K2O/ha Qua ñiều tra 1990 – 1994 ở Việt Nam (Nguyễn
Tử Siêm, 1996) [23] lượng bón thực tế cho cây chè kinh doanh bình quân là
ñộ hòa tan và tăng lượng tannin ñóng góp vào việc tăng phẩm chất búp chè
rõ rệt
Theo tác giả Vũ Cao Thái 1996 [26], việc sử dụng phân bón cân ñối là một tiền ñề duy trì năng suất cao và tiết kiệm phân bón Sử dụng phân bón không cân ñối có thể dẫn ñến thoái hóa ñất và suy giảm sức sản suất của cây Mục tiêu của sử dụng phân bón cân ñối là tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, hiệu chỉnh sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng của cây trồng mà ñất thiếu, duy trì, nâng cao ñộ phì nhiêu của ñất
Trang 37Với chè giai ñoạn ñầu kinh doanh, ðinh Thị Ngọ 1996 [18], cho thấy: cùng tổng lượng bón N + P2O5 + K2O là 200 kg/ha, tỷ lệ bón phối hợp N : P :
K khác nhau, chè cho năng suất khác nhau Các tỷ lệ phối hợp có N chiếm tỷ
lệ cao chè cho năng suất cao hơn, tỷ lệ phối hợp N : P : K = 2 : 2 :1 chè cho năng suất cao và hiệu quả kinh tế Về sử dụng phân khoáng, qua kết quả thí nghiệm trong chậu cho thấy vai trò của N ñối với sự tăng sinh khối của chè KTCB rất rõ Về tác dụng tăng sinh khối có thể xếp thứ tự như sau: N>P>K
Về chất lượng chè, ðinh Thị Ngọ (1996) [18] cho thấy: thay ñổi tỷ lệ các nguyên tố N, P, K trong hỗn hợp phân bón, với tỉ lệ chênh nhau giữa các nguyên tố không vượt quá 2 lần, chưa nhận thấy có ảnh hưởng xấu ñến chất lượng nguyên liệu búp chè
Lê Văn ðức (1996) [9] cũng cho kết quả tương tự về hiệu lực của yếu tố lân khi bón lân phối hợp với ñạm và kali trên nương chè tuổi nhỏ là rất tốt Bón lân làm tăng hiệu quả sử dụng ñạm, tăng tổng sinh khối nhất là hệ rễ và
số lá – hai cơ quan ñồng hoá chủ yếu của cây Việc bón ñầy ñủ các yếu tố cho tăng năng suất chè cao nhất
Việc bón phân ñạm ñơn ñộc với lượng cao (100N ñến 200N) cho chè tại trại nghiên cứu chè Phú Hộ ñã cho thấy, với lượng bón 100N ñã làm giảm hàm lượng tanin tổng số 1,4% và 2,8% với lượng 200N Làm giảm lượng chất hòa tan tổng số là 0,6% với lượng bón 100N và 1% với lượng bón 200N Bón ñạm ñơn thuần năng suất tăng ñến năm thứ 7 và từ năm thứ
8 thì giảm dần
Ở nước ta cây chè ñược trồng thuộc các vùng sinh thái khác nhau, trên nhiều loại ñất Do ñó mức ñộ cung cấp các yếu tố dinh dưỡng từ ñất cần thiết cho cây chè cũng rất khác nhau, thêm vào ñó tập quán canh tác và ñiều kiện kinh tế, xã hội của từng vùng cũng rất khác nhau, nên việc nghiên cứu ñể có một chế ñộ bón phân thích hợp cho chè như tỷ lệ, liều lượng bón phối hợp chung cho các vùng là rất khó khăn
Trang 38Các kết quả nghiên cứu về phân bón cho chè còn chưa nhiều nhưng cũng ñã tập trung nghiên cứu các vấn ñề như giải quyết nguồn phân hữu cơ, bảo vệ ñất, chống xói mòn, sử dụng phân khoáng N, P, K bổ sung dinh dưỡng hàng năm cho chè
Theo tác giả Lê Văn ðức 1997 [8] cho thấy:
Nếu bón các yếu tố riêng lẻ (nếu có hoặc không bổ sung phân hữu cơ) chỉ có N có tác dụng tăng chỉ số lá chè 261,8%, làm cho hệ rễ phát triển 269%, tổng số búp ñầu xuân ñạt cao 821% Lượng ñạm trong lá tích lũy 57% (nền hữu cơ)
Bón ñơn lẻ P hay K không làm tăng, thậm chí còn làm giảm số lá, tổng sinh khối lá chè ñạt thấp (P nền hữu cơ) Lượng rễ hút giảm nghiêm trọng 63,4% (K nền hữu cơ) làm cho cây phát triển mất cân ñối Tỷ số trên mặt ñất
và dưới mặt ñất cao 4,32 (P nền không hữu cơ), làm cho số búp ñầu xuân ñạt thấp Khi bón P hay K ñơn lẻ cây hầu như không sử dụng chúng, hiệu quả phân bón bằng không
Bón phối hợp N với P cho hiệu quả cao hơn phối hợp giữa N với K, tăng
số lá chè (NP – 320,2%; NK – 140,5%), tăng tổng sinh khối chè (NP – 241%;
NK – 161,1%), tăng sinh khối rễ hút hơn (NP – 518,8%; NK – 186,2%), ñẫn ñến tăng tổng lượng búp ñầu xuân (156% và 281%) P kết hợp với N làm tăng hiệu quả sử dụng N hơn hẳn N kết hợp K (38,1% và 14% tương ứng)
Bón phối hợp P với K không làm tăng thậm chí làm giảm số lá chè (93,0%) so với không bón Tổng sinh khối nhỏ, rễ hút phát triển kém 47,3%,
tỷ lệ giữa cơ quan trên mặt ñất/ cơ quan dưới mặt ñất cao 5,2 lần (nền hữu cơ) Sinh trưởng sinh thực chiếm ưu thế, khối lượng quả rất lớn 497,4% (nền hữu cơ) làm cho sinh trưởng sinh dưỡng bị kìm hãm, tổng số búp giảm thấp Hiệu quả sử dụng phân P và K thấp
Chỉ số lá cao nhất khi ñược bón ñầy ñủ N, P, K, làm cho tổng sinh khối ñạt mức cao nhất 246,3% (nền không hữu cơ), sinh khối cành 520,0% (nền
Trang 39không hữu cơ), sinh khối rễ hút 758,6%, tỷ lệ giữa bộ phận trên mặt ựất và dưới mặt ựất thấp - 2,07 lần Cây phát triển toàn diện, tổng số búp ựầu xuân ựạt cao nhất 1280% (nền hữu cơ)
để có thể góp phần nâng cao năng suất và chất lượng chè Việc tiếp tục nghiên cứu các tỷ lệ và liều lượng N, P, K thắch hợp cho từng giống chè trên từng vùng trồng chè ở những ựiều kiện khắ hậu khác nhau là những vấn
ựề cần phải quan tâm
Tác giả Hồ Quang đức, 1994 [29] nghiên cứu bón kali cho chè trưởng thành (27 tuổi) với 4 liều lượng kali (80 K2O , 120 K2O, 160 K2O và 240kg
K2O trên nền 5 tấn phân chuồng + 160kgN + 50kg P2O5/ha (năm 1992)
Kết quả cho thấy công thức bón 240 K2O cho năng suất cao nhất (110,6% so ựối chứng) hàm lượng tanin và chất hòa tan trong búp chè cũng cao hơn các công thức khác
Sang năm sau công thức ựối chứng bón tăng lượng ựạm (5 tấn phân chuồng + 240N + 50 P2O5 kg/ha/năm) còn lượng kali không thay ựổi Kết quả năng suất ở hai mức bón 160 kg K2O và 240 K2O/ha ựựơc tăng lên (ựạt 120,0% và 113,3% ở mức tương ứng) còn các công thức bón 80kg K2O và
120 kg K2O/ha năng suất tăng, ở mức như năm 1992 Hàm lượng tanin, chất hòa tan ở các công thức có bón kali ựều cao hơn công thức ựối chứng
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, khi bón tăng lượng kali cây chè ựòi hỏi phải bón tăng N thì hiệu quả sử dụng phân kali của cây chè mới cao Việc bón tăng kali không làm ảnh hưởng xấu ựến chất lượng nguyên liệu chè Nghiên cứu hiệu lực của các loại phân lân ựến năng suất chè Tác giả Bùi đình Dinh, Lê Văn Tiềm, Võ Minh Kha, 1993 [5] cho thấy: so với công thức không bón lân công thức bón loại supe lân Lâm Thao năng suất ựạt 124%, công thức bón lân chậm tan (lân nung chảy) năng suất ựạt 115,7% Kết quả nghiên cứu không thống nhất với kết quả nghiên cứu thu ựược của đỗ Ngọc Quỹ năm 1979 [21]: bón lân không làm tăng năng suất Có thể ựiều
Trang 40kiện đất đai trong 2 thí nghiệm cĩ khác nhau Nếu như khi trồng chè mà bĩn lĩt lượng lân lớn, hiệu lực của lân sẽ khơng rõ
2.4.3 Các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của đất trồng chè đến sinh trưởng, phát triển của cây chè
ðời sống cây chè gắn liền với điều kiện đất đai trong suốt chu kỳ kinh tế (kéo dài 30- 40 năm) Vấn đề đặt ra cho các nhà sản xuất chè phải quan tâm đến quá trình biến đổi về lý tính và hĩa tính đất ra sao, để cĩ biện pháp canh tác, cũng như cĩ chế độ bĩn phân, duy trì độ phì nhiêu của đất chè
Qua một số kết quả điều tra, phân tích đất trồng chè ở Phú Hộ cho thấy: ðất trồng chè sau thời gian canh tác 40 năm, thành phần cơ giới đất khơng cĩ gì thay đổi, cĩ hiện tượng rửa trơi sét, lớp đất mặt cĩ hàm lượng sét thấp hơn các lớp dưới từ 4- 10% (ở đất rừng chỉ 2- 3%) ðộ xốp cĩ chiều hướng giảm dần, lớp đất mặt cĩ độ xốp giảm 4- 5% so với đất rừng, cĩ nơi giảm đến 10% Hệ số cấu trúc tăng dần từ lớp đất mặt tới lớp đất dưới Hệ số phân tán ngược lại giảm dần từ trên xuống dưới Thành phần đồn lạp bền trong nước giảm dần theo độ sâu
ðối với những diện tích đất trồng chè lại chu kỳ 2, với mức độ thâm canh ngay từ đầu, độ phì của đất khơng biến động nhiều, năng suất chè ổn định, hàm lượng mùn N, P, K ở mức trung bình (dẫn theo ðỗ Ngọc Qũy 1979) [21]
Về độ ẩm đất vùng trung du, qua kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Dần, 1980 [2], Trần Cơng Tấu, Nguyễn Thị Dần, 1984 [25] cho thấy:
Vụ đơng xuân hiện tượng khơ hạn xảy ra phổ biến vào tháng 12, tháng 1
và tháng 3 ðộ ẩm đất cĩ lúc giảm xuống dưới mức độ ẩm cây héo
Dùng biện pháp che phủ, tủ ẩm hoặc tưới chè, đều làm tăng năng suất: che phủ cho chè bằng nilon hoặc các phụ phế phẩm (cỏ khơ, rơm rạ) đã cĩ tác dụng làm tăng độ ẩm đất từ 5- 7%, năng suất chè tăng trung bình 28- 30%, cây chè trồng mới cĩ tỷ lệ cây sống cao