4.14 Ảnh hưởng của phân hữu cơ ựến năng suất và các yếu tố cấu thành 4.15 đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh tới màu sắc lá rau cải ngọt 614.16 Kết quả phân tắch chất lượng rau c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
NGUYỄN THỊ VI
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ CHẾ
TỪ RƠM RẠ VÀ BÃ NẤM ðẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT RAU CẢI NGỌT
VÀ RAU XÀ LÁCH TRỒNG TẠI NGHĨA HƯNG - NAM ðỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề ñược bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn ñã ñược cám ơn và các thông tin trích dẫn ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Vi
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới GS.TS.NGND Nguyễn Quang Thạch- Viện Sinh học nông nghiệp - Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội, người ñã hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện ñề tài, cũng như trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn ñến các thầy cô giáo Khoa Sau ñại học, Khoa Nông học ñặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Sinh lý thực vật -Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn ñến Trung tâm dạy nghề công lập huyện Nghĩa Hưng, Ủy ban nhân dân huyện Nghĩa Hưng, các bạn bè, ñồng nghiệp, gia ñình và người thân ñã nhiệt tình ủng hộ, giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện ñề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tác giả
Nguyễn Thị Vi
Trang 42.1 Thực trạng sản xuất rau ở Việt Nam hiện nay 4
2.4 Vai trò của phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp 11
2.6 Sự cần thiết phải xử lý rơm rạ, bã nấm thành phân hữu cơ 19 2.7 Cơ sở sinh học của việc xử lý rơm rạ, bã nấm thành phân bón
2.8 Vai trò của VSV hữu hiệu trong chế tạo phân hữu cơ 24 2.9 Một số nghiên cứu xử lý rơm rạ, bã nấm thành phân hữu cơ bằng
phương pháp sinh học ở trong và ngoài nước 25
3 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
Trang 53.3 Nội dung nghiên cứu 34
4.1 Xác ñịnh phương pháp chế tạo phân HCVS từ bã nấm và rơm rạ
4.1.1 Xác ñịnh nồng ñộ chế phẩm EMINA thích hợp trong xử lý bã nấm 40 4.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của Trichoderma, xạ khuẩn phối hợp với
4.1.3 Xác ñịnh nồng ñộ chế phẩm EMINA thích hợp trong xử lý rơm rạ 46 4.1.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của Trichoderma, xạ khuẩn phối hợp với
4.2 Kết quả thử nghiệm hiệu quả phân hữu cơ chế từ rơm rạ và bã
4.2.1 Kết quả thử nghiệm hiệu quả của phân hữu cơ chế từ rơm rạ và bã
nấm trên rau cải ngọt (Brassica Junceae L.) 52
4.2.2 Kết quả thử nghiệm hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh trên rau xà
Trang 6ðHNN HN ðại học Nông nghiệp Hà Nội
ViÖn SHNN Viện Sinh học Nông nghiệp
Trang 7
DANH MỤC BẢNG
2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng các loại rau phân theo vùng 62.2 Kim ngạch xuất khẩu rau quả năm 1990 - 2004 (triệu USD) 74.1 Sự biến ñổi nhiệt ñộ ñống ủ bã nấm khi bổ sung chế phẩm
Trang 84.14 Ảnh hưởng của phân hữu cơ ựến năng suất và các yếu tố cấu thành
4.15 đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh tới màu sắc lá rau cải ngọt 614.16 Kết quả phân tắch chất lượng rau cải ngọt của thắ nghiệm 624.17 Hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất rau cải ngọt sử dụng phân hữu
4.18 Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ ựến sinh trưởng của cây rau xà lách 674.19 Ảnh hưởng của phân HCVS ựến năng suất và yếu tố cấu thành
4.20 đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ chế từ rơm rạ và bã nấm tới
4.21 Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ ựến một số chỉ tiêu về phẩm
4.22 Hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất rau xà lách sử dụng phân hữu
Trang 9
DANH MỤC HÌNH
4.1 Ảnh hưởng ñến ñộng thái tăng trưởng số lá/cây rau cải ngọt 564.2 Ảnh hưởng ñến ñộng thái tăng trưởng chiều cao cây rau cải ngọt 564.3 ðồ thị biểu diễn ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ ñến năng
4.4 Ảnh hưởng ñến ñộng thái tăng trưởng số lá của rau xà lách 684.5 Ảnh hưởng ñến ñộng thái tăng trưởng chiều cao cây rau xà lách 684.6 ðồ thị biểu diễn ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ ñến năng
Trang 10
1 MỞ ðẦU
1.1 ðặt vấn ñề
Việc sử dụng phân hóa học ñã thúc ñẩy lượng cây trồng tăng nhanh trong những năm vừa qua Tuy nhiên việc sử dụng phân bón hóa học không cân ñối sẽ dẫn ñến chất lượng thổ nhưỡng suy giảm, ñất bị chai cứng, vi sinh vật bị tiêu diệt, ô nhiễm môi trường và ñặc biệt chất lượng nông sản bị giảm sút nghiêm trọng
Trong xu thế tiêu dùng các sản phẩm cây trồng ngày nay, con người ngày nay càng chú ý ñến chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm Nông nghiệp hữu cơ ñang trở thành xu hướng phấn ñấu của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Và nền nông nghiệp hữu cơ luôn gắn bó với phân hữu cơ, phân bón vi sinh cùng công nghệ và kỹ thuật an toàn khác Do ñó nhu cầu về phân hữu cơ ngày càng cao Trong khi ñó phân hữu cơ từ gia súc như: phân lợn, phân trâu, phân ngựa, phân gia cầm và phân xanh….chỉ có hạn, không thể ñáp ứng ñầy ñủ nhu cầu về phân hữu cơ cho thâm canh Mặt khác tập quán ñốt tàn dư thực vật như rơm rạ, thân lá và lõi ngô, thân lá cây họ ñậu, cây khoai tây, rau quả…vẫn diễn ra bình thường ñã làm mất ñi một lượng khá lớn các chất dinh dưỡng, chất hữu cơ có thể trả lại cho ñất
Phân bón hữu cơ mà cụ thể là bón phân sinh học ñược sản xuất nhờ vào
sự trao ñổi của các chất có nguồn gốc hữu cơ bằng con ñường sinh học (chuyển hóa vi sinh) Các nguồn hữu cơ có thể là phân rác, phân xanh, phân chuồng, phân bắc, phân gia cầm, gia súc, than bùn, phụ phẩm và phế thải của sản xuất và chế biến nông lâm sản Thực tế sản xuất nông nghiệp nước ta hiện nay cho thấy: các nguồn hữu cơ (rơm rạ, bã nấm, rác hữu cơ…) không ñược thu gom và sử dụng ( làm chất ñốt, ñộn chuồng trại…như trước), dẫn ñến ô nhiễm môi trường nông thôn ngày càng nghiêm trọng
Trang 11Do ựó, xử lý rơm rạ và bã nuôi trồng nấm sau thu hoạch cũng như rác thải hữu cơ trở thành phân bón hữu cơ vi sinh là việc làm rất cần thiết, có ý nghĩa lớn không chỉ ở góc ựộ kinh tế, góc ựộ xã hội mà còn có ý nghĩa rất lớn
ở góc ựộ môi trường
Phân hữu cơ chế từ rơm rạ, bã nấm có ảnh hưởng ựến sinh trưởng phát triển, năng suất và phẩm chất của các loại rau cải ngọt và rau xà lách như thế nào? Xuất phát từ thực tế trên, dưới sự hướng dẫn của GS TS Nguyễn Quang
Thạch chúng tôi tiến hành thực hiện ựề tài: ỘNghiên cứu ảnh hưởng của
phân hữu cơ chế từ rơm rạ và bã nấm ựến sinh trưởng phát triển, năng suất và phẩm chất rau cải ngọt và rau xà lách trồng tại Nghĩa Hưng Ờ Nam địnhỢ
1.2 Mục ựắch và yêu cầu nghiên cứu
1.2.1 Mục dắch :
- Xác ựịnh ựược nồng ựộ chế phẩm EMINA, hỗn hợp Trichoderma, xạ khuẩn phối hợp với EMINA thắch hợp ựể xử lý bã nấm và rơm rạ chế tạo phân hữu cơ
- đánh giá ựược tác ựộng của phân hữu cơ chế từ rơm rạ, bã nấm trên rau cải ngọt, rau xà lách
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Cung cấp những dẫn liệu khoa học làm cơ sở cho việc sử dụng phân
Trang 12bón hữu cơ chế từ rơm rạ, bã nấm trên rau cải ngọt và rau xà lách
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Xác ñịnh ñược biện pháp xử lý rơm rạ, phế phẩm ngành nuôi trồng nấm thành phân hữu cơ, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tăng hiệu quả kinh tế cho sản xuất ngành nông nghiệp ñặc biệt sản xuất rau an toàn
Trang 132 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Thực trạng sản xuất rau ở Việt Nam hiện nay
Rau xanh có rất nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể như các loại vitamin A, C, D , khoáng chất, chất xơẦ Vì vậy rau là nhu cầu không thể thiếu ựược trong mỗi bữa ăn hàng ngày của loài người trên khắp hành tinh đặc biệt, khi ựời sống tăng thể hiện nguồn lương thực, thực phẩm giàu ựạm
ựã ựược ựảm bảo về số lượng thì ựòi hỏi về số lượng và chất lượng rau xanh lại càng gia tăng
Nghề trồng rau ở nước ta ra ựời từ xa xưa, trước cả nghề trồng lúa nước, Việt Nam chắnh là trung tâm khởi nguyên của nhiều loại rau trồng, nhất là các cây thuộc họ bầu bắ Song do chịu ảnh hưởng của một nền nông nghiệp lạc hậu và sự tự túc trong nhiều thế kỷ qua, cho nên sự phát triển rau xanh ở nước
ta kém xa so với trình ựộ canh tác của thế giới Những năm gần ựây mặc dù ngành trồng rau có khởi sắc, nhưng trên thực tế vẫn chưa theo kịp nhiều ngành khác trong sản xuất nông nghiệp
Trong ựề án phát triển rau quả và hoa, cây cảnh giai ựoạn 1999-2010 do
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ựề ra mục tiêu cho ngành sản xuất rau ựã ựược Thủ tướng Chắnh phủ phê duyệt ngày 3/9/1999 là: "đáp ứng nhu cầu rau có chất lượng cao phục vụ cho tiêu dùng trong nước, nhất là vùng dân
cư tập trung (ựô thị, khu công nghiệpẦ) và xuất khẩu Phấn ựấu ựến năm
2010 ựạt mức tiêu thụ bình quân ựầu người là 85kg rau tươi/năm, giá trị kim ngạch xuất khẩu ựạt 690 triệu USD"[13]
Theo số liệu thống kê năm 2000 thì diện tắch trồng rau cả nước là 445 nghìn ha, tăng 70% so với năm 1990 (261.090ha) Bình quân mỗi năm tăng 14,8 nghìn ha (mức tăng 7%/năm) trong ựó các tỉnh phắa Bắc có 249.200 ha, chiếm 56% diện tắch canh tác, các tỉnh phắa Nam 196.000 ha chiếm 44%
Trang 14Năm 1998 có năng suất cao nhất là 144,8 tạ/ha bằng 80% so với mức trung bình toàn thế giới (xấp xỉ 180 tạ/ha) Nếu so với năm 1990 là 123,5 tạ thì năng suất bình quân cả nước trong 10 năm chỉ tăng 11,5 tạ/ha Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, TP Hồ Chắ Minh, đà Lạt - Lâm đồngẦ là các tỉnh có năng suất rau cao hơn cả nhưng cũng chỉ ựạt mức 160 tạ/ha Năng suất thấp nhất là các tỉnh ở miền Trung, chỉ bằng một nửa năng suất trung bình của cả nước Sản lượng rau cao nhất là vào năm 2000 ựạt 6,007 triệu tấn so với năm
1990 (2,3 triệu tấn) ựã tăng 81% Mức tăng sản lượng trung bình hàng năm trong cả 10 năm qua là xấp xỉ 260 nghìn tấn, vùng trồng rau chắnh ở nước ta tập trung chủ yếu ựược hình thành từ hai vùng chắnh:
- Vùng rau chuyên canh ven thành phố và các khu công nghiệp, chiếm 38-40% diện tắch và 45-50% sản lượng Tại ựây, rau ựược tập trung phục vụ cho dân cư là chủ yếu với chủng loại rau rất phong phú và ựạt chất lượng cao
- Vùng rau luân canh với cây lương thực ựược trồng chủ yếu trong vụ ựông xuân tại các tỉnh phắa Bắc, ựồng bằng sông Cửu Long và miền đông Nam Bộ đây là vùng rau hàng hoá lớn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, phát huy ựược lợi thế này thì ngành sản xuất rau sẽ có tốc ựộ phát triển nhảy vọt Theo số liệu thống kê, tắnh ựến năm 2004, diện tắch trồng rau của cả nước là 614,5 nghìn ha, gấp ựôi năm 1994 (297,3 nghìn ha), chiếm khoảng 7% ựất nông nghiệp và 10% ựất cây hàng năm Với năng suất 144,1 tạ/ha (bằng 90% năng suất trung bình toàn thế giới), sản lượng rau cả nước ựạt 8,855 triệu tấn/ha, gấp 2,5 lần so với năm 1994 (3,52 triệu tấn) Như vậy, trong 10 năm, mức tăng bình quân ựạt 13,57%/năm
Tắnh ựến năm 2005, tổng diện tắch rau các loại trên cả nước ựạt 635,8 nghìn ha, sản lượng là 9640,3 nghìn tấn; so với năm 1999, diện tắch tăng 175,5 nghìn ha (tốc ựộ tăng 3,61%/năm), sản lượng tăng 3071,5 nghìn tấn (tốc
ựộ tăng 7,55%/năm)
Trang 15Trong ñó, vùng sản xuất rau lớn nhất là ðồng bằng sông Hồng (chiếm 24,9% diện tích và 29,6% sản lượng rau cả nước), tiếp ñến là ðồng bằng sông Cửu Long (chiếm 25,9% diện tích và 28,3 sản lượng rau cả nước)
Theo báo cáo của Văn phòng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích gieo trồng rau, ñậu cả nước tăng lên liên tục từ quý III năm 2006, vượt so với cùng kỳ năm 2005 Năm 2006 cả nước ñã gieo trồng ñược 675 nghìn ha rau ñậu các loại, tăng 3,3% so với năm 2005 Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, diện tích trồng rau trên ñất nông nghiệp cả năm 2006 của Việt Nam là 644,0 nghìn ha; năng suất trung bình cao nhất từ trước ñến nay (149,9 tạ/ha) Tổng sản lượng rau cả nước ñạt 9,65 triệu tấn, ñạt 144 nghìn tỷ ñồng, chiếm 9% GDP ngành nông nghiệp trong khi diện tích chỉ chiếm 6%
Bảng 2.1 :Diện tích, năng suất, sản lượng các loại rau phân theo vùng
Diện tích (1.000 ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1.000 tấn)
Trang 16kắnh của Israel có kiểm soát các ựiều kiện môi trườngẦ
Tại các ựô thị, diện tắch ựất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp (Hà Nội mỗi năm mất khoảng 1.000 ha, TP Hồ Chắ Minh ựến năm 2010 giảm 24.420
ha so với năm 2000), mặt khác năng suất rau còn thấp, chỉ bằng 87% so với năng suất trung bình thế giới, tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch khá cao (20 - 30%), nên sản xuất rau theo hướng công nghệ cao là một hướng ựi ựúng (theo Trần Khắc Thi, Viện Nghiên cứu Rau quả TW)
Về mặt tiêu thụ, nhìn chung, ngành trồng rau ựã ựóng góp một khối lượng sản phẩm ựáng kể cho xuất khẩu ở nước ta Từ năm 1957, rau quả Việt Nam ựã có mặt tại Trung Quốc Thời kỳ 1986 - 1990, thực hiện Hiệp ựịnh hợp tác ựã ký giữa hai Chắnh phủ Việt Nam và Liên Xô cũ (tháng 01/1985) về xuất khẩu sản phẩm rau quả sang Liên Xô, một khối lượng lớn rau ựã ựược bán, góp phần không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu cho ựất nước Thời kỳ
1992 - 1994 xuất khẩu rau quả bị khủng hoảng do thị trường truyền thống bị mất trong khi thị trường mới chưa ựược thiết lập Cùng với chắnh sách mở cửa, hòa nhập thương mại quốc tế, từ 1995 - 2004 xuất khẩu rau của Việt Nam ựã vươn tới thị trường của trên 40 quốc gia và lãnh thổ
Thị trường xuất khẩu rau chủ yếu của Việt Nam hiện nay là: Trung Quốc, đài Loan, Nhật Bản, Australia, Singapore, Hàn Quốc, MỹẦ
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu rau quả năm 1990 - 2004 (triệu USD)
Trang 17Tính ñến năm 2002, nước ta ñã có khoảng 60 cơ sở chế biến rau quả với tổng công suất 290.000 tấn sản phẩm/năm, trong ñó, doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 50%, doanh nghiệp tư nhân 16% và doanh nghiệp có vốn ñầu
tư nước ngoài 34% Ngoài ra còn có hàng chục ngàn hộ gia ñình làm chế biến rau quả với quy mô nhỏ
Hiện nay, sản phẩm rau tươi tiêu thụ chủ yếu ở thị trường trong nước còn sản phẩm chế biến thì chiếm tỷ lệ không ñáng kể Năm 2005, rau quả chế biến xuất khẩu chỉ ñạt 235 triệu USD, trong ñó phần lớn là sản phẩm quả chế biến Sản phẩm rau xuất khẩu rất hạn chế về chủng loại, hiện chỉ có một số chủng loại như: Cà chua, ngô ngọt, ngô rau, ớt, dưa hấu… ở dạng sấy khô, ñóng lọ, ñóng hộp, muối mặn, cô ñặc, ñông lạnh và chỉ có một số là xuất khẩu tươi
2.2 Giới thiệu chung về cây rau cải ngọt
2.2.1 ðặc ñiểm sinh trưởng của cây rau cải ngọt
Cải ngọt thuộc học thập tự (Crucifera) Giống có thời gian từ mọc ñến thu hoạch thương phẩm 25-30 ngày, ñến thu hạt 67-70 ngày, chiều cao trung bình cây 27-35cm, số lá trung bình 9-15 lá (tùy vào vụ trồng) trọng lượng trung bình cây khoảng 105-120g trong vụ hè và 400-420g trong vụ ñông tán cây có dạng hình chữ V, lá tròn tù xanh thẫm, gân lá nhỏ, bẹ dài xanh nhạt
2.2.2 Giá trị dinh dưỡng của rau cải ngọt
Thành phần dinh dưỡng trong cải ngọt cũng khá cao, ñặc biệt là thành phần diệp hoàng tố và vitamin K Ngoài ra, cải ngọt còn có rất nhiều vitamin
A, B, C, D, chất caroten, anbumin, axit nicotic và là một trong những loại rau
mà các nhà dinh dưỡng khuyên mọi người nên dùng thường xuyên ñể bảo vệ sức khỏe và phòng chống bệnh tật
2.2.3 Yêu cầu ñiều kiện ngoại cảnh của rau cải ngọt
2.2.3.1 Nhiệt ñộ
Hạt cải có thể nảy mầm ở nhiệt ñộ 2-30C nhưng quá trình nảy mầm
Trang 18chậm Ở 110C thì nảy mầm sau 10-12 ngày, còn nhiệt ựộ 18-200C chỉ 3-4 ngày Nhiệt ựộ thắch hợp cho 2 lá mầm là 12-150C còn ở giai ựoạn ra hoa từ 15-180C A.M.Alpachev(1947) xác ựịnh tổng tắch ôn tối thiểu cho giống cải bắp chắn sớm: 1300-14000C còn giống chắn trung bình 1400-15000C
2.2.3.2 Ẩm ựộ
Cải là cây thuộc nhóm cây ưa ẩm trong ựiều kiện ựảm bảo ựủ nước 100% thì năng suất tăng 363,4% độ ẩm thắch hợp của cải bắp 60-70% và suplơ 70-80%
60-2.2.3.3 Ánh sáng
Là cây ưa ánh sáng ngày dài
2.2.3.4 Yêu cầu dinh dưỡng và ựất
Các cây họ cải cần rất nhiều ựạm, lân , kali trong ựó kali ựược sử dụng nhiều nhất Chất dinh dưỡng chắnh mà cây họ thập tử cần là ựạm, lân, kali Cây họ cải có thể sinh trưởng, cho năng suất cao ở các loại ựất cát pha ựất thịt nặng, tuy nhiên ựất thắch hợp nhất cho họ cải là ựất giàu dinh dưỡng
2.3 Giới thiệu chung về cây rau xà lách
2.3.1 đặc ựiểm sinh trưởng của cây rau xà lách
Ở Việt Nam, xà lách ựược trồng từ rất lâu Nhiều vùng trồng thường xuyên như đà Lạt với nhiều giống ựược nhập từ nước ngoài Trước 1960, chủ yếu các giống xà lách trồng có xuất xứ từ nước Pháp Những giống xà lách ựược sử dụng trong sản xuất từ năm 1990 phổ biến là Butter Lettuce CLS
808, Lettuce Mirrina, Lettuce Mini Star, Full Heart NR65 có nguồn gốc từ Nhật và Mỹ Từ 1998, có nhiều giống xà lách mới ựược nhập nội và ựược gieo trồng theo phương thức sản xuất rau chất lượng cao với nhiều màu sắc khác nhau như Lolbo Rossa, Romaine, Oakleaf Green (Mỹ)
Một số giống ựược trồng ở một số vùng ở nước ta ựã trở thành các giống ựịa phương như xà lách ựăm Hải Phòng, xà lách Bắc Ninh
Trang 19Xà lách thuộc một trong những hệ thống phân loại thông dụng nhất hiện nay là của Ferỏkovỏ(1977) bao gồm các loài Châu Âu của chi Lactuca Ferỏkovỏ ñã chia chi này thành 4 phân chi là Lactuca, Mulgedium (Cass.)
C.B.Clarke, Lactucopsis (Schultz-Bip ex Vis et Panc.) Rouy., và Phaenixopus
(Cass.) Benth Phân chi Lactuca ñược chia thành hai phân chi phụ là Lactuca
và Cyanicae DC Phân chi phụ Lactuca bao gồm các loài L sativa, L serriola L., L altaica Fisch et C.A Mey., L saligna L., L virosa L., và L livida Boiss
et Reut Lactuca livida có quan hệ gần gũi với L virosa
2.3.2 Yêu cầu ñiều kiện ngoại cảnh của xà lách
2.3.2.1 Nhiệt ñộ
Cây xà lách có nguồn gốc ở vùng ôn ñới nên ưa khí hậu mát mẻ, có thể chịu rét Xà lách có thể sinh trưởng phát triển bình thường trong phạm vi nhiệt ñộ từ 8-250C Sinh trưởng tốt nhất từ 10-160C Hạt có thể nảy mầm ở
00C nhưng chậm, hạt nảy mầm tốt ở 10-150C, thời kì cây con yêu cầu nhiệt ñộ 16-220C Nhiệt ñộ quá thấp hay quá cao ñều ảnh hưởng không tốt ñến xà lách
Vai trò của nguyên tố ñạm: Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy ñạm
có ảnh hưởng tích cực ñến xà lách cuộn Khi bón thúc ñạm, cần bón vào ñất
ẩm trong mùa lạnh hoặc sau khi mưa Không nên bón quá nhiều ñạm cho xà
Trang 20lách Nếu bón quá nhiều ựạm sẽ làm giảm chất lượng bắp do làm giảm ựộ cứng chắc của lá hoặc gây ra nứt bắp đồng thời nếu gặp ựiều kiện nóng ẩm
sẽ tạo ựiều kiện cho bệnh thối bắp phát sinh phát triển và gây hại
Vai trò của nguyên tố lân: George Hochmuth & etal (2003) cho rằng
lân có ảnh hưởng rõ rệt ựến năng suất của xà lách
Vai trò của nguyên tố kali: Kali nên bón thúc và lót vào ựất trước khi
trồng Nếu bón quá nhiều Kali vào ựất làm tăng lượng muối hoà tan trong ựất gây hại cho cây xà lách [9]
2.3.3 Giá trị dinh dưỡng của rau xà lách
Xà lách vị ựắng, tắnh hàn không ựộc Công dụng ựiều hóa tiếp bổ, khai
vị thanh tâm chữa các chứng ung ựộc, sưng tấy Sách Bản thảo gọi xà lách là thiên hương thái (rau hương trời) chủ trì ác sang, lá ựem chữa rắn cắn Sách Bản thảo cứu hoang: Ăn sống tuy lạnh nhưng có ắch, ăn lâu ngày nhẹ người
dễ ngủ, ựiều hòa kinh mạch, lợi ngũ tạng
Theo đông y Trung Quốc thì rau xà lách vị ựắng, hơi hàn Công năng ắch ngũ tạng, thông kinh mạch, cứng gân cốt, lợi tiểu tiện và làm trắng răng, ựẹp da Dùng chữa tăng huyết áp viêm thận mạn, sữa không thông sau sinh nở
2.4 Vai trò của phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp
Trong nền nông nghiệp của cả nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam
và các nước Châu Á, phân hữu cơ không chỉ cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng với hàm lượng vốn có của nó mà còn ựóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện các ựặc tắnh lý, hóa học của ựất thông qua vai trò của vật chất hữu cơ [18] Ngày nay phân hóa học ựược coi là yếu tố quan trọng ựể tăng năng suất cây trồng, nên xu hướng sử dụng phân hóa học ngày càng tăng Tuy vậy phân hữu cơ vẫn ựóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở các nước nhiệt ựới cũng như là các nước phát triển Trong những năm gần ựây, nông nghiệp hữu cơ bắt ựầu ựược chú trọng do nhu cầu của sản phẩm sạch và bảo
Trang 21vệ mơi trường [19]
Phân hữu cơ là những là những loại hợp chất hữu cơ khi được vùi vào đất sau khi phân giải cĩ khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây (dinh dưỡng N, P, K, các nguyên tố trung và vi lượng) Quan trọng hơn nữa là phân hữu cơ cĩ khả năng là cải tạo đất rất lớn Phân hữu cơ bao gồm các loại như: phân chuồng, phân xanh, than bùn, phân rác, phế phẩm nơng nghiệp Phân hữu cơ cĩ hai tác dụng chính đĩ là: Tác dụng cải tạo đất và tác dụng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng [14]
- Tác dụng cải tạo đất: Sử dụng phân hữu cơ cĩ tác dụng cải tạo đất tổng hợp cả về mặt vật lý, hĩa học và sinh học
+ Về mặt vật lý: Khi bĩn phân hữu cơ vào đất làm cho hàm lượng chất hữu cơ và mùn tăng lên Từ đĩ kết cấu đất được ổn định, hạn chế việc xĩi mịn đất và rửa trơi, làm tơi xốp đất , tạo cấu trúc đất sét- mùn để giữ nước, giữ phân bĩn tốt hơn và làm tăng tính đệm cho đất, cải thiện chế độ nước và nhiệt của đất
+ Về mặt hĩa học: Khi bĩn phân hữu cơ vào đất, chất hữu cơ được phân giải từ từ và cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng đồng thời đã để lại trong đất một hàm lượng đáng kể chất dinh dưỡng Phân hữu cơ là nguồn bổ sung mùn khơng thay thế được cho đất Mùn là yếu tố tác động đến tất cả các tính chất của đất như: Mùn kết hợp với lân tạo phức hệ lân – mùn cĩ tác dụng giữ lân ở dạng dễ tiêu đối với cây trồng Mùn kết hợp với các chất khống tạo phức hệ hữu cơ- vơ cơ cĩ tác dụng giữ chất dinh dưỡng ở trong đất Từ đĩ làm giảm được việc rửa trơi các chất dinh dưỡng trong đất đồng thời hạn chế được cho cây trồng hút những kim loại nặng giúp nơng sản sạch hơn
+ Về mặt sinh học: Khi bĩn phân hữu cơ vào đất làm cho tập đồn vi sinh vật hoạt động mạnh vì cung cấp cho chúng một lượng thức ăn lớn cả về khống và thể hữu cơ Bản thân trong phân hữu cơ cĩ chứa một lượng lớn vi
Trang 22sinh vật, vì thế ñã bổ sung thêm vi sinh vật ñất cả về số lượng và chủng loại Trong phân hữu cơ còn có chứa những chất có ảnh hưởng ñến sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng như: các chất kích thích ra rễ, các enzyme, các chất kháng sinh
- Tác dụng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng: Dinh dưỡng khoáng và dinh dưỡng khí[15]
+ Dinh dưỡng khoáng: Trong phân hữu cơ có chứa ña dạng về chủng loại các chất dinh dưỡng từ ña lượng, trung lượng , vi lượng, các chất kích thích sinh trưởng, các loại enzyme, các chất kháng sinh
+ Dinh dưỡng khí: Quá trình phân giải chất hữu cơ trong ñất ñã tạo ra một nguồn CO2 lớn cung cấp cho cây trồng trong qúa trình quang hợp, nâng cao năng suất cây trồng
Phân bón ñóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nó cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng và bổ sung ñộ màu mỡ cho ñất Sử dụng hợp lý các loại phân bón cho ñất là phương cách tốt nhất ñể tăng năng suất và cải thiện chất lượng nông sản Tuy nhiên, hiện nay ở nhiều ñịa phương nông dân ñang lạm dụng các chất vô cơ như ñạm, lân, kali bởi sự tiện dụng và vì cái lợi trước mắt nó ñể lại cho sản xuất mà quên ñi tính bền vững cho một nền nông nghiệp Nếu trong canh tác chỉ sử dụng phân hóa học mà không bón phân hữu
cơ là canh tác theo kiểu bóc lột ñộ màu của ñất, làm cho ñất bị chai cứng ñi
Sử dụng hợp lý các loại phân hóa học kết hợp bón phân hữu cơ cho ñồng ruộng là một trong những phương cách canh tác bền vững và khoa học, là cách tốt nhất ñể chống sự thoái hóa, sa mạc hóa của ñất, trả lại sự sống cho ñất trong quá trình canh tác và cũng là cách ñể ngày càng làm tăng hiệu quả sản xuất trên một ñơn vị diện tích[31]
Trước những hậu quả do việc lạm dụng hóa chất trong nông nghiệp mà loài người ñem lại thì một lần nữa học thuyết về nền nông nghiệp hữu cơ lại
Trang 23ñược trỗi dậy và ñược ñề cập hầu hết trong các diễn ñàn về nông nghiệp ở khắp các Châu lục trên thế giới Người ta cho rằng, áp dụng nền nông nghiệp hữu cơ sẽ ñem lại các lợi ích như trên[33]
- Tạo ra nông sản có chất lượng cao;
- Tăng cường các chu kỳ sinh học trong các hệ thống canh tác;
- Duy trì và tăng cường ñộ phì nhiêu cho ñất;
- Tránh ô nhiễm nảy sinh từ nông nghiệp;
- Giảm thiểu việc sử dụng những tài nguyên không tái sinh ñược;
- Cùng tồn tại và bảo vệ môi trường
ðể ñạt ñược những mục tiêu trên thì việc trả lại ñầy ñủ chất hữu cơ cho ñất ñược ñánh giá là quan trọng nhất Nguyên nhân là do nhờ có chất hữu cơ
mà làm tăng nguồn cung cấp nitơ từ ñất mùn tự nhiên, tăng khả năng giữ nước, tránh cho ñất bị chai cứng hoặc bị xói mòn, từ ñó làm tăng tính bền vững cho ñất[33]
Hiện nay, chất lượng ñất ñang biến ñộng theo chiều hướng xấu ñi do thâm canh, tăng vụ, sử dụng giống mới với mức bón phân hóa học ngày càng cao, chất lượng nông sản, hiệu lực phân bón giảm, ô nhiễm môi trường gia tăng Vì vậy chúng ta cần sớm ứng dụng một số giải pháp bền vững cho nông nghiệp ñó là cần sử dụng phân hữu cơ trong quá trính trồng trọt[34]
Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên (1992) có nhận ñịnh: Mất chất hữu cơ ñã kéo theo hành loạt suy thoái về trạng thái vật lý, chế ñộ nước, dự trữ và trạng thái dinh dưỡng ñất Bón phân hữu cơ làm tăng tổng số nhóm chức trong axit mùn, tăng các hydratcacbon, giúp cho lân ít bị cố ñịnh[7]
Vũ Hữu Yêm (1995), cũng thừa nhận rằng phân hữu cơ có tác ñộng chuyển hóa các hợp chất khó tan thành dễ tan, giải phóng ñược nhiều dinh dưỡng trong ñất cho cây trồng, cơ chế của hiện tượng này là do tác ñộng của các axit hữu cơ ñược giải phóng tích cực với Fe trong các phosphate có hóa trị thấp hơn[15]
Trang 24Có thể nói hữu cơ là kho chứa tổng hợp các yếu tố dinh dưỡng và luôn luôn là nền tảng cho mọi hoạt ñộng hóa học, lý hóa, sinh học trong ñất như quá trình khoáng hóa, quá trình mùn hóa, ñể làm cho ñất giàu dinh dưỡng ñể cây trồng cũng như các vi sinh vật, ñộng vật trong ñất sử dụng làm nguồn dinh dưỡng trực tiếp Ngoài ra, hữu cơ còn cải thiện một số ñặc tính lý học của ñất như tơi xốp, khả năng giữ ẩm
Nhờ vậy, sử dụng phân hữu cơ sẽ khắc phục ñược sự mất cân ñối dinh dưỡng trong ñất, gia tăng hiệu quả phân bón hóa học, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và ñặc biệt là việc gia tăng chất lượng nông sản, ñảm bảo tính bền vững của sản xuất nông nghiệp[34]
2.5 Sự thiếu hụt phân hữu cơ trong sản xuất
Sản xuất nông nghiệp ngày nay dần trở thành tiêu ñiểm quan tâm không những trên phạm vi quốc gia mà còn trên qui mô toàn cầu Sản xuất nông nghiệp Việt Nam ñóng góp 24% GDP, 30% sản lượng xuất khẩu, tạo việc làm cho 60% lao ñộng cả nước song rõ ràng sản xuất nông nghiệp lâu nay vẫn chưa chú trọng ñúng mức việc bảo vệ môi trường Sản xuất nông nghiệp sạch, nâng cao chất lượng nông sản nhằm ñảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và thân thiện với môi trường ñang là mục tiêu phấn ñấu của ngành nông nghiệp nói chung và nông dân nói riêng Một trong những biện pháp hữu hiệu ñể sản xuất nông nghiệp sạch là ứng dụng rộng rãi các chế phẩm sinh học, sử dụng phân hữu cơ vi sinh nhằm thay thế các hoá chất bảo vệ thực vật và các loại phân hoá học có tác ñộng xấu ñến môi trường
Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam có nhiều tiến bộ vượt trội và ñóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội Trong tương lai, nước ta ñịnh hướng phát triển thành các vùng chuyên canh hàng hoá Việc thâm canh cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, song bên cạnh ñó cũng gây ra nhiều bất lợi ñối với môi trường và sự phát triển bền vững Trong khi
Trang 25ñó, nguồn phế phụ phẩm trong nông nghiệp thải ra trong quá trình sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản của Việt Nam ước tính trên 50 triệu tấn mỗi năm Nguồn phế thải trong chăn nuôi gia súc gia cầm lên ñến hàng ngàn tấn Lượng phế thải này phần lớn là những hợp chất hữu cơ giàu carbon và các nguyên tố khoáng ña vi lượng ðây là nguồn nguyên liệu có giá trị lý tưởng cho sản xuất các dạng chế phẩm sinh học cũng như phân hữu cơ sinh học chất lượng cao phục vụ sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp sạch, dựa trên các kiến thức khoa học kết hợp với sự màu
mỡ của ñất ñai và các biện pháp cải tạo ñất nhằm ñảm bảo chất lượng sản phẩm và việc sử dụng ñất lâu dài Bên cạnh ñó, vai trò của quan trọng ñặc biệt của chất hữu cơ ñối với ñộ phì nhiêu của ñất ñã ñược thừa nhận một cách rộng rãi Chất hữu cơ góp phần cải thiện ñặc tính vật lý, hoá học cũng như sinh học ñất và cung cấp nhiều dưỡng chất quan trọng cho cây trồng [16] Việc cung cấp các nguyên tố vi lượng, các dưỡng chất từ phân hữu cơ có ý nghĩa trong việc gia tăng phẩm chất nông sản, làm trái cây ngon ngọt và ít sâu bệnh hơn Bón phân hữu cơ là nguồn thực phẩm cần thiết cho hoạt ñộng của
vi sinh vật ñất: Các quá trình chuyển hoá, tuần hoàn dinh dưỡng trong ñất, sự
cố ñịnh ñạm, sự nitrat hoá, sự phân huỷ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật cũng như ức chế sự hoạt ñộng của các loài vi sinh vật gây bất lợi cho cây trồng
2.5.1 Vai trò của phân hữu cơ vi sinh trong cải thiện năng suất và chất
lượng nông sản
Nông nghiệp sạch (hay còn gọi là nông nghiệp hữu cơ) là một hệ thống quản lý sản xuất nông nghiệp tránh sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tổng hợp, giảm tối ña ô nhiễm không khí, ñất và nước, tối ưu về sức khoẻ con người và vật nuôi
Trước nhu cầu ñảm bảo an ninh lương thực, việc lạm dụng phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật nhằm nâng cao năng suất cây trồng ñang trở thành
Trang 26vấn ñề cần ñược quan tâm cải thiện Bện cạnh việc bảo ñảm mục tiêu an ninh lương thực, cần chú ý phát triển nền nông nghiệp sạch nhằm ñóng góp vào việc cung cấp các sản phẩm an toàn phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Việc canh tác nông nghiệp sạch không những giúp nông dân tiết kiệm chi phí thuốc trừ sâu và phân hoá học ñồng thời có thể ña dạng hoá mùa vụ và canh tác theo hướng bền vững Hơn nữa, nếu nông sản ñược chứng nhận là sản phẩm hữu cơ còn có thể xuất khẩu với giá cao hơn
Theo Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO), nền nông nghiệp hữu
cơ có khả năng ñảm bảo ñủ nguồn cung cấp lương thực nuôi sống dân số trên thế giới hiện nay song song với việc giảm thiểu những tác ñộng có hại cho môi trường
Các nguyên tắc cơ bản của canh tác hữu cơ do IFOAM (International Federation of Organic Agriculture Movements) trình bày năm 1992 như sau:
- Sản xuất thực phẩm có chất lượng dinh dưỡng cao, ñủ số lượng;
- Khuyến khích và thúc ñẩy chu trình sinh học trong hệ thống canh tác, bao gồm vi sinh vật, quần thể ñộng thực vật trong ñất, cây trồng và vật nuôi;
- Duy trì và tăng ñộ phì nhiêu của ñất trồng về mặt dài hạn;
- Sử dụng càng nhiều càng tốt các nguồn tái sinh trong hệ thống nông nghiệp có tổ chức tại ñại phương;
- Giảm ñến mức tối thiểu các loại ô nhiễm do kết quả của sản xuất nông nghiệp gây ra;
- Duy trì ña dạng hóa gen trong hệ thống nông nghiệp hữu cơ và khu vực quanh nó, bao gồm cả việc bảo vệ thực vật và nơi cư ngụ của cuộc sống thiên nhiên hoang dã
Trang 272.5.2 Phân hữu cơ vi sinh trong ñặc tính sinh học ñất
Phân bón hữu cơ có bổ sung vi sinh vật có lợi là sản phẩm ñược sản xuất từ các nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau, nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, cải tạo ñất, chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống ñược tuyển chọn với mật ñộ ñạt tiêu chuẩn qui ñịnh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản Phân hữu cơ vi sinh vật không gây ảnh hưởng xấu ñến người, ñộng vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản Bên cạnh việc cải thiện năng suất cây trồng cũng như phẩm chất nông sản (mà biểu hiện
rõ nhất thông qua chỉ số dư tồn nitrate trong sản phẩm), hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh còn thể hiện qua việc cải thiện tính chất ñất bao gồm ñặc tính vật lý, hoá học và sinh học ñất
Chất hữu cơ còn là nguồn thức ăn cho các loài sinh vật sống trong ñất Phần lớn vi sinh vật trong ñất thuộc nhóm hoại sinh Nguồn thức ăn chủ yếu của nhóm này là dư thừa và thải thực vật Cung cấp chất hữu cơ giúp duy trì nguồn thức ăn, tạo ñiều kiện phát triển sinh khối, ña dạng chủng loại và kiềm hãm sự gia tăng của các loài vi sinh vật có hại
Duy trì thế cân bằng vi sinh vật có lợi trong ñất chủ yếu là bảo vệ và cân bằng vi sinh vật có ích, cũng như các loài thiên ñịch có lợi trên ñồng ruộng Do ñó, thường xuyên bổ sung chất hữu cơ cho ñất cũng như các nguồn
vi sinh vật có lợi ñể tạo ñiều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển hạn chế mầm bệnh Việc bón phân hữu cơ có bổ sung nguồn vi sinh vật ñất như nấm Trichoderma sẽ làm giảm tác nhân gây bệnh thối rễ trên cà chua và ớt, bổ sung các nguồn vi sinh vật cố ñịnh ñạm và hoà tan lân, tăng cường nguồn phân ñạm
cố ñịnh ñược và các hợp chất lân kém hoà tan trong ñất trở thành những dạng hữu dụng, dễ tiêu cho cây trồng
Việc bổ sung nấm Trichoderma vào phân hữu cơ vi sinh giúp hỗ trợ bộ
Trang 28rễ trong cơ chế chống lại tác nhân gây bệnh cho cây trồng ðiều này cho thấy
rằng, việt kết hợp nấm Trichoderma trong phân hữu cơ vi sinh giúp tăng hiệu
quả phòng bệnh cho cây trồng, góp phần giảm sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật và tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân
Canh tác nông nghiệp sạch chú trọng việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh hạn chế hoá chất bảo vệ thực vật và phân bón hoá học góp phần cải thiện chất lượng nông sản, ñộ phì nhiêu của ñất, ñảm bảo nhu cầu phát triển bền vững trong khi vẫn ñảm bảo khả năng duy trì năng suất cây trồng Việc kết hợp
nấm Trichoderma trong phân hữu cơ vi sinh giúp hỗ trợ cây trồng trong việc
phòng trừ bệnh như bệnh héo rũ trên dây dưa leo Ngoài ra, các chủng vi sinh vật có ích khác khi ñược bổ sung vào phân hữu cơ sinh học còn giúp cải thiện
ñộ phì tự nhiên của ñất, giảm chi phí do phân bón vô cơ Hàm lượng carbon cao và có chất lượng trong phân hữu cơ sinh học còn giúp cải thiện tính bền vật lý ñất và hấp phụ một số nguyên tố gây bất lợi cho cây trồng Vì thế nông dân cần chịu khó tự ủ phân hữu cơ kết hợp thêm các dòng vi khuẩn, nấm có lợi ñể bón vào ñất trong canh tác
Hiệu quả lâu dài của phân hữu cơ sinh học sẽ ñược tiếp tục nghiên cứu
và ứng dụng nhằm hướng tới một nền nông nghiệp, bền vững ñáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường và an toàn cho con người
2.6 Sự cần thiết phải xử lý rơm rạ, bã nấm thành phân hữu cơ
Sau mỗi vụ thu hoạch, cây trồng ñể lại cho ñất một lượng lớn các phụ phẩm hữu cơ, ñây là một nguồn hữu cơ và chất dinh dưỡng rất lớn nếu ñược ñem sử dụng làm phân bón cho cây trồng
Việt Nam là một nước nông nghiệp với phần lớn dân số sống bằng nghề nông với truyền thống lâu ñời là thâm canh lúa nước Hiện tại diện tích ñất trồng lúa 165.338 ha do ñó lượng rơm rạ ñể lại sau mỗi vụ thu hoạch là nguồn hữu cơ rất lớn Tuy nhiên rơm rạ nếu ñể tự nhiên sẽ cần phân hủy rất
Trang 29lâu, và do tỷ lệ C/N rất cao nếu cày vùi rơm rạ trực tiếp vào ñất, sẽ gây hiện tượng bất ñộng dinh dưỡng trong ñất, hoặc trong quá trình phân hủy sẽ gây ra hiện tượng ngộ ñộc hữu cơ cho cây lúa [19] Do ñó, phế thải nông nghiệp sau khi thu hoạch khá lớn và thích hợp cho việc làm phân ủ (compost) Nhưng cho ñến nay, nguồn cacbon vô tận ñó chủ yếu bị bỏ phí Trước ñây, bà con nông dân thường mang phế phẩm nông nghiệp sau khi thu hoạch (rơm, rạ, lõi ngô…) ñể ñun nấu, làm thức ăn cho trâu, bò… Tuy nhiên, những năm trở lại ñây, quá trình ñô thị hóa ngày một tăng nhanh, ñời sống người dân ñược cải thiện, người dân không cần ñến rơm rạ ñun nấu, trong khi ñó họ cần giải phóng ruộng ñể chuẩn bị cho vụ sau, giải pháp ñốt rơm rạ trên ñồng ruộng là
sự lựa chọn phổ biến của bà con nông dân Theo ước tính nếu ñốt 1 tấn rơm thì sẽ thải ra 36,32kg khí CO, 4,54kg Hydrocarbon và 3,18 kg bụi tro [26] và 56,00kg CO2 [16] Việc ñốt bỏ rơm rạ ñã gây ô nhiễm bầu không khí, góp phần gây hiệu ứng nhà kính ảnh hưởng ñến sức khỏe và làm mất an toàn giao thông trên nhiều tuyến ñường Theo các nhà y học, khói bụi khi ñốt rơm rạ làm ô nhiễm không khí, gây tác hại lớn ñối với sức khỏe con người ñặc biệt trẻ em, người già và người mắc bệnh hô hấp mãn tính dễ bị ảnh hưởng nhất Thành phần các chất gây ô nhiễm không khí do ñốt rơm rạ tác ñộng ñến sức khỏe con người là hydrocacbon thơm ña vòng( viết tắt là PAH); dibenzo-p-dioxin clo hóa (PCDDs) và dibenzofuran clo hóa (PCDFs) là các dẫn xuất của dioxin rất ñộc hại, có thể tiềm ẩn gây ung thư [31]
Việc ñốt rơm rạ ngay trên ñồng ruộng cũng gây ra nhiều bất lợi, làm hỏng chất ñất Các chất hữu cơ trong rơm rạ vào trong ñất biến thành các chất
vô cơ do nhiệt ñộ cao ðồng ruộng bị chai cứng do lượng lớn nước bị bốc hơi
do nhiệt ñộ hun ñốt trong quá trình cháy rơm rạ Qúa trình ñốt rơm rạ ngoài trời không kiểm soát ñược lượng dioxit cacbon (CO2) phát thải vào khí quyển cùng với cacbon monoxit (CO); khí metan (CH4); các oxit nitơ NOx; và một
Trang 30ít dioxit sunfua SO2 [31]
Theo Achim Dobermam & Thomas Fairhurst (2000) [15], trong thân lá lúa vào thời kỳ chín chứa 40% tổng lượng ñạm, 80-85% tổng lượng kali, 30-
35 % tổng lượng lân và 40-45% tổng lượng lưu huỳnh mà cây hút ñược Rơm
rạ là nguồn hữu cơ quan trọng cung cấp K2O, Si và Zn cho cây trồng
Chất hữu cơ trong rơm rạ chiếm khoảng 85% Trong 50 tạ rơm rạ có từ 20-35,5kg N, 5-7kg P2O5, 60-90kg K2O, 10-15kg CaO, 4-6kg MgO, 5-6 kg S
và các nguyên tố vi lượng: 28g B, 15g Cu, 150g Mn, 2g Mo, 200gZn, 0,5g Co… Lượng các nguyên tố hóa học tối quan trọng trong rơm rạ (trừ N) có khả năng ñảm bảo gần như ñầy ñủ dinh dưỡng của cây ñể ñảm bảo thu ñược trên
20 tạ/ha
Phân tích thành phần hóa học của rơm rạ cho thấy: Cacbon cố ñịnh chiếm 15.68%; các hợp chất bay hơi chiếm 65,47%, tro chiếm 18,67% Trong thành phần của tro có chứa các hợp chất SiO2 chiếm 74,67%; CaO chiếm 3,01%; MgO chiếm 1,75%; Na2O chiếm 0,96%; K2O chiếm 12,30% Các hydracacbon có cấu tạo phức tạp và khó phân hủy là xenluloza, hemixeluloza, ligin (hợp chất ligno-xenluloza) Xenluloza tinh khiết trong rơm rạ chiếm 27,89%, hemixeluloza chiếm 26,87% và ligin chiếm 30,87% Xenluloza là hợp chất polysacarit cao phân tử rất bền vững, còn hemixeluloza có cấu trúc không chặt chẽ, dễ bị phân giải bởi axit và kiềm yếu Ligin rất bền ñối với tác ñộng của các enzym
Trong những năm qua, phân hóa học ñã ñóng vai trò quan trọng trong việc tăng sản lượng lúa Do quá trình sử dụng phân hóa học ñơn giản, dễ dàng
và hiệu quả tác ñộng cao nên trong trồng trọt nói chung và trồng lúa nói riêng nông dân không muốn bón phân hữu cơ Tuy nhiên song song với những lợi ích mà phân hóa học ñem lại là diện tích và tốc ñộ ñất canh tác bị thoái hóa ngày càng tăng Mặt khác, các loại phụ phẩm như rơm rạ bị ñốt tại ruộng sau
Trang 31khi thu hoạch, gây lãng phí lượng chất hữu cơ Bởi vậy, trả lại phế phụ phẩm nông nghiệp cho ñất chính là bước ñi ñúng ñắn trong chiến lược vận dụng hệ thống dinh dưỡng cây trồng tổng hợp[21]
Phế phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp tương ñối nhiều nếu ủ thành phân hữu cơ ñể bón cho ñồng ruộng là ñưa lại lợi ích kép, là phát triển sản xuất bền vững, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người [31]
ðể hạn chế sự bất lợi này, rơm rạ trước khi hoàn trả lại cho vụ mùa tiếp theo cần ñược trải qua quá trình phân hủy của những vi sinh vật thích hợp nhằm rút ngắn thời gian phân hủy Nấm Trichoderma ñược biết ñến như nguồn vi sinh vật có khả năng phân hủy rơm rạ nhanh [20], hạn chế ñược sự phát triển của nấm bệnh khô vằn lưu tồn trong rơm rạ [36]
Hiện nay, ở nhiều quốc gia và nhiều ñịa phương khác trong nước, rơm
rạ ñược tận dụng như một nguyên liệu an toàn, thân thiện với môi trường Sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ rơm rạ bằng phương pháp dùng chế phẩm vi sinh vật tạo ra nguồn phân hữu cơ ñã giải quyết cơ bản lượng phân chuồng thiếu hụt, ñồng thời tiết kiệm ñược chi phí ñầu tư phân bón ủ cải tạo ñấ, giảm thiểu
ô nhiễm môi trường[24]
Tác dụng của chế phẩm vi sinh vật giúp phân giải nhanh các chất hữu
cơ có trong rơm rạ như: xenluloza, tinh bột, ligin, protein… thành các chất tạo chất kháng sinh ñể tiêu diệt hoặc ức chế một số vi sinh vật gây bệnh cho cây trồng; tạo các chất ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt các vi sinh vật gây thối, làm mất mùi hôi thối; hình thành các chất kích thích sinh trưởng thực vật giúp cây trồng phát triển[30]
Mặt khác, trong ñống ủ compost tốc ñộ phân giải xelulozo ñược ñẩy mạnh, nhiệt ñộ ñược nâng cao do ñó tiêu diệt ñược các vi sinh vật gây bệnh cho cây trồng Chế phẩm còn có khả năng tồn tại lâu dài trong ñất ñể tiếp tục phân giải những phần chưa ñược phân hủy, có tác dụng lâu dài; phát triển tốt
Trang 32trong các ñiều kiện bình thường; cạnh tranh ñược các vi sinh vật khác; chế phẩm có khả năng phân hủy cả các chất hữu cơ tươi và khô
Sử dụng vi sinh vật trong xử lý môi trường là một hướng ñi ñúng và ñã ñược thế giới cũng như trong nước quan tâm với những lợi ích: thân thiện, không tạo ra các sản phẩm ñộc hại cho môi trường, chi phí xử lý thấp
Trong ñó, chuyển hóa nguồn phế thải sau khi thu hoạch giàu xenlulozo nhờ vi sinh vật là một giải pháp hữu ích vừa tạo nguồn phân bón lớn cung cấp cho cây trồng vừa là giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững [25][26]
2.7 Cơ sở sinh học của việc xử lý rơm rạ, bã nấm thành phân bón hữu cơ
bằng phương pháp sinh học
Từ những thập kỷ cuối của thế kỷ 20, công nghệ sinh học ñã có những tiến bộ vượt bậc, những thành tựu thuộc lĩnh vực này có ảnh hưởng sâu sắc ñến cuộc sống nhân loại Ngày này, công nghệ sinh học ñã từng bước len lỏi vào rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống con người như nông nghiệp, y tế, xây dựng, năng lượng môi trường và ñã khảng ñịnh ñược vị trí của nó trong thế
kỷ 21
Cơ sở của phương pháp này là dựa trên ñặc tính quý báu của hệ vi sinh vật có khả năng phân giải, chuyển hóa các hợp chất hữu cơ tự nhiên (xenluloza, lignin, tinh bột, protetin ) thành các dạng vật chất dễ tan, dễ tiêu,
dễ hấp thụ trong cả ñiều kiện hiếu khí và kỵ khí
Tính ñặc trưng của các quá trình trao ñổi chất ở vi sinh vật ñã ñược ứng dụng từ lâu vào sản xuất các loại thực phẩm lên men trước khi có sự hiểu biết
về sự tồn tại của chúng Khả năng phân hủy vật chất của quần thể vi sinh vật
ñã ñược sử dụng ñể quay vòng các thải có trong tự nhiên Bởi vì, nếu chất thải tích tụ quá nhiều tại một vùng sinh thái sẽ cản trợ khả năng tự làm sạch của vi sinh vật trong môi trường và làm ô nhiễm môi trường sống
Trang 332.8 Vai trò của VSV hữu hiệu trong chế tạo phân hữu cơ
2.8.1 Các vi sinh vật phân giải hydratcacbon
- Các nhóm vi khuẩn và xạ khuẩn: Trong tự nhiên, trong ñiều kiện ñộ
ẩm tăng cao thường làm tăng khả năng phân giải xeluloza của vi khuẩn, nhưng chủ yếu là các chi thuộc nhóm vi khuẩn hiếu khí, Gram âm và trực khuẩn kỵ khí tùy tiện, sau ñó mới ñến các vi khuẩn kỵ khí và Antinomycetales Các vi sinh vật hiếu khí có khả năng phân giải xelulozo thường thuộc về các chi: Achromobacter, Pseudomonas, Cellulomonas, Vibrio, Cellvibrio, Bacillus, Cytophaga, Angiococcus (vi khuẩn); Streptomyces, Streptoporagium, Micromonospora, Actinomyces (xạ khuẩn) Nhưng trong thực tế, người ta thấy chi, Bacillus, Pseudomonas và Fravobacterium là các chi phân lập ñược có tần suất cao nhất
Ngoài các vi khuẩn hiếu khí, còn có một số vi khuẩn kỵ khí có khả năng tham gia vào quá trình phân giải xelulozo Người ta gọi quá trình phân giải xelulozo kỵ khí là quá trình lên men xelulozo ðiển hình trong khu hệ vi sinh trong dạ cỏ ñộng vật nhai lại: Ruminococcus flaveeciens, R parvum, Bacteroides succinpgenes
Nấm sợi: Nấm sợi phát triển mạnh trên môi trường xốp có ñộ ẩm trên 70%, tối ưu 95% và ở ñiều kiện nhiệt ñộ ấm (240C) Các loại nấm mốc này thường gặp thuộc nấm bất toàn và nấm Ascomysetes Chúng hình thành ở bào
tử dính và ở dải phân cách khá rộng từ 2,5-11 Các nấm này chủ yếu ở các chi Aspergillus, Penicilium, Trichoderma và các chi khác có khả năng phân giải pectin, hemixenlulozo và xenlulozo
2.8.2 Sự phân giải hợp chất cacbon nhờ vi sinh vật
Nhờ hoạt ñộng sống của vi sinh vật, một số lượng lớn chất hữu cơ bị phân giải và làm giảm khối lượng Trong quá trình này, các hydratcacbon (xenluloza, lignin, pectin, hemixenlulozo ) ñược phân giải thành những phần
Trang 34nhỏ hơn, sinh khối vi sinh vật mới ñược tạo thành ñồng thời tạo ra các sản phẩm của quá trình trao ñổi chất, các chất khí (N2, CO2) Ngoài ra, tạo thành các axits hữu cơ như: axit fomic, axit axetic, axit propionic, axit béo, axit lactic , các chất này liên tục chuyển hóa thành các sản phẩm khác
Xelulozo là hợp chất cacbon phân bố nhiều nhất, là thành phần cơ bản của tế bào thực vật và là nguồn cacbon dự trữ lớn nhất trong tự nhiên Do vậy, sản phẩm của quá trình phân giải xelulozo là một phần cơ bản nhất tạo nên phân hữu cơ và mùn rác Chúng giữ vai trò to lớn trong sản xuất nông nghiệp Lên men xelulozo là quá trình phân giải kỵ khí nhờ các vi khuẩn khử sunphat hay vi khuẩn sinh metan Lên men phân giải xelulozo hiếu khí có ý nghĩa quan trọng ñối với cây trồng Cũng như phân giải kỵ khí, xelulozo ñược phân giải thành các axit hữu cơ thường là các axit uroic (axit mùn) và các oxit axitñơn giản hơn Các chất này bị oxy hóa và sản phẩm cuối cùng là CO2 và
H2O
Qua các giai ñoạn trung gian trong quá trình phân giải xelulozo hình thành con ñường hòa tan và các axit hữu cơ rất quan trọng Chúng là nguồn dinh dưỡng thích hợp cho các loại vi sinh vật ñất, ñặc biệt là các vi sinh vật cố ñịnh nitơ (Azotobacter và Clostridium) Phân bón hữu cơ có nhiều xenlulozo, người ta phát hiện có nhiều vi sinh vật cố ñịnh nitơ phát triển mạnh Ngoài xelulozo, vi sinh vật còn phân giải các chất pectin,lignin các chất này dễ bị oxy hóa nhờ các vi sinh vật thành CO2 , H2O, các loại ñường và axit hữu cơ như axit galactonic, axit axetic
2.9 Một số nghiên cứu xử lý rơm rạ, bã nấm thành phân hữu cơ bằng phương pháp sinh học ở trong và ngoài nước
2.9.1 Một số nghiên cứu xử lý rơm rạ, bã nấm thành phân hữu cơ bằng phương pháp sinh học ở nước ngoài
Trong nhiều năm qua, nông nghiệp thế giới cũng như Việt Nam ñã ñạt
Trang 35ựược những bước phát triển vượt bậc về năng suất cây trồng nhưng với việc hóa học hóa cao ựộ (sử dụng tối ựa phân hóa học và hóa chất bảo vệ) dẫn ựến lượng ô nhiễm môi trường; giảm sút nghiêm trọng chất lượng ựất, nước và sản phẩm nông nghiệp, có hại ựến sức khỏe con người, ựảo lộn cân bằng sinh thái và giảm tắnh ựa dạng sinh học Nhiều các biện pháp (hóa học, vật lý) ựã ựược sử dụng nhưng chưa giải quyết ựược triệt ựể Nhưng năm 1980, Giáo sư Teruo Higa người Nhật Bản ựã ựưa ra giải pháp ứng dụng công nghệ vi sinh vật vào hệ thống sản xuất nông nghiệp bền vững ựã khắc phục những tồn tại trên Hiện nay, ựây là công nghệ ựang ựược áp dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực như: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, xử lý môi trường, công nghiệp, y học [10]
Trước tình trạng ô nhiễm rác thải và phế thải ngày càng trầm trọng và nhu cầu sản xuất phân hữu cơ cho sản xuất rau an toàn ngày càng cao, một số nhà khoa học môi trường và sinh học thế giới ựã bắt tay vào nghiên cứu, khai thác nguồn hữu cơ tự nhiên có từ hoạt ựộng sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) ựể tái chế thành phân bón hữu cơ Cùng với sự góp mặt của công nghệ sinh học, hàng vạn, hàng triệu tấn phế thải hữu cơ ựã ựược xử lý tạo ra sản phẩm cuối cùng là CO2 , H2O và phân ủ đã có rất nhiều nghiên cứu cơ bản và chuyên sâu của các nhà khoa học thế giới, từ ựó giúp hoàn thiện và rút ngắn quá trình ủ phân ựồng thời tạo ra sản phẩm với chất lượng tốt nhất
Nghiên cứu của Gotaas [18] cho biết: nguyên liệu ựầu vào dùng làm phân ủ cần phải có pH= 5-7, trong quá trình ủ giai ựoạn ựầu pH phải ựạt khoảng 6, sau 2-4 ngày pH giảm xuống chỉ còn 4,5-5, do các axit hữu cơ ựược sinh ra với lượng lớn, nhưng khi nhiệt ựộ tăng cao thì pH tăng lên theo xu hướng hơi kiềm (7,5-8,5) Tác giả cũng cho rằng không nên bổ sung tro, cacbonnat hoặc vôi vào ựống ủ vì sẽ gây mất ựạm dưới dạng NH3 trong ựiều kiện pH cao
Trang 36Harper và Lynch (1984) [19] ñã nuôi hỗn hợp 2 chủng Tricodecma harzianum (phân giải xelulozo) và Clostridium butiricum (cố ñịnh N) nhằm làm tăng khả năng phân giải xenlulozo (thành phần chính trong phân giải hữu cơ) Trên ñây chỉ là một số kết quả nghiên cứu trong hàng trăm, hàng nghìn của các nhà khoa học thế giới ñòng góp vào sự phát triển chung của nền nông nghiệp thế giới cũng như vào sự giữ gìn màu xanh của trái ñất Thế kỷ 21, thế
kỷ của công nghệ sinh học chúng tôi tin rằng sự ñóng góp của các nhà khoa học trên thế giới trong lĩnh vực này sẽ ngày càng lớn lao ñúng theo nhận ñịnh của FAO và IFA[21]: Nếu thế kỷ 20 sản xuất phân bón bằng quặng từ lòng ñất, thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của một nền nông nghiệp phân bón hữu cơ vì các nhà khoa học ñang và sẽ tích cực nghiên cứu phát triển sản phẩm phân bón bằng những công nghệ tiên tiến nhất ñể tạo ra các chế phẩm mới có hiệu quả
sử dụng cao góp phần giảm chi phí vận chuyển và sử dụng
2.9.2 Một số nghiên cứu xử lý rơm rạ, bã nấm thành phân hữu cơ bằng phương pháp sinh học ở trong nước
Ở Việt Nam, nghiên cứu chế phẩm vi sinh vật ñược tiến hành từ những năm ñầu của thập kỷ 60 nhưng ñến những năm 80 mới ñược ñưa vào các chương trình khoa học cấp nhà nước như:” Sinh học phục vụ nông nghiệp” giai ñoạn 1982-1990, “Chương trình công nghệ sinh học phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người” KHCN.02 giai ñoạn 1996-2000 Ngoài các chương trình Quốc gia, nhiều Bộ, Ngành cũng triển khai nhiều ñề tài dự án về vấn ñề này
Xuất phát từ những mặt ưu việt của phương pháp xử lý phế thải hữu cơ bằng phương pháp sinh học (sử dụng các chế phẩm vi sinh vật), nhiều tác giả trong nước ñã dầy công ñầu tư thời gian và trí lực vào nghiên cứu, từng bước hoàn thiện quy trình xử lý phế thải hữu cơ một cách hoàn thiện và triệt ñể nhất Tức là tìm mọi cách ñể biến “phế” thành “bảo”, góp phần giải quyết một
Trang 37vấn nạn môi trường là Ộrác thảiỢ và Ộphế thải hữu cơỢ ựồng thời cũng giảm bớt gánh nặng cho ngành nông nghiệp trong lĩnh vực dinh dưỡng cây trồng và duy trì ựộ bền sức sản xuất của ựất Sau ựây chúng tôi ựưa ra một số nghiên cứu ựiển hình của các tác giả:
Phạm Văn Ty và cs [12] ựã phân lập ựược hàng trăm chủng vi sinh vật
có khả năng phân giải xelulozo, hemixululozo,lignin Tác giả ựã xây dựng ựược quy trình sản xuất chế phẩm phân giải chất hữu cơ ựạt huy chương vàng hội chợ triển lãm kinh tế kỹ thuật toàn quốc năm 1987 Kết quả thử nghiệm xử
lý phế thải hữu cơ bằng chế phẩm vi sinh vật này ựã rút ngắn thời gian ủ xuống con 45-60 ngày thay vì ủ từ 6 tháng- 1 năm với phương pháp ủ tự nhiên
Phan Bá Học (2007) [3], trong nghiên cứu Ộ Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật xử lý tàn dư thực vật trên ựồng ruộng thành phân hữu cơ tại chỗ bón cho cây trồng trên ựất phù sa sông HồngỢ ựã có kết luận: Cứ một tấn rơm rạ ủ thì cho ra 0,2-0,25 tấn phân hữu cơ, một tấn thân và lá ngô sau khi ủ cho ra 0,3-0,33 tấn phân hữu cơ, một tấn thân và lá khoai tây thu ựược 0,2 tấn phân
ủ, một tấn các loại rau màu khác cho 0,15-0,3 tấn phân ủ
Chế phẩm sinh học nấm ựối kháng Trichoderma ngoài tác dụng sản xuất phân bón hữu cơ sinh học, hay sử dụng như một loại thuốc bảo vệ thực vật thì còn tác dụng ựể xử lý ủ phân chuồng, phân gia súc, vỏ cà phê, chất thải hữu cơ như rơm rạ, rác thải hữu cơ rất hiệu quả Chế phẩm BIMA ( có chứa Tricoderma) của Trung tâm Công nghệ sinh học Thành phố Hồ Chắ Minh, chế phẩm Vi-đK của Công ty sát trùng Việt Nam ựang ựược nông dân thành phố
Hồ Chắ Minh và khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đông Nam Bộ sử dụng rộng rãi trong ủ phân chuồng bón cho cây trồng Việc sử dụng chế phẩm ựã làm ựẩy nhanh tốc ựộ ủ phân hoai phân chuồng từ 2-3 lần so với phương pháp thông thường, giảm thiểu môi trường do mùi hôi thối của phân chuồng Người nông dân lại tận dụng ựược nguồn phân tại chỗ, vừa ựáp ứng ựược nhu cầu
Trang 38ứng dụng, tăng khả năng kháng bệnh cho cây trồng do tác dụng của nấm ựối kháng Trichoderma có chứa trong phân [21]
Lưu Hồng Mẫn và cs ở Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long ựã khai thác nấm Trichoderma, là nguồn vi sinh vật có khả năng phân hủy rơm rạ nhanh, hạn chế ựược sự phát triển của nấm bệnh khô vằn tồn trong rơm rạ trong rơm rạ, ựể ựiều chế thành chế phẩm sinh học phân hủy rơm rạ, tạo nguồn phân hữu cơ cho ựất Nếu sử dụng 10kg chế phẩm cho 1ha rơm rạ sau thu hoạch thì trong khoảng thời gian 4 tuần sẽ tạo ựược khoảng 6 tấn phân hữu cơ tại chỗ Thời gian ựể chế phẩm sinh học phân hủy rơm rạ là 5-6 tuần sau khi xử lý
Lý Kim Bảng và cs ở Viện Khoa học công nghệ Việt Nam ựã nghiên cứu thành công chế phẩm Vixura và công nghệ xử lý rơm rạ ựem lại hiệu quả kinh tế- xã hội rất cao Trong ựó, chế phẩm Vixura chứa 12-15 loại vi sinh vật ựược phân lập tại Việt Nam có khả năng sinh ra các enzyme khác nhau ựể phân hủy chất hữu cơ trong rác và rơm rạ, ựồng thời tăng khả năng ựồng hóa dinh dưỡng, khả năng chống chịu sâu bệnh của cây trồng Theo công nghệ này, tàn dư cây lúa sau thu hoạch ựược gom thành từng ựống, rạ ựược xếp từng lớp có rắc xen kẽ phân chuồng, phân NPK và chế phẩm vi sinh vật Vixura (dưới dạng hòa thành nước tưới) Chiều cao mỗi ựống rạ từ 1,5-2,0m, ựược phủ kắn bằng nilon, có một lỗ nhỏ ựể tưới nước đống rạ ủ ựược tưới ẩm thường xuyên Sau thời gian 5-7 ngày, nhiệt ựộ tăng từ 70-800C, rạ lúc này sẽ mềm và xẹp xuống Sau thời gian 20 ngày, rạ trong ựống mềm hết va chuyển sang màu ựen, nhiệt ựộ giảm dần và trở thành một loại phân bón hữu cơ rất tốt cho ựồng ruộng [14]
Như vậy, có thể nói các tác giả Việt Nam ựã tận dụng và phát huy tốt những nguồn lợi thế thiên nhiên sẵn có trong nước đóng góp lớn nhất của các tác giả ở ựây là ựã biến các nguồn lợi tự nhiên (các chủng giống vi sinh
Trang 39vật và phế thải hữu cơ) tưởng chừng như không có giá trị ựối với cuộc sống nhưng lại trở thành có ý nghĩa, có giá trị thiết thực hơn Từ ựó, không những góp phần làm giảm thiểu môi trường do phế thải hữu cơ gây ra mà còn tạo ra một nguồn phân hữu cơ sinh học rất lớn ựể bón cho cây trồng, giảm bớt chi phắ về phân bón cho nhà nông và nhà nước ta
2.9.3 Tình hình sử dụng rơm rạ, bã nấm ở Nghĩa Hưng - Nam định
Xã hội ngày càng phát triển, việc sử dụng rơm rạ làm chất ựốt phục vụ sinh hoạt gia ựình không còn phát huy tác dụng như trước ựây Sau khi thu hoạch lúa, người nông dân thường ựốt hết rơm rạ ngay tại ruộng hoặc vứt bừa bãi trên các ựường giao thông nội ựồng, kênh mương gây ô nhiễm môi trường
phường và 194 xã
địa hình tỉnh Nam định tương ựối bằng phẳng, có thể chia làm 2 tiểu vùng cơ bản: Tiểu vùng bán trung du và vùng ựồng bằng Tiểu vùng bán trung
du (vùng ựồi) phân bổ chủ yếu ở phắa Tây - Tây Bắc (Ý Yên - Vụ Bản), có ựộ
cao ựịa hình dao ựộng trong khoảng từ 3 - 150m Vùng ựồng bằng chiếm phần lớn diện tắch của tỉnh, ựộ cao có xu hướng giảm dần theo hướng Tây Bắc - đông Nam, ựộ cao ựịa hình dao ựộng trong khoảng 0 - 6 mét Là một tỉnh thuộc vùng ựồng bằng Bắc Bộ, Nam định mang ựầy ựủ ựặc ựiểm khắ hậu gió mùa nóng ẩm Lượng mưa trung bình cả năm là 1.592,4 mm, lượng mưa
Trang 40trung bình lớn nhất trong năm vào tháng 9 là 495,8 mm, lượng mưa trung bình thấp nhất trong năm vào tháng 1 là 14,1 mm Nhiệt ñộ trung bình trong năm là 23,90C, nhiệt ñộ cao nhất vào tháng 6 trung bình là 30,30C, nhiệt ñộ trung bình thấp nhất vào tháng 2 là 17,80C
Là một tỉnh nông nghiệp với nguồn nhân lực dồi dào, số người trong
ñộ tuổi lao ñộng là 1.006.000 người Trong ñó số người lao ñộng trong ngành Nông nghiệp - Lâm nghiệp là: 711.000 người chiếm 71% tổng số lao ñộng trong các ngành Tuy nhiên số người trong ñộ tuổi lao ñộng không có việc làm trong toàn tỉnh là lớn hơn 25.000 người chiếm 2,56% tổng số lao ñộng trong tỉnh
Huyện Nghĩa Hưng là một huyện ñồng bằng ven biển của tỉnh Nam ðịnh, có diện tích ñất tự nhiên khoảng 25.048ha, trong ñó dất nông nghiệp chiếm 14.467ha, con ñường quốc lộ 55 chạy dọc theo chiều dài huyện gồm 22
xã và 3 thị trấn
Dân số của huyện Nghĩa Hưng trên 21.1170 người, nghề chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, lực lượng lao ñộng trên ñịa bàn có 112.000 người Lao ñộng trong ngành nông , lâm nghiệp chiếm 56% tổng số lao ñộng (73.140 người)
Việc ñốt rơm rạ và thải xuống kênh mương nội ñồng sau mỗi vụ gặt là tình trạng chung của hầu hết các vùng trồng lúa ở tỉnh Nam ðịnh ðể tận dụng nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp này, góp phần ñảm bảo vệ sinh môi trường có một cách làm không mấy phức tạp mà mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, ñó là tận dụng rơm rạ ñể làm nấm thực phẩm Trong thời gian qua, Trung tâm dạy nghề công lập huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam ðịnh phối hợp với
Sở Khoa học và Công nghệ Nam ðịnh ñã hoàn thành xuất sắc dự án “ Xây dựng các mô hình sản xuất giống, nuôi trồng và chế biến nấm hàng hóa trên