Ngoài ra, những phế phẩm từ bịchphôi sau khi thu hoạch hết nấm còn có thể sử dụng để trồng rau mầm, nuôitrùn quế, chân nấm dùng nuôi cá...Qua đó cho thấy tiềm năng phát triển của mô hình
Trang 1Phần 1 MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết triển khai đề tài
Ngành sản xuất nấm ăn đã hình thành và phát triển trên thế giới hàngtrăm năm nay, nấm là một trong những sản phẩm nông nghiệp được đánh giácao trên thế giới Ở nhiều nước, sản xuất và chế biến nấm đã phát triển thànhmột nghề có trình độ cao theo phương thức công nghiệp (Phạm Văn Sáng,2008) Nấm đã được xếp vào một giới riêng có nhiều loài rất đa dạng vớinhiều hình dáng màu sắc và chủng loại Cho đến nay việc nghiên cứu cũngnhư tuyển chọn các loại nấm ăn, nấm dược liệu trong và ngoài nước đã đạtnhững thành tựu đáng kể
Nấm ăn nói chung và nấm bào ngư (pleurotus sp.) nói riêng được xem
là thực phẩm có nhiều đặc tính rất quí, hương vị thơm ngon, gía trị dinhdưỡng cao, có chứa các acid amin thiết yếu, giàu chất khoáng, vitamin và cácnguyên tố vi lượng Nấm còn có hàm lượng polysaccarit, hydratcacbon vàmột số hoạt tính sinh học mà nhiều loại thực phẩm khác không có như nhữngchất làm trẻ hóa tế bào, chống béo phì, cao huyết áp, tiểu đường (Lê HồngVinh, 2004)
Ở nước ta nghề nấm cũng đã phát triển từ lâu, sự phát triển của nó cũng
có những lúc thăng trầm Tuy nhiên, những năm gần đây trồng nấm đã đượcxem là một nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao Điển hình là đã có hàng ngàn
hộ nông dân trồng nấm quy mô trang trại ở nhiều nơi trong nước như: Nghệ
An, Lào Cai, Củ Chi Vùng ĐBSCL cũng đang có vài tỉnh thành đang pháthuy thế mạnh của nghề trồng nấm như: Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, KiênGiang…tuy nhiên một số nơi vẫn còn mang tính tự phát, hiệu quả kinh tếchưa cao hạn chế việc khuyến khích mở rộng do năng suất và chất lượng thấp
Với tình hình trên cho thấy mô hình trồng nấm bào ngư khá thích hợp
Trang 2giản, không sử dụng hoá chất, thuốc bảo vệ thực, năng suất khá cao (năngsuất trung bình từ 1 tấn nguyên liệu là 700 kg) (Phạm Văn Sáng, 2008), có thểsản xuất được quanh năm, thị trường tiêu thụ nấm bào ngư hiện cũng đang mởrộng, được người tiêu dùng ưa chuộng, là mặt hàng có giá trị xuất khẩu Đặcbiệt mô hình không đòi hỏi diện tích lớn, có thể tận dụng gian bếp hoặc ngay
cả những chuồng trại không sử dụng để trồng nấm., vòng xoay đồng vốnnhanh nên thích hợp với những hộ ít vốn Ngoài ra, những phế phẩm từ bịchphôi sau khi thu hoạch hết nấm còn có thể sử dụng để trồng rau mầm, nuôitrùn quế, chân nấm dùng nuôi cá Qua đó cho thấy tiềm năng phát triển của
mô hình sản xuất khép kín có hiệu quả cao (Trần Lê Thu Thảo, 2008)
Tại Đắk Lắk, Việc nuôi trồng nấm Bào ngư đã được thực hiện thànhcông ở một số nơi trong đó có kết quả của dự án NTMN “Ứng dụng kỹ thuậttiến bộ xây dựng mô hình cơ sở nhân giống và SX nấm thương phẩm tỉnhĐắk Lắk” do Trung tâm ứng dụng KH&CN thực hiện năm 2000 - 2004; Việcxây dựng mô hình sản xuất nấm tại hộ gia đình vợ chồng anh Nguyễn QuốcHùng và chị Đỗ Việt Thông (thôn 1, xã Ea Pil, huyện M’Drak đã xây dựng hệthống nhà trồng nấm với diện tích khoảng 200m2 để trồng 3 loại nấm chủ yếu
là nấm tai mèo, nấm bào ngư và nấm rơm đến nay bước đầu mô hình của giađình anh chị đã gặt hái được một số thành công nhất định Hộ gia đình chịNguyễn Thị Bích Vân, ở thôn 1 xã Quảng Điền, huyện Krông Ana (Đắk Lắk)
- địa bàn đặc biệt khó khăn nhưng đã biết vượt qua đói nghèo vươn lên làmgiàu chính đáng bằng mô hình trồng nấm
Nấm bào ngư khá dễ trồng, không đòi hỏi kỹ thuật cao, tận dụng lúcnhàn rổi và nguyên liệu sẵn có để trồng nấm tăng thêm thu nhập cho nông dân
là rất tốt Hiện tại giá nấm bào ngư khoảng 30000đ - 45000đ/kg
Do đó việc thực hiện đề tài: “Xây dựng mô hình trồng nấm Bào ngư tạihuyện Krông Búck, tỉnh Đắk Lắk” là cần thiết vừa tạo ra hướng đi mới chocác hộ nông dân và tạo ra một sản phẩm Nấm bào ngư là loại thức ăn ngon, làthực phẩm có giá trị dinh dưỡng khá cao, cung cấp một lượng đáng kể chất
Trang 3đạm, đường bột, nhiều vitamin và khoáng chất, đồng thời là dược liệu quí giátrong việc duy trì, bảo vệ sức khỏe phòng chống nhiều bệnh và cũng là nguồnhàng xuất khẩu có giá trị.
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Xây dựng thành công 2 mô hình nuôi trồng nấm Bào ngư tại 2 xã EaNgai và Pơng Đrang, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk;
- Khẳng định hiệu quả kinh tế của việc nuôi trồng nấm Bào ngư theođúng quy trình kỹ thuật cao hơn hẳn so với các loại cây trồng ngắn ngày khác
từ 20-30% trên cùng một đơn vị diện tích
Phần 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.1 Tình hình nghiên cứu, phát triển nấm bào ngư
2.1.1 Trên thế giới
Năm 1990, tổng sản lượng nấm ăn trên toàn thế giới là 3.763.000 tấn.Đến năm 1994, tổng sản lượng nấm trên thế giới tăng lên 4.909.000 tấn Cácnước sản xuất chủ yếu như: Trung Quốc, Hoa kỳ, Nhật Bản, Pháp, Hà Lan, Ý,Hàn quốc Trong đó Trung Quốc chiếm đến 53,79% tổng sản lượng Theo
Lê Xuân Thám (2008) hiện tại, Trung Quốc được xem là nước có nghề sảnxuất nấm lâu đời và lớn nhất thế giới (chiếm > 80% tổng sản lượng nấm củathế giới) Tổng sản lượng nấm của Trung Quốc năm 2003 là 10.386.900 tấn,trong đó sản lượng nấm bào ngư đạt trên 2 triệu tấn Hiện Trung quốc có trên
10 viện và cơ sở nghiên cứu phát triển công nghệ nấm cùng với lực lượngchuyên gia kỹ thuật trong lĩnh vực nấm rất hùng hậu ở những vùng trọngđiểm Tỉnh Phúc Kiến được xem là địa phương điển hình trong công nghệtrồng nấm ở Trung Quốc, với năng suất và kim ngạch đứng đầu cả nước
Trang 4ở Phúc Kiến đạt khoảng 320 triệu USD, năm 1997 đạt 400 triệu USD và đếnnăm 2000 đạt 500 triệu USD Hiện nay vẫn tăng ổn định, chiếm tới 60% kimngạch xuất khẩu nấm của Trung Quốc Nghề sản xuất nấm ăn của tỉnh đãđược xem là một trong 9 nghề sản xuất lớn trong nông nghiệp Nghề nấm đãgóp phần tăng trưởng nền kinh tế Trung Quốc nói chung và của tỉnh PhúcKiến nói riêng Tại Phúc Kiến, nghề nấm đã tạo ra trên 3 triệu việc làm,chiếm 32,7% lao động nông thôn
2.1.2 Tại Việt Nam
Theo Lê Hồng Vinh (2004), tổng sản lượng các loại nấm ăn và nấmdược liệu của Việt Nam hiện nay đạt trên 100.000 tấn/ năm Kim ngạch xuấtkhẩu khoảng 40 triệu USD/năm với các loại nấm phổ biến như:
Nấm rơm tập trung ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ chiếm 90% sản lượngnấm rơm cả nước
Mộc nhĩ tập trung ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ chiếm 70% sản lượng
cả nước
Nấm mỡ, nấm bào ngư, nấm hương chủ yếu trồng ở các tỉnh miền Bắc,sản lượng mỗi năm khoảng 10.000 tấn Tuy nhiên hiện nay mô hình trồngnấm bào ngư đang được nhân rộng khắp các tỉnh phía nam làm sản lượng nấmbào ngư tăng lên đáng kể
Nấm dược liệu (linh chi, vân chi, hầu thủ, ) mới được trồng ở một sốtỉnh, thành phố (Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, TP.Hồ Chí Minh, Đà Lạt )sản lượng mỗi năm khoảng 100 tấn
Ngoài ra còn một số loại khác như trân châu, kim châm đang đượcnghiên cứu, sản xuất thử nghiệm, số lượng chưa đáng kể
Thị trường tiêu thụ các loại nấm ăn đang ngày càng mở rộng do ngườitiêu dùng đã hiểu được giá trị dinh dưỡng của cây nấm đặc biệt trong tìnhhình nhiều biến động về giá cả của các loại thực phẩm như cá, thịt, gia cầm
Trang 5cũng như tình hình dịch bệnh xảy ra thì nấm ăn là nguồn thực phẩm đượcngười tiêu dùng chú trọng Nhu cầu tiêu thụ trong nước hiện nay còn thiếu rấtnhiều so với thực tế sản xuất, sản lượng của ta chỉ mới đạt trên 100.000tấn/năm Với tình hình trên Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đã
đề ra mục tiêu hướng tới sản xuất 1 triệu tấn nấm thực phẩm, trong đó xuấtkhẩu 500.000 tấn vào năm 2010, đồng thời khuyến khích các địa phương cảnước thực hiện chính sách chuyển giao khoa học kỹ thuật nhằm làm tăng sảnlượng nấm (Lê Xuân Thám, 2008)
Đặc biệt mô hình trồng nấm bào ngư hiện nay đang phát triển khá phổbiến nhiều nơi như TP.Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Vĩnh Long, An Giang, KiênGiang vì nó mang lại giá trị kinh tế không nhỏ và hứa hẹn nhiều tiềm năngkinh tế Điển hình như Công ty TNHH TM DONA (xã Tân Phú Trung, CủChi) từ 10 trại nấm ban đầu, hiện nay đã tăng lên 46 trại ở củ Chi và mở rộngnhiều chi nhánh trên cả nước Nông dân Mai Thanh Nhân (huyện ChâuThành, Bến Tre) ban đầu trồng thử nghiệm 1000 bịch phôi nấm bào ngư nayphát triển lên 10.000 bịch và thành lập HTX Thanh tuyền mở rông mô hìnhtrồng nấm Hiện nay HTX đã ký hợp đồng xuất khẩu nấm bào ngư sang thịtrường Châu Âu với số lượng 6 tấn/ tháng Ông Bảy Yết (Phan.V Yết, xã TânThới Nhì, Hóc Môn, TP.HCM) khởi nghiệp từ trồng nấm bào ngư, hiện nay
đã mở rộng cơ sở với diện tích 6000 m2 cung cấp 20.000 phôi giống/ ngày,ngoài ra, ông còn có sáng kiến đi lập làng nấm ở các tỉnh Long An, VĩnhLong, Đồng Tháp Chị Nguyễn Thị Minh Tấn (xã Long Hòa, huyện DầuTiếng, Bình Dương) làm giàu từ trồng nấm bào ngư, từ 500 bịch phôi nấm,hiện nay chị đã mở rộng diện tích trồng lên 1 ha thu nhập 100 triệu đồng/năm
Tại Tiền Giang, vừa qua Trung tâm Ứng dụng và Dịch vụ Khoa họcCông nghệ đã triển khai thành công dự án “Xây dựng mô hình sản xuất vàtiêu thụ các loại nấm (từ khâu giống, trồng và thu mua chế biến tiêu thụ nấm)tại Tiền Giang” Dự án cho thấy mô hình trồng nấm bào ngư mang lại hiệu
Trang 6200.000 bịch phôi nấm bào ngư cho một số tỉnh Nam bộ để triển khai sảnxuất Hiện nay, ở Tiền Giang đã có hơn 30 hộ trồng nấm bào ngư với diệntích trên 100 m2/hộ thu nhập từ 10 – 12 triệu đồng/hộ
2.1.3 Tại tỉnh Đắk Lắk
Tại Đắk Lắk, Việc nuôi trồng nấm Bào ngư đã được thực hiện thànhcông ở một số nơi trong đó có kết quả của dự án NTMN “Ứng dụng kỹ thuậttiến bộ xây dựng mô hình cơ sở nhân giống và SX nấm thương phẩm tỉnhĐắk Lắk” do Trung tâm ứng dụng KH&CN thực hiện năm 2000 - 2004; Việcxây dựng mô hình sản xuất nấm tại hộ gia đình vợ chồng anh Nguyễn QuốcHùng và chị Đỗ Việt Thông (thôn 1, xã Ea Pil, huyện M’Drak đã xây dựng hệthống nhà trồng nấm với diện tích khoảng 200m2 để trồng 3 loại nấm chủ yếu
là nấm tai mèo, nấm bào ngư và nấm rơm đến nay bước đầu mô hình của giađình anh chị đã gặt hái được một số thành công nhất định Hộ gia đình chịNguyễn Thị Bích Vân, ở thôn 1 xã Quảng Điền, huyện Krông Ana (Đắk Lắk)
- địa bàn đặc biệt khó khăn nhưng đã biết vượt qua đói nghèo vươn lên làmgiàu chính đáng bằng mô hình trồng nấm
2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Krông Búk
Huyện Krông Búk nằm về phía Đông bắc tỉnh Đắk Lắk, cách trung tâmthành phố Buôn Ma Thuột 60 km theo Quốc lộ 14; có tổng diện tích tựnhiên 35.782 ha, với 7 đơn vị hành chính, trung tâm huyện được quy hoạch ởcạnh Quốc lộ 14 trên địa bàn xã Cư Né và Chư K’Bô; có ranh giới với cáchuyện như sau:
- Phía Đông giáp huyện Krông Năng
- Phía Tây giáp huyện Cư M’Gar, Ea H’Leo
- Phía Nam giáp thị xã Buôn Hồ, huyện Cư M’Gar
- Phía Bắc giáp huyện Ea H’Leo
Trang 7Nằm ở cửa ngõ phía Bắc của tỉnh, giáp thị xã Buôn Hồ, trên trục Quốc
lộ 14, nối huyện Krông Búk với thành phố Buôn Ma Thuột, thành phố PlâyKu; giao lưu thuận tiện với các tỉnh Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung và cảnước Đây chính là điều kiện khá thuận lợi trong quan hệ phát triển kinh tế -
xã hội của huyện
Huyện Krông Búk nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mang tính chấtđặc thù của vùng khí hậu cao nguyên, thời tiết phân thành 2 mùa rõ rệt Điềukiện tự nhiên, thổ nhưỡng được thiên nhiên ưu đãi, quỹ đất canh tác khá màu
mỡ, rất thích hợp với cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày có giá trị kinh tếcao như cà phê, cao su, hồ tiêu,…đây là điều kiện thuận lợi và thế mạnh đểhuyện phát triển nền nông nghiệp Hiện nay huyện xác định việc phát triểnnông nghiệp mang tính chất lâu dài, đồng thời cải tạo các vùng đồi núi trọc,các vùng đất bạc màu nhằm phát triển hệ sinh thái, cải tạo môi trường và tăngthu nhập cho người dân
- Dân số toàn huyện 57.002 người;
+ Đồng bào DTTS là 18.521; chiếm 32.5% DS;
+ Đồng bào dân tộc tại chỗ là 17.862; chiếm 31.3% DS
2.2.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Pơng Đrang:
Xã Pơng Drang nằm phía Bắc huyện Krông Búk, cách trung tâm huyện6km theo quốc lộ 14
- Vị trí địa lý tiếp giáp với các xã như sau:
+ Phía Bắc giáp xã Chứ KBô - Huyện Krông Búk - Tỉnh Đăk Lăk
+ Phía Đông và Nam giáp xã Ea Đê - Huyện Krông Búk - Tỉnh Đăk Lăk.+ Phía Tây giáp xã Ea Ngai - huyện Krông Búk - Tỉnh Đăk Lăk
- Xã Pơng Drang, có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bìnhkhoảng 600m so với mực nước biển, độ dốc trung bình 3-8o, địa hình có xu
Trang 8hướng thấp dần từ Bắc xuống nam Phần lớn đất đai của xã là đất đỏ bazan cótầng dày đã được đưa vào khai thác sử dụng.
- Khí hậu: Mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm gió mùa,
chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Tây Nam
- Nhiệt độ:
+ Nhiệt độ trung bình năm: 21,8o C
+ Nhiệt độ trung bình cao nhất năm: 36,6o C
+ Nhiệt độ trung bình thấp nhất năm: 8,8o C
- Độ ẩm tương đối trung bình năm: 84,6%, độ ẩm thấp nhất 11%
-Chế độ gió: Thịnh hành theo 2 hướng chính: Gió Đông bắc thổi vào cáctháng mùa khô và gió Tây nam thổi vào các tháng mùa mưa Vận tốc gió trungbình năm: 2,43 m/s, tốc độ gió trung bình lớn nhất 26m/s (tháng 6/1992)
- Số giờ nắng trung bình năm: 2.484 giờ
- Lượng mưa trung bình năm: 1.547,7 mm, nằm trong tiểu vùng cólương mưa trung bình năm thấp của tỉnh, lượng mưa trung bình cao nhất235,7mm (tháng 8) Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10,chiếm 85% lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau,chiếm 15% lượng mưa cả năm
- Mang khí hậu nhiệt đới cao nguyên thuận lợi cho việc phát triển cácloại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu,…
- Diện tích đất nâu đỏ trên đá bazan chiếm 99,7% tổng diện tích tựnhiên, đây là loại đất tốt, có giá trị trong sản xuất nông nghiệp
- Người dân được tiếp thu trình độ sản xuất tiên tiến, hiện đại nên khảnăng khai thác tiềm năng đất đai trên địa bàn được đánh giá là có hiệu quả cao
- Một số thôn đồng bào dân tộc tại chỗ mặc dù có kinh nghiệm sản xuấtnông nghiệp nhưng việc tiếp thu trình độ sản xuất tiên tiến còn nhiều hạn chế
Trang 92.2.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Ea Ngai
Trang 10Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
- Nội dung 1: Xây dựng mô hình nuôi trồng nấm Bào ngư tại 2 xã Ea
Ngai và Pơng Đrang, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk;
- Nội dung 2: Tập huấn kỹ thuật nuôi trồng nấm Bào ngư cho nông dân;
- Nội dung 3: Tổ chức hội thảo đánh giá kết quả rút ra bài học kinh
nghiệm và nhân rộng mô hình nuôi trồng nấm Bào ngư
3.2 Phương pháp tiến hành, kỹ thuật sử dụng
1 Phương pháp nghiên cứu
1.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Nấm Bào ngư (tên khoa học: Pleurotus spp)
1.2 Địa điểm và thời gian thực hiện
- Địa điểm thực hiện: Tại 02 xã Ea Ngai và Pơng Đrang, huyện KrôngBúk, tỉnh Đắk Lắk
- Thời gian thực hiện: 06 tháng từ tháng 7/2013 đến tháng 12/2013.1.3 Quy mô và thiết kế:
- Tập huấn kỹ thuật nuôi trồng nấm Bào ngư: Tổng số 2 lớp, mỗi xã 1lớp; Quy mô 40 người/lớp; Thời gian 1 ngày; Nội dung tập huấn: Quy trình
kỹ thuật Nuôi trồng, thu hoạch nấm Bào ngư, hướng dẫn nông dân cách hạchtoán hiệu kinh tế trong quá trình tổ chức sản xuất, cung cấp cho nông dân cácthông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Xây dựng mô hình nuôi trồng nấm Bào ngư: Tổng số 2 mô hình, mỗi
xã 1 mô hình; Qui mô: mỗi mô hình nuôi trồng 4.000 bịch phôi giống nấmBào ngư Các biện pháp kỹ thuật khác như nuôi trồng, chăm sóc, thu hoạch
Trang 11được thực hiện theo hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng, chăm sóc và thu hoạch doTrung tâm Ứng dụng Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk soạn thảo.
- Tổ chức hội thảo Tổng số 2 buổi, mỗi xã 1 buổi; Quy mô 40người/buổi; Nội dung: thăm mô hình, đánh giá các ưu, nhược điểm và tínhthích nghi, triển vọng của việc nuôi trồng nấm Bào ngư tại địa phương , từ đórút ra bài học kinh nghiệm về việc nhân rộng mô hình
2 Chỉ tiêu và phương pháp tiến hành
2.1 Chỉ tiêu theo dõi
1 Thời gian sinh trưởng:
2 Bệnh hại
3 Năng suất thực tế (Kg)
4 Hiệu quả kinh tế của mô hình
2.2 Phương pháp theo dõi: Kiểm tra, đo đếm số liệu liên tục1tuần/1lần Tại các điểm được đánh dấu cố định nằm trên 5 điểm chéo góc
- Theo dõi thời gian sinh trưởng: Để giảm bớt những công đoạn phứctạp ta nuôi trồng nấm Bào ngư trên những bịch phôi đã xử lý cấy meo giốngvào hai giai đoạn cuối: Nuôi ủ tơ nấm và tưới đón thu hoạch (quả thể)
- Theo dõi năng suất thực tế: Được tính tổng năng suất nấm thực thuqua các đợt tại mô hình
* Thu hái nấm: Nấm bào ngư mọc tập trung thành cụm nên khi nấm đủlớn cần hái cả cụm Hái nấm đúng độ tuổi sẽ đạt năng suất, chất lượng caonhất Tiêu chuẩn là rìa mũ nấm vẫn co vào trong sắp dàn phẳng, thịt nấm dầy,chắc, mập và non Lúc này nấm chuẩn bị phát tán bào tử, là thời điểm háinấm Nếu nhìn thấy “làn khói trắng” bay ra từ cây nấm đó là các bào tử pháttán (biểu hiện nấm già) Hái nấm không được để sót phần “gốc” trên bịchnấm, nếu còn sót lại phải cấu sạch để nấm ra đợt tiếp theo tốt hơn
Trang 12- Mức độ nhiễm một số loại sâu hại và bệnh hại chính:
+ Cứ 5 – 7 ngày ta kiểm tra một lần nhằm phát hiện những bịch nhiễmmốc xanh để huỷ bỏ, không để lây nhiễm sang các bịch khác
+ Trường hợp ấu trùng ruồi (dòi), chúng chui vào các khe cửa phiếnnấm, cắn phá làm hư hại nấm Tốc độ sinh sản chúng lại rất nhanh, nên thiệthại không phải nhỏ Nhà trồng vì vậy nên làm lưới chắn, để cho chúng khônglọt vào Tuy nhiên, vấn đề chính là vệ sinh nhà trại, không để ổ dịch
- Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Tỷ lệ hao hụt;
+ Năng suất của bịch phôi;
+ Thời gian, số lượng nấm qua mỗi đợt thu hoạch;
+ Năng xuất thực tế qua từng đợt;
- Hiệu quả kinh tế của các mô hình:
+ Tổng thu = Năng suất tại mô hình x giá tại mô hình
+ Tổng chi: giống và các vật tư khác, lao động
+ Lãi thuần = tổng thu – tổng chi
+ Tỷ suất lợi nhuận = tổng thu/ tổng chi
Trang 13- Có lao động, kinh nghiệm và có trách nhiệm, nhiệt tình khi áp dụngtiến bộ kỹ thuật và công nghệ.
- Vị trí địa lý gần đường giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển phôinấm, đồng thời phải thuận tiện cho việc đi lại triển khai đề tài cũng như phục
vụ nhu cầu tham quan học tập ở địa phương
- Có khả năng nhân rộng các kết quả mô hình cho các cá nhân, tố chứckhác trong vùng…
- Có khả năng tài chính hoặc điều kiện sẵn có cho việc đầu tư trồngnấm ngoài khả năng hỗ trợ của dự án (nhà trồng nấm (có thể tận dụng chuồnggia súc không sử dụng), thiết bị, lao động )
3.2.4 Kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sẽ ứngdụng trong đề tài
- Ứng dụng kết quả đề tài khoa học cấp tỉnh: Ứng dụng kết quả Dự ánNông thôn miền núi: “Ứng dụng kỹ thuật tiến bộ xây dựng mô hình cơ sởnhân giống và SX nấm thương phẩm tỉnh Đắk Lắk” do Trung tâm ứng dụngKH&CN thực hiện năm 2000 - 2004
3.2.5 Khảo sát, lựa chọn và xây dựng mô hình
- Ban chủ nhiệm đề tài đã tiến hành khảo sát, lựa chọn và xây dựng 02
mô hình tại hộ ông Trần Ngọc Phê, địa chỉ thôn 5, xã Ea Ngai và ông Tạ Đình
Tư, thôn 9, xã Pơng Đrang Quy mô mỗi mô hình là 4.000 bịch phôi giống/mỗi mô hình
- 02 hộ nông dân được chọn tham gia thực hiện mô hình trong đề tài: Đã
có kinh nghiệm nuôi trồng nấm ăn, có đủ diện tích để xây dựng trại nuôi trồngnấm, có lao động tham gia thực hiện mô hình, tích cực, nhiệt tình trong việc
áp dụng TBKT mới, đã có kinh nghiệm trong việc nuôi trồng năm bào ngư,nấm mèo
3.2.6 Tiến độ thực hiện đề tài
Trang 14- Tháng 9 /2013: Khảo sát chọn địa điểm;
- Tháng 15/9/2013: Chủ hộ chuẩn nhà làm nấm, dọn mặt bằng, sử lý nền
và vách thưng bằng vôi bột để khử trùng;
- Ngày 01/10/2013: Nhận phôi nấm, thực hiện trồng và chăm sóc;
- Ngày 05/10/2013: Tiến hành xẻ bịch nấm;
- Ngày 20-23/10/2013: Bắt đầu thu hoạch nấm;
- Tháng 11/2013: Tiếp tục chăm sóc, theo dõi tình hình sâu, bệnh hại để
có biện pháp sử lý và tiếp tục thu hoạch;
- Tháng 12/2013: Tiếp tục chăm sóc, theo dõi tình hình sâu, bệnh hại để
có biện pháp sử lý và tiếp tục thu hoạch; Tổ chức Hội thảo đầu bờ, đánh giá tìnhhình sinh trưởng, phát triển và hiệu quả kinh tế các mô hình trồng nấm bào ngư tạihuyện Krông Búk
- Tháng 12/2013: Xây dựng báo cáo tổng kết, đánh giá nghiệm thu;
- Quá trình chuẩn nhà, gieo trồng chăm sóc, BVTV các chủ hộ đều thựchiện đúng theo quy trình kỹ thuật đã tập huấn
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Nội dung 1: Xây dựng mô hình
4.1.1 Xây dựng trại chăm sóc nắm:
- Dây treo làm bằng nilon, mỗi dây treo 13-14 bịch phôi
- Dây này cách dây kia 23-25cm (mục đích tránh sự va chạm khi nấmphát triển)
- Dây cách mặt đất 0,3m
Trang 15- Chừa lối đi khoảng 1m giữa các hàng để thuận lợi cho việc chăm sóccũng như thu hái.
- Lót tấm nilon dưới mái nhà trại để ngăn côn trùng, sâu bệnh trên máinhà rơi xuống phá hoại nấm Xung quanh nhà trồng nấm giăng tấm bạt đểtránh gió, hạn chế côn trùng giúp cho nấm phát triển tốt
4.1.2 Khử trùng trại chăm sóc nắm:
- Do nấm phát triển trong môi trường sạch, nên đã tiến hành khử trùngtrại trước khi mang bịch phôi về nuôi trồng 10 ngày
- Cách khử trùng:
+ Mỗt trại 100gr vôi bột/1m2, rải đều trên mặt nền trại nấm
+ Sau khi đã xây dựng xong mô hình trại, dùng 1 gói Actara cho 8lítnước, phun xịt lên toàn bộ trại (nền trại, kệ, dây treo…) 1 trại ta dùng 3 góicho 100m2
- Sau khi nhà nấm chuẩn bị xong ta tiến hành đưa bịch phôi nấm vàochăm sóc
4.1.2 Thời gian sinh trưởng:
BCN đề tài phối hợp với Trung tâm Ứng dụng KH&CN tỉnh lựa chọnđơn vị cung cấp phôi nấm rỏ nguồn gốc, đảm bảo chất lượng để cung cấp cho
02 mô hình trồng và chăm sóc nấm bào ngư Ngày 01/10/2013 đã tiến hànhbàn giao các bịch phôi giống cho 02 mô hình trồng, chăm sóc và thu hoạch
- Sau 05 ngày kể từ ngày nhận giống (05/10/2013), chọn những bịch cósợi tơ nấm mọc trắng đều bịch, sau đó tiến hành dùng dao lam rạch từ 3 - 4đường dài khoảng 3 - 4cm trên bịch phôi, sau khi rạch bịch để ngày hôm saumới phun tưới nước Trong thời gian này chỉ tiến hành tưới ở nền và mái đểgiữ ẩm, bắt đầu từ ngày 16 sau khi nấm bắt đầu nhú thì tiến hành tưới bằngbình phun sương hay vòi phun thật mịn Tưới nước nhiều hay ít tùy theo ẩm