1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

một số biện pháp rèn luyện năng lực tư duy linh hoạt, sáng tạo cho học sinh thông qua các bài tập phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức hoá học 11- nâng cao

17 770 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 390,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rèn luyện tính tích cực, trí thông minh sáng tạo cho HS, giúp các em có hứng thú học tập, chính điều này đã làm cho BTHH ở trường phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc dạy và h

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU I.1 Lý do chọn đề tài

Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập với cộng đồng quốc tế Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước, đổi mới nền giáo dục là trọng tâm của sự phát triển Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là con người

Nghị quyết trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa VII) đã xác định: phải

khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.

Trong quá trình dạy học ở trường phổ thông, nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là phát triển tư duy cho HS ở mọi bộ môn, trong đó có bộ môn hoá học Hoá học là môn khoa học thực nghiệm và lý thuyết, vì thế bên cạnh việc nắm vững lý thuyết, người học cần phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo mọi vấn đề thông qua hoạt động thực nghiệm, thực hành giải bài tập

Một trong những phương pháp dạy học tích cực là sử dụng BTHH trong hoạt động dạy và học ở trường phổ thông BTHH đóng vai trò vừa là nội dung vừa là phương tiện để chuyển tải kiến thức, phát triển tư duy và kỹ năng thực hành bộ môn một cách hiệu quả nhất BTHH không chỉ củng cố nâng cao kiến thức, vận dụng kiến thức mà còn là phương tiện để tìm tòi, hình thành kiến thức mới Rèn luyện tính tích cực, trí thông minh sáng tạo cho HS, giúp các em có hứng thú học tập, chính điều này đã làm cho BTHH ở trường phổ

thông giữ một vai trò quan trọng trong việc dạy và học hoá học, đặc biệt là sử

dụng bài tập để phát triển năng lực tư duy cho HS trong quá trình dạy học.

Việc nghiên cứu sử dụng chúng để phát triển năng lực tư duy cho HS

trong quá trình dạy học vẫn chưa được quan tâm đúng mức.Kinh nghiệm

trong giảng dạy bộ môn Hóa Học ở trường THPT, cụ thể hơn dạng bài tập

“phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức Hoá học 11 nâng cao” để thử nghiệm

và đưa ra một số biện pháp rèn năng lực tư duy linh hoạt, sáng tạo cho học sinh trong các BTHH, tôi nhận thấy rằng đây là một vấn đề rất khó đối với học sinh (kể cả học sinh đi dự thi học sinh giỏi), và việc vận dụng lý thuyết cụ thể vào từng bài tập và luyện thi đại học còn hạn chế Sau thời gian giảng dạy

và thử nghiệm ở khối lớp khác nhau, đặc biệt là khối 11, tôi xin trình bày một

số suy nghĩ của bản thân nhằm phát huy năng lực tư duy linh hoạt, sáng tạo

Trang 2

cho học sinh nắm bài một cách sâu sắc, khái quát hơn thông qua đề tài: “Một

số biện pháp rèn luyện năng lực tư duy linh hoạt, sáng tạo cho học sinh thông qua các bài tập phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức Hoá học 11 -nâng cao”

I.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu một số biện pháp có tính phương pháp luận, đưa ra một số bài tập phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức lớp 11 nâng cao trường THPT, với nội dung có thể khai thác để phát triển năng lực tư duy linh hoạt, sáng tạo cho học sinh

I.3 Phương pháp nghiên cứu

1) Nghiên cứu lí luận

- Nghiên cứu lí luận về việc phát triển năng lực tư duy cho học sinh

- Nghiên cứu về tác dụng và cách sử dụng bài tập trong dạy học hoá học

2) Nghiên cứu thực tiễn

- Tìm hiểu thực trạng năng lực tư duy của HS trong quá trình giải BTHH

- Tình hình sử dụng BTHH để phát triển tư duy cho HS ở THPT hiện nay

- Hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất

Trang 3

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN TƯ DUY LINH HOẠT, SÁNG TẠO QUA

BÀI TẬP HOÁ HỌC II.1.1 Cơ sở lí luận

II.1.1.1 Điều kiện để có tư duy linh hoạt, sáng tạo

a) Kiến thức: Sáng tạo là vận động từ cái cũ đến cái mới, nên tư duy phải

linh hoạt, mềm dẻo trên cơ sở thông hiểu sâu sắc bản chất của các khái niệm, định luật, các qui luật tương tác giữa các chất và các quá trình hóa học, chứ không hiểu một cách hình thức (hiểu hình thức thì tư duy rất cứng nhắc không linh hoạt được)

b) Phương pháp khoa học: Phải có năng lực độc lập trong tư duy và trong

hành động Tính linh hoạt và sáng tạo của tư duy liên quan mật thiết với độc lập của tư duy Độc lập ở trình độ cao dẫn đến sáng tạo, độc lập là tiền đề cho sáng tạo

c) Ý chí: - Phải rèn lòng say mê học tập, ham muốn hiểu biết, biến thành nhu

cầu và nguồn vui của cuộc sống Nhiệt tình trong công việc, không bao giờ bằng lòng với cái hiện có, mà luôn luôn tìm cách cải tiến nó tốt hơn Đừng xem thường những vấn đề, bài toán đơn giản, đừng bao giờ nghĩ rằng chẳng còn gì để cải tiến, sáng tạo nữa! Suy nghĩ đó sẽ làm hạn chế khả năng sáng tạo của HS

- Luôn luôn chủ động học tập một cách có ý thức, không chỉ học những gì

đã được giảng dạy, mà phải tìm tòi những bài toán mới, xây dựng những bài toán mới

- Phải rèn luyện tinh thần lao động kiên trì, nhẫn nại, vượt khó Không có một con đường hay một phương pháp nào đơn giản, vạn năng để đưa đến sáng tạo cả mà nếu có thì lúc đó "sáng tạo" chẳng còn giá trị gì nữa !

II.1.1.2 Phát triển tư duy hóa học cho học sinh

Việc phát triển tư duy cho HS trước hết là giúp cho HS nắm vững kiến thức, biết vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và thực hành qua đó mà kiến thức HS thu nhận được trở nên vững chắc và sinh động hơn HS chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức khi tư duy của họ được phát triển và nhờ sự hướng dẫn

Trang 4

của GV mà HS biết phân tích, khái quát tài liệu có nội dung sự kiện cụ thể và rút ra những kết luận cần thiết

Tư duy càng phát triển thì càng có nhiều khả năng lĩnh hội tri thức một cách nhanh chóng, sâu sắc và khả năng vận dụng tri thức càng linh hoạt, có hiệu quả hơn Như vậy sự phát triển tư duy của HS được diễn ra trong quá trình tiếp thu và vận dụng tri thức Do đó hoạt động giảng dạy cần phải tập luyện cho HS khả năng tư duy sáng tạo qua các khâu của quá trình dạy học

II.1.2 Thực tiễn về việc sử dụng bài tập môn Hoá học ở trường THPT nhằm phát triển năng lực tư duy linh hoạt, sáng tạo cho học sinh

Thực tiễn cho thấy BTHH không chỉ có tác dụng ôn tập, củng cố kiến thức đã học mà còn có tác dụng để phát triển kiến thức, phát triển năng lực tư duy và rèn trí thông minh cho HS Tuy nhiên, việc sử dụng BTHH như là một phương pháp dạy học hiệu quả thì chưa được chú ý đúng mức

- BTHH theo nghĩa rộng để vận dụng khi giải bài mới chưa được nghiên cứu vận dụng

- GV và HS hầu hết đều quan tâm đến kết quả của bài toán nhiều hơn quá trình giải nhanh bài toán Tất nhiên, trong quá trình giải nhanh bài toán các thao tác tư duy được vận dụng, các kĩ năng suy luận, kĩ năng tính toán, kĩ năng viết và cân bằng PTHH được rèn luyện Thế nhưng, nếu chú ý rèn tư duy cho HS trong quá trình giải thì việc giải để đi đến đáp số của các bài toán

sẽ đơn giản và nhanh hơn rất nhiều

- Nhiều giáo viên cũng chưa quan tâm đúng mức việc tự học của học sinh, coi việc tự học của học sinh chỉ dừng lại ở việc học thuộc bài lý thuyết

và làm được nhiều bài tập theo sự hướng dẫn của giáo viên trên lớp Chính vì vậy nhiều giáo viên chỉ lên lớp theo lịch trình và truyền đạt đúng kiến thức quy định, chưa hướng dẫn cho học sinh cách tự học bộ môn đó để học sinh có thể tự tìm tòi, khám phá và tự lĩnh hội kiến thức ngoài bài giảng của giáo viên nhằm phát triển năng lực tư duy cho học sinh

- Khi giải bài toán, cần tổ chức cho mọi đối tượng HS cùng tham gia tranh luận Khi nói lên được một ý hay, giải bài toán đúng, với phương pháp hay sẽ tạo ra cho HS niềm vui, một sự hưng phấn cao độ, kích thích tư duy,

nỗ lực suy nghĩ tìm ra cách giải hay hơn thế nữa

Trang 5

Vì vậy, việc đưa ra một số BTHH nhằm phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo của học sinh rất có ý nghĩa trong việc tự ôn tập, củng cố và lĩnh hội kiến thức cho học sinh THPT

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ RÈN NĂNG LỰC TƯ DUY LINH HOẠT, SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA BÀI TẬP PHẦN HỢP CHẤT HỮU CƠ CÓ NHÓM CHỨC HOÁ HỌC

11-NÂNG CAO II.2.1 Sử dụng các bài tập có cách giải nhanh, thông minh nhằm rèn luyện khả năng sáng tạo của học sinh trong việc vận dụng kiến thức và các kỹ năng cơ bản để giải quyết vấn đề

Sau đây là một số dạng bài tập rèn năng lực tư duy linh hoạt, sáng tạo

cho HS khi sử dụng các phương pháp giải toán để giải nhanh các BTHH

1) Dựa vào phương pháp bảo toàn khối lượng

Nguyên tắc: Trong một phản ứng hoá học, tổng khối lượng của các sản

phẩm bằng tổng khối lượng của các chất tham gia phản ứng

Ví dụ 1: Cho 4,2 gam hỗn hợp gồm ancol etylic, phenol, axit fomic tác dụng

vừa đủ với Na thấy thoát ra 0,672 lít khí H 2 (đktc) và một dung dịch Cô cạn

dd thu được hỗn hợp rắn X Khối lượng của X là

A 2,55 gam B 5,52 gam C 5,25 gam D 5,05 gam

Hướng dẫn giải

*Cách giải thông thường : (phương pháp ghép ẩn số)

C2H5OH + Na → C2H5ONa + ½ H2

Mol a a a/2

C6H5OH + Na → C6H5ONa + ½ H2

Mol b b b/2

H-COOH + Na → HCOONa + ½ H2

Mol c c c/2

Dựa vào giả thiết ta có hệ phương trình :   46 a 94 b 46 c 4,2

a /2 b/2 c/2 0,03

Trang 6

a c b 0,06

 a c 0,03

b 0,03

 Khối lượng của hỗn hợp muối là

m = 68 a + 116 b + 68 c = 68( a + c ) + 116 b = 68 0,03 + 116.0,03

= 5,52 g

*Cách giải nhanh :

Cả 3 hợp chất trên đều có 1 nguyên tử H linh động

 Số mol Na = 2 số mol H2 = 2.0,03 = 0,06 mol

Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng ta có :

mX = 4,2 + 0,06 ( 23-1 ) = 5,52 gam  Chọn đáp án B

2) Dựa vào phương pháp tăng giảm khối lượng

Nguyên tắc: Dựa vào sự tăng giảm khối lượng khi chuyển từ chất này

sang chất khác để xác định khối lượng một hỗn hợp hay một chất

Ví dụ 2: Cho 20,15 gam hỗn hợp 2 axit no, đơn chức tác dụng vừa đủ với dd

Na 2 CO 3 thì thu được V lít khí CO 2 (đktc) và dd muối Cô cạn dd thì thu 28,96 gam muối Giá trị của V là

A 4,84 B 4,48 C 2,24 D 2,42

Hướng dẫn giải

* Cách giải thông thường :

Gọi CTTQ của axit thứ nhất là RCOOH có a mol

Gọi CTTQ của axit thứ hai là R1COOH có b mol

PTHH:

2 RCOOH + Na2CO3 → 2 RCOONa + CO2 + H2O

a mol amol a2 mol

2 R1COOH + Na2CO3 → 2R1COONa + CO2 + H2O

b mol b mol

2

b

mol

Theo đầu bài ta có hệ : a M 45 b Ma M 67 b MR R1 67 28,96 45 20,15

Trang 7

 45 a b a M b MR R1 20,15

 Số mol CO2 =0,2 mol  Thể tích CO2 là V = 0,2 22,4 = 4,48 lít

* Cách giải nhanh (Sử dụng phương pháp tăng giảm khối lượng)

Gọi CTTQ trung bình của 2 axit là R -COOH

PTHH: 2R- COOH + Na2CO3 → 2R-COONa + CO2 + H2O Theo phương trình ta có :

2mol axit → 2 mol muối thì có 1 mol CO2 và khối lượng tăng 2(23-1) =44 gam

 Số mol CO2 =844,81 = 0,2 mol, theo đề bài: m tăng 28,96-20,15=8,81 gam

 Thể tích CO2 = V= 0,2 22,4 = 4,48 lít  Chọn đáp án B

Nhận xét: Hai phương pháp bảo toàn khối lượng và tăng giảm khối

lượng gắn bó với nhau như chân với tay Thông thường một bài toán giải được bằng phương pháp bảo toàn khối lượng, thì cũng giải được bằng phương pháp tăng giảm khối lượng và ngược lại Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm đề ra

mà nên sử dụng phương pháp nào là hợp lí nhất

3) Dựa vào phương pháp trung bình

Nguyên tắc:

- Phương pháp trung bình chỉ áp dụng cho bài toán hỗn hợp các chất

- Áp dụng với khối lượng mol trung bình (M

), số nguyên tử C trung bình, số nguyên tử H trung bình, gốc hiđrocacbon trung bình, số nhóm chức trung bình

Ví dụ 3: Một hỗn hợp A gồm 2 ankanal X, Y có tổng số mol là 0,25 mol Khi

cho hỗn hợp A tác dụng với dd AgNO 3 /NH 3 có dư thì có tạo ra 86,4 gam kết tủa và khối lượng dd AgNO 3 giảm 77,5 gam Biết M X < M Y CTCT thu gọn của X là:

A CH 3 CHO B H-CHO C C 2 H 5 CHO D không xác định được

Hướng dẫn giải

*Cách giải thông thường :

Đặt CTTQ của ankanal thứ nhất là CnH2n+1CHO , có a mol

ankanal thứ hai là CmH2m+1CHO , có b mol

Trang 8

CnH2n+1CHO+2AgNO3+3NH3+H2O t0

  CnH2n+1COONH4+2Ag+2NH4NO3

a 2a(mol)

CmH2m+1CHO+2AgNO3+3NH3+H2O t0

  CmH2m+1COONH4+2Ag +2NH4NO3

b 2b (mol)

Vì khối lượng dd AgNO3 giảm: 77,5 g mà khối lượng kết tủa Ag là 86,4 gam

 khối lượng 2 anđehit là ( 86,4 – 77,5 ) = 8,9 gam

Theo đề bài ta có :

a 14n 30 b 14m 30 8,9

a b 0,25 2a 2b 86, 4 /108 0,8

 Hệ vô nghiệm

 HS sẽ chọn đáp án D  HS đã làm sai

*Cách giải nhanh : Vì khối lượng Ag tách ra là 86,4 gam mà khối lượng

dd AgNO3 giảm 77,5 gam

 Khối lượng 2 anđehit là 86,4 - 77,5 = 8,9 gam

M =08,,259 = 35,6 g/mol Mà MX < M

< MY  MX < 35,6 < MY

 MX = 30  X là H-CHO  Chọn đáp án B

Ví dụ 4: Trung hòa hoàn toàn 12,9 gam hỗn hợp X gồm 2 axit hữu cơ đơn

chức cần dùng vừa đủ 250 ml dd Ba(OH) 2 0,5 M Cô cạn dd sau phản ứng thu được m gam chất rắn Giá trị của m là

A 9,925 B 22,333 C 14,875 D 29,775

Suy luận: nBa(OH)22 = 0,5.0,25 = 0,125 mol

Đặt công thức chung của hai axit là: R

COOH

2R

COOH + Ba(OH)2 → (R

COO)2Ba + 2H2O (*) 0,25  0,125  0,125

(*)  R + 45 = 12,90, 25 = 51,6 R

= 6,6

 mmuối = (2.6,6 + 44.2 + 137).0,125 = 29,775 gam  Chọn đáp án D

Nhận xét: Trên đây là một số ví dụ về sử dụng phương pháp trung

bình để giải nhanh bài tập hóa học, đặc biệt là bài tập trắc nghiệm Dạng bài tập sử dụng phương pháp trung bình rất đa dạng và phong phú, đặc biệt

là bài toán hữu cơ Trong đó, có nhiều bài toán không thể giải được theo phương pháp khác Do vậy trong quá trình giảng dạy, người GV cần phải

Trang 9

làm cho HS thông hiểu bản chất của phương pháp này, suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào giải quyết nhiều bài toán có bản chất tương tự như trên Từ đó góp phần phát triển tư duy hóa học cho HS

4) Dựa vào phương pháp sơ đồ đường chéo

Bài toán trộn lẫn các chất với nhau là một dạng bài tập hay gặp trong chương trình hóa học phổ thông cũng như trong các đề thi kiểm tra và đề thi tuyển sinh đại học, cao đẳng Ta có thể giải bài tập dạng này theo nhiều cách khác nhau, song việc giải loại dạng bài tập này theo phương pháp sơ đồ đường chéo được coi là tốt nhất

Nguyên tắc: Phương pháp đường chéo thường dùng để giải bài toán

trộn lẫn các chất với nhau, có thể đồng thể hoặc dị thể nhưng hỗn hợp cuối cùng phải là đồng thể

Ví dụ 5: Một dd ancol C 2 H 5 OH có độ ancol là 45 o và một dd ancol etylic khác

có độ ancol là 15 o Để có một dd mới có độ ancol là 20 o thì cần pha chế về thể tích giữa dd ancol 45 0 và ancol 15 o theo tỉ lệ là:

A 1 : 2 B 2 : 5 C 1 : 5 D 2 : 3

Hướng dẫn giải

*Cách giải thông thường

Gọi V1 là thể tích dd ancol 450 ; V2 là thể tích dd ancol 15o

Vnguyên chất dd1=45 1

100

V

= 0,45V1 ; Vnguyên chất dd 2= 15 2

100

V

= 0,15V2

 Vddlúc sau = V1 + V2 ; Vnguyên chất lúc sau = 0,45V1 + 0,15V2

Theo đề bài ta có: 20 = 1 2

0, 45V 0,15V

V V

 100  20V1 + 20V2 = 0,45V1 + 0,15V2  5V1= V2  V1:V2 = 1 : 5

*Cách giải nhanh

Áp dụng quy tắc đường chéo ta có

V1 45 5

20  1

2

V

V = 5 1

V2 15 25

 Chọn đáp án C

Trang 10

5) Dựa vào các đại lượng ở dạng tổng quát

Ví dụ 6: Đốt cháy hoàn toàn a mol axit hữu cơ Y được 2a mol CO 2 Mặt khác, để trung hòa a mol Y cần vừa đủ 2a mol NaOH CTCT thu gọn của Y là

A HOOCCH 2 CH 2 COOH B C 2 H 5 COOH.

Hướng dẫn giải

- Đốt a mol axit hữu cơ Y được 2a mol CO2  axit hữu cơ Y có hai nguyên

tử C trong phân tử

- Trung hòa a mol axit hữu cơ Y cần dùng đủ 2a mol NaOH  axit hữu cơ

Y có 2 nhóm chức cacboxyl (COOH)

 CTCT thu gọn của Y là HOOCCOOH  Chọn đáp án D

Ví dụ 7: Đốt cháy hoàn toàn a mol một anđehit X (mạch hở) tạo ra b mol

CO 2 và c mol H 2 O (biết b = a + c) Trong phản ứng tráng gương, một phân

tử X chỉ cho 2 electron X thuộc dãy đồng đẳng anđehit

A no, đơn chức B không no có hai nối đôi, đơn chức.

C không no có một nối đôi, đơn chức D no, hai chức.

Hướng dẫn giải

Trong phản ứng tráng gương một anđehit X chỉ cho 2e  X là anđehit đơn chức bởi vì: RCHO1

 RCOONH3 4 trong đó: C+1  2e  C+3 Đặt công thức phân tử của anđehit đơn chức X là CxHyO ta có phương trình

CxHyO + 2

y 1

4 2

 

   xCO2 + y

2H2O

a  a.x  a.y

2 mol (b mol) (c mol)

Ta có: b = a + c  ax = a + a.y

2  y = 2x  2

Công thức tổng quát của anđehit đơn chức X là CxH2x2O có dạng

Cx1H2(x1)1CHO là anđehit không no có một liên kết đôi, đơn chức

Ngày đăng: 15/11/2014, 00:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w