1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

lạm phát và những hướng giải quyết ở việt nam

15 382 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác.. Trong điều kiện lạm phát vừa phải giá cả tăng chậm thường xấp

Trang 1

BÀI TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Lạm phát và những hướng giải quyết ở Việt Nam

Chương 1: Định nghĩa và các loại lạm phát

Chương 2: Đặc điểm của nền kinh tế và nguyên nhân dẫn đến nguy

cơ lạm phát cao ở nước ta.

Chương 3: Tình hình lạm phát ở Việt Nam và hướng giải quyết

Chương 4: Lạm phát và vấn đẻe xử lý lạm phát ở một số nước trên thế giới

Chương 5: Kết luận

Trang 2

Chương I: Định nghĩa và các loại lạm phát

1) Định nghĩa

Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn

vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô Ngược lại với lạm phát là giảm phát Một

số chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thị được người ta gọi là

sự ổn định giá cả

2) Căn cứ vào tốc độ lạm phát người ta chia ra làm ba loại lạm phát khác nhau

- Lạm phát vừa xảy ra khi giá cả tăng chậm ở mức một con sè hay dưới 10% một năm Hiện ở phần lớn các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đang có lạm phát vừa phải Trong điều kiện lạm phát vừa phải giá cả tăng chậm thường xấp xỉ bằng mức tiền lương, hoặc cao hơn một chút do vậy đồng tiền

bị mất giá không lớn, điều kiện kinh doanh tương đối ổn định tác hại của lạm phát ở đây là không đáng kể.- Lạm phát phi mã xảy ra khi giá cả bắt đầu tăng với tỷ lệ hai hoặc ba con số như 20%, 100% hoặc 200% một năm Khi lạm phát phi mã đã hình thành vững chắc, thì các hợp đồng kinh tế được ký kết theo các chỉ số giá hoặc theo hợp đồng ngoại tệ mạnh nào đó và do vậy đã gây phức tạp cho việc tính toán hiệu quả của các nhà kinh doanh, lãi xuất thực

tế giảm tới mức âm, thị trường tài chính tàn lụi, dân chúng thi nhau tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản Dù có những tác hại như vậy nhưng vẫn

có những nền kinh tế mắc chứng lạm phát phi mã mà tốc độ tăng trưởng vẫn tốt như Brazin và Itxaraen Về các trường hợp này cho đến nay chóng ta vẫn

Trang 3

chưa đủ thông tin và các công trình nghiên cứu giải thích một cách có khoa học và có căn cứ

- Siêu lạm phát xảy ra khi tốc độ tăng giá vượt xa mức lạm phát phi mã, được các nhà kinh tế xem nh là căn bệnh chết người mà không có tác động tốt nào Người ta đã dẫn ra các cuộc siêu lạm phát nổ ra điển hình ở Đức năm

1920 - 1923, hoặc sau chiến tranh thế giới thứ hai ở Trung Quốc và Hunggari xem xét các cuộc siêu lạm phát xảy ra người ta đã rót ra một nét chung là: thứ nhất tốc độ lưu thông tiền tệ tăng ghê gớm, thứ hai là giá cả tăng nhanh và vô cùng không ổn định, thứ ba là tiền lương thực tế biến động rất lớn và thường thường là giảm mạnh, thứ tư là cùng với sự mất giá của tiền tệ mọi người có tiền thị bị tước đoạt càng lớn, thứ năm hầu hết các yếu tố thị trường đều bị biến dạng bóp méo hoặc bị thổi phồng do vậy các hoạt động kinh doanh đều rơi vào tình trạng rối loạn Siêu lạm phát thực sự là một tai hoạ, song điều may mắn là nó là hiện tượng cực hiếm, nó thường chỉ xảy ra trong thời kỳ chiến tranh, sau chiến tranh

Trang 4

Chương II: Đặc điểm của nền kinh tế và nguyên nhân dẫn đến nguy cơ lạm phát cao ở nước ta

Để nhận rõ nguyên nhân, nhằm đưa ra và thực thi những giải pháp vĩ mô phù hợp với chính sách tài chính - tiền tệ - giá cả góp phần khắc phục lạm phát cao, tạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta phát triển bền vững, trước hết

đó là cần nắm vững những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế nước ta hiện nay Những đặc điểm đó là:

- Nền kinh tế nước ta có trình độ phát tiêrn còn thấp, Èn chứa nhiều điểm yếu kém và bất cập so với yêu cầu phát triển bền vững của nền kinh tế trong điều kiện mới của thời đại

- Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi một cách căn bản

về chất từ nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa

- Nền kinh tế nước ta chịu tác động mạnh mẽ và chịu nhiều hậu quả nặng

nề của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực Châu á trong những năm

1997 - 1999, do đó bị lâm vào tình trạng trì trệ, giảm phát, suy thoái kinh tế, nên phải sử dụng "Cú hích" kích cầu trong nhiều năm để phục hồi tốc độ phát triển kinh tế

- Nền kinh tế nước ta có quy mô không lớn, sức cạnh tranh còn thấp, nhưng đã hội nhập khá sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Điều đó thể hiện ở việc đã và đang thực hiện đầy đủ các cam kết song phương, đa phương với phần lớn các quốc gia cùng các quốc gia cùng các tổ chức, định chế kinh tế quốc tế Kim ngạch xuất khẩu đã đạt khoảng 60% GDP

- Do sự tác động của những đặc điểm cơ bản đó mà tình trạng lạm phát diễn ra ở nước ta hiện nay biểu hiện rất đa dạng không phát sinh từ một nguyên nhân duy nhất Vì thế, cách chữa trị cũng phải bao hàm một hệ thống các giải pháp tương thích với những nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao đang hiển hiện ở nước Những nguyên nhân đó:

Trang 5

- Lạm phát biểu hiện ở giá hàng hoá tiêu dùng tăng là do cầu kéo và chi phí đẩy

- Lạm phát do kết cấu của rổ hàng hoá tiêu dùng thiết yếu của nước ta còn chưa hợp lý

- Lạm phát do tác động từ sự tăng giá của thị trường bên ngoài

- Lạm phát do vai trò điều hành giá trong kinh tế thị trường của Nhà nước và việc phát huy vai trò của các tổng công ty hay nhà nước còn nhiều hạn chế

- Lạm phát do tác động của nhân tố tài chính tiền tệ

- Lạm phát do mặt bằng giá mới đang hình thành

Trang 6

Chương III: Tình hình lạm phát ở Việt Nam và các hướng giải quyết Tình hình lạm phát ở Việt Nam có thể chia ra làm ba thời kỳ chính:

1) Lạm phát ở Việt Nam những năm 1981 - 1988

Lạm phát Việt Nam đã có từ lâu song ở đây tôi muốn nói đến thời kỳ

1981 - 1988 trong thời kỳ 1976 - 1980, lạm phát ở Việt Nam "Ngầm", nghĩa

là tuy chỉ số giá cả do nhà nước Ên định tăng không nhiều, nhưng chỉ số giá

cả của thị trường tự do tăng khá cao, mức tăng giá cả đã vượt xa mức tăng giá trị tổng sản lượng, cũng như: Thu nhập quốc dân: Trong thời gian 1976 -

1980, giá trị tổng sản lượng tính theo giá cả năm 1982 đã tăng 5,8%, thu nhập quốc dân sản xuất đã tăng 1,5%, nhưng mức giá trị đã tăng 2,62 lần

- Thực trạng:

Bước vào năm 80 lạm phát đã bộc phát công khai và trở thành lạm phát phi mã với mức tăng giá cả 3 chữ số

Lạm phát ở Việt Nam đã ở mức phi mã, năm cao nhất đã đạt tới chỉ số 557% vượt qua mức lạm phát phi mã Và những biểu hiện và tác hại của nó không kém gì siêu lạm phát

Qua đó ta thấy những điểm nổi bật về tình hình lạm phát ở nước ta

Thứ nhất: ta thấy lạm phát Việt Nam cao và không ổn định

Thứ hai: Tốc độ lưu thông tiền tệ tăng nhanh vì dân chúng không ai muốn giữ tiền, người ta bán song hàng phải mua ngay hàng khác, hoặc vàng hoặc đôla, không ai dám giữ tiền lâu trong tay, vì tốc độ mất giá của nó quá nhanh Song ở Việt Nam vòng quay của đồng tiền qua ngân hàng nhà nước lại không tăng lên mà giảm đi, vì cơ chế hoạt động của ngân hàng quá kém không đáp ứng được nhu cầu gửi và rút tiền của các chủ kinh doanh và dân cư

Thứ ba: Tiền lương thực tế của dân cư giảm mạnh, nhà nước liên tục tăng giá nhưng giá cả của thị trường tăng nhanh hơn

Trang 7

Thứ tư: do giá cả nhà nước quy định luôn thấp hơn giá cả của thị trường

tự do tạo nên xu hướng đầu tư tích trữ tạo nên tình trạng khan hiếm hàng hoá làm nền kinh tế kém phát triển

Một điều đáng chú ý là trước năm 1988, Nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp, nghị quyết chống lạm phát, nhưng vẫn không kiềm chế và kiểm soát được lạm phát Chỉ số lạm phát vẫn tăng giảm thất thường ngoài dự tính của nhà nước

Phương hướng giải quyết của Đảng và Nhà nước ta vào năm 1988 - 1989:

Theo quyết định số 55 ngày 10 tháng 3 năm 1989 của chủ tịch Hội đồng

bộ trưởng thì phải nâng cao hơn mức trượt giá Căn cứ vào chủ trương này ngày 13 tháng 10 năm 1989 Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định số 29 - NH/QD đưa ra mức lãi xuất tiền gửi có kỳ hạn 3 tháng lên 12% tháng và sẽ điều chỉnh tuỳ theo mức lạm phát (trước đó mức này là 1,8 - 2% tháng)

Chủ trương nâng lãi xuất lên cao hơn mức trượt giá được đưa ra là căn

cứ vào thực trạng kinh tế của Việt Nam thời gian này Đó là một nền kinh tế

mà hàng hoá thị trường vô cùng khan hiếm, người có thu nhập bằng tiền luôn luôn đứng trước những sự lựa chọn rất khó là làm thế nào để bảo toàn thu nhập trong khi giá cả hàng hoá tiếp tục tăng cao Để giải quyết mâu thuẫn này, chủ trương nâng lãi xuất cao hơn mức trượt giá đã làm cho dân chúng tin rằng mức mua của đồng tiền quốc gia và lợi Ých kinh tế của họ vẫn được Nhà nước bảo vệ Trên thực tế, người dân thấy rằng, khi tiền của họ được gửi vào ngân hàng thị họ được hưởng thêm một khoảng thu nhập do chênh lệch giữa lãi xuất tiền gửi cao hơn mức trượt giá Đây là một đòn bẩy kinh tế có tác dụng lớn trong việc khích lệ mọi người cso đem tiền gửi vào ngân hàng Bên cạnh việc nâng cao lãi xuất tiền gửi tiết kiệm cao hơn mức trượt giá là chủ trương cho vay ra với lãi xuất thấp hơn lãi xuất huy động vốn đã có tác dụng rất lớn trong việc mở rộng hoạt động tín dụng Nhiều doanh nghiệp vay vốn

Trang 8

ngân hàng để phát triển sản xuất hàng hoá - dịch vụ Kết quả là dân chúng đua nhau gửi tiền vào ngân hàng Điều đáng nhận mạnh ở đây là Nhà nước đã chịu gánh vác sự thiệt thòi để bảo toàn thu nhập cho dân chúng bằng một chủ trương "rất thực tế"này Kết quả là, chỉ trong một quãng thời gian rất ngắn (tính đến năm 1989), số tiền mà ngành ngân hàng thu hút được lên tới 1.900

tỷ đồng Số tiền này không những đã làm tăng thêm nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất, mà còn đặt biệt quan trọng là đã góp phần tích cực làm cho áp lực lạm phát giảm đi một cách nhanh chóng

Như vậy, chủ trương đưa lãi xuất lên cao hơn mức trượt giá đã đạt được mục tiêu quan trọng nhất của chính sách tiền tệ lúc bấy giờ là thu hút phần lớn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong dân chúng cùng với việc giảm áp lực của lạm phát tiền tệ Bên cạnh đó là thực hiện được mục tiêu gần nh ngoài mong muốn

là việc ổn định được tâm lý của người dân khi gửi tiền vào ngân hàng

2) Lạm phát nước ta những năm 1990 - 1995

a) Tình hình lạm phát

Giá cả của thị trường có xu hướng đi vào ổn định Chỉ số bán lẻ hàng hoá dịch vụ trong những tháng đầu năm 1992 tăng 5 - 6%/tháng Từ tháng

3-1992 tốc độ tăng giá liên tục giảm, mức tăng giá bình quân hàng tháng từ 3,5% trong quý I, xuống 0,75% trong quý II và xuống còn 0,2% trong quý III, mức tăng giá hàng tháng trong quý IV là 1,05% tuy cao hơn quý II và quý III nhưng thấp hơn rất nhiều so vưói mức tăng giá trong quý IV các năm trước Mức tăng giá cả năm là 17,49 thấp hơn mức quốc hội đề ra từ đầu năm (30-40%)

Sở dĩ đạt được sự ổn định như trên là do kết quả tổnghợp của nhiều nhân

tố, nhưng trước hết là chính sách quảnlý chặt chẽ khối lượng tiền tệ tăng thêm, mở rộng việc phát hành các tín phiếu, kỳ phiếu để thu hút mạnh số tiền nhàn rỗi trong dân, cải tiến một bước công tác điều hoà lưu thông tiền tệ, xoá dần bao cấp qua ngân sách và tín dụng, chấn chỉnh công tác quản lý ngoại hối với sự can thiệp trực tiếp của ngân hàng và thị trường vàng và đôla, đồng thời

Trang 9

trong lĩnh vực giá đã tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý, gắn liền với quá trình chống lạm phát, được thực thi trong cuộc sống bằng các giải pháp tình thế và các giải pháp cơ bản lâu dài

Mức lạm phát được kìm chế trong cả sáu tháng đầu năm 1990 và đẩy lùi nguy cơ khủng hoảng kinh tế - chính trị - xã hội, tạo điều kiện cải thiện quan

hệ kinh tế với các tổ chức tài chính thế giới và góp phần ổn định chính trị xã hội được lòng tin trong nước và trên thế giới và tính đúng đắn về cuộc đổi mới nước ta

Tuy nhiên trong việc áp dụng biện pháp tình thế nâng lãi xuất tiết kiệm

và điều hành chính sách lãi xuất nói chung cũng đã làm nảy sinh những mâu thuẫn mới ngoài tác dụng tích cực có gây một số tiêu cực cho nền kinh tế, đó cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tái lạm phát cao (so với năm 1989 và đầu năm 1990) từ quý III năm 1990 cho đến đầu năm 1992 (tốc

độ trượt giá hàng hoá hàng tháng bình quân quý III năm 1990 là 4.5%, quý IV năm 1990 là 7.6% và bình quân tháng của năm 1991 là 4,5%

Lãi xuất ngân hàng không được điều chỉnh kịp thời, tương ứng với tình hình lạm phát theo đúng tính chất tình thế của công cụ này, nên có lúc đã trở thành quá cao so với chỉ số trượt giá Đã kích thích tăng tiền gửi quá mức, thu hẹp đầu tư cho sản xuấtvà lúc thông gây khó khăn cho kinh tế quốc doanh trong quá trình phục hồi sắp xếp lại Nhưng từ quý III năm 1990 lãi xuất trở nên thấp xa so với tốc độ trượt giá, sinh ra bao cấp trở lại cho kinh tế quốc doanh và phát sinh nhu cầu vốn giả tại cơ sở

Lạm phát đã được kiềm chế và giảm thấp là những kết quả nổi bật của năm 1992 và 1993 Đến năm 1994 - 1995 lạm phát lại gia tăng So với hai năm 1993 và năm 1994 tốc độ lạm phát 7 tháng đầu năm 1995 ở mức cao nhất (7 tháng đầu năm 1993 là 3,9% và 7 tháng đầu năm 1994 là 7,2%) Lạm phát

ở mức đáng lo ngại là các nguyên nhân chủ yếu sau:

Về cân đối ngân sách nhà nước:

Trang 10

- Tuỳ kế hoạch thu chi ngân sách nhà nướ được giao cho các Bộ, cho các địa phương từ cuối tháng 12 năm 1994 nhưng kế hoạch thu đạt ở mức thấp, sở

dĩ như vậy là do một số nguồn thu không có cơ sở vững chắc, thất thu thuế nghiêm trọng ở một số lĩnh vực, chế chế thiếu đồng bộ, nhất quán Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh phát triển mạnh chiếm 24% GDP nhưng chỉ nộp 11% sè thu về thuế và chi phí Tình trạng tác động mạnh đền tiến bộ chi ngân sáchNhà nước đặc biệt là cho đầu tư phát triển Thêm vào đó việc thanh toán các khoản nợ xây dựng cơ bản tập trung trong năm 1994 chuyển sang lớn, một số nguồn chi phát sinh như nợ nước ngoài, chỉ thực hiện ngân sách xã hội Trong khi nguồn bù đắp ngấch sách bằng con đường tín dụng trong nước

và quốc tế hết sức khó khăn, tạo áp lực cho việc gia tăng cung cấp tiền tệ trong nền kinh tế

Về tổ chức điều hành nền kinh tế thông qua chinh sách tiền tệ:

Mặc dù ngân sách nhà nước có nhiều cố gắng trong việc quản lý điều hành nền kinh tế bằng chính sách tiền tệ, nhưng trong những năm gần đây nổi bật một số vấn đề

Việc thực hiện, duy trì không nghiêm ngặt tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại, việc tăng vốn tín dụng và chậm thu hồi vốn tín dụng đến hạn phải trả của các ngân hàng thương mại làm gia tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế

Việc mở rộng và phát triển các nghiệp vụ trong kinh doanh của ngân hàng thương mại và chính sách sử dụng ngoại tệ trong nền kinh tế thời gian qua vừa làm tăng lương tiền gửi vào ngân hàng, làm tăng hệ số tiền, do đó làm tăng tổng phương tiện thanh toán

Mức nợ tín dụng của ngân hàng thương mại tăng quá nhanh, nhiều lĩnh vực đầu tư kém hiệu quả, dàn trải, tình trạng các công trình dở dang phổ biến làm trầm trọng thêm sự mất cân đối hàng - tiền trong nền kinh tế Hơn nữa, lượng tiền mặt lưu thông không còn thu hót qua kênh ngân hàng, tạo áp lực khá đối với giá cả thị trường, đặc biệt khi có sự biến động về giá cả

Ngày đăng: 14/11/2014, 22:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w