Xuất phát từ mong muốn nghiờn cứu phát triển và hoàn thiện nghiệp vụ tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán TDCT tác giả đã chọn đề tài : “Giải pháp mở rộng hoạt động tài trợ nhập
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Thương mại hoá, toàn cầu hoá là xu thế tất yếu của mọi quốc gia Là một nước nằm trong khu vực nền kinh tế đầy sôi động Đông Nam Á Việt Nam luôn nỗ lực để có thể hoà nhập với tiến độ đi lờn của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế khu vực nói chung Với sự nỗ lực của mình, đến tháng 10 năm 2006 Việt Nam chớnh thức được gia nhập vào tổ chức thương mại Quốc Tế WTO Được trở thành thành viên chớnh thức của tổ chức này và với sự phát triển của hoạt động kinh tế đối ngoại giúp cho Việt Nam sử dụng có hiệu quả hơn nguồn nhõn lực, tài nguyên, nguồn vốn tự có của mình và tạo được vị trí thích hợp trong dõy chuyền hợp tác và phõn công lao động quốc tế
Nền kinh tế mở cửa đã thực sự tạo đà phát triển mạnh cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, cho các doanh nghiệp và ngân hàng tham gia vào lĩnh vực XNK, đặc biệt là trong công tác TTQT
Nhưng thực tiễn cho thấy, khó khăn lớn nhất đầu tiên của các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia hoạt động nhập khẩu là sự thiếu hụt về vốn, do quá trình nhập khẩu tốn nhiều thời gian và chi phí, đồng thời lô hàng nhập khẩu thường có giá trị lớn,
Hơn nữa, thanh toán nhập khẩu là mảng TTQT phức tạp, chịu sự điều chinh của nhiều nguồn luật và các thông lệ, tập quán quốc tế cũng như sự cạnh tranh gay gắt Đõy đều
là những thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện cũn hạn chế về hiểu biết và kinh nghiệm trên thương trường quốc tế
Do đó, để bảo vệ cho các doanh nghiệp nhập khẩu của Việt Nam, đồng thời mở rộng, thúc đẩy hoạt động nhập khẩu phát triển theo hướng có lợi cho nền kinh tế thì hoạt động tài trợ nhập khẩu đóng vai trò như một chất xúc tác cho sự phát triển này
Cùng với xu thế toàn cầu hoá, nghiệp vụ tài trợ nhập khẩu của các ngân hàng cũng ngày càng phát triển, sử dụng nhiều phương thức thanh toán tiên tiến để thoả món tốt nhất nhu cầu của khách hàng Trong đó, phương thức thanh toán TDCT được sử dụng phổ biến nhờ mang lại hiệu quả cao cho các bên tham gia
Trang 2Đối với chi nhánh NHCT - Cầu Giấy, nghiệp vụ tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán TDCT đã ngày càng trở nên phổ biến Tuy nhiên việc thực hiện nghiệp
vụ này đã mang lại hiệu quả như thế nào và sự cần thiết phải mở rộng hoạt động này ra sao thì trong bài viết sau đây sẽ đề cập đến
Xuất phát từ mong muốn nghiờn cứu phát triển và hoàn thiện nghiệp vụ tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán TDCT tác giả đã chọn đề tài : “Giải pháp mở rộng hoạt động tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngõn hàng Công Thương - Quận Cầu Giấy” cho khoá luận của mình
- Thứ ba, trên cơ sở phõn tích thực trạng hoạt động tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán TDCT tại chi nhánh, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nõng cao hiệu quả và mở rộng hoạt động tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán TDCT
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu những cơ sở luận về phương thức thanh toán TDCT, về hoạt động tài trợ nhập khẩu, về hoạt động tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán TDCT
- Thực trạng hoạt động TTQT, hoạt động tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán TDCT tại NHCT - Cầu Giấy
- Giải pháp mở rộng hoạt động tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán TDCT tại NHCT - Cầu Giấy
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Thực trạng hoạt động tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán TDCT tại NHCT - Cầu Giấy
Trang 3- Không gian: Hoạt động TTQT, phát hành L/C nhập, doanh số cho vay nhập khẩu, tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán TDCT…của NHCT - Cầu Giấy.
- Thời gian: Đánh giá thực trạng tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán TDCT tại NHCT - Cầu Giấy giai đoạn 2004-2006
4 Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênin về
sự vận động và phát triển của xã hội
- Phương pháp điều tra khảo sát
- Phương pháp phõn tích, so sánh, thống kê, tổng hợp để chỉ ra thực trạng hoạt động tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán TDCT của NHCT- Cầu Giấy
5 Kết cấu của khoá luận:
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận khoá luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán TDCT
Chương 2: Thực trạng hoạt động tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán TDCT tại NHCT - Cầu Giấy.
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động tài trợ nhập khẩu theo phương thức thanh toán TDCT tại NHCT - Cầu Giấy.
Trong quá trình nghiờn cứu, do sự hạn chế về thời gian, kiến thức và kinh nghiệm nên Khoá luận khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được
sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để khoá luận được hoàn thiện hơn Em xin chõn thành cảm ơn Thạc sĩ Đinh Thị Thanh Long cùng Ban lónh đạo NHCT - Cầu Giấy và các thầy cô giáo trong khoa Ngõn hàng đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp của mình
Trang 4CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ NHẬP KHẨU THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN
DỤNG CHỨNG TỪ
1 1.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC BÊN THAM GIA
Một cách khái quát, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán, trong đó, theo yêu cầu của khách hàng, một ngõn hàng sẽ phát hành một bức thư, gọi là L/C (Letter of Credit ) trong đó, NHPH cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ 3 khi người này xuất trình cho NHPH bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định trong L/C
Bằng ngôn ngữ luật, định nghĩa về tín dụng chứng từ được nêu tại điều 2, UCP
500 như sau :
Tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, theo đó một Ngân hàng ( NHPH ) hành động theo yêu cầu và theo chỉ thị của một khách hàng ( người mở L/C ) hoặc trên danh nghĩa chính mình :
◊ Phải trả tiền cho hoặc trả tiền theo lệnh của một bên thứ 3 ( người hưởng lợi ), hoặc chấp nhận và trả tiền hối phiếu do người hưởng lợi ký phát, hoặc
◊ Uỷ quyền cho một Ngân hàng khác trả tiền, hoặc chấp nhận và trả tiền các hối phiếu, hoặc
◊ Uỷ quyền cho một Ngân hàng khác chiết khấu,
đối với chứng từ quy định xuất trình và tuân thủ các điều kiện của tín dụng
Các chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ :
Trang 5 Người xin mở L/C ( Applicant for L/C ) : Là người nhập khẩu yêu cầu
Ngõn hàng phục vụ mình phát hành 1 L/C và có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của Ngõn hàng cho người bán theo L/C này
Người thụ hưởng L/C (Beneficiary ) : Là người xuất khẩu hoặc người
được chỉ định thụ hưởng thư tín dụng
Ngân hàng phát hành ( Issuing Bank ) : Là chủ thể phát hành thư tín
dụng theo yêu cầu của người xin mở L/C và thực hiện cam kết thanh toán có điều kiện với nhà xuất khẩu khi họ xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo
Ngân hàng thông báo (Advising Bank ) : Là Ngõn hàng được NHPH yêu
cầu thông báo L/C cho người hưởng NHTB thường là Ngân hàng đại lý hoặc một chi nhánh của NHPH ở nước nhà Xuất khẩu
Ngân hàng xác nhận ( Confirming Bank) : Trong trường hợp nhà Xuất
khẩu muốn có sự đảm bảo chắc chắn của L/C, thì một Ngõn hàng có thể đứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của NHPH NHXN thường là Ngõn hàng lớn có uy tín
Ngân hàng chỉ định ( Nominated Bank ) : Tuỳ theo từng trường hợp cụ
thể, NHCĐ có thể là : NHCK, Ngõn hàng thanh toán, Ngõn hàng chấp nhận… Là Ngõn hàng được chỉ định trong thư tín dụng cho phép Ngõn hàng đó được thực hiện việc thanh toán, chiết khấu hay chấp nhận bộ chứng từ của người thụ hưởng phù hợp với quy định của thư tín dụng
Trang 61.1.2 QUY TRèNH THANH TOÁN THEO PHƯƠNG THỨC TDCT
Sơ đồ 1.1 : Quy trỡnh thanh toỏn tớn dụng chứng từ
(1) Trờn cơ sở hợp đồng thương mại, người nhập khẩu làm đơn xin mở L/C gửi đến Ngừn hàng phục vụ mỡnh
(2) Căn cứ vào yờu cầu và nội dung xin mở L/C, Ngừn hàng mở sẽ phỏt hành một thư tớn dụng cho người hưởng lợi thụng qua NHTB
(3) NHTB sau khi kiểm tra, xỏc thực L/C sẽ thụng bỏo ngay cho người nhập khẩu.(4) Người xuất khẩu nhận và kiểm tra L/C, nếu chấp nhận thỡ tiến hành giao hàng, nếu chưa chấp nhận thỡ yờu cầu bờn mua sửa đổi L/C và sau khi đó chấp nhận nội dung sửa đổi thỡ giao hàng
(5) Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ và xuất trỡnh qua NHTB để đũi tiền
(6) NHTB kiểm tra, chiết khấu và ghi cú cho nhà xuất khẩu hoặc chuyển hối phiếu đó chấp nhận cho nhà xuất khẩu
(7) NHTB chuyển bộ chứng từ cho Ngừn hàng mở L/C đũi tiền
(8) Ngừn hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu phự hợp thanh toỏn hoặc chấp nhận hối phiếu
(9) NHPH thụng bỏo bộ chứng từ đó đến cho người nhập khẩu
Ngân hàngphát hành(Issuing Bank)
Ngân hàngthông báo (Advising Bank)
Người yêu cầu
mở thư tín dụng (Applicant )
Người thụ hưởng (Beneficiary)
(1) (10) (9)
(2) (7) (8)
(3) (5) (6) (HĐTM)
(4)
Trang 7(10) Người nhập khẩu kiểm tra lại bộ chứng từ và làm thủ tục thanh toán đối với
* Phân loại thư tín dụng :
L/C có thể huỷ ngang ( Revocable L/C) :
Là L/C mà người mở (nhà nhập khẩu) có quyền đề nghị NHPH sửa đổi, bổ sung, hoặc huỷ bất cứ lúc nào mà không cần có sự chấp thuận và thông báo trước của người thụ hưởng (nhà xuất khẩu) Tuy nhiên khi hàng hoá đã được giao Ngõn hàng mới thông báo lệnh huỷ bỏ hoặc sửa đổi bổ sung thì lệnh này không có giá trị, nghĩa là khi
đó NHPH L/C vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết, coi như không
có việc huỷ bỏ xảy ra Loại thư tín dụng này không đảm bảo quyền lợi của người xuất khẩu do đó ngày nay nó không được sử dụng trong thực tế
L/C không thể huỷ ngang ( Irrevocable L/C ):
Là loại L/C mà sau khi đã mở và nhà xuất khẩu đã chấp nhận, thì NHPH không được sủa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực của L/C, trừ khi có sự thoả thuận khác của các bờn tham gia
Thư tín dụng không thể huỷ ngang được áp dụng rất phổ biến trong thương mại Quốc Tế, theo quy định của UCP 500 nếu không có ghi chú đặc biệt về loại thư tín dụng sẽ được hiểu đó là thư tín dụng không thể huỷ ngang
L/C không thể huỷ ngang cú xỏc nhận(Confirmed Irrevocable L/C)
Đõy là loại L/C không huỷ bỏ.Theo yêu cầu của NHPH, một Ngõn hàng khác xác nhận trả tiền cho L/C này L/C thường được sử dụng trong thương mại Quốc Tế khi người xuất khẩu không tin tưởng vào khả năng tài chớnh của NHPH Trách nhiệm của NHXN là rất cao, phải đảm bảo thanh toán số tiền trong L/C khi NHPH không thực
Trang 8hiện nghĩa vụ của mình Vì vậy, NHXN có quyền yêu cầu NHPH ký quỹ theo tỷ lệ giá trị của L/C, tỷ lệ ký quỹ có khi lên tới 100% giá trị của L/C Vì có hai Ngõn hàng cam kết trả tiền nên loại thư tín dụng này rất đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu.
L/C chuyển nhượng ( Transferable L/C )
Là loại L/C không thể huỷ ngang, theo đó, người hưởng lợi thứ nhất chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thực hiện L/C cũng như quyền đòi tiền mà mình có được cho người hưởng lợi thứ 2 L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần Việc chuyển nhượng L/C không có nghĩa là hợp đồng mua – bán cũng được chuyển nhượng Người hưởng lợi ban đầu vẫn là người chịu trách nhiệm chớnh với nhà nhập khẩu Loại L/C này được sủ dụng khi mà người hưởng lợi thứ nhất không tự cung cấp được hàng hoá mà chỉ là một người môi giới Chi phí chuyển nhượng thường do người hưởng lợi ban đầu chịu
L/C giáp lưng ( Back to back L/C )
Là loại L/C sau khi nhận được L/C do người Nhập khẩu mở cho mình hưởng người xuất khẩu căn cứ vào nội dung L/C này và dùng chớnh L/C này để thế chấp mở một L/C khác cho người khác hưởng với nội dung gần giốn như L/C ban đầu, gọi là L/C giáp lưng Hai L/C này về cơ bản là giống nhau, chỉ khác nhau về số chứng từ, kim ngạch, thời hạn giao hàng, người mở và người thụ hưởng Đõy là hai L/C hoàn toàn độc lập với nhau
L/C tuần hoàn ( Revolving L/C )
Là loại L/C không thể huỷ ngang mà sau khi sử dụng hết giá trị của nó hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại ( tự động ) có giá trị như cũ và tiếp tục đựơc sử dụng một cách tuần hoàn trong thời hạn nhất định cho đến khi tổng giá trị hợp đồng được thực hiện L/C này thường được sử dụng khi các bên tin cậy lẫn nhau, các mặt hàng được mua bán thường xuyên, định kỳ, số lượng lớn, giao nhiều lần trong một thời gian nhất định Nên dùng L/C tuần hoàn để tránh ứ đọng vốn không cần thiết vì có lợi cho
cả đôi bên mua bán.Bởi nếu mỗi lần giao hàng lại ký hợp đồng, mở một L/C thì mất
Trang 9nhiều thì giờ để ký kết hay làm thủ tục mở L/C Người bán thì không chủ động về đầu
ra còn người mua thì cũng không chủ động về nguồn hàng
L/C dự phòng ( Stand by L/C )
Là loại L/C được mở nhằm đảm bảo quyền lợi cho người nhập khẩu Ngân hàng
mở L/C dự phòng cam kết với người nhập khẩu sẽ thanh toán lại cho họ trong trường hợp người xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng theo L/C đã nêu
L/C đối ứng (Reciprocal L/C )
Là loại L/C chỉ bắt đầu có hiệu lực khi L/C kia đối ứng với nó được mở L/C này được sử dụng trong phương thức mua bán hàng đổi hàng, nhà cung cấp nguyên liệu và người gia công ở hai nước khác nhau Đối với L/C này thì người mở L/C này là người hưởng lợi L/C kia và ngược lại
L/C điều khoản đỏ ( Red Clause L/C )
Đõy là loại thư tín dụng ứng trước L/C này được kốm theo một điều khoản đặc biệt uỷ nhiệm cho NHTB hoặc NHXN ứng tiền trước cho người hưởng khi họ xuất trình chứng từ hàng hoá Loại tín dụng này thường được sử dụng như một phương tiện cấp vốn cho bên bán trước khi giao hàng
1.1.4 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TDCT
Thương mại Quốc tế có sự tham gia của các quốc gia khác nhau trên thế giới, mỗi quốc gia lại có những luật pháp riêng, phong tục tập quán riêng Thực tế này đã làm nảy sinh nhiều mõu thuẫn, bất đồng tranh chấp giữa các bên Do đó để tham gia vào thương mại quốc tế, các bên phải cam kết chấp hành tuyệt đối các quy định, luật pháp trong nước đồng thời phải tuõn thủ các thông lệ quốc tế Hoạt động của Ngõn hàng trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được điều chỉnh bởi các văn bản sau :
* Các quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, bản sửa đổi năm
1993 do ICC phát hành số 500 gọi tắt là UCP500 (The Uniform Customs and Pratice for Documentary Credits ), được áp dụng cho tất cả các tín dụng chứng từ (bao gồm cả thư tín dụng dự phòng trong chừng mực mà chúng có thể được áp dụng) khi chúng
Trang 10được cấu thành trong nội dung và tín dụng UCP là văn bản mang tớnh quy phạm tuỳ
ý, có nghĩa là nó chỉ có hiệu lực khi được các bên hoả thuận và ghi vào hợp đồng
* Tập quán tiêu chuẩn quốc tế về thực hành Ngõn hàng trong kiểm tra chứng từ theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ gọi tắt là ISBP, được uỷ ban Ngõn hàng của phòng Thương mại quốc tế thông qua tháng 10-2002 Văn bản này không sửa đổi UCP mà nó giải thích một cách chi tiết các quy tắc của UCP được sử dụng trong giao dịch hàng ngày
* Điều kiện cơ sở giao hàng Incoterms
* Các điều ước liên quan đến Thanh toán quốc tế
1.2.NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI TRỢ NHẬP KHẨU
1.2.1 KHÁI NIỆM TÀI TRỢ NHẬP KHẨU
Hoạt động thương mại quốc tế hiện nay được diễn ra rất đa dạng và phức tạp Quá trình nhập khẩu hàng hoá phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau nên rất tốn thời gian
và chi phí, đồng thời giá trị nhập khẩu của lô hàng thường rất lớn, gõy khó khăn về vốn cho doanh nghiệp Do vậy, các doanh nghiệp nhập khẩu thường có nhu cầu tài trợ rất cao trong tất cả các giai đoạn của quá trình nhập khẩu
Ta có thể đưa ra khái niệm về tài trợ nhập khẩu như sau :
Tài trợ nhập khẩu là tập hợp cỏc kỡnh thức và biện pháp hỗ trợ về mặt tài chính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động nhập khẩu nhằm giúp
họ hoàn thành nghĩa vụ của mình trong một số hoặc toàn bộ các công đoạn của quá trình nhập khẩu nhằm mục đích sinh lời
Tài trợ nhập khẩu và tài trợ xuất khẩu nói chung thể hiện mối quan hệ giữa một bên là Ngõn hàng – bên đưa ra trợ giúp và một bên là doanh nghiệp nhập khẩu – bên cần trợ giúp Về bản chất, tài trợ nhập khẩu là một loại hình tín dụng do Ngõn hàng cấp cho nhà nhập khẩu dựa trên uy tín và niềm tin Thuật ngữ tín dụng trong trường hợp này ngoài cách hiểu đơn thuần là việc Ngõn hàng giao vốn cho khách hàng trong một
Trang 11thời gian nhất định đổi lấy một lời hứa trả tiền đầy đủ khi đáo hạn, cũn bao gồm cả hình thức tài trợ khác mà Ngõn hàng cung cấp cho các doanh nghiệp nhập khẩu.
Có thể thấy sự ra đời của hoạt động tài trợ nhập khẩu mang tớnh tất yếu khách quan, phản ấnh mối quan hệ doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu và hoạt động thanh toán quốc tế của Ngõn hàng Với tầm quan trọng như vậy, hoạt động tài trợ nhập khẩu
có vai trò to lớn đối với các chủ thể tham gia trong nền kinh tế
1.2.2 VAI TRÒ CỦA TÀI TRỢ NHẬP KHẨU
1.2.2.1 Đối với nền kinh tế :
Thông qua các hình thức tài trợ nhập khẩu của các Ngõn hàng thương mại, hoạt động mua – bán hàng hoá nhập khẩu theo yêu cầu của thị trường được thực hiện thường xuyên Hoạt động tài trợ nhập khẩu góp phần nõng cao hiệu quả nguồn vốn, nõng cao tính năng động của nền kinh tế, giúp thị trường ổn định
Hoạt động tài trợ của Ngõn hàng còn giúp các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhập khẩu nói riêng tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường, mở rộng sản xuất kinh doanh, nõng cao uy tín và danh tiếng trên thị trường quốc tế, kéo theo sự phát triển của nền kinh tế
Thông qua hoạt động tài trợ của Ngõn hàng mà các doanh nghiệp có vốn để thay đổi dõy truyền công nghệ, hiện đại hoá máy móc thiết bị nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tạo ra sản phẩm phong phú đa dạng về mẫu mã chủng loại đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng Các doanh nghiệp cũng có thể nhập khẩu những mặt hàng phục vụ sản xuất mà trong nước chưa sản xuất được hoặc giá thành cũn cao
Hoạt động tài trợ nhập khẩu cũn giúp tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước,
giúp mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới.
Chính sự phát triển của các doanh nghiệp, cao mức sống của người dân thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.2.2.2 Đối với doanh nghiệp nhập khẩu :
Trang 12Tài trợ nhập khẩu giúp các doanh nghiệp thực hiện được các thương vụ lớn trong khi vốn lưu động không đủ để thanh toán tiền hàng.
Qua hoạt động tài trợ việc nhập khẩu hàng hoá đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường được thực hiện thường xuyên, liên tục, góp phần ổn định thị trường, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và mở rộng phạm
vi kinh doanh
Hoạt động tài trợ của Ngõn hàng cũn giúp doanh nghiệp nõng cao uy tín trên thị trường quốc tế Nhờ có uy tín của Ngân hàng, các doanh nghiệp khập khẩu có thể thực hiện các hợp đồng lớn trôi chảy, quan hệ làm ăn với các khách hàng lớn trên thế giới,
từ đó không ngừng nõng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế
1.2.2.3 Đối với Ngân hàng thương mại :
Hoạt động tài trợ là một mảng dịch vụ có ý nghĩa quan trọng đối với Ngõn hàng thương mại, vì đây là màng dịch vụ tạo ra nguồn thu phí và lói lớn nhất trong số các dịch vụ kinh doanh đối ngoại của Ngõn hàng, đặc biệt là các Ngõn hàng thương mại ở những nước đang phát triển như Việt Nam
Có nhiều loại lói suất trong quá trình cung cấp các “hỗ trợ” về mặt tài chớnh như lãi cho vay thanh toán, lói chiết khấu chứng từ, lói vay bắt buộc, phí mởL/C… Tiền phí
và lói thu được là cao bởi vì giá trị hoạt động tín dụng xuất khập khẩu thường ở mức vừa và lớn Thông thường nó chiếm khoảng 40 – 70% doanh thu của các Ngõn hàng tham gia thanh toán quốc tế
Thêm vào đó hoạt động này cũn giúp thắt chặt mối quan hệ bền vững giữa Ngõn hàng và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Mối quan hệ này càng được thắt chặt thì lợi ích mà các bên thu được sẽ càng lớn Qua hoạt động tài trợ của mình, Ngõn hàng ngày càng mở rộng được hoạt động và nâng cao uy tín của mình trên thị trường quốc tế
1.2.3 VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ NHẬP KHẨU :
Hoạt động xuất nhập khẩu đã được chứng minh là không thể thiếu đối với nền kinh tế của mọi quốc gia Nó có đặc trưng là việc mua bán giữa các đối tác cách xa
Trang 13nhau bởi đường biên giới, những hàng rào ngôn ngữ, những phong tục tập quán khác nhau…Hàng hoá được vận chuyển từ nước này qua nước khác, đồng tiền thanh toán có thể là nội tệ hay ngoại tệ Do đó, thông thường sẽ là vô cùng khó khăn và vô cùng phức tạp để các bờn đối tác giao dịch trực tiếp với nhau Để đảm bảo cho hoạt động xuất nhập khẩu được thông suốt, giảm thiẻu rủi ro thì không thể không kể đến vai trò của các NHTM với tư cách là “nhà tài trợ giàu thiện chí”
Với những am hiểu và kinh nghiệm của mình trong lĩnh vực thương mại quốc tế, các Ngõn hàng thương mại là nguồn cung cấp hàng loạt những trợ giúp về kỹ thuật và tài chớnh đối với các thương nhõn xuất nhập khẩu, đặc biệt là các thương nhân hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu Các NHTM có khả năng đưa ra những lời khuyên và thông tin nhằm thúc đẩy việc ký kết hợp đồng ngoại thương và thực hiện tài trợ khi khách hàng có nhu cầu Ngõn hàng giúp cung ứng vốn bằng tiền hoặc bảo lónh uy tín
để doanh nghiệp có thể nhập khẩu máy móc thiết bị hiện đại, mở rộng sản xuất kinh doanh…Bên cạnh đó, ngõn hàng cũng luôn són sàng đem tới các dịch vụ khác như quản lý tài khoản của khách hàng, thực hiện đầu tư uỷ thác cho khách hàng…
Các NHTM cũng góp phần giảm thiểu rủi ro kinh doanh cho các doanh nghiệp nhập khẩu Chẳng hạn, nhờ các báo cáo cập nhập và chớnh xác về tình hình đối tác mà ngõn hàng cung cấp, rủi ro tín dụng đối với người nhập khẩu có thể được giảm thấp Việc đem lại những thông tin bổ ích và nhanh chóng của ngõn hàng giúp cho các bên tham gia mua bán thực hiện thương vụ được suôn sẻ và hiệu quả như : thông tin về tình hình kinh tế chớnh trị ở quốc gia đối tác, điều kiện gia nhập vào thị trường nước ngoài…Hoặc bằng các gnhiệp vụ chuyên biệt như hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi ngoại tệ…các NHTM đã giúp các bên tham gia mua bán giảm thấp rủi ro
tỷ giá hối đoái
Nói túm lại, Ngõn hàng giữ chức năng là cầu nối giữa hai bên mua và bán bị ngăn cách nhau bởi các chõu lục Thông qua hoat động tài trợ nhập khẩu, Ngõn hàng cung cấp những dịch vụ kỹ thuật và tài chớnh, hỗ trợ đắc lực cho người nhập khẩu trong giao dịch thương mại quốc tế đối với việc tiết giảm chi phí và chống đỡ rủi ro một cách
Trang 14hiệu quả, từ đó nõng cao vị thế cạnh tranh và năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp nhập khẩu vốn cũn rất nhiều hạn chế, góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển.
1.3 CÁC HÌNH THỨC CỦA HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ NHẬP KHẨU THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TDCT
Đối với hoạt động nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài thì không phải cứ dồi dào
về vốn là bất kỳ nhà nhập khẩu nào cũng mua được hàng Do hoạt động kinh doanh về bản chất đã chứa đựng nhiều rủi ro, nhất là trong trường hợp các đối tác ở cách xa nhau
và có nhiốu điểm khác biệt về môi trường kinh doanh chớnh trị, pháp lý, ngôn ngữ, văn hoá…thì độ rủi ro lại càng tăng Vì thế, để thuyết phục nhà xuất khẩu tin tưởng thực hiện việc giao hàng, nhà nhập khẩu phải tỡm các biện pháp nõng cao khả năng thanh toán của mình một cách chắc chắn Phương thức tín dụng chứng từ ra đời đã đáp ứng được yêu cầu đó Đõy là một dạng thức thanh toán an toàn, chặt chẽ nhất hiện nay.Trong phương thức tín dụng chứng từ, ngõn hàng không chỉ là trung gian thu hộ, chi hộ mà cũn là người đại diện bên nhập khẩu thanh toán tiền hàng cho bên xuất khẩu, đảm bảo cho bên nhập khẩu nhận được hàng hoá đúng với quy định trên hợp đồng, đảm bảo cho bên xuất khẩu nhận được khoản tiền tương ứng với hàng hoá họ đã cung ứng Như vậy, bản thân các hoạt động này đã chứa đựng không chỉ chức năng thanh toán mà cũn làm phát sinh vai trò tài trợ của Ngõn hàng đối với bên xuất nhập khẩu Hoạt động tài trợ của Ngân hàng diễn ra ở tất cả các khõu trong quá trình nhập khẩu hàng hoá, cụ thể như sau :
Trang 151.3.1.1 Tư vấn về nghiệp vụ cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu
Thứ nhất, tư vấn trong việc phát hành L/C Các doanh nghiệp nhập khẩu khi
đến ngân hàng phục vụ mình để yêu cầu phát hành L/C phải xuất trình các loại giấy tờ như : thư yêu cầu phát hành L/C, bản sao hợp đồng mua bán ngoại thương…Ngõn hàng sẽ căn cứ vào đó để xem xét việc mở L/C cho khách hàng Trong quá trình xem xét, với trình độ nghiệp vụ chuyên môn sẵn có, ngõn hàng có thể giúp khách hàng của mình phát hành loại L/C phù hợp Các doanh nghiệp dù là doanh nghiệp lần đầu tham gia vào hoạt động ngoại thương hay những doanh nghiệp đã thường xuyên tham gia hoạt động ngoại thương cũng không tránh khỏi sự băn khoăn khi đứn trước sự lựa chọn loại L/C để mở cho phù hợp và thuận lợi nhất Trong khi lại có quá nhiều loại L/C cho
họ lựa chọn Do đó, công việc tư vấn của ngân hàng là hết sức cần thiết, bởi vì ngõn hàng, hơn ai hết là người am hiểu các tập quán quốc tế, các văn bản pháp lý điều chỉnh thanh toán quốc tế…
Thứ hai, tư vấn cho khách hàng khi có bất kỳ sự yêu cầu sửa chữa nào từ phía
người xuất khẩu Như ta đã biết, hợp đồng thương mại là sự thoả thuận giữa người mua
và người bán, ngõn hàng không hề có bất kỳ sự can thiệp nào Tuy nhiên, trên cương vị
là ngõn hàng phục vụ người nhập khẩu, ngõn hàng cũng phải có những tư vấn cho khách hàng của mình trong việc bảo vệ quyền lợi trước nhà xuất khẩu Khi người xuất khẩu yêu cầu người nhập khẩu sửa đổi một số điều khoản trong L/C hay trong hợp đồng thương mại thì người nhập khẩu cần thiết tỡm đến sự tư vấn của ngõn hàng phục
vụ mình Vì hơn ai hết ngõn hàng phát hành vừa là người hiểu rừ nhất doanh nghiệp
mà mình phục vụ, vừa là người hiểu rừ các tập quán buôn bán trên thị trường quốc tế
1.3.1.2.Phát hành thư tín dụng
Đối với nhà nhập khẩu,mở L/C được xem là hình thức tài trợ của ngõn hàng phát hành Khi ngõn hàng phát hành đồng ý mở L/C cho nhà nhập khẩu thì có nghĩa là ngõn hàng cam kết thanh toán cho người hưởng lợi L/C nếu bộ chứng từ hợp lý Vì vậy, nếu người nhập khẩu không có khả năng thanh toán hoặc không muốn thanh toán thì ngõn
Trang 16hàng chớnh là người phải gánh chịu rủi ro Tuy nhiên, để đảm bảo uy tín của mình, ngõn hàng mở L/C thường phải thanh toán cho phớa nước ngoài, điều này cũng có nghĩa là ngõn hàng mở L/C cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu.
1.3.1.3 Tài trợ thông qua việc phát hành L/C đặc biệt :
a Tài trợ bằng L/C tuần hoàn (Revoling L/C )
L/C tuần hoàn là loại L/C mà sau khi sử dụng hết giá trị của nó hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó (tự động) có giá trị lại như cũvà tiếp tục tuần hoàn trong thời gian nhất định cho đến khi hoàn tất giá trị hợp đồng Thư tín dụng tuần hoàn theo ba cách :
Cách thứ nhất là tuần hoàn tự động : Ở đõy L/C sau khi tự động có giá trị như cũ mà không cần có sự thông báo của ngõn hàng mở L/C cho người xuất khẩu biết
Cách thứ hai là tuần hoàn bán tự động : Sau khi L/C trước sử dụng xong hoặc hết thời hạn hiệu lực, nếu sau vài ngày mà ngõn hàng mở L/C không có ý kiến gì
về L/C kế tiếp và thông báo cho người hưởng lợi L/C thì nó tự động có giá trị như cũ
Cách thứ ba là tuần hoàn hạn chế : Trong trường hợp này, chỉ khi nào ngõn hàng mở L/C thông báo cho người xuất khẩu biết thì L/C kế tiếp mới có giá trị hiệu lực
L/C tuần hoàn được áp dụng trong trường hợp hai bên mua – bán những mặt hàng
có giá trị lớn, có quan hệ cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ thường xuyên, giao hàng nhiều lần trong năm với số lượng đều đặn Ngõn hàng đồng ý mở L/C tuần hoàn là tạo thuận lợi cho nhà nhập khẩu trong khõu thanh toán Sự ưu đãi này thể hiện ở chỗ cho phép nhà nhập khẩu không bị đọng vốn, đồng thời không tớnh phí mở L/C nhiều lần
Trang 17trong quan hệ giữa một bên là người đặt hàng (người mua) và một bên là người sản xuất (người bán) Các khoản tiền mà người đặt hàng đã chi ra như tiền ký quỹ, tiền ứng trước, phí mở L/C…chiếm tỷ trọng khoảng 10 – 15% giá trị của đơn đặt hàng Việc đảm bảo hoàn lại số tiền đó cho người đặt hàng khi người sản xuất không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng có ý nghĩa quan trọng trong thương mại quốc tế.
1.3.1.4 Cho vay ký quỹ mở L/C :
Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, khách hàng phải thực hiện ký quỹ khi đề nghị ngõn hàng phát hành thư tín dụng Số tiền ký quỹ được tớnh dựa trên
tỷ lệ ký quỹ được áp dụng đối với mỗi khách hàng Tỷ lệ ký quỹ được hiểu là % giá trị của L/C mà người nhập khẩu phải để lại ngõn hàng khi đề nghị phát hành L/C Số tiền
ký quỹ đảm bảo rằng nhà nhập khẩu sẽ nhận hàng và thanh toán với bộ chứng từ hoàn hảo Nó cũng đảm bảo cho ngân hàng phát hành có thể bù đắp được rủi ro khi có sự cố nào xảy ra Tuỳ vào mỗi khách hàng khác nhau mà có những mức ký quỹ khác nhau Tương ứng với mỗi tỷ lệ ký quỹ là tỷ lệ mà ngõn hàng hỗ trợ cho nhà nhập khẩu Phần chênh lệch giữa 100% giá trị L/C với tỷ lệ ký quỹ chớnh là phần tài trợ của ngõn hàng đối với người nhập khẩu
Bên cạnh đó, do khoản tiền ký quỹ là khoản tiền bị phong toả, người nhập khẩu không được sử dụng trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng nhập khẩu, dẫn đến vốn lưu động của doanh nghiệp bị thu hẹp Khi đó,căn cú trên uy tín của người nhập khẩu, hiệu quả của thương vụ hoặc dựa trên tài sản đảm bảo, ngõn hàng có thể xét cho vay ký quỹ Cho vay ký quỹ vừa giải quyết đươc khó khăn về vốn lưu động cho khách hàng, tăng tớnh an toàn và mang lại hiệu quả cho ngõn hàng, vừa đảm bảo tuõn thủ những quy định pháp lý của ngõn hàng về ký quỹ bảo lónh
1.3.2 GIAI ĐOẠN THANH TOÁN L/C
Sau khi hoàn thành việc giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ gửi đến Ngõn hàng đề nghị thanh toán Ngõn hàng tiến hành kiểm tra và chỉ thanh toán đối với
bộ chứng từ hoàn hảo Trong giai đoạn này vai trò tài trợ của Ngõn hàng được thể hiện như sau :
Trang 181.3.2.1 Chấp nhận hối phiếu kỳ hạn theo L/C
Chấp nhận hối phiếu là hành vi cam kết trả tiền của người có nghĩa vụ trả tiền khi hối phiếu đến thời hạn thanh toán Hành vi pháp lý này được thể hiện bằng chữ ký của người đó ở mặt trước, góc trái của hối phiếu
Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, ngõn hàng phát hành là người thực hiện nghiệp vụ chấp nhận hối phiếu để tài trợ cho các doanh nghiệp nhập khẩu Xét ở góc độ nhà nhập khẩu, đây có thể hiểu là hành vi ngõn hàng cung ứng cho anh ta một khoản tín dụng và khoản vay này chỉ là hình thức đảm bảo về tài chớnh, thực chất ngân hàng chưa phải xuất tiền ngay cho người vay Tuy nhiên, khi đến hạn, nếu nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán thì người cho vay (ngõn hàng) - người đứng
ra chấp nhận hối phiếu phải trả nợ thay
1.3.2.2 Cho vay thanh toán bộ chứng từ hàng nhập
Theo hình thức này, khách hàng phải lập phương án sản xuất kinh doanh mang tớnh khả thi cho lô hàng nhập về phục vụ sản xuất kinh doanh Đồng thời khách hàng phải lên kế hoạch tài chớnh nhằm xác định khả năng thanh toán để đến thời điểm thanh toán dự kiến có thể xác định khoản thiếu hụt cần ngõn hàng tài trợ Trên cơ sở xem xét
và phõn tích kế hoạch cũng như phương án của khách hàng, ngõn hàng sẽ ra quyết định tài trợ và xác định mức ngân hàng chấp nhận tài trợ Tất cả các công đoạn này phải thực hiện trước khi bộ chứng từ giao hàng của người nhập khẩu về đến ngân hàng đứng
ra tài trợ Trong trường hợp hàng hoá và bộ chứng từ đã về đến nơi, nhà nhập khẩu có thể nhận được sự tài trợ của ngõn hàng thồn qua hình thức vay thanh toán L/C (trong trường hợp L/C trả ngay) hoặc ngõn hàng thay mặt nhà nhập khẩu ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu (trong trường hợp L/C trả chậm ) như đã nêu ở trờn
1.3.2.3 Phát hành bảo lãnh nhận hàng
Bóo lónh nhận hàng là một hình thức tài trợ của ngõn hành nhằm giúp cho người nhập khẩu có thể lấy đượchnàg Bảo lónh nhận hàng áp dụng trong trường hợp hàng hoá đến trước bộ chứng từ, đặc biệt là khi chưa có vận đơn gốc Khi đó, nếu không có
sự can thiệp của ngân hàng người nhập khẩu chắc chắn sẽ không có quyền tiếp nhận
Trang 19hàng hoá Hàng hoá sẽ phải để ở cảng ở một thời gian nhất định, có thể bị giảm phẩm chất hoặc ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của nhà nhập khẩu, đồng thời phải chịu chi phí lưu kho, lưu bói rất lớn Để tránh tình trạng này theo yêu cầu của người nhập khẩu ngõn hàng sẽ phát hanh bảo lónh nhận hàng cho hóng tàu hưởng lợi, theo đó hóng tàu sẽ giao hàng cho nhà nhập khẩu mà không cần có việc anh ta phải xuất trình B/L gốc.
1.3.2.5 Ký hậu vận đơn
Vận đơn đường biển là chứng từ vận tải đường biển do người chuyên chở hoặc đại diện của họ cấp phát cho người gửi hàng sau khi hàng hoá đã được xếp lên tàu hoặc sau khi nhận hàng để xếp
Nếu căn cứ vào tớnh chuyển nhượng, có thể phõnn chia vận đơn thành ba loại sau : Vận đơn đích danh (straigh B/L), vận đơn vô danh (To bearer B/L), vận đơn theo lệnh (to order B/L) Trong đó, vận đơn theo lệnh được sử dụng rộng rói nhất Người ra lệnh
là người hưởng lợi, người hưởng lợi có thể chuyển nhượng cho người khác bằng cách
ký hậu
Trong thực tế, L/C thường yêu cầu vận đơn làm theo lệnh của ngân hàng phát hành Do đó, khi hàng hoá về đến nơi, người nhập khẩu muốn nhận hàng thì phải thanh toán tiền cho ngân hàng, sau đó ngõn hàng mới ký hậu vận đơn để doanh nghiệp đi nhận hàng
1.3.2.6 Cho vay bắt buộc
Về nội dung cũng là cho vay thanh toán bộ chứng từ giao hàng Tuy nhiên, tình trạng vay bắt buộc chỉ phát sinh khi người nhập khẩu không thanh toán hoặc không tập trung đủ tiền đẻ thanh toán bộ chứng tù giao hàng Ngõn hàng khi đó sẽ cho vay trên giá trị tiền hàng cũn thiếu để thanh toán đúng hạn cho ngân hàng nước ngoài Nhà nhập khẩu nên tránh tình trạng phát dinh nợ vay bắt buộc do họ sẽ phải chịu lói suất vay cho khoản tiền này tương ứng với lói suất cho vay quá hạn theo quy định của ngân hàng, bởi vì tớnh chất của mún vay bắt buộc thường không quá 30 ngày kể từ ngày ngân hàng trả nợ thay, do đó áp lực thanh toán nợ vay cho ngân hàng sẽ rất lớn
Trang 20CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ NHẬP KHÂU THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI
NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG - CẦU GIẤY2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG CÔNG
THƯƠNG - CẦU GIẤY 2.1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC
2.1.1.1 Lịch sử hình thành
NHCT – Cầu Giấy là một chi nhánh của NHCT Việt Nam, có trụ sở chớnh đặt tại 117A Hoàng Quốc Việt - Quận Cầu Giấy – Hà Nội Kể từ ngày 20/3/2001, NHCT - Cầu Giấy chớnh thức được quyền hạch toán độc lập và trở thành chi nhánh cấp 1 của NHCT Việt Nam
Kể từ khi được thành lập đến nay NHCT - Cầu Giấy đã có những bước trưởng thành và phát triển vượt bậc, khẳng định vị thế vững vàng trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt Chi nhánh luôn phấn đấu để có thể đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng
NHCT - Cầu Giấy thực hiện đầy đủ các chức năng của một NHTM hiện đại, NHCT - Cầu Giấy có quyền tự chủ trong kinh doanh, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại NHNN cũng như tại các tổ chức tín dụng khác trong cả nước Ngõn hàng đã
và đang hoạt động trên cơ sở tự kinh doanh, tự bù đắp và có lói
NHCT - Cầu Giấy không chỉ đã đứng vững trong cạnh tranh mà cũn không ngừng
mở rộng phát triển với hiệu quả kinh doanh ngày càng cao và là một trong những chi nhánh làm ăn có hiệu quả nhất của hệ thống các chi nhánh Công Thương tại Hà Nội
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức
Hiện nay tại chi nhánh NHCT - Cầu Giấy có 10 phòng ban gồm 1tổ và 9 phòng nghiệp vụ Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban gồm :
Trang 21- Phòng kế toán giao dịch:Là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp
với khách hàng, tổ chức hạch toán theo quy định của Nhà nước và của NHCT Việt Nam Cung cấp các dịch vụ của ngõn hàng theo quy định của NHNN và NHCT Quản
lý hệ thống giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt trong ngày, thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm của ngõn hàng
- Phòng thanh toán XNK: Là phòng nghiệp vụ tổ chức thực hiện nghiệp vụ về
thanh toán XNK như tài trợ XNK, chuyển tiền, nhờ thu, bảo lónh nhận hàng, và kinh doanh ngoại tệ… tại chi nhánh theo quy định của NHCT Việt Nam
- Phòng khách hàng số 1 (doanh nghiệp lớn):Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao
dịch với khách hàng là các doanh nghiệp lớn, để khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ,
xử lý các nghiệp vụ liên quan đến cho vay, quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và theo hướng dẫn của NHCT
- Phòng giao dịch số 2 (doanh nghiệp vừa và nhỏ):Là phòng nghiệp vụ trực tiếp
giao dịch với khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, để khai thác vốn bằng VND
và ngoại tệ, xử lý các nghiệp vụ liên quan đến cho vay, quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và theo hướng dẫn của NHCT
- Phòng khách hàng cá nhân:Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách
hàng là các cá nhõn, để khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ, xử lý các nghiệp vụ liên quan đến cho vay, quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành
và theo hướng dẫn của NHCT
- Phòng /tổ thông tin điện toán;Thực hiện công tác duy trì hệ thống máy tớnh và
bảo dưỡng máy tớnh đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ thống mạng, máy tớnh của chi nhánh
- Phòng tổ chức hành chính:Là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổ chức cán
bộ và đào tạo tại chi nhánh theo đúng chủ trương chớnh sách của Nhà nước và quy định của NHCT Việt Nam Thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động kinh doanh tại chi nhánh, thực hiện công tác bảo vệ, an ninh toàn chi nhánh
Trang 22- Phòng tiền tệ kho quỹ:Là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản lý
quỹ tiền mặt theo quy định cuả NHNN và NHCT Việt Nam Ứng và thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch trong và ngoài quầy, thu chi tiền mặt cho các doanh nghiệp có thu, chi tiền mặt lớn
- Phòng tổng hợp tiếp thị:Là phòng tham mưu cho ban Giám Đốc chi nhánh dự
kiến kế hoạch kinh doanh, tổng hợp, phõn tích đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, thực hiện báo cáo hoạt động hàng năm của chi nhánh
- Phòng kế toán tài chính:Phòng kế toán tài chớnh là phòng nghiệp vụ giúp cho
Giám Đốc thực hiện công tác quản lý tài chớnh và thực hiện nghiệp vụ chi tiêu nội bộ tại chi nhánh theo đúng quy định của Nhà nước và của NHCT
2.1.1.3 Đội ngũ nhân sự
Hiện nay NHCT - Cầu Giấy có 1Giám Đốc, 1 Phó Giám Đốc, 137 cán bộ công nhõn viên trong tổng số 12.000 cán bộ trong toàn hệ thống NHCT Trong đó 80% có trình độ Đại học và trên Đại học, cũn lại đều đã được đào tạo qua hệ Cao đẳng , trung học chuyờn ngành ngõn hàng
2.1.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TRONG NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY 2.1.2.1 Tình hình huy động vốn
Đối với bất kỳ một tổ chức tín dụng nào thì việc huy động được một nguồn vốn
an toàn với giá rẻ là một trong những nhiệm vụ chiến lược có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của tổ chức tín dụng đó Với phương chõm phát huy tối đa nguồn vốn huy động tại chỗ với nhiều hình thức huy động : huy động tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, kỳ phiếu… bằng VND và ngoại tệ tại các mức lói suất phù hợp với từng thời kỳ
cụ thể, với từng đối tượng khách hàng, với mạng lưới được mở rộng, chú trọng tác phong giao dịch, ngân hàng đã thu hút được nhiều nguồn vốn, nõng cao hiệu quả trong kinh doanh
Trang 23Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của Ngân hàng Công Thương - Cầu Giấy
Đơn vị : triệu đồng
Năm 2004 2005 2006
1.Phân theo cơ cấu TG
a VND
b USD
818.358512.085
61,5138,49
902.525752.184
54,5445,46
988.132806.762
55,0544,95
2.Phân theo đối tượng HĐ
a TGDN
b TG Dân cư
c Tiền vay TCTD
532.819721.624 76.000
40,0554,245,71
803.681746.528104.500
48,5745,126,31
848.041723.603223.225
47,2540,3112,44
Nguồn : Báo cáo TTQT tại phòng thanh toán XNK
Nguồn vốn huy động của chi nhánh nhìn chung là tăng trưởng khá và tương đối
ổn định Cơ cấu nguồn vốn đảm bảo tớnh chất ổn định, an toàn và hiệu quả của cơ cấu tín dụng tại chi nhánh
Trong năm qua nguồn vốn huy động được từ các khách hàng là dõn cư và doanh nghiệp tăng 8,47% so với năm 2005 và 34,91% so với năm 2004 Và chiếm tới 93,68% (năm 2005) và 87,56% (năm 2006) tổng nguồn vốn huy động được của chi nhánh
Cơ cấu nguồn vốn ổn định hơn so với năm trước, trong đó năm 2006 nguồn vốn USD đạt 806.762 (triệu đồng) chiếm 44,95% tổng nguồn vốn huy động được, nguồn vốn VND đạt 988.132 (triệu đồng) chiếm 40,31% tổng nguồn vốn huy động
Nguồn tiền gửi của dân cư đạt 723.603 (triệu đồng) chiếm 40,31% tổng nguồn vốn Nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt 848.041 (triệu đồng) chiếm 47,25% tổng nguồn vốn
Nguồn tiền gửi không kỳ hạn đạt 621.311 (triệu đồng) chiếm 34,62%, nguồn tiền gửi có kỳ hạn đạt 854.850 (triệu đồng) chiếm 47,63% tổng nguồn vốn
Trang 24Có thể khẳng định rằng tình hình huy động vốn của chi nhánh là ổn định và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của chi nhánh.
2.1.2.2 Tình hình sử dụng vốn
Bên cạnh việc nõng cao nguồn vốn huy động, việc sử dụng nguồn vốn đó một cách thích hợp cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hoạt động của một ngõn hàng
Trên cơ sở chấp hành nghiêm túc chỉ đạo của NHCT Việt Nam, chi nhánh Công Thương – Cầu Giấy xõy dựng mức tăng trưởng tín dụng phù hợp với tình hình cụ thể của chi nhánh, đồng thời tập trung nõng cao chất lượng tín dụng
Với nguồn vốn huy động khá lớn và được sự hỗ trợ của NHCT Việt Nam chi nhánh đã thoả món nhu cầu vay vốn hợp lý cho các bạn hàng chiến lược và các khách hàng đã có quan hệ tín dụng với chi nhánh
Bảng 2.2 Tình hình dư nợ cho vay và đầu tư của NHCT – Cầu Giấy.
Đơn vị : triệu đồng
Phân theo đối tượng CV
D a.DNNQD
D b DNQD
533.682680.620
43,9556,05
568.687 631.073
47,4052,60
260.609341.276
43,2957,71
Phân theo cơ cấu tiền tệ
a VND
b USD
971.740245.022
80,0219,98
746.914453.865
62,2637,44
250.518351.380
41,6258,38
Tổng dư nợ cho vay 1.214.302 1.199.76
0
601.885
Nguồn : Báo cáo TTQT tại phòng thanh toán XNK
Nhìn vào bảng ta thấy, dư nợ cho vay theo đối tượng cho vay khá đồng đều, nhưng vào khu vực các DNQD vẫn lớn hơn, năm 2006 dự nợ của các khu vực này chiếm 57,71% tổng dư nợ cho vay
Trang 25Tổng dư nợ cho vay bằng ngoại tệ có xu hướng tăng nhanh, năm 2004 tỷ trọng dư
nợ ngoại tệ chiếm 19,48%, năm 2005 chiếm 37,74% và năm 2006 chiếm 58,38% tổng
dư nợ cho vay Sự thay đổi tỷ trọng dư nợ này phù hợp với cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng
Trong thời gian qua, chi nhánh cũng như toàn hệ thống NHCT Việt Nam đã vận dụng nhiều biện pháp như : dùng quỹ dự phòng rủi ro khai thác và bán các tài sản xiết
nợ, tích cực thu nợ trực tiếp từ phớa khách hàng, gión nợ…Do đó, tớnh cuối đến năm
2006, nợ quá hạn đối với các khoản vay hiện hành tại chi nhánh là 21,7 tỷ chiếm 3,6% tổng dư nợ của chi nhánh Chi nhánh đã tập trung, tích cực thu hồi nợ ngoại bảng để cố gắng giảm tỷ lệ nợ này xuống dưới 1% / năm, đạt chỉ tiêu an toàn vốn của thế giới
2.1.2.3 Công tác kinh doanh đối ngoại
a Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ
Tỷ giá và tình hình lói suất trên thế giới biến động thất thường ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh Trong điều kiện ngoại tệ rất khan hiếm, NHCT Việt Nam cho trạng thái ngoại hối thấp, khiến ngân hàng khó chủ động được trong kinh doanh, khối lượng thanh toán hàng xuất khẩu tại chi nhánh cũn thấp, song chi nhánh vẫn đảm bảo nguồn ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, không để trạng thái ngoại hối trong chi nhánh bị õm, kinh doanh có lói, chủ động khai thác nguồn ngoại hối của khách hàng, kinh doanh đa dạng các loại ngoại tệ Doanh số mua bán ngoại tệ các loại quy đổi ra USD như sau:
Bảng 2.3 Doanh số mua bán ngoại tệ quy đổi ra USD
Đơn vị : 1000USD
Chỉ tiêu Doanh số mua Doanh số bán
Trang 26Nhìn chung, trong công tác kinh doanh ngoại tệ, chi nhánh luôn bám sát biến động của tỷ giá và nhu cầu của khách hàng để có kế hoạch kinh doanh thích hợp, vừa đảm bảo sự thuận lợi cho khách hàng vừa đảm bảo việc kinh doanh có lói Lói thu từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ năm 2005 là 738,527 (triệu đồng), năm 2006 là 23 (triệu đồng)
b Nghiệp vụ chi trả kiều hối
Chi nhánh thực hiện công tác nhận và chi trả kiều hối cho khách hàng với khối lượng và giá trị lớn Hoạt động này làm tăng thu nhập từ phí dịch vụ cho ngân hàng
Bảng 2.4 Doanh số chi trả kiều hối
Nguồn : Báo cáo TTQT tại phòng thanh toán XNK
Năm 2006 số mún chi trả kiều hối là 281 mún,tăng hơn so với năm 2005 (239 mún) là 17,57%, và doanh số chi trả cũng tăng, năm 2006 là 1.928 (ngàn USD), năm
2005 là 901 (ngàn USD) tăng 114%
Điều đó chứng tỏ rằng doanh số chi trả kiều hối của chi nhánh ngày càng tăng Việc chi trả kiều hối tại chi nhánh luôn được đảm bảo chớnh xác, kịp thời, đúng người, đúng tỷ giá quy định, tạo được sự tin tưởng trong khách hàng, vì vậy mà dịch vụ này của chi nhánh luôn phát triển mang lại nguồn phí dịch vụ đáng kể cho chi nhánh
c Nghiệp vụ thanh toán quốc tế
Bảng 2.5 Kết quả hoạt động thanh toán quốc tế tại NHCT - Cầu Giấy
Đơn vị : 1000 USD
Trang 27Năm
Chỉ tiêu
Doanh số
Tỷ trọng
Doanh số Tỷ
trọng
Doanh số Tỷ
trọng Thanh
78,751068,75
68.4312.12866.303
92,052,8689,19
20.68617820.508
70,850,6170,24
Tổng doanh số
thanh toán
Nguồn : Báo cáo TTQT tại phòng thanh toán XNK
Qua bảng số liệu ta có thể thấy, hiện nay chi nhánh đang chủ yếu sử dụng 3 phương thức thanh toán : TDCT, nhờ thu kốm chứng từ và chuyển tiền điện tử Ngoài
ra cũn có phương thức thanh toán hàng đổi hàng, nhưng chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ, không đáng kể
Trong ba phương thức thanh toán trên thì phương thức thanh toán TDCT được sử dụng nhiều nhất, tiếp theo là phương thức chuyển tiền và cuối cùng là phương thức thanh toán nhờ thu kốm chứng từ
Năm 2004, tỷ trọng thanh toán thưo phương thức TDCT được sử dụng chiếm 78,75%, theo phương thức chuyển tiền là 15,43% và phương thức nhờ thu là 5,88% Đến năm 2005, tỷ lệ này tương ứng là 92,05%; 4,8% và 3,12% Vào năm 2006, phương thức thanh toán TDCTchiếm 70,85%, phương thức chuyển tiền 20%, phương thức thanh toán nhờ thu là 8,2%
So với những năm trước thì doanh số thanh toán năm 2006 theo phương thức thanh toán TDCT đang giảm dần cả về số tuyệt đối và tương đối
Trang 28Năm 2004, kim ngạch thanh toán bằng phương thức thanh toán TDCT là 21.610 (nghìn USD) Đến năm 2005 có sự tăng đột biến về cả số tuyệt đối và số tương đối với kim ngạch thanh toán là 68.431 (nghìn USD), tăng 217% Nhưng đến năm 2006 doanh
số thanh toán theo phương thức này lại có sự sụt giảm đáng kể với kim ngạch thanh toán là 20.686 (nghìn USD), giảm so với năm 2004 là 4,3%, so với năm 2005 là hơn 200%
Sự giảm đột biến về doanh số thanh toán theo phương thức TDCT do một số nguyờn nhõn sau :
- Chi nhánh hiện đang thực hiện chớnh sách hạn chế tín dụng đối với doanh nghiệp kinh doanh yếu kém không có tài sản đảm bảo, khiến các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực XNK khó tiếp cận được các nguồn tài trợ từ ngõn hàng.Một số doanh nghiệp nhà nước đang vay vốn tại chi nhánh nay thực hiện cổ phần hoá, theo điều kiện hạn mức dư nợ đối với công ty cổ phần phải giảm thấp nên việc tiếp cận nguồn tài trợ từ ngõn hàng gặp nhiều khó khăn, công tác Marketing trong lĩnh vực thanh toán quốc tế chưa được quan tõm chỉ đạo sát sao, chưa chủ động tỡm kiếm khách hàng mà chủ yếu là khách hàng tự tỡm đến ngõn hàng
- Hiện nay chi nhánh đang phải đối mạt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ
là các NHTM trong nước và ngoài nước Thị phần giảm làm cho doanh số TTQT cũng giảm và khi doanh số TTQT giảm thì doanh số thanh toán bằng phương thức TDCT cũng giảm theo
TTQT là cơ sở, tiền đề cho hoạt động tài trợ XNK của ngõn hàng, vì thế khi doanh số TTQT theo phương thức TDCT giảm sút thì hoạt động tài trợ theo phương thức TDCT cũng gặp nhiều khó khăn Hơn nữa do cũn nhiều hạn chế, chi nhánh chưa thể cung cấp toàn bộ các hình thức tài trợ theo phương thức TDCT mà hầu như chỉ tập trung vào một số hình thức như : tài trợ phát hành L/C, cho vay tài trợ XNK, chiết khấu
bộ chứng từ, bảo lónh nhận hàng
d Kết quả kinh doanh hợp nhất
Trang 29Có thể nói những năm vừa qua là những năm rất thành công của chi nhánh về mặt lợi nhuận Thu nhập cũng như chi phí tại chi nhánh đã không ngừng tăng cả về số lượng lẫn tỷ trọng do chi nhánh đã tăng cường quy mô giao dịch, cũng như các loại hình dịch vụ ngõn hàng Tuy nhiên, chi nhánh vẫn đảm bảo tốc độ tăng của thu nhập cao hơn của chi phí nên lợi nhuận sau thuế của chi nhánh tăng mạnh, năm 2005 tăng 26,7% so với năm 2004 và năm 2006 tăng 56% so với năm 2005.
2.1.3 VĂN BẢN PHÁP LÝ CỦA NHCT - CẦU GIẤY VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ
NHẬP KHẨU
Theo quy định của Tổng Giám Đốc NHCT - Cầu Giấy, hoạt động của các chi nhánh thuộc hệ thống NHCT Việt Nam trong phương thức thanh toán TDCT được điều chỉnh bởi các văn bản sau :
- Các quy tắc và thực hành thống nhất về TDCT, bản sửa đổi năm 1993, do ICC phát hành số xuất bản 500, gọi tắt là UCP500 (Uniform Customs and Practice for Documentary Credits) Và mới đõy là bản sửa đổi số xuất bản 600, gọi tắt là UCP600
đã được ban hành và sẽ chớnh thức có hiệu lực và được áp dụng 01-7-2007
- Các quy tắc thống nhất về hoàn trả giữa các ngõn hàng theo TDCT số 525 gọi tắt là URR 525
- Các điều ước liên quan đến thanh toán quốc tế
- Các quy định hiện hành của Nhà Nước, NHNN về quản lý ngoại hối và đảm bảo tiền vay
- Quy chế mở L/C, quy chế bảo lónh của NHNN Việt Nam và hướng dẫn của NHCT Việt Nam
- Công văn số 2725/CV – NHCT5 ngày 29/09/1999 và công văn sửa đổi số 3138/CV – NHCT về việc mở và thanh toán L/C trả ngay
- Quyết định số 968/QĐ – NHCT 22 về việc ban hành quy chế và quy trình nghiệp vụ tài trợ thương mại tạm thời áp dụng trong hệ thống INCAS của NHCT Việt Nam
Trang 302.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ NHẬP KHẨU THEO PHƯƠNG
THỨC THANH TOÁN TDCT TẠI NHCT - CẦU GIẤY.
2.2.1 THỦ TỤC VÀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN TẠI NHCT - CẦU GIẤY
2.2.1.1 Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ
Đối với khách hàng muốn thực hiện hoạt động thanh toán bằng L/C, khách hàng cần bộ hồ sơ xin mở L/C gồm có :
- Quyết định thành lập ( Đối với doanh nghiệp lần đầu quan hệ giao dịch)
- Đăng ký kinh doanh ( Đối với doanh nghiệp lần đầu quan hệ giao dịch)
- Đăng ký mã số XNK (Đối với doanh nghiệp lần đầu quan hệ giao dịch)
- Hợp đồng thương mại gốc
- Hợp đồng nhập khẩu uỷ thác (nếu có)
- Giấy phép nhập khẩu của Bộ Thương mại (nếu mặt hàng nhập khẩu thuộc danh mục quản lý của Chớnh phủ)
- Cam kết thanh toán, hợp đồng tín dụng (trường hợp vay vốn), công văn phê duyệt cho phép mở L/C trả chậm của NHCT Việt Nam (trường hợp mở L/C trả chậm)
- Hợp đồng mua bán ngoại tệ (nếu có)
- Giấy đề nghị mở L/C
- Bản giải trình mở L/C do phòng tín dụng lập được Giám đốc chi nhánh hoặc người được giám đốc uỷ quyền phê duyệt (trong trường hợp ký quỹ dưới 100%giá trị L/C)
Đối với chi nhánh, chi nhánh chỉ được phát hành L/C khi có đủ các điều kiện sau :
- Chi nhánh chưa sử dụng hết hạn mức vốn điều hoà của NHCT Việt Nam hoặc tài khoản điều chuyển vốn của chi nhánh dư có
- Chi nhánh cũn khả năng thanh toán tổng giá trị toàn bộ các L/C mà chi nhánh đã phát hành và có đủ khả năng thanh toán cho L/C mà khách hàng vừa mới yêu cầu phát hành
Trang 31- Giá trị của L/C, số dư mở L/C, mức ký quỹ phải thực hiện đúng các quy định hiện hành của NHCT Việt Nam Các trường hợp ngoại lệ phải được sự chấp thuận bằng văn bản của NHCT Việt Nam.
- Hàng hoá nhập khẩu không nằm trong danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu do Bộ Thương Mại quy định hàng năm
- Khách hàng cũn đủ hạn mức phát hành L/C Trường hợp hết hạn mức phát hành L/C, khách hàng phải đáp ứng đầy đủ điều kiện để chi nhánh duyệt bổ sung hạn mức phát hành L/C cho khách hàng
Bộ hồ sơ sau khi đã hội đủ các yêu cầu nêu trên mới được cán bộ TTQT tiếp nhận
và kiểm tra và phải đảm bảo :
- Đảm bảo tớnh pháp lý của các chứng từ mà khách hàng xuất trình Việc thanh toán phải phù hợp với chế độ quản lý ngoại hối và chớnh sách quản lý xuất nhập khẩu của Nhà Nước
- Có đơn xin mở L/C phù hợp với yêu cầu và quy định của Chi nhánh, nội dung L/C không chứa đựng rủi ro cho Chi nhánh
- Có cơ sở bảo đảm thanh toán L/C phù hợp với quy định hiện hành của NHCT Việt Nam như : mức ký quỹ, vốn vay, cam kết thanh toán, bảo lónh chưa thực hiện…
- Nội dung các tài liệu trong hồ sơ không được mõu thuẫn với nhau
Trường hợp ký quỹ dưới 100%, bản giải trình mở L/C phải được trưởng phòng tín dụng hoặc người được uỷ quyền và Giám đốc Chi nhánh hoặc người được uỷ quyền phê duyệt chuyển xuống phòng TTQT làm căn cứ mở L/C
Sau khi mở L/C, thanh toán viên phải ghi trên hợp đồng gốc số L/C đã mở, giá trị L/C và ngày phát hành L/C, ký tên trên hợp đồng
2.2.1.2 Đăng ký và phát hành L/C nhập khẩu
Khi hồ sơ để phát hành L/C nhập khẩu của khách hàng đã hội tủ các điều kiện theo quy định, thanh toán viên tiến hành mở hồ sơ L/C trên mạng máy tớnh, thu tiền ký quỹ và các khoản phí liên quan
Trang 32- Các bước phát hành L/C nhập khẩu của khách hàng phải được tuõn thủ theo đúng tài liệu hướng dẫn sử dụng chương trình, trong quá trình sử dụng nếu có vướng mắc, các chi nhánh phải điện về Command Center xin trợ giúp.
- Chương trình máy tớnh sẽ tự động kiểm tra các yếu tố cần thiết theo chế độ tín dụng và các quy định hiện hành về việc phát hành L/C nhập khẩu của NHCT Việt Nam Nếu giá trị L/C vượt quá hạn mức cho vay và bảo lónh cũn lại hoặc mức ký quỹ chưa đủ mức tối thiểu theo quy định thì L/C sẽ không được phát hành
Tạo diện L/C
-Sau khi hoàn tất các bước nhập dữ liệu mở L/C trên mạng máy tớnh, thanh toán viên tiến hành tạo diện MT 700, ngoài các nội dung MT 700 theo quy định của SWIFT, trong quá trình nhập dữ liệu cán bộ thanh toán quốc tế phải tuõn thủ nghiêm ngặt quy định riêng về cách lập và sử dụng điện MT 700 của NHCT Việt Nam và một
số quy định cụ thể
- Sau khi hoàn thiện việc nhập dữ liệu trên tập tin MT 700, thanh toán viên kiểm soát đối chiếu giữa L/C với hợp đồng ngoại thương và đơn xin mở L/C, nếu khớp đúng thì lưu bức điện trong chương trình máy tớnh và in 3 bản L/C Thanh toán viên ký vào
vị trí quy định trên L/C, sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ mở L/C và L/C đã mở trong chương trình cho trưởng phòng TTQT
Kiểm soát L/C
- Trưởng phòng phải kiểm soát lại toàn bộ hồ sơ xin mở L/C đảm bảo các điều kiện mở L/C đã được đáp ứng đầy đủ và đảm bảo sự nhất quán giữa nội dung của hợp đồng ngoại thương, đơn xin mở L/C và L/C Sau đó xem xét kỹ nội dung của L/C, nếu
có điều khoản nào bất lợi cho người yêu cầu mở L/C và cho ngõn hàng phát hành thì phải khẩn trương thông báo cho khách hàng, đề nghị sửa đổi lại đơn xin mở L/C để làm căn cứ sửa L/C nhằm giảm bớt rủi ro
- Trường hợp khách hàng không thực hiện việc sửa đổi, chi nhánh phải yêu cầu khách hàng làm cam kết chịu hoàn toàn rủi ro và bồi hoàn những thiệt hại cho ngõn
Trang 33hàng phát hành (nếu có) Đồng thời chi nhánh có biện pháp bảo vệ mình trước những rủi ro đó bằng cách yêu cầu khách hàng tăng mức ký quỹ, tăng tài sản thế chấp …
- Trường hợp các điều khoản của L/C có thể mang đến những thiệt hại nghiêm trọng cho chi nhánh mà khách hàng không chịu sửa đổi đơn xin mở L/C, chi nhánh có quyền từ chối không phát hành L/C đó và lập biên bản huỷ L/C trên mạng IBS
- Nếu L/C không mõu thuẫn với hợp đồng ngoại thương và khớp đúng với đơn xin mở L/C của khách hàng, các điều khoản của L/C đều có khả năng thực thi và không tiềm ẩn rủi ro cho người yêu cầu mở L/C và ngân hàng phát hành thì trưởng phòng ký vào L/C và chuyển Giám Đốc hoặc người được Giám đốc uỷ quyền ký phê duyệt Sau khi hoàn tất việc phê duyệt, L/C được chuyển lại cho trưởng phòng TTQT tớnh ký hiệu mật của L/C để chuyển về Hội sở chớnh và chuyển tiếp cho người hưởng thông qua ngõn hàng đại lý Cuối cùng toàn bộ hồ sơ và L/C được chuyển cho thanh toán vien lưu giữ và trả lại khách hàng 1 liên L/C
- Một khi cần sửa chữa L/C do thanh toán viờn mới soạn thảo, trưởng phòng TTQT phải vào vùng kiểm soát chuyển L/C về cho thanh toán viên để họ sửa chữa và lưu vào chương trình, sau đó trình tự kiểm soát tương tự như trên
- Cuối ngày làm việc thanh toán viên phải in bản ACK của L/C và kiểm tra đối chiếu với L/C mà chi nhánh đã truyền đi, nếu có vướng mắc phải thông báo ngay với phòng thanh toán XNK - Hội sở chớnh
- Đối với những L/C có giá trị từ 500,000 USD trở lên phải thêm một bước tớnh
ký hiệu mật mã của Giám đốc chi nhánh hoặc người được giám đốc uỷ quyền
2.2.1.3 Tạo diện sửa đổi
- Sau khi L/C đã được phát hành, khi có nhu cầu sửa đổi L/C, khách hàng phải gửi giấy đề nghị sửa đổi L/C cho chi nhánh Thanh toán viên có trách nhiệm nhận yêu cầu sửa đổi của khách hàng, kiểm tra các điều khoản sửa đổi, nếu thấy hợp lý thì tiến hành nhập dữ liệu sửa đổi vào chương trình IBS để tạo diện MT 707 của NHCT Việt Nam
- Nếu L/C sửa đổi tăng tiền, khách hàng phải bổ sung mức ký quỹ và tài sản thế chấp tương ứng để đảm bảo khả năng thanh toán của L/C đó
Trang 34- Phí sửa đổi L/C và bên chịu phí phải được xác định rừ trong giấy đề nghị sửa đổi L/C của khách hàng và trong điện MT 707 của ngõn hàng.
- Sau khi hoàn thiện việc nhập dữ liệu và tạo điện sửa đổi L/C, thanh toán viên đối chiếu đảm bảo sự khớp đúng giữa đơn xin sửa đổi L/C của khách hàng và điện sửa đổi L/C, kiểm tra các bút toán đã hoàn thiện, thanh toán viờn lưu bức điện đó vào chương trình, máy tớnh sẽ tự động in bản Draft của điện sửa đổi L/C, thanh toán viên
ký quỹ vào chỗ trống quy định trên bức điện, sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ sửa đổi L/C
và điện sửa đổi L/C cho trưởng phòng TTQT
Kiểm soát điện sửa đổi L/C :
- Trưởng phòng kiểm soát điện sửa đổi, nếu không khớp đúng với đơn xin sửa L/C của khách hàng và các điều khoản sửa đổi là hợp lý, các bút toán hạch toán đúng, trưởng phòng ký trên điện sửa đổi và phiếu chuyển khoản
- Điện sửa đổi và hồ sơ sửa đổi sẽ được chuyển lên Giám đốc chi nhánh hoặc người được uỷ quyền phe duyệt, sau đó được chuyển lại cho trưởng phòng TTQT tớnh ký hiệu mật để chuyển bức điện về Hội sở chớnh để chuyển tiếp cho người hưởng thông qua ngõn hàng đại lý
- Hồ sơ sửa đổi L/C và điện sửa đổi sẽ được trả lại thanh toán viên để lưu trữ và chuyển cho khách hàng 1 bản
2.2.1.4 Nhận, kiểm tra và xử lý chứng từ, thanh toán/ chấp nhận thanh toán
Sau khi nhận được L/C và các sửa đổi liên quan phù hợp với khả năng đáp ứng của mình, người bán sẽ tiến hành giao hàng và lập bộ chứng từ thanh toán để gửi đến ngan hàng thương lượng Ngõn hàng thương lượng có trách nhiệm kiểm tra chứng từ
và gửi chứng từ đến chi nhánh (đối với L/C chỉ dẫn gửi bộ chứng từ về chi nhánh) hoặc hội sở NHCT Việt Nam (đối với L/C mà chỉ dẫn gửi bộ chứng từ về Hội sở NHCT Việt Nam), các chi nhánh hoặc Hội sở NHCT Việt Nam có trách nhiệm nhận kiểm tra, thanh toán hay chấp nhận thanh toán và giao chứng từ cho khách hàng hoặc chi nhánh theo quy định
Trường hợp thanh toán dựa trên trên đòi tiền gửi kèm bộ chứng từ
Trang 35Nhận và kiểm tra chứng từ
Ngay sau khi nhận được bộ chứng từ, thanh toán viên phải vào sổ theo dừi giao nhận chứng từ, ghi ngày nhận chứng tù, ký và đóng dấu đơn vị mình trên Covering Letter đồng thời nhập các thông tin cần thiết vào hồ sơ bộ chứng từ trong chương trình mỏu tớnh (thư mục Settlement) Trong vòng 05ngày làm việc kể từ sau ngày nhận chứng từ từ bưu điện, Chi nhánh phải hoàn tất việc kiểm tra bộ chứng từ và chấp nhận hoặc từ chối bộ chứng từ Quá thời hạn trên chi nhánh mất quyền khiếu nại về chứng từ
Nội dung kiểm tra bao gồm :
- Kiểm tra số lượng của từng loại chứng từ theo quy định của L/C
- Kiểm tra sự phù hợp của chứng từ với các điều khoản và điều kiện của L/C
- Kiểm tra sự nhất quán thể hiện trên bề mặt của các chứng từ
- Kiểm tra sự phù hợp của chứng từ với UCP 500 của ICC
Việc kiểm tra chứng từ phải được thực hiện qua 2 cán bộ ( kiểm tra 2 lần độc lập với nhau) Sau khi kiểm tra xong thanh toán viên phải lập phiếu kiểm tra chứng từ (theo mẫu đính kốm) có chữ ký của 2 cán bộ kiểm tra Sau đó toàn bộ hồ sơ L/C kốm theo bộ chứng từ và phiếu kiểm tra chứng từ được chuyển cho trưởng phòng TTQT kiểm soát và ký xác nhận đã kiểm tra trên phiếu kiểm tra chứng từ
Xử lý chứng từ
+ Trường hợp không có sai sót :
- Chi nhánh gửi một bản thông báo kết quả kiểm tra chứng từ cho khách hàng ngay khi kiểm tra xong bộ chứng từ
- L/C trả ngay : Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ sau ngày nhận chứng từ chi nhánh lập điện MT 202 để thanh toán theo chỉ dẫn trong thư đòi tiền của ngõn hàng gửi chứng từ
- Đối với L/C thanh toán nhiều lần bằng vốn tự có của khách hàng thì sẽ trích một
tỷ lệ ký quỹ để thanh toán tương ứng với tỷ lệ thanh toán trên trị giá của L/C, phần cũn lại trích từ tài khoản tiền gửi của khách hàng hoặc tài khoản thích hợp Trường hợp
Trang 36thanh toán bằng vốn vay của ngõn hàng thì số tiền ký quỹ sẽ được sử dụng hết cho việc thanh toán lần đầu, phần cũn lại sẽ ghi nợ tài khoản tiền vay của khách hàng hoặc tài khoản thích hợp.
- L/C trả chậm: Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ sau ngày nhận chứng từ, chi nhánh lập điện MT 799 thông báo chấp nhận thanh toán Sau đó thanh toán viên phải nhập nội dung chấp nhận thanh toán vào hồ sơ bộ chứng từ L/C nhập khẩu trong chương trình máy tớnh, theo dừi trả tiền đúng hạn như đã chấp nhận và chỉ dẫn trong thư đòi tiền của ngân hàng gửi chứng từ Trường hợp ngõn hàng thương lượng yêu cầu gửi trả họ hối phiếu đã được chi nhánh chấp nhận thanh toán thì chỉ gửi liên 1 của hối phiếu sau khi chấp nhận, nhưng phải yêu cầu ngõn hàng thương lượng gửi trả lại hối phiếu cho chi nhánh khi đến hạn thanh toán Liên 2 của hối phiếu được lưu lại hồ sơ L/C
- Giao chứng từ cho khách hàng sau khi đã hoàn tất các thủ tục cần thiết
+ Trường hợp chứng từ có sai sót :
- Trong khoảng thời gian 5 ngày kể từ sau ngày nhận chứng từ nếu kiểm tra thấy
sự sai sót về số lượng hoặc nội dung chứng từ phải lập tức lập điện MT 734/799/999 thông báo sai sót chứng từ và từ chối thanh toán đồng thời lập thông báo gửi cho khách hàng (mẫu đính kốm) để chờ chấp nhận thanh toán Các sai sót của bộ chứng từ phải được thông báo bổ xung các sai sót
- Sau khi hoàn tất công việc, lưu bức điện trong chương trình, thanh toán viên in bản Draft của bức điện, ký trên bức điện và chuyển toàn bộ hồ sơ cho trưởng phòng kiểm soát
- Trưởng phòng TTQT phải kiểm soát toàn bộ nội dung bức điện từ chối thanh toán, thông báo sai sót và phiếu kiểm tra chứng từ, xem xét lý do từ chối thanh toán có phù hợp với thông lệ quốc tế hay không Nếu khớp đúng và phù hợp thì ký trên bức điện và phiếu thông báo sai sót đồng thời chuyển cho giám đốc chi nhánh hoặc người được uỷ quyền phê duyệt Sau đó tớnh ký hiệu mật điện MT 734/999 và chuyển thông báo kết quả kiểm tra chứng từ cho khách hàng