Các giao dịch tiÕn hành trên thịtrường ngoại hối xác định tỷ giá , theo đó các đồng tiền được đổi với nhau đồngtiền này ra đồng tiền khác, đến lượt mình xác định giá mua hành hoá và tài
Trang 1Lời nói đầu
Trên thế giới, thị trường tự do về ngoại tệ rộng khắp và các NHTM, các quỹđầu tư cơ bản trên thế giới xúm vào đầu cơ đến nỗi gây ra khủng hoảng tiền tệ
ở Thái Lan với những nhà đầu cơ nổi tiếng như gege sorors với cú đầu cơ bánkhông 10 tỷ USD đã bẻ gãy cột sống đồng bảng Anh 1992 Còn nhớ 15/5/1997hai ngân hàng ở Anh và Hồng Công đã bán không đồng Bạt với hai cú mỗi cú2tỷ USD Ta thấy ngay với 15 cú bán không như vậy đủ làm bay quỹ trừ ngoại
tệ 30 tỷ USD của Thái Lan và NHTW Thái Lan buộc phải thả nổi đồng Bạt sau1,5 tháng và khủng hoảng tiền tệ Đông á đã nổ ra kinh hoàng như thế nào Nhưvậy việc quản lý ngoại hối của mỗi quốc gia là rất cần thiết và quan trọng, đảmbảo cho một quốc gia luôn trong trạng thái có thể thanh toan được với phần cònlại của thế giới và giải quyết các dao động về tỷ giá ngoại hối trong ngắn hạn
đẻ tìm ra các giải pháp tiếp theo, xoay vấn đề theo các biến động loại các biếnđộng xấu tác động xấu vào nền kinh tế nước mình Một quốc gia nếu không cóbiện pháp quản lý ngoại hối tốt sẽ nhanh chóng đưa đất nước đến cuộc khủnghoảng kinh tế trâm trọng suy thoái nền kinh tế trong nước Một trong nhữngnguyên nhân tạo nên cuộc khủng hoảng kinh tế của Achentina thời gian vừaqua là do nghiệp vụ quản lý ngoại hối quá buông lỏng , xác định giá trị đốingoại của đồng tiền không phù hợp với thực tế ,quản lý luồng ngoại tệ ra vàokhông chặt chẽ
Trong quá trình học môn “ Ngân Hàng Trung Ương” , được sự hướng dẫncủa các thầy cô trong bộ môn, em xin được trinh bày tiểu luận môn học với đềtài : “ Nghiệp vụ Quản lý Ngoại hối của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam” Dođây là một vấn đề phức tạp ,mà thời gian nghiên cứu và kiến thức học tập của
em còn hạn chế nên không thể tránh khỏi các thiếu sót Em rất mong được sựnhận xét ,chỉ bảo của các thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô
Hà Nội , Tháng 9/ 2004
Trang 2PHẦN I_ LÝ LUẬN CHUNG
I – TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI
1– Thị trường ngoại hối là gì ?
Hầu hết các nước trên thế giới đều có đồng tiền của nước mình , Mỹ cóđồng Đôla , Nhật có đồng Yên, Thái Lan có đồng Bạt , Ên Độ có đồngRupi,Trung Quốc có đồng Nhân dân tệ, Việt Nam có đồng đơn vị tiền tệ là “Đồng” ký hiệu quốc tế là “VND”
Thương mại phát triển ,việc buôn bán giữa các nước dẫn đến việc trao đổicác đồng tiền khác nhau ( hoặc thông dụng là tiền gửi ngân hàng ghi bằng đồngtiền khác nhau) đồng này đổi lấy đồng kia Khi một hãng Mỹ mua hàng hoá ,dịch vụ hoặc tài sản tài chính của nước ngoài thì USD phải được đổi ra ngoại tệ( tiền gửi ngân hàng ghi bằng ngoại tệ ) Việc mua bán tiền và tiền gửi ngânhàng ghi bằng những đồng tiền riêng biệt được tiến hành trên thị trường ngoạihối ( The Foreign exchange Market FOREX) Các giao dịch tiÕn hành trên thịtrường ngoại hối xác định tỷ giá , theo đó các đồng tiền được đổi với nhau đồngtiền này ra đồng tiền khác, đến lượt mình xác định giá mua hành hoá và tài sảntài chính nước ngoài
Thị trường ngoại hối không được thiết lập tại vị trÝ địa lý hữu hình nhấtđịnh mà nó được định nghĩa như là bất cứ ở đâu diễn ra việc mua bán các đồngtiền khác nhau thì ở đó gọi là thị trường ngoại hối
Thị trường ngoại hối là thị trường có tính toàn cầu
Trang 31.1 Tỷ giá là gì ?
Do các quốc gia trên thế giới , Phần lớn đều có đồng tiền riêng của nướcmình , xu hướng toàn cầu hoá ,tự do hoá thương mại và việc trao đổi các hànghoá cần thiết đòi hỏi các quốc gia phải thanh toán với nhau Các đồng tiền đượcđổi với nhau đồng tiền này ra đồng tiền khác theo một tỷ lệ nhất định gọi là tỷgiá Như vậy: “ Tỷ gía là giá cả của một đòng tiền được biểu thị thông qua mộtđồng tiền khác”
1.2 Các thành viên tham gia trên thị trường Ngoại hối
Về nguyên tắc bất kỳ ai muốn đổi một đồng tiền này ra đồng tiền khác đều trởthành người tham gia vào thị trường Ngoại hối Ở đây chúng ta chỉ tập trungvào những thành viên quan trọng của thị trường này
Các ngân hàng thương mại ( NHTM )
Là nhân vật quan trọng trên thị trường Ngoại hối , tham gia vào thịtrường với tư cách là trung gian cho khách hàng và thực hiện một số giaodịch cho chính mình
Mục tiêu mà NHTM muốn thực hiện trên thị trường ngoại hối là :cung cấp các dịch vụ cho khách hàng của mình một cách có thể
Quản lý trạng thái hối đoái của đồng tiền ở mức độ cần thiết thulợi nhuận cho ngân hàng nhưng vẫn đạt được hai mục tiêu trên
1.3.2 Ngân hàng Trung Ương (NHTW)
Các tổ chức này không chỉ chịu trách nhiệm phát hành đồng tiền của nướcmình và quản lí cung ứng tiền tệ cũng như các mục tiêu khác của chính sáchtiền tệ mà còn phải gánh vác trách nhiệm giữ ổn định tỉ giá giữa đồng bản tệvới các đồng tiền khác Điều này hoàn toàn phù hợp với hệ thống “Tỉ giá hốiđoái cố định “ Nhưng ngay cả trong hệ thống tỉ giá thả nổi , NHTW cũngthường xuyên buộc phải can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm duy trì trật tựcủa thị trường
1.3.3 Nhóm khách hàng mua bán lẽ
Trang 4Bao gồm các công ty đa quốc gia ,các nhà đầu tư quốc tế và tất cả ai có nhucầu mua bán ngoại hối nhằm phục vụ cho hoạt động chính mình chứ khôngnhằm mục đích kinh doanh ngoại hối Thường thường ,nhóm khách hàng muabán lẽ không giao dịch trực tiếp với nhau mà họ thường mua bán qua NHTM 1.3.4 Những nhà môi giới ngoại hối
Thường thì các dao dịch mua bán ngoại hối trực tiếp giữa các ngân hàng vớinhau rất Ýt xảy ra ,các NHTM thường tiến hành mua bán ngoại tệ thông quamôi giới Ngoại hối Các nhà môi giới sẽ thu thập hầu hết các lệnh đặt mua vàlệnh đặt bán ngoại tệ từ các ngân hàng khác nhau trên cơ sở cung cấp tỉ gíachào mua và tỉ giá chào bán cho khách hàng của mình một cách nhanh nhấtvới giá ưu việt nhất
Để được hành nghề môi giới ,các nhà môi giới phải có giấy phép và các nhàmôi giới chỉ cung cấp dịch vô cho khách hàng chứ không mua bán ngoại hốicho chính mình
1.4 Ngoại hối được mua bán như thế nào ?
Bạn không thể đến một nơi tập trung để xem người ta xác định tỉ giá , cácđồng tiền không được mua bán tại các Sở giao dịch như thị trường chứngkhoán Thay vào đó thị trường ngoại hối tổ chức thành một thị trường quatay , tại đó có rất nhiều nhà kinh doanh sẵn sàng mua và bán các khoản tiền gửighi bằng ngoại tệ Các nhà kinh doanh này thường xuyên tiếp xúc với nhaubằng điện thoại và máy tÝnh nên thị trường rất cạnh tranh, thực sự nó hoạtđộng không khác gì trên một thị trường tập trung
Một điều cần chỉ ra là khi các ngân hàng , các công ty và chính phủ nói vềmua và bán tiền trên thị trường ngoại hối ,không phải là họ nắm một nắm giÊybạc đôla và bán lấy tiền giấy bảng Anh ma phần lớn giao dịch là mua và bán
“Tiền gửi ngân hàng ghi bằng các đồng tiền khác nhau như vậy ,khi chóng tanói một ngân hàng nua bán đôla trên thị trường ngoại hối , cái mà chúng ta thực
sự muốn nói là Ngân hàng mua tiền gửi ghi bằng”Đola”
1.5 Chức năng của thị trường ngoai hối
Trang 5Giúp các khách hàng thực hịên các giao dịch Thương mại Quốc Tế Các ngânhàng Thương mại luôn sẵn sàng cung cấp cho khách hàng các dịch vụhoán đổi ngoại tệ.
Giúp chu chuyển vốn tư bản giữa các quốc gia được hiệu quả
Thông qua thị trường ngoại hối , giá trị đối ngoại của tiền tệ được xác địnhmột cách khách quan theo quy luật cung cầu thị trường
Qua thị trường ngoại hối, có thể bảo hiểm cho các khoản thu xuất khẩu cáckhoản thanh toán nhập khẩu , các khoản đầu tư hay đi vay bằng các ngoại tệqua các giao dịch kỳ hạn , quyền chọn , hợp đồng hoái đối
Cơ chế quản lý Ngoại hối
Cơ chế nhà nước thực hiện quản lý Ngoại hối hoàn toàn theo cơ chế này , nhànước thực hiện độc quyền ngoại thương và độc quyền ngoại hối Nhà nước ápdụng các biện pháp hành chính áp đặt nhằm tập trung tất cả các hoạt độngngoại hối vào tay mình Tỷ giá do nhà nước quy định mà các giao dịch ngoạihối phải chấp hành Các tổ chức tham gia hoạt động xuất nhập khẩu nên bị lỗ
do tỷ giá thì sẽ nhà nước cấp bù, ngược lại nếu lãi thì nộp cho nhà nước Cơ chếnày thích hợp trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
Cơ chế quản lý ngoại hối có điều tiết
Trong cơ chế quản lý hoàn toàn, nhà nước áp đặt khống chế thị trường, ngănchặn sự ảnh hưởng từ bên ngoài, chủ động khai thác nguồn vốn bên trong.Nhưng trong nền kinh tế thị trường cách quản lý này không còn phù hợp, nócản trở và gây khó khăn cho nền kinh tế, kìm hãm sự phát triển của thương mại
và gây khó khăn cho các nền kinh tế khác
Để khắc phục sự áp đặt, nhà nước đã tiến hành điều tiết nhưng gần với thịtrường, chỉ kiểm soát ở mức độ nhất định nhằm phát huy tính tích cực của thịtrường và hạn chế những nhược điểm do thị trường gây ra, tạo điều kiện chokinh tế trong nước phát triển và ổn định ngăn chặn ảnh hưởng từ bên ngoài Bằng công cụ tỷ giá, dự trữ ngoại hối và các yếu tố khác mà NHTƯ có thểchủ động điều chỉnh các mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô
Cơ chế tự do Ngoại hối
Trang 6ở các nước phát triển, thị trường hối đoái được quốc tế hoá nên phần lớnthực hiện cơ chế tự do ngoại hối có nghĩa là ngoại hối được tự do lưu thôngtrên thị trường, cân bằng ngoại hối do thị trường quy định mà không có sự canthiệp của nhà nước.
Tỷ giá - giá cả ngoại hối được hình thành theo quy luật cung cầu, phù hợp vớisức mua của đồng tiền trên thi trường
Tỷ giá thả nổi dẫn đến lãi suất, luồng vốn vào và ra hoàn toàn do thị trườngchi phối
Hoạt động Ngoại hối của NHTW
Hoạt động mua bán ngoại hối
Ngân hàng TW tham gia vào hoạt động mua , bán ngoại hối với tư cách làngười can thiệp, giám sát, điều tiết nhưng đồng thời cũng là người mua báncuối cùng Thông qua việc mua bán, NHTW thực hiện giám sát và điều tiết thịtrường theo mục tiêu của chính sách tiền tệ, đồng thời theo dõi diễn biến tỷ giáđồng bảng tệ để chủ động quyết định hoặc phối hợp với ngân hàng TW cácnước khác củng cố sức mua đoòng tiền tệ này hay đồng tiện tệ khác để đảm bảotrật tự trong quan hệ quốc tế có lợi cho mình
Mua bán trên thị trường trong nước
Trên thị trường hối đoái trong nước, NHTW là người mua bán cuối cùng
và chỉ tiến hành mua bán với các ngân hàng thương mại tại hội sở TW của cácNHTM mà không trực tiếp mua bán với các công ty kinh doanh xuất nhậpkhẩu Tỷ giá hối đoái do NHTW công bố, trên thị trường này NHTW có thể sửdụng một phần dự trữ để bán cho NHTM hoặc mua ngoại tệ của các NHTMđưa vào dự trữ Thông qua việc mua bán , NHTW thực hiện cung ứng tiền hoặcrút bớt tiền khỏi lưu thông, trên cơ sở đó ổn định tỷ giá hối đoái của đồng bảntệ
Việc giao dịch mua, bán của NHTW với các NHTM trên thị trường hốiđoái chủ yếu được thực hiện thông qua hệ thống điện thoại, telex, hoặc máytính nối mạng giữa NHTW với các NHTM
Trang 7Trường hợp đặc biệt được quy định, NHTW có thể mua, bán trực tiếp vớikhách hàng không phải là tổ chức tín dụng như các doanh nghiệp, cơ quan hoặccác tổ chức khác.
Mua bán trên thị trường quốc tế
NHTW thực hiện mua bán trên thị trường quốc tế nhằm bảo tồn vàphát triển quỹ dự trữ ngoại hối Qua mua bán ngoại hối có chênh lệch giá sẽmang lại lợi nhuận cho ngân hàng
Trên thị trường ngoại hối, NHTƯ như thành viên bình thường thamgia nên phải tuân thủ các quy tắc của thị trường nhưng phải đảm bảo bảo tồn vàphát triển quỹ dự trữ ngoại hối Nhà Nước
Nghiệp vụ mua bán ngoại hối làm ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối,ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái Như vậy Ngân hàng TW thông qua mua bánngoại hối có thể can thiệp nhằm đặt được tỷ giá mong muốn
Hoạt động quản lý ngoại hối của Ngân hàng TW
Ngoài việc can thiệp bằng cách mua bán ngoại tệ trên thị trường NHTWcòn thực hiện các hoạt động về ngoại hối như :
Quản lý, điều hành thị trường ngoại hối, thị trường ngoại tệ bên ngân hàng,bằng cách đưa ra các quy chế gia nhập thành viên , quy chế hoạt động , quyđịnh giới hạn tỷ giá mua bán ngoại tệ trên thị trường…
Tham gia xây dựng các dự án pháp luật và ban hành các văn bản hướng dẫnthi hành luật về quản ý ngoại hối Ban hành các thông tư hươnngs dẫn cụ thể đểphục vụ cho việc quản lý được thống nhất khi chính phủ ban hành quy chế vềquản lý ngoại hối
Dựa vào luật pháp và điều kiện cụ thể trong từng thời gian, NHTW đưa racác quy định cần thiết đểcấp giấy phép cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân có hoạtđộng ngoại hối hoặc có thể thu hồi giaays phép hoạt động ngoại hối của tổ chức
cá nhân có biểu hiện vi phạm
Kiểm tra , giám sát việc xuất nhập khẩu ngoai hối, kiểm soát các hoạt độngngoại hối của các tổ chức tín dụng
Thực hiện các nhiệm vụ , quyền hạn khác về quản lý ngoại hối
Biên lập cán cân thanh toán
Trang 8Mục đích quản lý Ngoại hối của NHTW.
Điều tiết tỷ giá thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia NHTW thực hiện các biệnpháp nhằm thúc đẩy tập trung các nguồn ngoại hối vào tay mình, để thông qua
đó nhà nước sử dụng một cách hợp lý có hiệu quả cho các nhu cầu phát triểnkinh tế và hoạt động đối ngoại Đồng thời sử dụng chính sách ngoại hối nhưmột công cụ có hiệu lực để thực hiện chính sách tiền tệ, thông qua mua bánngoại hối trên thị trường để can thiệp vào tỷ giá khi cần thiết nhằm ổn định giátrị đối ngoại của đồng tiền, tác động vào lượng tiền cung ứng
Bảo tồn quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nước
NHTW là cơ quan quản lý tài sản quốc gia, bởi thế nó phải quản lý dự trữngoại hối nhà nước nhưng không chỉ bảo quản và cất giữ mà còn biết sử dụng
để phục vụ đầu tư phát triển kinh tế, luôn bảo đảm an toàn không bị rủi ro về tỷgiá ngoại tệ trên thị trường quốc tế Do vậy NHTW cần phải mua bán chuyểnđổi để phát triển, chống thất thoát sói mòn quỹ dự trữ ngoại hối của nhà nước,bảo vệ độc lập chủ quyền về tiền tệ
Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
Cán cân thanh toán quốc tế thể hiện quan hệ thu, chi quốc tế của một nướcvới nước ngoài Cán cân thanh toán phản ánh đầy đủ những xu hướng cung vàcầu về ngaọi tệ trong các giao dịch quốc tế nên có tác động lớn đến tỷ giá hốiđoái của đồng tiền
Khi cán cân thanh toán quốc tế bội thu, tỷ giá sẽ vận động theo xu hướnggiảm và ngược lại khi cán cân thanh toán bội chi tỷ giá sẽ có xu hướng tăng.Nếu không có sự can thiệp của NHTW tỷ giá sẽ tăng hoặc giảm theo cung cầuthị trường ngoại hối trên thị trường Tuy nhiên ởnhiều nước, NHTW đống vaitrò điều tiết tỷ giá để thực hiện mục tiêu của chính sách kinh tế Nếu NHTWmuốn ổn định tỷ giá thì NHTW hoặc là mua vào sổ ngoại tệ từ nước ngoàichuyển vào trong nước làm cho quỹ dự trữ ngoại hối sẽ tăng lên tương ứnghoặc NHTW sẽ bán ngoại tệ ra để đáp ứng nhu cầu của thị trường khi có luồngngoại tệ chảy ra nước ngoài, quỹ dự trữ ngoại hối sẽ giảm tương ứng
Trang 9PHẦN II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NHNN VIỆT NAM
I – quản lý ngoại hối của nhnn việt nam trước khi luật ngân hàng được thực hiện.
Thời gian trước năm 1989
Trong thời gian này nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn ,trở ngại nước
ta còn mang đậm dấu Ên của nền kinh tế hoạch hoá tập trung ,với chế độ nhànước nắm độc quyền ngoại thương và ngoại hối Mọi nguồn thu chi ngoại tệđều tập trung vào nhà nước, chỉ có các doanh nghiệp quốc doanh mới đượcphép tham gia xuát nhập khẩu hàng hoá theo tỷ giá Ên định dẫn đến hiện tượngthu bù chênh lệch ngoại thương Doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu nếuthu > chi thì phải nộp nhà nước phần chênh lêch , ngựơc lại chi > thu thì sẽđược nhà nước cấp bù Nhà nước áp dụng chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ giáđồng thời can thiệp trực tiếp và xác định tỷ giá lại không phản ánh quan hệcung cầu ngoại hối trên thị trường quan hệ thanh toán giữa các nước XHCNtheo tỷ giá mậu dịch và tỷ giá phi mậu dịch Tỷ giá mậu dịch áp dụng cho cácquan hệ thanh toán xuất nhập khẩu hàng hoá và cả chi phí liên quan đến xuấtnhập khẩu hàng hoá Tỷ giá phi mậu dịch áp dụng cho các quan hệ thanh toán
Trang 10không phải là hàng hoá Việc hoạch toán tỷ giá giữa đồng việt nam với ngoại tệcủa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì đựơc áp dụng tỷ giá kết toán nội bộ,đây là loại tỷ giá dùng làm căn cứ bù lỗ cho các xí nghiệp xuất khẩu có giáthành sản phẩm quá cao, nếu thanh toán theo tỷ giá mậu dịch thì không thể chịunổi những khoản lỗ quá lớn Ngược lại thì đây cũng là tỷ giá dùng làm căn cứ
để xác định mức thu của các doanh nghiệp mà nhờ tỷ giá đã có thu nhập caohơn ( Tỷ giá thu bù chênh lệch ngoại thương )
2- Thời gian từ 1989 đến 1997
Từ 1989 nnhà nước có chủ chương và giải pháp đổi mới trong quan hệ kinh
tế đối ngoại và trong chính sách tỷ giá Tháng 3 năm 1989 nhà nước ta đã ápdụng tỷ giá được điều chỉnh thường xuyên gần sát với tỷ gía thị trường Tiếp đóNHNN Việt Nam thành lập hai trung tâm giao dịch hối đoái ở Thành phố HồChí Minh và Hà Nội để làm thí điểm cho việc tiến tới thành lập một thị trườnghối đoái trong cả nước, thành lập và tổ chức hoạt động thị trường ngoại tệ liênNgân hàng
Cuối tháng 7-1989 tại NHNNTW ban lãnh đạo NHNN quyết định thành lập
tổ cải tiến cơ chế do vụ trưởng vụ chế độ làm thường trực Đến ngày 11-4-1990thường vụ hội đồng bộ trưởng nghe NHNN trình bầy pháp lệnh về Ngân hàng
và đi đến kết luận “ cho nhập phần ngoại hối vào pháp lệnh NHNN.”
Đây là giai đoạn đầu tiên thực hiện cải cách chế độ và hệ thống tỷ giá ởnước ta Tỷ giá được vận hành theo cơ chế thị trường góp phần làm cho hệthống giá cả chung vận hành đúng như cơ chế thị trường đòi hỏi
Tuy nhiên trong giai đoạn này dự trữ ngoại tệ của NHNN chỉ đủ cung cấpcho việc nhập khẩu trong 7 ngày Vì chỉ có một số nhỏ ngoại tệ tự do chuyểnđổi ,phần lớn là đồng Rúp của liên bang Nga Cán cân thương mại và cán cânthanh toán quốc tế thâm hụt trầm trọng NHNN đã phải từng bước đưa dần tỷgiá lên ( phá giá từ từ VNĐ ) năm 1989 đã điều chỉnh giá đồng việt nam lên43% trong khi tỷ lệ lạm phát là 176%, hai con số này tương đối phù hợp
Giai đoạn từ 1991 đến 1997
Trong giai đoạn này, nước ta chịu sức Ðp vô cùng khó khăn trên phươngdiện thanh toán quốc tế Hầu hết các nước XHCN cũ có quan hệ thanh toán với
Trang 11việt nam đều đồng loạt chuyển sang thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi
cả quan hệ mậu dịch và phi mậu dịch, trong khi đó nguồn thu ngoại tệ từ trướccủa việt nam phần lớn bằng đồng Rúp chuyển nhượng Điều này làm cho cáncân thanh toán quốc tế và cán cân thương mại của việt nam thâm hụt nặng nề( nhập khẩu gấp ba lần xuất khẩu )
Với sự tham mưu của NHNN, chính phủ đã ban hành văn bản quản lí ngoạihối trong đó có một số biến đổi cơ bản nhằm khuyến khích mọi ngoại tệ chuyểnvào Việt Nam, khuyến khích các nguồn ngoại tệ trong nước chuyển vào ngânhàng để tập trung cho phát triển đất nước
Thành lập quỹ điều hoà ngoại tệ tại NHNN để tập trung đáp ứng nhu cần thiếtyếu của nền kinh tế trong những giai đoạn đầu còn khó khăn và can thiệp thịtrường để ổn định tỉ giá
Từ 1991đến 1993 NHNN kiên trì quan điểm ổn định tỉ giá và tạo lòng tin chodân chúng vào sự ổn định của VNĐ cũng như ônr định thị trường đã thu hútđược nguồn ngoại tệ lớn từ hiếu hối và từ đầu tư nứơc ngoài Việc ổn định tỉgiá còn ảnh hưởng tốt đến mặt bằng giá cả trong nước ,chỉ số lạm phát đượcduy trì ở mức độ chấp nhận được và có chiều hướng đi xuống, dần dần đã tạođược môi trường ổn định trong phát triển kinh tế
Tháng 10 năm 1994 thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng đã chính thức ra đờivới số lượng thành viên tham gia đầu tiên là 24 NHTM trong đó NHNN thựchiện vai trò người tham gia cuối cùng trong ngày tỉ giá ở thị trường liên ngânhàng được hình thành theo sự thoả thuận giữa các thành viên tham gia giaodich trên thị trường theo quan hệ cung cầu ngoại tệ, chấm dứt cơ chế đông cứng
tỉ giá từ năm 1993
Trong năm 1996 tỉ giá tương đối ổn định , NHNN đã điều chỉnh phạm vibiên độ Ên địnhtỉ giá mua, bán ngoại tệ trên thị trường Thị trường ngoại tệ liênngân hàng chủ yếu do ngân hàng Ngoại thương chi phối, ngân hàng này nắmgiữ tới 40% thi phần tiền dư ngoại tệ và có thể tham gia tới 90% lượng giaodịch trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Quyết định số 311/QĐ-NH7 ngày21/11/1996
NHNN mở biên độ dao động của tỉ giá chính thức từ 0,5 % lên 1%
Trang 12Những tháng đầu năm 1997 NHNN đã tăng biên độ giao dịch lên ± 5% rồi
±10% nhằm thực hiện điều chỉnh tỉ giá một cách linh hoạt đáp ứng quan hệcung cầu trên thị trường, phản ánh sức mua của đồng VN, tạo điều kiện chủđộng cho giao dịch của các thành viên trên thị trường ngoại hối
Trong năm, NHNN đã tăng cường nhiều biện pháp trong lĩnh vức quản língoại hối như tăng cường biện pháp quản lí nợ nước ngoài NHNN thực hiệnnhiệm vụ xây dựng tổng hạn mức vay và trả nợ nước ngoài theo phương thức
tự vay, trả nự của các doanh nghiệp Việc xét duyệt các dự án vay, trả nự nướcngoài cho các doanh nghiệp đã nằm trong khuôn khổ tổng hạn mức vay, trả nợnước ngoài của các doanh nghiệp được chính phủ phê duyệt Ban hành thông tưhướng dẫn về quản lí ngoại hối đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài, vé bên nước ngoài tham gia hợp đồng, hợp tác kinh doanh
tệ nên mặc dầu các nước trong khu vức Đông Nam á đang trải qua cuộc khủnghoảng tiền tệ nhưng Việt Nam vẫn quản lí và điều hành một cách chủ động tiền
Trang 13Trong luật này NHNN ban hành các quy chế quản lí ngoại hối được xem nhưmột khung pháp lí hoàn thiện để điều chỉnh các quan hệ giao dịch liên quanđến ngoại hối Viêc mua bán, thanh toán chuyển nhượng cho vay bằng ngoại tệdưới mọi hình thức nhằm quản lí lượng ngoại tệ lưu thông trên thị trường từngbước tạo lập tiền tệ cần thiết để thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng ViẹtNam trong các giao dịch về ngoại tệ
Quýet định số 37-1998/QĐ-TTg ngày 14-2-1998 của thủ tướng chính phủ vềmột số biện pháp quản lí ngoại tệ
Nghị định số 63-1998 /QĐ-CP ngày 17-8-1998của chính phủ về quản lí ngoạihối
Quyết định số 173-1998/QĐ-TTg ngày 12-9-1998 của thủ tướng chính phủ vềnghĩa vụ bán và mua ngoại tệ của người cư trú là tổ chức
Thông tư số 08-1998 /TT-NHNN7 ngày 30 –9-1998 của NHNN Việt Namhướng dẫn thi hành quyết định số 137-1998/QĐ-TTg ngày 12-9-1998
Và rất nhiều các quyết định ,thông tư hướng dẫn thi hành tạo điều kiện choviệc quản lí ngoại hối của NHNN ngày càng chặt chẽ với sự biến đổi của cơchế thị trường
Năm 1999 NHNN đã điều chỉnh tỉ lệ kết hốitừ 80% từ nguồn thu vãng laixuống 50%.Thực hiện đổi mới cơ bản về điều hành tỉ giá từ quản lí có tính chấthành chính sang điều hành theo hướng thị trường có sự quản lí của nhànước Công bố tỉ giá giao dich bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngânhàng thay cho công bố tỉ giá chính thức tỉ gía này áp dụng làm cơ sở để cácTCTD quyết định tỉ giá giao dịch không vượt quá 0,1% so với tỉ giá này Chính sách tiền tệ và cơ chế quản lí ngoại hối thay đổi đã dẫn đến tình trạngđôla hoá ở nước ta thực sự bùng nổ từ năm 2000 Đôla hoá không chỉ diễn ra ởkhu vực Tiền gửi tiết kiệm của dân cư mà còn xuất hiện ở các tổ chức kinh tế
xã hội.Tiền gửi của tổ chức kinh tế xã hội tăng mạnh không phải là do lãi suấthuy động USD trong năm 2000 tăng cao bởi lãi suất USD NH trả cho các tổchức kinh tế gửi tại mình bị ràng buộc bởi trần lãi suất quy định cua NHNN(2) Nguyên nhân chính là do các công (2) Quyết định số 309 QD-NHNN1 quyđịnh trần lãi suất tiền quỹ USD củaTCKT xã hội tại các NH : không kỳ hạn :