1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng và nguyên nhân lạm phát của nền kinh tế trung quốc

38 341 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 278 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn định giá cả 2.CÁCH ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT Lạm phát 1 được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá

Trang 1

PHẦN I: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.ĐỊNH NGHĨA VỀ LẠM PHÁT

Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khỏc thỡ lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thông thường khi nói tới theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu nó là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn khi hiểu theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu nó như là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu Ngược lại với lạm phát là giảm phát Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn định giá cả

2.CÁCH ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT

Lạm phát 1 được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế (thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh cũng làm việc này) Các giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ

được tổ hợp với nhau để đưa ra một chỉ số giá cả để đo mức giá cả trung bình, là

mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này; để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo kíchthước của một quả cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của nó

Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ sốnày phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện Các phép đo phổbiến của chỉ số lạm phát bao gồm:

Chỉ số giá sinh hoạt (viết tắt tiếng Anh là: CLI) là sự tăng trên lý thuyết

trong giá cả sinh hoạt của một cá nhân, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đượcgiả định một cách xấp xỉ Các nhà kinh tế học tranh luận với nhau là có hay không việc một CPI cụ thể nào đó là cao hay thấp hơn so với CLI dự tính Điều này được xem như là "sự thiên lệch" trong phạm vi CPI CLI có thể được điều chỉnh bởi "sự ngang giá sức mua" để phản ánh những khác biệt trong các giá cả của đất đai hay các hàng hóa khác trong khu vực (chúng dao động một cách rất lớn từ các giá cả thếgiới nói chung)

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): đo giá cả của một sự lựa chọn các hàng hóa hay

được mua bởi "người tiêu dùng thông thường" Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát thông thường hay được nhắc tới Các phép đo này thông thường được sử dụng trong

Trang 2

việc chuyển trả lương, do những người lao động mong muốn có khoản chi trả (danhđịnh) tăng ít nhất là bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tăng của CPI Đôi khi, các hợp đồng lao động bao gồm cả các điều chỉnh giá cả sinh hoạt, nó ngụ ý là khoản chi trả danh định sẽ tự động tăng lên theo sự tăng của CPI, thông thường với một tỷ lệ chậm hơn

so với lạm phát thực tế (và cũng chỉ sau khi lạm phát đã xảy ra)

Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được Nó

khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất là không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán Ở đây cũng có một sự chậm trễ điển hình giữa sự tăng trong PPI và bất

kỳ sự tăng phát sinh nào bởi nó trong CPI Rất nhiều người tin rằng điều này cho phép một dự đoán gần đúng và có khuynh hướng của lạm phát CPI "ngày mai" dựa trên lạm phát PPI ngày "hôm nay", mặc dù thành phần của các chỉ số là khác nhau; một trong những sự khác biệt quan trọng phải tính đến là các dịch vụ

Chỉ số giá bán buôn đo sự thay đổi trong giá cả của một sự lựa chọn các

hàng hóa bán buôn (thông thường là trước khi bỏn cú thuế) Chỉ số này rất giống với PPI

Chỉ số giá hàng hóa đo sự thay đổi trong giá cả của một sự lựa chọn các

hàng hóa Trong trường hợp bản vị vàng thì hàng hóa duy nhất được sử dụng là vàng Khi nước Mỹ sử dụng bản vị lưỡng kim thì chỉ số này bao gồm cả vàng và bạc

Chỉ số giảm phát GDP dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩm quốc nội:

Nó dựa trên tỷ lệ của tổng giá trị tiền được tiêu vào GDP (GDP danh định) với phép

đo GDP đã điều chỉnh lạm phát (giá cố định hay GDP thực) Nó là phép đo mức giá

cả được sử dụng rộng rãi nhất Cỏc phộp khử lạm phát cũng tính toán các thành phần của GDP như chi phí tiêu dùng cá nhân Tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang đã chuyển sang sử dụng khử lạm phát tiêu dùng cá nhân và cỏc phộp khử lạm phát khác để tính toán các chính sách kiềm chế lạm phát của mình

3.PHÂN LOẠI LẠM PHÁT THEO MỨC ĐỘ

Để phân loại lạm phát ,các nhà kinh tế chủ yếu dựa vào mức độ của lạm

Siêu lạm phát : Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng

giá cả tăng nhanh chóng khi tiền tệ mất giá trị Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát được chấp nhận phổ biến Một định nghĩa đơn giản là chỉ số lạm phát

Trang 3

hàng tháng từ 50% trở lên (nghĩa là cứ 51 ngày thì giá cả lại tăng gấp đôi) Theo Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế , có bốn tiêu chí để xác định siêu lạm phát, đó là: (1) người dân không muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền; (2) giá cả hàng hóa trong nước không còn tính bằng nội tệ nữa mà bằng một ngoại tệ ổn định; (3) các khoản tín dụng sẽ tính cả mức mất giá cho dù thời gian tín dụng là rất ngắn; và (4) lãi suất,tiền công và giá cả được gắn với chỉ số giá và tỷ lệ lạm phát cộng dồn trong ba năm lên tới 100 phần trăm

4.VAI TRề CỦA LẠM PHÁT ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ

4.1 NHỮNG HIỆU ỨNG TIÊU CỰC:

Lạm phát dự kiến: trong trường hợp lạm phát có thể được dự kiến trước thỡ cỏc thực thể tham gia vào nền kinh tế có thể chủ động ứng phó với nó, tuy vậy nó vẫn gây ra những tổn thất cho xã hội:

Chi phí mòn giày: lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào người giữ tiền và lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát làm cho người ta giữ ít tiền hơn hay làm giảm cầu về tiền Khi đó họ cần phải thường xuyên đến ngân hàng để rút tiền hơn Các nhà kinh tế đó dựng thuật ngữ "chi phí mòn giày" để chỉ những tổn thất phát sinh do sự bất tiện cũng như thời gian tiêu tốn mà người ta phải hứng chịu nhiều hơn so với không có lạm phát

Chi phí thực đơn: lạm phát thường sẽ dẫn đến giá cả tăng lên, các doanh nghiệp sẽ mất thêm chi phí để in ấn, phát hành bảng giá sản phẩm

Làm thay đổi giá tương đối một cách không mong muốn: trong trường hợp do lạm phát doanh nghiệp này tăng giá (và đương nhiên phát sinh chi phí thực đơn) còn doanh nghiệp khác lại không tăng giá do không muốn phát sinh chi phí thực đơn thì giá cả của doanh nghiệp giữ nguyên giá sẽ trở nên rẻ tương đối so với doanh nghiệptăng giá Do nền kinh tế thị trường phân bổ nguồn lực dựa trên giá tương đối nên lạm phát đã dẫn đến tình trạng kém hiệu quả xột trờn góc độ vi mô

Lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân trái với ý muốn củangười làm luật do một số luật thuế không tính đến ảnh hưởng của lạm phát Ví dụ: trong trường hợp thu nhập thực tế của cá nhân không thay đổi nhưng thu nhập danh nghĩa tăng do lạm phát thì cá nhân phải nộp thuế thu nhập trên cả phần chênh lệch giữa thu nhập danh nghĩa và thu nhập thực tế

Lạm phát gây ra sự nhầm lẫn, bất tiện: đồng tiền được sử dụng để làm thước đo trong tính toán các giao dịch kinh tế, khi có lạm phát cái thước này co giãn và vì vậy các cá nhân khó khăn hơn trong việc ra các quyết định của mình

Lạm phát không dự kiến: đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vỡ nú phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán Các hợp đồng, cam kết tín dụng thường được lập trên lãi suất danh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự kiến người

đi vay được hưởng lợi còn người cho vay bị thiệt hại, khi lạm phát thấp hơn dự kiến

Trang 4

người cho vay sẽ được lợi còn người đi vay chịu thiệt hại Lạm phát không dự kiến thường ở mức cao hoặc siêu lạm phát nên tác động của nó rất lớn.

Các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về quy mô của các tác động tiêu cực của lạm phát, thậm chí nhiều nhà kinh tế cho rằng tổn thất do lạm phát gây ra là không đáng kể và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mức vừa phải Khi lạm phát biến động mạnh, tác động xã hội của nó thông qua việc phânphối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán rõ ràng là rất lớn và do vậy chính phủ của tất cả các nước đều tìm cách chống lại loại lạm phát này

4.2 NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC

Bên cạnh những tác động tiêu cực như đã đề cập ở trờn,lạm phỏt ở mức độ vừa phải chấp nhận được lại có những tác động tích cực cho nền kinh tế Với tốc độ lạm phát vừa phải nó kích thích nền sản xuất hàng hóa trong nước tăng trưởng đáp ứng kịp thời nhu cầu thiếu hụt hàng hóa trong dân cư Ở tốc độ này ,hàng hóa ,sản phẩm trở lên tương đối ít so với nhu cầu của thị trường vì vậy nó là 1 động lực thúc đẩy các nhà sản xuất mở rộng sản xuất, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ ,kĩ thuật

để tăng sản lượng đáp ứng cho thị trường đồng thời cũng là tìm kiếm lợi nhuận ,mở rộng thị trường cho bản thân doanh nghiệp

5.NGUYấN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT

-LẠM PHÁT DO CẦC KẫO:

Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát Điều này có thể giải thích qua sơ đồ AD-AS Đường AD dịch sang phải trong khi đường AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá và sản lượng cùng tăng

Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng cung, người

ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên để đáp ứng Do đó có lạm phát

-LẠM PHÁT DO CẦU THAY ĐỔI:

Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chấtcứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên, nghĩa là lạm phát

-LẠM PHÁT DO CHI PHÍ ĐẨY

Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí sản xuất của các xí nghiệp tăng Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng

-LẠM PHÁT DO NHẬP KHẨU:

Trang 5

Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà phải nhập khẩu Khi giá nhập khẩu tăng (do nhà cung cấp nước ngoài tăng giá như trong trường OPEC quyết địnhtăng giá dầu, hay do đồng tiền trong nước xuống giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên.-LẠM PHÁT DO XUẤT KHẨU:

Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huyđộng cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng

-LẠM PHÁT DO CƠ CẤU:

Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm Lạm phát nảy sinh vì điều đó-LẠM PHÁT TIỀN TỆ:

Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát

-LẠM PHÁT ĐẺ RA LẠM PHÁT:

Khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự tính duy lý sẽ cho rằng tới đây giá cả hàng hóa sẽ còn tăng, nên đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại Tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung, gây ra lạm phát

6.NHỮNG BIỆN PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT:

Kiềm chế lạm phát còn gọi là giảm lạm phát Có một loạt các phương thức để

kiềm chế lạm phát Các ngân hàng trung ương như Cục dự trữ liên bang Mỹ có thể tác động đến lạm phát ở một mức độ đáng kể thông qua việc thiết lập các lãi suất vàthông qua các hoạt động khác (ví dụ: sử dụng các chính sách tiền tệ) Các lãi suất cao (và sự tăng chậm của cung ứng tiền tệ) là cách thức truyền thống để các ngân hàng trung ương kiềm chế lạm phát, sử dụng thất nghiệp và suy giảm sản xuất để hạn chế tăng giá

Tuy nhiên, các ngân hàng trung ương xem xét các phương thức kiểm soát lạm phát rất khác nhau Ví dụ, một số ngân hàng theo dõi chỉ tiêu lạm phát một cách cânxứng trong khi các ngân hàng khác chỉ kiểm soát lạm phát khi nó ở mức cao

Những người theo chủ nghĩa tiền tệ nhấn mạnh việc tăng lãi suất bằng cách giảm cung tiền thông qua các chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát Những người theo học thuyết Keynes nhấn mạnh việc giảm cầu nói chung, thông thường là thông qua các chính sách tài chính để giảm nhu cầu Họ cũng lưu ý đến vai trò của chính sách

Trang 6

tiền tệ, cụ thể là đối với lạm phát của các hàng hóa cơ bản từ các công trình nghiên cứu của Robert Solow Các nhà kinh tế học trọng cung chủ trương kiềm chế lạmphát bằng cách ấn định tỷ giá hối đoái giữa tiền tệ và một số đơn vị tiền tệ tham chiếu ổn định như vàng, hay bằng cách giảm thuế suất giới hạn trong chế độ tỷ giá thả nổi để khuyến khích tích lũy vốn Tất cả các chính sách này đã được thực hiện trong thực tế thông qua các tiến trình nghiệp vụ thị trường mở.

Một phương pháp khỏc đó thử là chỉ đơn giản thiết lập lương và kiểm soát giá cả (xem thờm "Cỏc chính sách thu nhập") Ví dụ, nú đó được thử tại Mỹ trong những năm đầu thập niên 1970 (dưới thời tổng thống Nixon) Một trong những vấn đề chính với việc kiểm soát này là nó được sử dụng vào thời gian mà các biện pháp kích "cầu" được áp dụng, vì thế các giới hạn phía cung (sự kiểm soát, sản xuất tiềm năng) đã mâu thuẫn với sự tăng trưởng của "cầu" Nói chung, phần lớn các nhà kinh

tế coi việc kiểm soát giá là phản tác dụng khi nó có xu hướng làm lệch lạc các hoạt động của nền kinh tế vỡ nú làm gia tăng thiếu thốn, giảm chất lượng sản phẩm v.v Tuy nhiên, cái giá phải trả này có thể là "đáng giá" nếu nó ngăn chặn được sự đình đốn sản xuất nghiêm trọng, là điều có thể có đắt giá hơn, hay trong trường hợp để kiểm soát lạm phát trong thời gian chiến tranh

Trên thực tế, việc kiểm soát có thể bổ sung cho đình đốn sản xuất như là một cách

để kiềm chế lạm phát: Việc kiểm soát làm cho đình đốn sản xuất có hiệu quả hơn như là một cách chống lạm phát (làm giảm sự cần thiết phải tăng thất nghiệp), trongkhi sự đình đốn sản xuất ngăn cản các loại hình lệch lạc mà việc kiểm soát gây ra khi "cầu" là cao

Trang 7

PHẦN II : SƠ LƯỢC VỀ NỀN KINH TẾ TRUNG QUỐC:

và bằng chứng là tốc độ tăng trưởng kinh tế ,mức thu nhập của người dân trong thờigian gần đõy…

Trung Quốc là một đất nước có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội

Người TQ xưa nay nổi tiếng với tài buôn bán ,giao thương trên khắp thế giới.Thế giới

không thể quên được con đường tơ lụa đi xuyên qua xa mạc để vươn tới các quốc gia xa xôi tạo nên tên tuổi cho vải ,lụa của TQ.Cũng giống như tổ tiên mình trước đây người TQ bây giờ cũng có mặt khắp nơi trên thế giới cùng với hàng hoá ,sản phẩm của mỡnh Họ cũn có tham vọng xây dựng một nền kinh tế hàng đầu thế giới

và bằng chứng là tốc độ tăng trưởng kinh tế ,mức thu nhập của người dân trong thờigian gần đõy…

Trung Quốc là một đất nước có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội

Với diện tích rộng lớn trải dài qua nhiều vĩ tuyến tạo nên những kiểu khí hậu vô cùng đa dạng cộng với thẩm thực vật phong phú ,những đàn gia súc đầy đủ so với các kiểu khí hậu tương ứng là cơ sở cho các ngành chế biến,thực phẩm phát triển Hơn nữa , địa hình đạ dạng như vậy cũng tạo nên những khu vực có nhiều tài nguyên khoáng sản như quạng sắt,nhụm, niken Trong thời gian gần đây các ngànhkhai khoáng của TQ khá phát triển Ý nghĩa sâu xa hơn của nó là cơ sở để cho các ngành công nghiệp nặng phát triển như luyện kim,hoỏ chất…

Trung Quốc là đất nước đông dân nhất thế giới với số dân là gần 1;3 tỷ người, đây là thị trường tiêu thụ rộng lớn , là điều kiện để phát triển thị trường hàng hoá Người TQ nổi tiếng là thông minh ,chăm chỉ đặc biệt là rất có chí tiến thủ trong cụng việc.Vỡ vậy tuy chỉ mới đổi mới trong thời gian ngắn nhưng tác phong làm việc của họ đã rất thay đổi dẫn đến hiệu quả công việc cao

Với những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế cùng với việc những chính sách điều hành của chính phủ,nền kinh tế TQ phát triển khá toàn diên và thu được những thành tựa rực rỡ:

Trang 8

Từ năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã theo đuổi một chiến lược phát

triển công nghiệp nặng xã hội chủ nghĩa (hay chiến lược Cỳ hớch Lớn theo cách gọi

của kinh tế học) Ưu tiên công nghiệp hóa đồng thời triệt để tiết giảm tiêu dùng theochính sách "thắt lưng buộc bụng" để xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính phủ đã giữ quyền kiểm soát một phần lớn nền kinh tế và chuyển các nguồn lực sang xây dựng các nhà máy Nhiều ngành mới đã được tạo lập Kinh tế tăng trưởng mạnh.Việc kiểm soát chặt ngân sách và cung tiền tệ đã làm giảm lạm phátcuối năm 1950 Năm 1952, tổng sản lượng công nghiệp của Trung Quốc ước tính là 34.900 triệu Nhân dân tệtheo tỷ giá hối đoái thực tế, nghĩa là bằng 3% tổng sản lượng công nghiệp thế giới lúc đó và gấp 1,5 lần của Nhật Bản và Ấn Độ theo giá trị tuyệt đối (không theo giá trị bình quân đầu người)

Tuy nhiên, trong khoảng giữa thập niên 1950 (năm 1957), những chính sách đầy tham vọng của Mao Trạch Đông về Đại nhảy vọt nhằm tập trung hóa sản xuất tại cỏc vựng nông thôn, sự chấm dứt viện trợ tái thiết và phát triển từ phớa Liờn Xụ, sựthô sơ của hệ thống quản lý sản xuất, sự tàn phá của thiên tai đã khiến nền kinh tế lâm vào nguy ngập, nạn đói Hậu quả là trên 20 -30 triệu người đã chết vì những nguyên nhân phi tự nhiên

Trong thập niên tiếp theo, tăng trưởng kinh tế bắt đầu diễn ra mạnh mẽ theo những cải tổ từng bước từ phía chính quyền trung ương GDP bình quân đầu người vào thời điểm đótăng trưởng từ tốc độ không đáng kể vào thập niên 1960 lên 70% vào thập niên 1970; Trung Quốc đã vượt qua Ấn Độ và đạt được tốc độ tăng trưởng đáng kể 63% vào thập niên 1980 và đạt đỉnh điểm với mức 175% vào thập niên

1990 Tuy nhiên, sự thịnh vượng của Trung Quốc vẫn tập trung vào các tỉnh duyên hải và các tỉnh phía Nam Trong những năm gần đây, Chính phủ Trung Quốc đó cú cỏc nỗ lực trong việc mở rộng sự phát triển đến các tỉnh ở sâu trong nội địa và vùng Đông Bắc

Vào thập niên 1980, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã cố gắng kết hợp các cải tổ

kế hoạch hóa tập trung với định hướng thị trường để tăng năng suất, mức sống và chất lượng công nghệ mà không làm tăng lạm phát, thất nghiệp, và thâm hụt ngân sách Chính phủ đã theo đuổi chính sách cải cách nông nghiệp, xóa bỏ chế độ công

xã và áp dụng chế độ khoán đến hộ gia đình, cho người nông dân quyền quyết định lớn hơn trong nghề nông, đồng thời cũng khuyến khích các ngành phi nông nghiệp như các xí nghiệp hương trấn ở vùng nông thôn, tăng cường quyền tự chủ trong các doanh nghiệp quốc doanh, tăng tính cạnh tranh trên thị trường và tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc giữa các doanh nghiệp Trung Hoa đại lục với các doanh nghiệp thương mại nước ngoài Trung Quốc cũng dựa nhiều hơn vào các nguồn tài chính nước ngoài và nhập khẩu

Trong thập niên 1980, các cải cách này đó giỳp cho sản lượng nông nghiệp và công nghiệp hàng năm đạt tốc độ tăng trưởng lên tới 10% hay hơn Thu nhập thực

Trang 9

tế bình quân đầu người ở nông thôn đã tăng gấp đôi Ngành công nghiệp đã đạt được thành tựu lớn đặc biệt ở các khu vực duyên hải gần Hồng Kụng và khu vực đối diện với eo biển Đài Loan, những nơi mà vốn đầu tư nước ngoài đó giỳp thúc đẩy sản lượng của cả hàng hóa nội địa và hàng xuất khẩu Trung Quốc đã trở thành một nước tự túc được về ngũ cốc; các ngành công nghiệp ở nông thôn đã chiếm 23% sản lượng nông nghiệp, giúp thu hút lực lượng lao động ở vùng quê Lượng hàng tiêu dùng và công nghiệp nhẹ đã tăng lên Các cuộc cải cách đã được bắt đầu trong các hệ thống tài chính công, tài chính, ngân hàng, định giá và lao động.

Về mặt trái của nền kinh tế thị trường mang màu sắc Trung Quốc, sự lãnh đạo theo chế độ hỗn hợp đã khiến nền kinh tế phải hứng chịu những kết quả tồi tệ nhất

do các hạn chế của mô hình xã hội chủ nghĩa (sự quan liêu, mệt mỏi, tha hóa chính trị, không tôn trọng quyền sở hữu tư nhân) và các mặt trái của chủ nghĩa tư bản (thunhập bất thường, phân hóa giàu nghèo, lạm phát tăng cao) gây ra Do đó, Bắc Kinh

đã quay về đường lối cũ, tái thắt chặt kiểm soát của Trung ương trong những

khoảng thời gian nhất định Cuối năm 1988 để đối phó một làn sóng lạm phát do các cải tổ về giá gia tăng gây ra, chính quyền đã áp dụng một chương trình khắc khổ Kinh tế Trung Quốc đã lấy lại được động lực vào đầu thập niên 1990 Chuyến thăm đầu năm Mới của Đặng Tiểu Bình đến miền Nam Trung Quốc năm 1992 đã mang lại cho các cải cách kinh tế một động lực mới Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 14 diễn ra vào cuối năm đú đó ủng hộ các biện pháp thúc đẩy đổi mới của chính sách cải cách thị trường, nêu lên nhiệm vụ trọng tâm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thập niên 1990 là tạo ra một nền "kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa" Việc duy trì tính liên tục của chế độ chính trị cũ nhưng lại cải cách táo bạo hơn về chế độ kinh tế đã được Đại hội lần thứ 14 công bố là đặc điểm của kế hoạch

10 năm trong thập niên 1990

Trong năm 1993, sản lượng của cải vật chất tăng nhanh và giá cả leo thang, đầu tưbên ngoài ngân sách Nhà nước tăng vọt cùng với sự mở mang kinh tế đã được kích thích từ việc thành lập các đặc khu kinh tế, chúng cũng tạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế do có dòng chảy lớn của vốn đầu tư nước ngoài vào cácđặc khu kinh tế này Bắc Kinh đã phê chuẩn thêm những cải tổ dài hạn với mục tiêu

để cho các thể chế định hướng thị trường có nhiều vai trò hơn đối với nền kinh tế vàmục tiêu tăng cường kiểm soát hệ thống tài chính; các doanh nghiệp quốc doanh sẽ tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong nhiều ngành then chốt, theo một mô hình được gọi là một nền "kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa" Chính phủ Cộng hòa Nhân dânTrung Hoa đã thu hồi các khoản vay đầu cơ, tăng lãi suất và đánh giá lại các dự án đầu tư Tốc độ tăng trưởng nhờ đó đã được làm dịu lại và tỷ lệ lạm phát giảm từ hơn17% năm 1995 xuống còn 8% đầu năm 1996 Cuối thập niên 1990, nền kinh tế Trung quốc đã chịu ảnh hưởng một phần của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á, với tốc độ tăng trưởng chính thức 7,8% trong năm 1998, và 7,1% trong năm 1999

Trang 10

Tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung quốc lại tăng tốc một lần nữa trong đầu thế kỷ mới, đạt mức 9,1% năm 2003, 9,5% năm 2004 và 9,8% năm 2005.

Tháng 12 năm 2005, Tổng cục Thống kê Trung Quốc đã hiệu chỉnh tăng GDP danh nghĩa năm 2004 thêm 16,8% hay 2.336,3 tỷ Nhân dân tệ (tương đương 281,9

tỷ USD), khiến cho Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ 6 thế giới (vượt qua Ývới GDP khoảng 2.000 tỷ USD) Đầu năm 2006, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã chính thức công bố Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới, tính theo dollar

Mỹ, vượt qua Pháp và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Đầu năm 2007, Trung Quốc đứng thứ 2 thế giới về GDP tính theo sức mua tương đương (PPP) với tổng giá trị GDP tính theo PPP là 10.000 tỷ USD Mặc dù cỏch tớnh theo PPP như thế cần phải rất thận trọng vì chỉ gần đúng, đặc biệt là đối với một nước lớn như Trung Quốc, sức mua có một sự khác biệt rất lớn giữa các thành phố vùng duyên hải như Thượng Hải và các thành phố miền tây như Tứ Xuyên; và cỏch tớnh theo PPP này không đúng đối với các mặt hàng nhập khẩu và các mua sắm ở nước ngoài 1.NÔNG NGHIỆP

Sản xuất lúa mỳ từ 1961-2004 Số liệu từ quỹ nông lương thế giới , năm 2005 Trục Y : sản lượng tính theo tấn

Các sản phẩm nông nghiệp chính: lỳa, lúa mỳ, khoai tây, lúa miến, lạc, chố, kờ,

lúa mạch, bông vải, hạt dầu, thịt lợn, cá

Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản lượng nông sản Chỉ khoảng một nửa lực lượng lao động của Trung Quốc làm việc trong ngành nông nghiệp, dù cho chỉ có 15,4% diện tích đất đai có thể canh tác được

Trung Quốc có hơn 300 triệu nông dân, chiếm một phần hai lực lượng lao động Phần lớn trong số họ canh tác trên những mảnh đất nhỏ bé nếu so với những nông trại Mỹ Trên thực tế, tất cả đất canh tác đều được sử dụng để trồng cây lương thực,

Trang 11

và Trung Quốc nằm trong nhúm cỏc quốc gia sản xuất hàng đầu về lúa gạo, khoai tây, lúa miến, kê, lạc và thịt lợn Các sản phẩm phi thực phẩm khỏc cú: bụng vải, các loại sợi khác, hạt có dầu đó giỳp Trung Quốc có được một tỷ lệ nhỏ trong doanhthu ngoại thương Các mặt hàng nông sản xuất khẩu như rau, quả, cỏ, tụm cua, ngũ cốc và các sản phẩm từ ngũ cốc, các sản phẩm thịt được xuất khẩu sang Hồng Kụng Sản lượng thu hoạch cao nhờ canh tác tập trung, nhưng Trung Quốc hy vọng tăng sản lượng nông nghiệp hơn nữa thông qua các giống cây trồng được cải thiện, phân bón và công nghệ.

Theo Chương trình Lương thực Thế giới của Liên Hiệp Quốc, trong năm 2003, dân số Trung Quốc đã chiếm 20% dân số thế giới nhưng Trung Quốc chỉ có 7% đất canh tác được của toàn thế giới

Thịt lợn là một phần quan trọng của nền kinh tế Trung Quốc với mức tiêu thụ bình quân đầu người là 90 gam mỗi người trên ngày Giá thức ăn cho gia súc và gia cầm tăng trên phạm vi toàn cầu do ảnh hưởng của nhu cầu dựng ngụ để sản xuất ờtanol gia tăng đã làm tăng giá thịt lợn ở Trung Quốc năm 2007 Chi phí sản xuất tăng cộng với lượng cầu thịt lợn tăng do việc tăng lương đã đẩy giá thịt lợn càng lêncao hơn Nhà nước đối phó bằng cách trợ cấp giá thịt lợn cung cấp cho sinh viên và những người nghèo ở đô thị và kêu gọi gia tăng sản lượng thịt lợn Biện pháp tung

dự trữ thịt lợn chiến lược của quốc gia đã được xem xét

2

CễNG NGHI ỆP

Trung Quốc xếp thứ 3 thế giới về sản lượng công nghiệp

Các ngành chính: sắt thép, than đá, máy móc, vũ khí, may mặc, dầu mỏ, xi măng,

hóa chất, giày dép, đồ chơi, chế biến thực phẩm, ô tô, điện tử tiêu dùng, viễn thông, công nghệ thông tin

Tốc độ tăng trưởng sản xuất: 12,6% (ước tính năm 2002)

Các ngành công nghiệp quốc doanh lớn có thể kể đến: sắt, thép, chế tạo mỏy, cỏc sản phẩm công nghiệp nhẹ, vũ khí và hàng dệt may Các ngành này đã trải qua một thập kỷ cải cách (1979-1989) song không có thay đổi phương thức quản lý nào đáng

kể Điều tra công nghiệp năm 1999 đã cho thấy có 7.930.000 xí nghiệp công nghiệp vào cuối năm 1999; tổng số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh khoảng 24 triệu người Ngành ô tô được dự tính tăng nhanh chóng trong thập

kỷ tới, và ngành hóa dầu cũng thế Các sản phẩm máy móc và điện tử đã trở thành các mặt hàng xuất khẩu chính của Trung Quốc

3.LAO Đ ỘNG

Một trong những đặc điểm của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Trung Quốc trước đây là sự hứa hẹn mang lại công ăn việc làm cho tất cả những ai có khả năng và có nguyện vọng làm việc, và sự đảm bảo việc làm là trọn đời Các nhà cải cách cho rằng thị trường không có năng suất cao vỡ cỏc ngành thường có số lượng nhân côngcao hơn cần thiết để thực hiện các mục tiêu xã hội chủ nghĩa và sự đảm bảo việc

Trang 12

làm đã làm giảm động lực làm việc của công nhân Chính sách xã hội chủ nghĩa này

đã được gọi theo nghĩa xấu là “bát cơm sắt.”

Trong giai đoạn 1979-1980, Nhà nước đã cải cách các nhà máy bằng cách tăng lương cho công nhân nhưng biện pháp này đã ngay lập tức bị mất tác dụng bởi lạm phát liên tục ở mức 6-7% Nói cách khác, dù họ được trả nhiều tiền lương hơn, giá trị thực của đồng tiền họ nhận được vẫn có giá trị thấp và họ mua được ít hơn, đồng nghĩa với việc những công nhân nhà máy bị nghèo đi Nhà nước đã khắc phục vấn

đề này từng phần bằng cách bao cấp lương

Các cải cách cũng hủy bỏ “bát cơm sắt”, dẫn đến nạn thất nghiệp gia tăng Năm

1979, ngay sau khi bát cơm sắt bị xóa bỏ, đó cú 20 triệu người bị thất nghiệp Mặc

dù điều này một phần là do sự gia tăng dân số, nhưng nú đó bị làm trầm trọng đáng

kể bởi số người phụ thuộc mà các chính sách xã hội chủ nghĩa trước đó tạo ra.Trung Quốc cú cỏc quy định pháp lý về lao động mà nếu nghiêm chỉnh chấp hành

sẽ làm nhẹ đi các lạm dụng phổ biến như không trả lương cho công nhân Năm

2006, một bộ luật lao động mới đã được soạn thảo và đưa ra cho công chúng góp ý Luật mới này, theo như bản dự thảo mới nhất, sẽ cho phép thỏa ước lao động tập thểtheo hình thức tương tự như các tiêu chuẩn trong các nền kinh tế phương Tây, dù vẫn chỉ có các tổ chức công đoàn hợp pháp tiếp tục là thành viên của Tổng liên đoàn Lao động Trung Quốc, tổ chức công đoàn chính thức của Đảng Cộng sản Luật mới nhận được sự ủng hộ của các nhà hoạt động lao động, nhưng bị các công

ty nước ngoài phản đối, trong đó có Phòng Thương mại Mỹ và Phòng Thương mại châu Âu Nhiều người mong rằng luật này sẽ được nghiêm chỉnh chấp hành nếu được thông qua Cố gắng đang diễn ra trong việc tổ chức hoạt động của người Trung Quốc trong các công ty nước ngoài đã thành công tại Wal-Mart năm 2006 Chiến dịch này dự kiến sẽ cú thờm cỏc công ty khác như Eastman Kodak, Dell 4

THƯƠNG M ẠI VÀ DỊCH VỤ

Thống kê

Xuất khẩu: 963,0 tỷ USD (2006)

Mặt hàng - xuất khẩu: máy móc thiết bị, chất dẻo, thiết bị quang học và y tế, sắt

thép

Đối tác - xuất khẩu: Mỹ 21,0%, EU 18,1%, Hồng Kụng 17,0%, Nhật Bản 12,4%,

ASEAN 7,2%, Hàn Quốc 4,7% (2004)

Nhập khẩu: 795 tỷ USD (2006)

Mặt hàng - nhập khẩu: máy móc và thiết bị, dầu mỏ và nhiên liệu khoáng, chất

dẻo, thiết bị quang và y tế, hóa chất vô hữu cơ, sắt thép

Đối tác - nhập khẩu: Nhật Bản 16,8%, EU 12,4%, ASEAN 11,2%, Hàn Quốc

11,1%, Mỹ 7,9%, Nga 2,2% (2004)

Thương mại toàn cầu của Trung Quốc đạt tổng kim ngạch 1.758 tỷ USD cuối năm

2006 Tổng kim ngạch đã vượt qua mốc 1.000 tỷ USD năm 2004 (1.150 tỷ USD,

Trang 13

hơn gấp đôi kim ngạch năm 2001) Cuối năm 2004, Trung Quốc đã trở thành quốc gia thương mại lớn thứ 3 thế giới sau Mỹ và Đức Tuy nhiên thặng dư thương mại vẫn ổn định ở mức 30 tỷ USD (trên 40 tỷ USD năm 1998, dưới 30 tỷ USD năm 2003) Các đối tác thương mại hàng đầu của Trung Quốc bao gồm Nhật Bản, Hoa

Kỳ, Hàn Quốc, Đức, Singapore, Malaysia, Nga và Hà Lan Theo số liệu thống kê của Hoa Kỳ, thặng dư thương mại của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ năm 2004 là

170 tỷ USD, hơn gấp đôi so với mức năm 1999 Chỉ tớnh riờng Wal-Mart, nhà bán

lẻ hàng đầu Hoa Kỳ, đã là đối tác xuất khẩu lớn thứ 7 của Trung Quốc và xếp trên Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland về nhập khẩu hàng Trung quốc Trong 5 cảng bận rộn nhất thế giới, có 3 cảng ở Trung Quốc

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã thử giảm bớt độc quyền ngoại thương và nỗ lực hội nhập với hệ thống ngoại thương thế giới Tháng 11 năm 1991, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã gia nhập hệ thống thương mại toàn cầu Tháng 11 năm 1991, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã gia nhập APEC, sự gia nhập làm tăng cường tự

do thương mại và hợp tác trong các vấn đề kinh tế, thương mại, đầu tư và công nghệ Năm 2001, Trung Quốc đã giữ chức chủ tịch APEC và Thượng Hải đã đăng cai hội nghị các lãnh đạo APEC thường niên

Trong chuyến thăm Hoa Kỳ năm 1999, Thủ tướng Chu Dung Cơ đã ký một Hiệp định Hợp tác Nông nghiệp song phương, quy định tháo dỡ lệnh cấm nhập khẩu camquýt, thịt bò và gia cầm lâu năm của Trung Quốc Tháng 11 năm 1999, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã đạt được một thỏa thuận song phương lịch sử về quyền tiếp cận thị trường, dọn đường cho Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Là một phần của hiệp định tự do hóa thương mại có ảnh hưởng sâu rộng, Trung Quốc đã đồng ý giảm thuế quan và xóa bỏ các trở ngại thị trường sau khi gia nhập

tổ chức thương mại thế giới này Ví dụ như những nhà kinh doanh Trung Quốc và nước ngoài sẽ được quyền tự mình xuất nhập khẩu và bán sản phẩm của mình mà không thông qua một bên trung gian của chính phủ Tỷ lệ thuế quan trung bình đối với các mặt hàng nông sản xuất khẩu chính yếu của Hoa Kỳ đã giảm từ 31% xuống 14% năm 2004 và đối với sản phẩm công nghiệp là từ 25% xuống còn 9% trong năm 2005 Thỏa thuận cũng mở ra các cơ hội cho các nhà cung cấp dịch vụ Mỹ trong các lĩnh vực như ngân hàng, bảo hiểm và viễn thông Sau khi đạt được thỏa thuận song phương với WTO, với EU và các đối tác thương mại khác, trong mùa hènăm 2000, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã tiếp tục xúc tiến một thoả thuận gia nhập WTO trọn gói Để tăng xuất khẩu, Trung Quốc đã theo đuổi chính sách như cổ

vũ sự phát triển nhanh chóng của các nhà máy đầu tư nước ngoài lắp ráp các linh kiện nhập khẩu thành hàng xuất khẩu Trung Quốc đã gia nhập WTO ngày 11 tháng

12 năm 2001, sau 15 năm đàm phán, kéo dài nhất trong lịch sử của GATT

Tuy Mỹ là một trong những nhà cung cấp hàng đầu ở Trung Quốc về thiết bị phát điện, máy bay và phụ tùng, máy tính và máy công nghiệp, nguyên liệu thô, hóa chất

Trang 14

và sản phẩm nông nghiệp nhưng các nhà xuất khẩu Mỹ vẫn tiếp tục quan ngại về quyền tiếp cận thị trường công bằng do các chính sách thương mại hạn chế hàng xuất khẩu Mỹ của Trung Quốc Sự vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt trong lĩnh vực phần mềm và nạn hàng giả, hàng nhái, khiến nhiều công ty phương Tây vẫn nản lòng khi làm ăn ở Trung Hoa đại lục Một số nhà chính trị và nhà sản xuất phương Tây cũng cho rằng giá trị của đồng Nhân dân tệ đang thấp giả tạo và tạo cho hàng xuất khẩu từ Trung Quốc một lợi thế không công bằng Những vấn đề này

và các vấn đề khác nữa là những nguyên nhân đằng sau các cuộc thúc đẩy chính sách bảo hộ mậu dịch lớn hơn của một số nghị sỹ trong Quốc hội Hoa Kỳ, bao gồm một mức thuế tiêu dùng 27,5% đánh vào hàng nhập khẩu của Trung quốc

Kim ngạch mậu dịch giữa Trung Quốc và Nga đạt 29,1 tỷ USD năm 2005, tăng 37,1% so với năm 2004

Các mặt hàng xuất khẩu máy móc và hàng điện tử của Trung Quốc đến Nga tăng 70%, chiếm 24% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc đến Nga trong 11 tháng đầu năm 2005 Trong cùng thời gian đú, cỏc sản phẩm công nghệ cao xuất khẩu của Trung Quốc đến Nga tăng 58%, chiếm 7% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Nga Cũng trong thời gian này biên mậu giữa hai quốc gia đạt 5,13 tỷ USD, tăng 35% và chiếm gần 20% tổng kim ngạch thương mại Phần lớn hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang Nga là hàng may mặc và giày dép

Nga là đối tác thương mại lớn thứ 8 của Trung Quốc và Trung Quốc là đối tác thương mại lớn thứ tư của Nga và Trung Quốc hiện có 750 dự án đầu tư ở Nga với

số vốn 1,05 tỷ Các dự án đầu tư đã ký của Trung Quốc ở Nga đạt mức 369 triệu USD trong thời kỳ tháng 1 - tháng 9 năm 2005, gấp đôi mức năm 2004

Các mặt hàng Trung Quốc nhập từ Nga chủ yếu là nguồn năng lượng như dầu thô, phần lớn được chuyên chở bằng tàu lửa và điện năng xuất khẩu từ vùng Siberi và Viễn Đông láng giềng của Nga Trong tương lai gần, kim ngạch xuất khẩu hai mặt hàng này dự kiến sẽ tăng do Nga đang xây dựng đường ống dẫn dầu Thái Bình Dương – Đông Siberi với một nhánh đến biên giới Trung Quốc và Công ty độc quyền lưới phân phối điện của Nga UES đang xây một số nhà máy thủy điện với mục tiêu xuất khẩu sang Trung Quốc trong tương lai

Quan hệ kinh tế thương mại với Việt Nam đã phát triển nhanh chóng, nổi bật lên

là xu thế thặng dư thương mại với Việt Nam đang tiếp tục tăng lên từ năm 2001 chođến nay Xuất khẩu của Trung Quốc tăng vọt và thặng dư thương mại với Việt Nam

đã gia tăng rất nhanh chóng, xuất siêu vượt 200% so với nhập khẩu từ Việt Nam vào năm 2006 , nếu kể lượng dịch vụ bao gồm ngân hàng, du lịch, viễn thông, bán điện thì thặng dư thương mại còn cao hơn nữa Dự báo luồng hàng xuất khẩu của Trung Quốc còn tăng lên mạnh mẽ hơn nữa trong năm 2007 và những năm tiếp theonếu như Việt Nam không có đối sách hợp lý, tạo ra nhiều thách thức và rủi ro cho nền kinh tế Việt Nam như thách thức cạnh tranh, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi

Trang 15

trường Nguyên nhân là do cơ cấu của hai nền kinh tế tương tự như nhau nhưng Trung Quốc đã tiến xa hơn trong quá trình công nghiệp hoá và năng lực cạnh tranh của Trung Quốc cao hơn Việt Nam (năm 2005, Trung Quốc xếp thứ 49, Việt Nam xếp thứ 81 trên 117 nền kinh tế, theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới)

Một điểm cực kỳ đặc biệt trong buôn bán với Việt Nam là Trung Quốc đã nhắc nhở Việt Nam trong việc chỉ đạo báo chí Việt Nam Khi báo chí và truyền thông Việt Nam vốn do Đảng lãnh đạo lại cứ đưa tin hàng hóa Trung Quốc bị toàn thế giới tẩy chay do chất lượng kém, chứa nhiều độc chất Việc này của Trung Quốc nhằm ngăncản thông tin của người tiêu dùng Việt Nam về chất lượng hàng Trung Quốc

Trung Quốc xếp thứ 9 thế giới về giá trị sản lượng dịch vụ Tỷ trọng điện năng và viễn thông cao đảm bảo xu thế tăng trưởng nhanh dài hạn trong lĩnh vực dịch vụ.Đến ngày 31 tháng 12 năm 2005, có khoảng 37.504.000 tuyến băng thông rộng ở Trung Quốc , hiện nay chiếm gần 18% thị phần thế giới Hơn 70% tuyến băng thông rộng thông qua DSL và phần còn lại qua modem cáp

Ngân hàng Thế giới ước tính rằng phải mất 18 ngày để được đấu nối một điện thoại ở Trung Quốc (86 ngày ở Ấn Độ)

Với hai sở giao dịch chứng khoán (là Thượng Hải và Thâm Quyến), thị trường chứng khoán Trung Hoa đại lục có một giá trị thị trường 1.000 tỷ USD tính đến tháng 1 năm 2007, trở thành thị trường chứng khoán lớn thứ 3 châu Á, chỉ sau Nhật Bản và Hồng Kụng Người ta ước tính thị trường này sẽ lớn thứ ba thế giới vào năm2016

5

Đ ẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Năm 1989, chính quyền đã ban hành các đạo luật và nghị định về khuyến khích nước ngoài đầu tư vào cỏc vựng và các lĩnh vực ưu tiên cao Một ví dụ điển hình của chính sách này là Danh mục ngành khuyến khích, quy định mức độ nước ngoài

có thể được phép tham gia trong nhiều lĩnh vực công nghiệp khác nhau

Năm 1990, chính quyền đã xóa bỏ hạn chế thời gian thiết lập liên doanh, đảm bảo không quốc hữu hóa và cho phép các đối tác nước ngoài trở thành chủ tịch hội đồngquản trị Năm 1991, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã ban hành quy định đối xử thuế ưu đãi hơn cho các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và các dự án theo hợp đồng, và các công ty nước ngoài đầu tư vào các khu kinh tế chọn lọc hay trong các

dự án Nhà nước khuyến khích như năng lượng, giao thông và vận tải Chính quyền cũng cho phép một số ngân hàng nước ngoài mở chi nhánh ở Thượng Hải và cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu đặc biệt "B" trong các công ty chọn lọc niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Thẩm Quyến Các cổ phiếu "B" được bán cho người nước ngoài nhưng những người này không được hưởng các quyền liên quan do sở hữu cổ phiếu mang lại Năm 2006, Trung Hoa đại lục thu hút được 69,47 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 16

Mở cửa cho bên ngoài vẫn là trọng tâm của quá trình phát triển của Trung Quốc Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất khoảng 45% hàng xuất khẩu Trung Quốc (dù đa số đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc đến từ Hồng Kụng, Đài Loan và Ma Cao, hai trong số này thuộc quyền quản lý của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), và Trung Hoa Đại lục tiếp tục thu hút dòng đầu tư to lớn Năm 2005,

dự trữ ngoại tệ vượt mức 800 tỷ USD, hơn gấp đôi mức năm 2003 và trong tháng 11năm 2006, Trung Hoa đại lục trở thành nước có dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới, vượt mức 1.000 tỷ USD

Tuy nhiên vẫn có một số công ty rút khỏi thị trường Trung Hoa đại lục, ví dụ như Warner Bros đã từ bỏ ngành điện ảnh ở đại lục do một quy định hạn chế cấm các nhà đầu tư nước ngoài kiểm soát các liên doanh ở Trung Hoa đại lục Quy định này đòi hỏi rằng các nhà đầu tư Trung Hoa đại lục phải giữ ít nhất 51% cổ phần hay có vai trò lãnh đạo trong các liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài

Sản xuất điện theo nguồn:

nhiên liệu hóa thạch: 80,2%

thủy điện: 18,5%

khác: 0,1% (2001)

hạt nhân: 1,2%

Dầu mỏ:

sản xuất: 3,504 triệu thựng/ngày (2004)

tiêu thụ: 6,391 triệu thựng/ngày (2004)

xuất khẩu: 340.300 thựng/ngày (2004)

nhập khẩu: 3,226 triệu thựng/ngày (2004)

nhập khẩu ròng: 2,9 triệu thựng/ngày (ước 2004)

Trang 17

giảm xuống trong năm 1998, tổng mức tiêu thụ năng lượng của Trung Hoa đại lục

có thể gấp đôi vào năm 2020 theo một số dự đoán Trung Quốc ước tính sẽ bổ sung khoảng 15.000 megawatt công suất điện phát ra mỗi năm, với 20% số đó đến từ các nhà cung cấp nước ngoài Phần lớn do các quan ngại về môi trường, Bắc Kinh sẽ chuyển từ sự phụ thuộc vào hỗn hợp năng lượng phụ thuộc nặng vào than đá, hiện chiếm 75% năng lượng Trung Quốc, sang năng lượng dựa trên dầu mỏ, khí thiên nhiên, năng lượng tái sinh, và điện nguyên tử

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đóng cửa khoảng 30.000 mỏ than trong 5 năm qua để giảm sản xuất quá tải Điều này đã khiến cho sản lượng than đá giảm 25%

Kể từ năm 2003, Trung Quốc đã là một quốc gia nhập khẩu thuần dầu mỏ; ngày naydầu mỏ nhập khẩu chiếm 20% sản lượng dầu thô chế biến ở Trung Quốc Sản lượngnhậu khẩu thuần được ước tính sẽ tăng lên mức 3,5 triệu thùng (560.000 m³) mỗi ngày vào năm 2010 Trung Quốc quan tâm đến việc phát triển lượng dầu nhập từ Trung Á và đã đầu tư vào các mỏ dầu ở Kazakhstan Bắc Kinh đặc biệt quan tâm đến việc gia tăng sản lượng khí thiên nhiên - hiện chỉ 10% sản lượng dầu - và đang thiết lập một chiến lược khí thiên nhiên trong kế hoạch 5 năm lần thứ 10 (2001-2005), với mục tiêu mở rộng việc sử dụng khí từ mức 2% trong sản lượng năng lượng của Trung Quốc lến 4% đến năm 2005 (khí chiếm 25% sản xuất năng lượng

ở Mỹ)

Bắc Kinh cũng có ý định tiếp tục cải thiện tính hiệu quả về năng lượng và tăng cường sử dụng công nghệ than đá sạch Chỉ 1/5 công suất nhà máy điện được lắp đặt từ 1995-2000 có thiết bị khử lưu huỳnh Trung Quốc ngày càng quan tâm hơn đến các nguồn năng lượng tái sinh, nhưng ngoại trừ thủy điện, đóng góp của các nguồn năng lượng này vào hỗn hợp năng lượng không có khả năng tăng quá 1-2% trong tương lai gần Lĩnh vực năng lượng của Trung Quốc tiếp tục bị cản trở bởi cáckhó khăn trong việc nhận được nguồn tài chính, bao gồm các khoản tài chính dài hạn, và sự phân mảnh thị trường do chính sách bảo hộ ở địa phương ngăn cản các nhà máy lớn có hiệu quả hơn đạt được tính kinh tế nhờ quy mô

7.MễI TRƯ ỜNG

Tác dụng phụ tiêu cực của quá trình phát triển công nghiệp nhanh của Trung Quốc là sự tình trạng gia tăng ô nhiễm.Một báo cáo năm 1998 của Tổ chức Y tế Thếgiới về chất lượng không khí ở 272 thành phố trên thế giới đã kết luận rằng 7/10 thành phố ô nhiễm nhất nằm ở Trung Quốc Theo đánh giá riêng của Trung Quốc, 2/3 trong số 338 thành phố có số liệu về chất lượng không khí được coi là bị ô nhiễm, 2/3 trong số đó ô nhiễm vừa phải hay nghiêm trọng Các bệnh đường hô hấp

và bệnh tim liên quan đến ô nhiễm không khí là những nguyên nhân hàng đầu gây

ra tử vong ở Trung Quốc Hầu như tất cả các dòng sông của quốc gia này đều bị ô nhiễm ở các mức độ khác nhau, và một nửa dân số thiếu nước sạch 90% các vùng nước ở đô thị bị ô nhiễm nghiêm trọng Khan hiếm nước cũng là một vấn đề; ví dụ

Trang 18

sự khan hiếm nước gay gắt ở miền Bắc Trung Quốc đã buộc chính quyền lập một kếhoạch chuyển nước quy mô lớn lấy nước từ sông Dương Tử,đến các thành phố phía Bắc, bao gồm Bắc Kinh và Thiờn Tõn Mưa axớt rơi trên 30% lãnh thổ Trung Quốc Nhiều nghiên cứu ước tính ô nhiễm làm nền kinh tế Trung Quốc tốn khoảng 7% GDP mỗi năm.

Các nhà lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc đang ngày càng chú ý đến các vấn đề môitrường nghiêm trọng của quốc gia Tháng 3 năm 1998, Cục Bảo vệ Môi Trường Nhà nước (SEPA) đã được chính thức nâng cấp thành một cơ quan ngang bộ, phản ánh tầm quan trọng gia tăng mà chính quyền Trung Quốc đặt ra cho công tác bảo vệmôi trường Đầu năm 2007, SEPA đã thông báo có 82 dự án với tổng mức đầu tư hơn 112 tỷ Nhân dân tệ bị phát hiện vi phạm nghiêm trọng luật đánh giá tác động môi trường và các quy định về sự đồng bộ của các biện pháp an toàn và sức khỏe trong thiết kế dự án

Trong những năm gần đây, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã củng cố các quy định pháp luật về môi trường và đạt một số tiến bộ bước đầu trong việc ngăn chặn

sự xuống cấp của môi trường Năm 1999, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đầu tư hơn 1% GDP cho công tác bảo vệ môi trường, một tỷ lệ có khả năng tăng trong những năm tới Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 10, Trung Quốc dự kiến giảm mức xảchất thải 10% Đặc biệt Bắc Kinh đã đầu tư nhiều cho công tác kiểm soát ô nhiễm như một phần của chiến dịch thành công để giành được quyền đăng cai Thế vận hội năm 2008

Trung Quốc là một thành viên tham gia tích cực trong các hội thảo về thay đổi khíhậu và các cuộc thảo luận về môi trường khác Đây là quốc gia đã ký vào Công ước Basel quy định việc vận chuyển và thải rác thải nguy hiểm và ký vào Nghị định thư Montreal về các chất gây thủng tầng ễzụn cũng như Công ước về Buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã và các hiệp định môi trường lớn khác

Chất vấn về các tác động môi trường liên quan đến dự án đập Tam Hiệp đã gây nên tranh cãi giữa các nhà môi trường trong và ngoài nước Các phê phán cho rằng

sự xói mòn và lắng bùn của sông Dương Tử đe dọa nhiều loài đang nguy cấp, cũn cỏc quan chức Trung Quốc cho rằng điện do nhà máy thủy điện này phát ra sẽ khiếncho khu vực giảm sự phụ thuộc vào than đá, do đó giảm ô nhiễm không khí

8.KINH TẾ QUÁ NểNG

Một trong những rào cản đáng kể khác đối với kinh tế Trung Quốc là khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh trong thập kỷ qua dẫn đến tình trạng kinh tế quỏ núng và lạm phát, điều có thể khiến tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc có thể bị tác động tiêu cực trở lại Các quan chức Trung Quốc phủ nhận rằng tổng thể nền kinh tế của mình là quỏ núng, dự họ công nhận rằng một vài nơi nhất định đang nóng lên như ởnhững nơi có hạ tầng yếu kém khiến khó khăn hơn cho việc kiểm soát kinh tế Sự

Trang 19

tăng trưởng kinh tế gần đây là kết quả của các đầu tư quy mô lớn, mà thường kém hiệu quả hơn nhiều so với các quốc gia khác như Ấn Độ.

Thuế cũng tỏ ra là một vấn đề trong việc ổn định nền kinh tế Trung Quốc với chính sách cắt giảm thuế được hoạch định đối với một số ngành và lĩnh vực kinh tế nhất định Một mục tiêu đầu tiên của việc cắt giảm thuế là trợ giúp việc giảm sự chênh lệch đầu tư giữa cỏc vựng đô thị và nông thôn và khuyến

9.SỰ THIẾU HỤT LAO ĐỘNG

Đến năm 2005, xuất hiện các dấu hiệu cầu về lao động lớn hơn, với việc người laođộng có thể chọn công việc được trả lương cao hơn và các điều kiện làm việc tốt hơn, giúp cho cho nhiều người lao động có thể từ bỏ cuộc sống cư xá tù túng và công việc nhà máy buồn tẻ là đặc trưng của các ngành xuất khẩu ở Quảng Đông và Phúc Kiến Lương tối thiểu bắt đầu tăng lên đến mức tương đương 100 dollar Mỹ một tháng khi nhiều công ty tranh giành lao động có thể trả 150 USD mỗi tháng Việc thiếu hụt lao động một phần là do xu hướng của cơ cấu dân số khi tỷ lệ người dân ở tuổi lao động giảm xuống vì hậu quả của kế hoạch hóa gia đình nghiêm ngặt Chi phí lao động đã tiếp tục tăng và một sự thiếu hụt lao động không có tay nghề cao đã bị bộc lộ với một triệu lao động hoặc hơn đang được tìm kiếm Các đơn vị dựa vào nguồn lao động rẻ đang dự tính di dời họat động của mình vào những thànhphố sâu trong nội địa hoặc đến các nước như Việt Nam hoặc Bangladesh Nhiều người trẻ thích theo học ở các trường đại học và cao đẳng hơn là theo các ngành được trả lương tối thiểu Sự chuyển biến cơ cấu dân số là hệ quả của chính sách mộtcon đã tiếp tục giảm nguồn cung những người vào độ tuổi lao động Ngoài ra, những nỗ lực gần đây của chính quyền tăng cường sự phát triển kinh tế ở vựng sõu

trong nội địa đang bắt đầu có hiệu quả trong việc tạo cơ hội ở đó

Ngày đăng: 14/11/2014, 22:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w