1.1 Khái quát về CSTT và các mục tiêu : 1.1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ 1.1.1.1 Định nghĩa Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ môtrong đó ngân hàng Trung ươ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Thế giới đã bước sang thiên niên kỷ thứ 3, nhìn lại chặng đườnghơn 10 năm đổi mới và phát triển kinh tế của nước ta – một khoảngthời gian không dài nhưng lại có một vai trò quan trọng, đó là mộtbước ngoặt trong tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế Những thànhtựu đã đạt được trong hơn 10 năm qua có một phần đóng góp rất lớncủa Ngân hàng nhà nước với công cụ kinh tế vĩ mô rất mạnh trong tay,
cụ này không có nghĩa là bỏ qua các công cụ khác vì chúng có mốiquan hệ qua lại bổ sung lẫn nhau tạo điều kiện cho chính sách tiền tệđược phát huy linh hoạt , hiệu quả
Đề tài này của em có thể xem như một đề tài thời sự , đi sâu về mặtthực tiễn giải pháp, vì vậy có thể làm tài liệu tham khảo của các bạnsinh viên kinh tế muốn tiếp cận một cách trực quan hơn tới hoạt độngcủa hệ thống ngân hàng nói chung và hệ thống chính sách tiền tệ nóiriêng
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 3 chương :
Chương 1: Lý luận chung về các công cụ chính sách tiền tệ
Chương 2: Thực trạng sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ
Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ ở Việt nam trong thời gian tới
Trang 2Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Trước khi đi sâu nghiên cứu và xem xét lý luận về các công cụchính sách tiền tệ ( CSTT ), ta cần nắm sơ lược về CSTT của một quốcgia, mục đích, mục tiêu và vị trí của nó trong hệ thống chính sách kinh
tế vĩ mô
1.1 Khái quát về CSTT và các mục tiêu :
1.1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ
1.1.1.1 Định nghĩa
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ môtrong đó ngân hàng Trung ương, thông qua các công cụ của mình thựchiện việc kiểm soát và đều tiết lượng tiền cung ứng ( hoặc lãi suất ),căn cứ vào nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu
về : giá cả, sản lượng và công ăn việc làm
1.1.1.2 Cơ sở của Chính sách tiền tệ
Mối liên hệ giữa sự biến động của tổng lượng tiền cung ứng (M )với các biến số kinh tế vĩ mô: giá cả, sản lượng và công ăn việc làm cóthể được mô tả đưới dạng kênh đơn giản như sau :
M i I AD Y
C P
Theo như định nghĩa chính sách tiền tệ , bằng các công cụ củamình sẽ tác động vào M hoặc i ( lãi suất), từ đó qua các kênh dẫntruyền sẽ tác động vào các biến số: Sản lượng (Y); giá cả(P); công ănviệc làm Như thế chỉ cần một tác động linh hoạt nhạy bén có tínhtoán vào khối lượng tiền cung ứng hoặc lãi suất là ngân hàng TW đã
có thể làm tăng hay giảm sản lượng, giá cả; tạo ra nhiều công ăn việclàm hay không Tất nhiên là trong điều kiện giả định các yếu tố khác
là không thay đổi
Tóm lại việc chủ động tạo ra các biến động về tiền tệ ( xét cả vềkhối lượng tiền và giá tiền tức là lãi suất) với một mục đích xác định,
Trang 31.1.2 Hệ thống mục tiêu của Chính sách tiền tệ
Ta đã biết các biến số kinh tế vĩ mô: Sản lượng, giá cả, công ăn việclàm kể trên là mục tiêu lâu dài, là các đích cuối cùng mà CSTT theođuổi Nhưng đó là các chỉ tiêu mang tầm vĩ mô và dài hạn vì vậy đểđịnh hướng trong những khoảng thời gian ngắn thì CSTT cần phải cómột hệ thống mục tiêu
1.2.2.1 Mục tiêu cuối cùng
a- Khái niệm
Mục tiêu cuối cùng là mục tiêu mà CSTT cần phải đạt được
b- Các loại mục tiêu cuối cùng
b1: ổn định giá cả
Giữ cho mức giá cả không biến động lớn
b2: Tăng trưởng kinh tế
b3: Tạo nhiều công ăn việc làm
1.2.2.2 Mục tiêu trung gian
a- Khái niệm
Mục tiêu trung gian là mục tiêu mà ngân hàng nhà nước đưa ranhằm đạt được mục tiêu cuối cùng và nó có quan hệ mật thiết với mụctiêu cuối cùng
b1 Lãi suất liên ngân hàng
b2 Dự túi không vay: Hiện thời Việt nam đang sử dụng
b3 Dự túi đi vay
Như vậy là với việc xem xét nghiên cứu lý luận về CSTT ở trên đãxác định được cơ sở của CSTT ; vị trí vai trò ; mục đích; mục tiêu và
Trang 4nhiệm vụ của CSTT Vấn đề tiếp theo là ta phải xem xột xem để làm
được những cụng việc này ( tức là để điều hành CSTT) thỡ Ngõn hàng
nhà nước sẽ phải sử dụng những cụng cụ gỡ, sử dụng như thế nào; sử
dụng vào khi nào
b- cơ chế tỏc độngViệc ngõn hàng nhà nước quy định một mức trần hạn mức tớn dụng
sẽ khống chế khả năng cho vay nền kinh tế của cỏc ngõn hàng thương
mại sẽ khụng được phộp cho khỏch hàng vay vượt quỏ số mà ngõn
hàng Nhà nước quy định
Khi đó khống chế kiểm soỏt được khả năng cho vay, ngõn hàng Nhànước lỳc này sẽ kiểm soỏt được khả năng tạo tiền của cỏc Ngõn hàng
Từ đú sẽ khống chế được tỉ lệ tăng trưởng tiền tệ tức là mức cung tiền
c- Ưu điểm- nhược điểm
Chính sách tiền tệ
Công cụ trực tiếp
Công cụ gián tiếp
Mục tiêu trung gian Mục tiêu cuối cùng
Mục tiêu hoạt động
Trang 5Công cụ này khống chế gần như ngay lập tức và chặt chẽ đến lượngtín dụng cung ứng từ đó khống chế tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ vì vậycông cụ tỏ ra đặc biệt hữu dụng khi mà lạm phát ở mức cao.
Trong những điều kiện đặc biệt, ở những nước mà thị trường tiền tệchưa phát triển dẫn đến các công cụ dán tiếp kém hiệu quả thì công
cụ hạn mức tín dụng vẫn là một công cụ hữu hiệu
+ Căn cứ để đề ra hạn mức còn thiếu mà nhiều khi mang tính chấthành chính; hạn mức đề ra không chính xác vì dựa vào tổng dư nợ lịch
sử, tạo ra sự không bình đẳng giữa các Ngân hàng thương mại vớiNgân hàng khác: Mức dư nợ lịch sử của các Ngân hàng quốc doanh làlớn nhưng nợ xấu nhiều
+ Việc quy định hạn mức sẽ tác động đến hoạt động cho vay của cácNgân hàng Vì chỉ được cho vay một mức hạn chế nên họ sẽ lựa chọnkhách hàng không thích hợp ( rủi ro lựa chọn đối nghịch); chọn kháchhàng trả lãi cao hơn mặc dù có thể không an toàn
+ Gây thiệt thòi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi vay vốn
d- Phạm vi ứng dụng:
- Lạm phát ở mức cao
- Đầu tư không nhạy cảm với lãi suất
- Ngân hàng nhà nước không kiểm soát được lượng vốn khả dụngcủa ngân hàng thương mại
1.2.1.2 Ên định lãi suất huy động và cho vay
a- Khái niệm
Hiểu một cách đơn giản, việc Ên định lãi suất huy động và cho vay
là Ngân hàng Nhà nước đưa ra một mức lãi suất cố định để các Ngânhàng trung gian tiến hành hoạt động đi vay và cho vay( 2 mức lãi suất)b- Cơ chế tác động
Việc chủ động Ên định lãi suất huy động và cho vay giúp cho Ngânhàng Nhà nước kiểm soát lượng tiền cung ứng thông qua hệ số nhân
Trang 6tiền Ví dụ: Muốn mở rộng khối lượng tiền cung ứng, Ngân hàng Nhànước sẽ quy định lãi suát huy động thấp Từ đó Ngân hàng Nhà nướckiểm soát, kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ
1.2.1.3 Tỷ giá hối đoái
* Cơ chế tác động: Thông qua hoạt động mua bán ngoại tệ trên thịtrường ngoại hối, sẽ làm tăng hoặc giảm lượng nội tệ trong nền kinh tếtức là tác động đến mức cung ứng tiền
Tuỳ theo loại hình áp dụng chính sách tỷ giá như : Thả nổi, Thả nổi
có quản lý mà sự tác động có sự khác nhau
1.2.2 Các công cụ gián tiếp
Nhóm công cụ này sẽ tác động trực tiếp vào các mục tiêu hoạt độngcủa chính sách tiền tệ; tác động này lan truyền đến các mục tiêu trunggian: Lãi suất, khối tiền cung ứng
1.2.2.1 Dự trữ bắt buộc
a- Khái niệm:
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các Ngân hàng thương mại buộc phảiduy trì trên một tài khoản tiền gửi không hưởng lãi tại Ngân hàngTrung ương - Ngân hàng nhà nước ( NHNN)
b- Cơ chế tác động:
- Tăng dự trữ bắt buộc (Rd ) Re dẫn đến làm giảm khả năngcho vay, khả năng tạo tiền giảm tiền cung ứng Ms
- Rd hệ số tạo tiền khả năng cho vay Ms
- Rd Re cung vốn ( trên thị trường liên ngân hàng ) làm tănglãi suất liên Ngân hàng lãi suất cho vay khả năng cho vay ( dochi phí đầu vào tăng )
c- Ưu - nhược điểm
- Do tác động mạnh vào hệ số tạo tiền ( m1 = Re
Trang 7Do tác động của công cụ này rất mạnh và đột ngột nên sẽ gây khókhăn trong việc quản lý vốn, tăng chi phí, giảm lợi nhuận của cácNgân hàng ( Nếu không dự tính tốt có thể các Ngân hàng phải đi vay
- Nguyên tắc cho vay
- Danh mục và chất lượng tài sản thế chấp
- Hạn mức tái chiết khấu( giới hạn tối đa được phép cho vay)
b- Cơ chế tác động
- Về mặt lượng: Công cụ chính sách tái chiết khấu tác động đếnlượng dự trữ của Ngân hàng thương mại bằng cả công cụ lãi suất vàphí lãi suất
+ hạn mức tái chiết khấu khuyến khích các Ngân hàng thươngmại vay dự trữ của hệ thống khả năng cho vay, khả năng tạotiền Ms
- lãi suất chiết khấu khuyến khích các Ngân hàng vay NHNN
dự trữ khả năng cho vay, khả năng tạo tiền Ms Tác động đếngiá ( hay lãi suất) cho vay của các Ngân hàng thương mại
+ hạn mức hoặc nới lỏng điều kiện phi lãi suất dự trữ cungvốn trên thị trường liên Ngân hàng lãi suất liên Ngân hàng lãisuất cho vay, mở rộng cho vay Ms
+ Lãi suất tái chiết khấu chi phí đầu vào của vốn ( Các Ngânhàng thương mại) lãi suất cho vay
1.2.2.3 Nghiệp vụ thị trường mở
a- Khái niệm
Nghiệp vụ thị trường mở ( NVTTM hay OMO) là các hoạt động củaNgân hàng nhà nước trên thị trường mở thông qua việc mua bán cácchứng khoán
b- Cơ chế tác động
- Mua( Bán) chứng khoán tăng ( giảm) dự trữ của các Ngân hàngthương mại tăng (giảm) khả năng tạo tiền Ms(giảm)
Trang 8- Vốn khả dụng của các Ngân hàng tăng ( giảm) sẽ làm tăng ( giảm)cung vốn trên thị trường liên ngân hàng lãi suất trên thị trường nàygiảm ( tăng) tăng ( giảm) giá chứng khoán ngắn hạn (tăng) mứcsinh lời chứng khoán ngắn hạn (tăng) mức sinh lời chứng khoán dàihạn (tăng) cầu chứng khoán khả năng tiêu dùng sẽ ( giảm) tăngsản lượng, giá cả hoặc sẽ làm chi phí vay vốn đầu tư
- NHNN bán chứng khoán cung chứng khoán này trên thị trường
giảm gía chứng khoán lãi suất chứng khoán tăng ( hoàn vốn) cầu về chứng khoán nói trên người tiêu dùng có xu hướng rút tiềnmua chứng khoán
Để ngăn chặn tình trạng này, ngân hàng sẽ tăng lãi suất huy động lãi suất cho vay
c- Ưu - nhược điểm
Đây là một công cụ rất mạnh của NHNN, giúp NHNN chủ độngtrong việc điều tiết lượng tiền cung ứng
- Công cô NVTTM rất linh hoạt, có thể sử dụng vào bất cứ thờiđiểm nào mà không sợ đổ vỡ như công cụ dự trữ bắt buộc dohoàn toàn cơ chế thị trường tác động
- - Có thể làm thay đổi cung tiền một cách chính xác
Đây là một công cụ mạnh nhưng để phát huy tác dụng cần phải có:
+ Thị trường tiền tệ thứ cấp phát triển
+ Trình độ dự báo và quản lý vốn khả dụng của các ngân hàng phảitốt
+ Số lượng thành viên tham gia giao dịch trên thị trường đủ lớn
+ Hàng hóa trên thị trường đa dạng phong phó
Như vậy ta đã sơ qua về chính sách tiền tệ và các công cụ của nó.Vậy thì trong thời gian vừa qua , những công cụ nào được sử dụng vàhiệu quả ra sao ở Việt nam Vì vậy tiếp theo ta sẽ xem xét đánh giathực trạng hoạt động của các công cụ đó
Chương 2
Trang 9THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ
Trong thập kỷ 90 và những năm đầu thế kỷ XXI, NHNN Việt namthực tế đã sử dụng một loạt các công cụ chính sách tiền tệ như: lãisuất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, nghiệp vụ thịtrường mở Về cơ bản NHNN đã thực hiện tốt nhiệm vụ của mìnhtrong điều tiết lượng tiền cung ứng ; ổn định giá cả lãi suất ; luôn giữlạm phát chấp nhận được( một con số ) Đặc biệt là vượt qua cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực Tuy vậy trong điều hànhmột số công cụ, NHNN còn tỏ ra cứng nhắc, thiếu linh hoạt cho nênchưa phát huy hết hiệu quả tối đa của công cụ Ví dụ: Công cụ nghiệp
vụ thị trường mở mới đưa vào sử dụng từ 01/2000 bước đầu vẫn cònnghèo nàn, chưa sôi động
Để hiểu rõ hơn, ta sẽ phân tích thực trạng trong hoạt động của từngcông cụ sử dụng
Tuy vậy bước đầu trong thời kỳ đó, hạn mức này đã khống chếđược mức tăng chi nợ ngắn hạn là 24% so với năm 1993 Đến 1995hạn chế của công cụ này bộc lộ rõ nét khi mà mức tăng dư nợ tín dụngthực tế vượt hạn mức 0,66 lần Đến 1997 – 1998 thì ngược lại hạn mứclại thừa ra so với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế Công cụ hạnmức tỏ ra không có hiệu quả do phải có những điều kiện đặc biệt mớiphát huy tác dụng của nó Mặt khác công cụ mang nhiều tính chấthành chính mệnh lệnh và thiếu linh hoạt, đặc biệt là thiếu căn cứ trongviệc xác định hạn mức tín dụng và sự lỏng lẻo của các chế tài
Trang 102.2 Công cụ lãi suất
Do hạn chế về mặt kiến thức, thời gian cũng như tư liệu, nên em chỉxin nêu và đánh giá thực trạng công cụ lãi suất một vài năm gần đâyđặc biệt là những mốc quan trọng đánh dấu bước ngoặt trong điềuhành lãi suất
Từ năm 1991, hệ thống ngân hàng chuyển sang mô hình 2 cấp;trong hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ NHNN sử dụng vàđiều hành linh hoạt công cụ lãi suất phù hợp mục tiêu ngắn hạn, dàihạn
+ Từ 1991 đến 06/1992 NHNN quy định các mức lãi suất tiền gửi
và cho vay, mục tiêu chống lạm phát
+ 06/1992 đến 1995 thực hiện cơ chế lãi suất thực dương tức là quyđịnh lãi suất huy động và cho vay với mục tiêu là kiềm chế lạm phát,tăng trưởng kinh tế
+ 1996 đến 07/2000 thực hiện trần lãi suất cho vay có phân biệt khuvực áp dụng : Thành thị, nông thôn
+ 08/2000 đến 05/2002 thực hiện cơ chế lãi suất cơ bản Đây làbước ngoặt trong cơ chế điều hành lãi suất theo hướng tiến tới tự dohóa lãi suất Việc chuyển đổi này thông qua quyết định 241/QĐ –NHNN1 của thống đốc NHNN Theo luật NHNN Việt nam “ Lãi suất
cơ bản là lãi suất do NHNN Việt nam công bố làm cơ sở cho các tổchức tín dụng ổn định lãi suất kinh doanh”
Theo đó trên thực tế, hàng tháng NHNN Việt nam công bố lãi suất
cơ bản , các tổ chức tín dụng căn cứ vào đó sẽ xác định lãi suất chovay các khách hàng không vượt quá lãi suất cơ bản và biên độ doThống đốc NHNN Việt nam quy định cho từng thời kỳ và hiện naybiên độ đó là 0,3% / tháng với lãi suất cho vay ngắn hạn , cộng 0,5%/tháng với lãi suất cho vay dài hạn
Trang 11Bảng 1:
DIỄN BIẾN LÃI SUẤT CƠ BẢN VÀ LÃI SUẤT CHO VAY
CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
(01/2001 – 05/2002)Tháng Lãi suất cơ bản Lãi suất cho vay bìnhquân TT thành thị Lãi suất cho vay bìnhquân TT nông thôn
Trang 12còn yếu, thế chấp trên thị trường này thường Ýt hoặc không có dẫn tớicác ngân hàng lớn dễ bỏ qua thị trường này
+ Giai đoạn từ 01/06/2002 đến nay với việc ra đời lãi suất thỏathuận NHNN đã thực sự áp dụng “ tù do hóa lãi suất” hay “ lãi suất thịtrường” Theo đó các tổ chức tín dụng và người đi vay trực tiếp thỏathuận với nhau về mức lãi suất cho vay Tuy nhiên NHNN Việt namcũng vẫn sẽ công bố lãi suất cho vay cơ bản có tham khảo lãi suất chovay của 04 ngân hàng thương mại lớn nhất Hiện nay mức này là:0,62%/tháng
+ Riêng với lãi suất cho vay bằng đồng đô la Mỹ( USD) ngày29/05/2001, Thống đốc NHNN Việt nam đã ra quyết định số 178 chophép các tổ chức tín dụng ổn định lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ trên
cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn tín dụng bằng ngoại
tệ ở trong nước , bãi bỏ cơ chế cho vay bằng USD tối đa bằng lãi suấtSIBCR+ biên độ được qui định bởi Thống đốc NHNN
2.3 Tỷ giá hối đoái
Có thể kể qua các giai đoạn như sau:
và đến nay là + 0,25% Như vậy tính từ 02/1999 NHNN Việt nam đãnới rộng biên độ giao dịch kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàngthương mại và các tổ chức được phép khác từ mức 0,1% lên mức0,25% Đồng thời chuyển từ việc khống chế sàn dưới của biên độ giaodịch trước đây sang việc quy định mức khống chế là - 0,25% so với tỷgiá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của ngày giaodịch gần nhất trước đó do NHNN công bố
2.4 Dự trữ bắt buộc
- Giai đoạn từ tháng 03/1991 - 03/1995
Trang 13- Từ 09/1995 đến nay
Từ khi ban hành quyết định 260/QĐ NHNN1 ngày 19/09/1995 mức
dự trữ bắt buộc được tính chung cho tất cả tiền gửi không phân biệttiền gửi có kỳ hạn hay không có kỳ hạn dưới 12 tháng
So sánh các lần tăng giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc với các mức lạmphát và lãi suất ta thấy chúng có quan hệ tỉ lệ thuận với nhau Điều nàyrất dễ thấy trong diễn biến của tỉ lệ dự trữ bắt buộc năm 1999 - nămchính phủ mở rộng tiền tệ để kích cầu; lãi suất trần giảm 4 lần thì tỉ lệ
dự trữ bắt buộc cũng giảm 3 lần Cụ thể hơn trong 6 tháng đầu năm
2001, NHNN có quyết định giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc bằng VNĐ từ5% xuống còn 3% ( riêng ngân hàng nông nghiệp và phát triển nôngthôn hạ từ 3% xuống 2% ) với ngoại tệ giảm từ 15% xuống còn 10%
Mặc dù quyết định được đưa ra với mục đích kích cầu nhưng phảnứng trên thị trường tiền tệ lại ngược lại Theo lời một giám đốc ngânhàng thương mại quốc doanh: " Về nguyên tắc khi dự trữ bắt buộcgiảm thì tổng phương tiện thanh toán phải có điều kiện tăng lên Tuynhiên trên thực tế trong 6 tháng đầu năm, tổng phương tiện thanh toánlại tăng chậm hơn so với mức tăng cùng kỳ năm trước (năm 2000) Cóthể lý giải vấn đề này là do mức tăng trưởng tín dụng và tổng huy độngvốn đều có mức tăng chậm hơn so với cùng kỳ năm ngoái ( năm 2001
so với năm 2000) trong khi mức cung tiền đạt thấp
2.5 Chính sách tái chiết khấu
Trong giai đoạn trước tháng 03/1997, NHNN quy định lãi suất táicấp vốn( tái chiết khấu) theo lãi suất cho vay trên từng khế ước xin táicấp vốn; chính vì vậy mà lãi suất tái chiết khấu mang tính bị động , lãisuất này còn mang tính phân biệt giữa các ngân hàng Kể từ 03/1997trở đi, cùng với việc hoàn thiện cơ chế lãi suất, lãi suất tái chiết khấu
đã được xác định một cách độc lập sau mỗi lần thay đổi lãi suất trần,NHNN còng thay đổi mức lãi suất tái cấp vốn tương ứng để đáp ứngchính sách tiền tệ mở rộng phục vụ mục đích kích cầu nền kinh tế quacác năm 1999,2000 và 2001 Lãi suất tái chiết khấu liên tục được điềuchỉnh giảm khuyến khích các ngân hàng thương mại vay vốn làm tăngvốn khả dụng, dự trữ; tăng năng lực cho vay tức là tăng cung ứng tiền
ra nền kinh tế