Cõi nhân sinh hiện vềvới nhiều trang viết ngồn ngộn chất sống từ hương đồng rơm rạ của chốn hương quê Việt Namqua các ngòi bút tài danh một lần nữa khẳng định sức sống mới tập trung và t
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Nông thôn -– nơi chứa đựng những trầm tích về văn hóa truyền thống luôn nằm ởmạch ngầm trong đời sống của người dân Việt Nam,, BởiĐó là những giá trị truyền thống vănhóavốn để đã kết thành những phẩm chất trong sáng, đẹp đẽ ở người nông dân Cũng Và dĩnhiên, nơi đóchính mảnh đất này đã đọng lại không ít những nỗi đau, tủi hờn, oan khuất đeobám người dân quê… Hiện thực đời sống xã hội nông thôn và người nông dân Việt Nam đãđược ánh xạ và in dấu lên mọi sáng tác văn học Điều đó đã được minh định từ thực tiễn sángtác, từ truyền thống văn học dân tộc suốt trường kỳ lịch sử với những hình ảnh mộc mạc, đẹp
đẽ của làng quê Việt Nam Và chúng từng lưu giữ trong các sáng tác của tập thể dân gian Cácvăn thi sĩThời trung đại, các nhà nho – thi sĩ ưu ái dành riêng chốn quê Việt Nam những vầnthơ chân mộc, sâu lắng ân tình Những năm 1930-1945, vVăn học lãng mạn, bám rễ vào nguồnmạch dân tộc nhưng tâm hồn lại hút gió Tây phương, vẫn neo đậu một hồn quê nơi bạn đọc.Vào Những năm 1930-1945,Các nhà các nhà văn hiện thực phê phán đã khẳng định sự thànhcông khi dựng nên bức tranh nông thôn với những mảngh tối -– sáng về thân phận của ngườinông dân oằn mình dưới ách thống trị thực dân phong kiến Văn học cách mạng đã kế thừathành tựu của văn học hiện thực phê phán, khẳng định khả năng đấu tranh vươn lên làm chủcủa những người cần lao như một sự phát hiện, hàm ơn với nền văn học của một thời “mấtnước nhưng không mất làng” Suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ
vĩ đại, thần thánh thì hình ảnh làng quê với người nông dân mặc áo lính đã đi vào văn học nhưnhững biểu tượng đẹp trong kí ức hào hùng của dân tộc
1.2 Đại thắng mùa Xuân 1975 đã khép lại cuộc chiến tranh, non sông liền một dải.Đất nước dần chuyển mình từ thời chiến sang thời bình, một kỷ nguyên mới mở ra với lắmbộn bề nhưng cũng nhiều khát vọng Chính điều đó là mảnh đất màu mỡ để văn học sau
1975 vươn mình lớn dậy và tỏa bóng xuống cuộc sống rộng lớn, mênh mông Đặt biệt,luồng gió tư tưởng đổi mới kể từ sau Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đã tạo thành cơnluân vũ mãnh liệt tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, tạo nên bầu không khí dânchủ, cởi mở, tiến bộ hơn, trong đó có văn học - một bức tranh nhiều màu sắc với khát vọng
vẽ trọn vẹn chân dung tâm hồn con người của thời đại từ những miền quê Trong sự pháttriển mạnh mẽ và toàn diện của nền văn học mới, mảng văn học nông thôn chiếm một vị tríkhông nhỏ cả về số lượng lẫn chất lượng, góp phần làm nên diện mạo, thành tựu, tác dụng
xã hội và tính đặc thù của nền văn học
Tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam sau 1975, nhất là sau đổi mới vẫn tiếp tục
“thâm canh” trên mảnh đất đầy tiềm năng này nhưng phương thức khai thác đã thay đổi Điều
dễ nhận thấy: “Về mặt đề tài và cảm hứng sáng tạo đều hướng về đời thường, tiếp cận nhữngmặt bình dị, và cảm động Lòng yêu cuộc sống vốn thấm sâu vào tâm hồn và cách cảm nhậncủa các cây bút đã giúp cho các tác giả thanh lọc, chắt lấy phần cốt lõi của sự vật và khai thác
Trang 2những giá trị nhân văn gần gũi Đáng quý trong sáng tác của mình, các tác giả luôn có ý thứctôn trọng truyền thống nhưng vẫn mở ra đón nhận cái mới” [49;tr.199] Cõi nhân sinh hiện vềvới nhiều trang viết ngồn ngộn chất sống từ hương đồng rơm rạ của chốn hương quê Việt Namqua các ngòi bút tài danh một lần nữa khẳng định sức sống mới tập trung và toàn diện trongcảm hứng viết về nông thôn Việt -– đề tài cuốn hút một cách tự nhiên như sự sống còn của mộtdân tộc “chín phần mười đất nước nông dân”.
Đề tài nông thôn được các tiểu thuyết gia quan tâm sâu sắc, nhiều chiều hơn vớinhịp chuyển động của nó trong hơi thở hiện thực, nhất là từ những năm 1975 trở đi, tiểuthuyết viết về nông thôn đã có sự đổi mới cảm hứng, cấu tứ, thi pháp để tạo nên cách nhìnnhận và tái tạo lại hiện thực một cách đầy đủ, sinh động hơn mà tiểu thuyết nông thôncùng
đề tài trước đó do nguyên nhân chủ quan và khách quan chưa làm được: “Nông thôn sau
1986 đã có cái nhìn khác trước Nếu các nhà văn trước 86 đứng ở phương diện xã hội vàphong trào để nhìn con người thì các nhà văn sau 86 đã đứng ở góc độ con người, xã hội vàcác vấn đề chung” [24;tr.53-36]
Từ thực tế trên, tiểu thuyết viết về nông thôn dần thu hút được sự quan tâm của bạnđọc Đã có một số bài viết hoặc một vài cuốn sách, nhưng tất cả hầu như chỉ mới dừng lại ởphạm vi hẹp, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về
đề tài này Đây là khoảng trống không nhỏ cần sự góp sức của tất cả những ai quan tâm đếnmảng tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mớiđương đại
Vì vậy, chọn đề tài Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn từ 1986 đến nay, chúng tôi mong muốn có một cái nhìn tương đối hệ thống về toàn bộtiến trình vận động và phát triển cũng như những đặc điểm và thành tựu trên bình diện nộidung và hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết nông thôn Việt Nam viết về nông thôngiai đoạn
từ 1986 đến 2012nay Qua đó, thấy được quy luật vận động của tiểu thuyết Việt Nam viết vềnông thôn Việt Nam sau chiến tranh cũng như trên con đường giao lưu của văn học dân tộc vớivăn học thế giới
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Lựa chọn đề tài này, chúng tôi phần nào giới hạn đối tượng nghiên cứu Vì vậy, toàn
bộ các sáng tác của tiểu thuyết viết viết về nông thôn Việt Nam từ 1986 đến 2012 sẽ là đốitượng trực tiếp để khảo sát Riêng đề tài nông thôn miền núi, chúng tôi tạm thời không đềcập đến trong luận án Số lượng tác phẩm viết về nông thôn miền núi sau đổi mới khá lớn(chủ yếu truyện ngắn), nội dung lại phong phú, độc đáo nên cần chuyên luận riêng đểnghiên cứu kĩ lưỡng và sâu rộng Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có liên
hệ, so sánh nhằm chứng minh nét riêng của tiểu thuyết viết về nông thôn
Sở dĩ chúng tôi chọn mốc thời gian này, vì đó là mốc đánh dấu sự đổi mới toàn diệncủa đất nước; văn xuôihọc nói chung, tiểu thuyết viết viết về nông thôn nói riêng đã có bước
Trang 3ngoặt chuyển mình để đi đến những thành tựu đáng ghi nhận như hôm nay Tất nhiên, giớihạn mốc lựa chọn để khảo sát chỉ có ý nghĩa tương đối, vì hiện tượng đổi mới tiểu thuyết đã
có bước chuẩn bị khá sớm vào đầu những năm 1980 với một số tác giả có đóng vai trò tiềntrạm như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Lựu, Đoàn Lê…
Nhìn lại chặng đường phát triển, số lượng tiểu thuyết viếtviết về nông thôn rất lớn,chưa có giai đoạn nào trước đây sánh kịp Dẫu biết rằng, trong sáng tác, vấn đề không chỉ sốlượng, mà ở chất lượng nên những cuốn tiểu thuyết có giá trị được sàng lọc qua thời gian và
đã được bạn đọc quan tâm, giới nghiên cứu thừa nhận (thông qua các giải thưởng danh dự)được tác giả luận án triển khai khảo sát kĩỹ hơn như Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội của (LêLựu), Bến không chồng, Dưới chín tầng trời của (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma của (Nguyễn Khắc Trường), Lời nguyền hai trăm năm của (Khôi Vũ), Lão Khổ
của (Tạ Duy Anh), Thủy hỏa đạo tặc, Đồng sau bão của (Hoàng Minh Tường), Dòng sông Mía của (Đào Thắng), Ba người khác của (Tô Hoài), Ma làng của (Trịnh Thanh Phong),
Cuồng phong của (Nguyễn Phan Hách), Giời cao đất dày của (Bùi Thanh Minh), Thần thánh và bươm bướm của (Đỗ Minh Tuấn, Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh)…
Ngoài ra, để thấy được sự chuyển mình và phát triển cũng như sự đổi mới của tiểuthuyết viếtviết về nông thôn sau 1986 so với trước, chúng tôi đã có cái nhìn đối sánh với giaiđoạn từ 1932 đến 1975 và giai đoạn tiền đổi mới (1975 - 1985) được xem lànhư bước chuẩn
bị cho sự đổi mới của tiểu thuyết viếtviết về nông thôn như Con đường sáng của (Nhất Linh,Hoàng Đạo), Bước đường cùng của (Nguyễn Công Hoan), Tắt đèn của (Ngô Tất Tố), Con trâu của (Nguyễn Văn Bổng), Cái sân gạch của (Đào Vũ), Xung đột của (Nguyễn Khải),
Bão biển của (Chu Văn), Buổi sáng, Đất làng của (Nguyễn Thị Ngọc Tú), Ao làng của (NgôNgọc Bội), Đi bước nữa của (Nguyễn Thế Phương), Cửa sông của (Nguyễn Minh Châu),
Đứng trước biển, Cù lao Tràm của (Nguyễn Mạnh Tuấn)… Đồng thời, chúng tôi cũng tìmhiểu một số thể loại khác như bút ký, truyện ngắn viết về nông thôncùng đề tài ở thời kỳ trước và sau 1986, nhằm thấy được sự vận động toàn cảnh của văn xuôi Việt Nam viết vềnông thôn trong tiến trình lịch sử văn học
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Từ đối tượng như vậy, tác giả xác định phạm vi của luận án là nghiên cứu những tiền
đề để tạo nên diện mạo hành tựu của tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn Việt Nam giaiđoạn từ 1986 đến 2012 như tư duy nghệ thuật; nhu cầu nhận thức về hiện thực đa chiều; diệnmạo của tiểu thuyết viết về nông thôn trong mạch nguồn của tiểu thuyết đương đại…
Từrong đó, chúng tôi chọn khảo sát những yếu tố đổi mới nổi bật, những phương diện nộidung và nghệ thuật đặc trưng Chúng tôi cũng cố gắng làm sáng tỏ một số vấn đề như:nguyên nhân dẫn đến sự đổi mới của tiểu thuyết nông thôn, sự riêng khác trong việc phảnánh hiện thực nông thôn, những nét mới trong phương thức biểu hiện của tiểu thuyết nôngthôn đương đại và chỉ ra những tác phẩm tiêu biểu có sự đóng góp trong tiến trình hiện đạihóa văn xuôi nói chung, tiểu thuyết về đề tài nông thôn nói riêng.thấy được những đóng góp
Trang 4quan trọng, có ý nghĩa của tiểu thuyết viết về nông thôn trong tiến trình đổi mới văn xuôiViệt Nam sau 1986 trong tính chỉnh thể nội dung và hình thức như quan niệm hiện thực vàcon người cùng những phương thức, phương tiện biểu hiện đặc sắc của chúng
Sau 1986, viết về nông thôn, một số tác giả tiếp tục quay trở lại đề tài cải cách ruộng, hợp tác hóa nông nghiệp Vấn đề này rất nhạy cảm nhưng đã được tiểu thuyết quan tâm một cách rốt ráo vào những năm 1960 Những trầm tích về văn hóa truyền thống nằm
ở mạch ngầm trong đời sống nông thôn Việt Nam Bởi đó thực sự là những giá trị truyền thống bề sâu như phong tục, tập tục, tập quán để kết thành những phẩm chất trong sáng, đẹp đẽ của nông dân Việt Nam, dĩ nhiên, cũng từ đó đọng lại không ít nỗi đau, những tủi hờn, oan khuất đeo bám họ
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
3.1 Phương pháp nghiên cứu xã hội học văn học: vận dụng để nghiên cứu tiến trình vận
động và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn, nghiên cứu các tác phẩm tiêubiểu đóng góp tích cực vào việc đổi mới của tiểu thuyết nông thôn Việt Nam viết về nôngthôngiai đoạn từ 1986 đến năm 2012
3.2 Phương pháp phân tích, so sánh: nhằm làm sáng tỏ giá trị nội dung và nghệ
thuật, sắc thái độc đáo giữa những sáng tác của tiểu thuyết viết về nông thôn cùng và khôngcùng giai đoạn; đồng thời so sánh sự đổi mới của tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới(1986 - – 2012) với trước đổi mới (1932-1985); so sánh thể loại tiểu thuyết và các thể loạikhác (truyện ngắn, kí, bút kí) trong cùng đề tài (đồng đại) để thấy được nét nổi trội vềnhững đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết viết về nông thôn
3.3 Phương pháp cấu trúc, hệ thống , thi pháp: được sử dụng để nghiên cứu mốiliên hệ nội tại hữu cơ của tác phẩm, đồng thời có cái nhìn tổng thể, khái quát về sự chuyểnmình, đổi mới của tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn từ 1986 đến 2012này; tTiếp cậndưới góc độ thi pháp đưa đến sự thuận lợi trong việc khám phá những cấu trúc phức tạp của
thể loại tiểu thuyết như ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu…
4 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
4.1 Qua khảo sát Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn từ 1986 đến nay trên bình diện tổng thể (một giai đoạn) và trên bình diện cụ thể (từng
tác phẩm) để triển khai thành một hệ vấn đề, luận án đã góp phần nhận diện chung nhất tiếntrình vận động và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam Việt Nam viết về nông thôn từ 1986đến 2012, Trong đó, chú trọng giai đoạn sau đổi mới, một mặtnhằm thấy được sự kế thừa,tiếp nối những thành tựu củaquả giai đoạn trước 1986 và những vấn đề mà giai đoạn trướcđang đặt ra cho giai đoạn sau tiếp cận và phản ánh Qua đó, mặt khác thấy được sự bứt phácủa giai đoạn sau trong bước chuyển mình của của tiểu thuyết viết về nông thôn đươngđạigiai đoạn này trong bước chuyển mình của đời sống xã hội và ý thức nghệ thuật của chủthể sáng tạo tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc
Trang 54.2 Khẳng định những thành tựu của tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn từ
1986 đến 2012n nay là có cơ sở từ những điều kiện chính trị, xã hội của đất nước sau 1975,
và là sự đòi hỏi tự thân của văn học nói chung, tiểu thuyết viết về nông thôn nói riêng trong
sự tiếp tục phát triển ở thời kỳ đổi mới
4.3 Luận án vận dụng những phương pháp tiếp cận mới của khoa nghiên cứu vănhọc, đồng thời học tập một số kinh nghiệm nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà nghiên cứuphê bình văn học như M Bakhtin, Roland Bartherr, Iu.M Lotman… giúp bạn đọc có cáinhìn mới mẻ vềvề tiểu thuyết Việt Nam viếtViệt Nam viết về nông thôn sau đổi mới trên
cả hai phương diện nội dung và phương thức nghệ thuật so với so với thời kỳgiai đoạntrước đó Từ đó, đưa ra những kết luận có tính chất khái quát về sự đổi mới trong tư duynghệ thuật, trong việc phản ánh hiện thực và cả phương thức biểu hiện từ nguồn mạchchung trong tiến trình vận động của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
4.4 Hiện nay, tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết về nông thôn nói riêng đượcnhiều giới quan tâm nghiên cứu và bước đầu khẳng định những thành tựu Vả lại, giai đoạnvăn học sau 1975 được đưa vào chương trình giảng dạy ở bậc THCS, THPT và bậc Đạihọc, sau Đại học Tuy nhiên, tài liệu tham khảo về giai đoạn văn học này cũng như mảngtiểu thuyết về nông thôn vẫn còn ít ỏi Vì vậy, luận án cũng sẽ là một tài liệu tham khảohữu ích cho những ai quan tâm nghiên cứu, học tậpKết quả của luận án có thể dùng để đưavào chương trình giảng dạy ở bậc THCS, THPT và bậc Đại học, sau Đại học; đồng thờidùng làm tài liệu tham khảo để viết giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại về đề tài nôngthôn
5 CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Luận án gồm 150 trang chính văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Công trình tác giả
đã công bố có liên quan đến luận án, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Phụ chú, phần Nộidung của luận án gồm 4 chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn từ1986
đến nay
Chương 2: Diện mạo chung của tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn từ 1986 đến nay
Chương 3: Hiện thực và con người trong tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn
Trang 6NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT VIỆT
NAM
VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY
Trong lịch sử văn học Việt Nam, tiểu thuyết viết viết về nông thôn chiếm một vị tríquan trọng Đặc biệt, sau đổi mới (1986), tiểu thuyết viết về nóđề tài này đã góp phần làmnên diện mạo mới cho văn xuôi Việt Nam hiện đại Hành trình đi tìm lịch sử nghiên cứu
vấn đề Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn từ 1986 đến nay, chúng tôi đứng trước khối lượng tư liệu khá phong phú, in rải rác trên các tạp chí, báo
chuyên ngành và những công trình sách, luận văn, luận án đã hoặc chưa xuất bản Để xử lýnguồn tư liệu có được, rút ra những vấn đề liên quan đến luận án, chúng tôi tạm thời chiatình hình nghiên cứu thành các phương diện sau:
1.1 LUẬN BÀN MỘT CÁI NHÌN TOÀN CẢNH
1.1.1 Khẳng định sự đổi mới, lạc quan vào sự hồi sinh
Ở mảng văn xuôi nông thôn, Trần Cương có bài Nhìn lại văn xuôi viết về nông thôn trước thời kỳ đổi mới (1986) và Văn xuôi viết về nông thôn từ nửa sau 80 Từ điểm nhìn
tổng quan, tác giả đã khái quát được những nét cơ bản về nông thôn từ 1930 - 1975, nhìnchung bức tranh hiện thực nông thôn thuộc phần “bề nổi” của cuộc sống, đó cũng chính lànhững phần bức thiết bấy giờ Đến giai đoạn tiền đổi mới, trong bối cảnh Việt Nam sauchiến tranh với những tổn thất nặng nề, nền kinh tế tự cung tự cấp, cơ chế quản lý quanliêu, bao cấp ngày càng bộc lộ nhiều khuyết tật…, nên tâm lý chung của toàn xã hội là truytìm nguyên nhân của những yếu kém xuống cấp Đứng trước những trăn trở đó, văn xuôi
và tiểu thuyết viết về nông thôn bắt đầu chuyển mình và đạt được nhiều thành tựu đángkhích lệ, thế nhưng thật sự đổi mới phải bắt đầu sau Đại hội Đảng lần VI Sự đổi mới cóđược nhờ từ hai phía: sự chuyển mình của nông thôn và sự chuyển đổi điểm nhìn từ chínhbản thân của mỗi nhà văn Từ quan niệm đến cách cảm, cách nghĩ và tái tạo lại hiện thựctrên trang viết đã thực sự “trở dạ” Ở quan điểm riêng của mình, tác giả cho rằng sự chuyểnbiến đó trước hết là do sự mở rộng phạm vi chủ đề Trong văn xuôi nói chung, tiểu thuyếtviết về nông thôn nói riêng lần đầu tiên xuất hiện hai chủ đề: chủ đề về số phận con người
và hạnh phúc cá nhân mà trước đó chỉ mới nhen nhóm ở Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma… Hai là, sự chuyển biến trong phạm vi bao quát hiện thực.
Bức tranh hiện thực nông thôn trước 80 phần lớn chỉ là những hiện thực bề nổi của đời
Trang 7sống như Buổi sáng, Đất mặn… Sau những năm 1980, hiện thực nông thôn đã tịnh tiến vào
chiều sâu, mạch ngầm tâm thức của đời sống Việt, cách miêu tả đó đã “mang lại một giá trịnhận thức mới theo quan niệm “nhìn thẳng vào sự thật”… mà Đại hội Đảng lần thứ VI(1986) đã chỉ ra… Các nhà văn đã khắc phục được những mặt bất cập của giai đoạn trước,bám sát và bao quát những sự kiện, những vấn đề của đời sống nông thôn hiện tại”[24;tr.36] Tác giả khẳng định sự chuyển biến của xã hội hằn in dấu vết trong nông thôn là
có thật và có chiều sâu vững bền
Khác với Trần Cương, trong bài Tiểu thuyết mở đầu thế kỷ XXI trong tiến trình văn học Việt Nam từ tháng 8-1945, Phong Lê không đi sâu tìm hiểu văn xuôi viếtviết về nông thôn Ởđây, tác giả đã nhìn truyền thống văn học trên hai đề tài lớn: chiến tranh và nông thôn Trong
đó, đề tài nông thôn “có chiều dài lịch sử ngót một thế kỷ mà công lao tạo dựng đầu tiên là hơnmột thế hệ người viết, kể từ Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn… đến Ngô Tất Tố, Nam Cao…,
và cuộc tìm kiếm kéo dài hơn 20 năm, nhằm xác định một mô hình thích hợp cho sự phát triểncủa đất nước trong sự tương ứng với thời đại của những cuộc cách mạng xã hội và khoa học -–
kỹ thuật” [103;tr.21] Tác giả đã khái quát cả bước chuyển mình của nông thôn trong trang văn
của các bậc tiền bối Trong bài Các nhà tiểu thuyết nông thôn trong cơ chế thị trường, Hoàng
Minh Tường cũng khẳng định: mảng văn xuôi viết về nông thôn có lịch sử của nó, từ Hồ BiểuChánh, Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan… Những nhà văn này
đã giữ lại vốn văn hóa, đời sống tâm hồn người Việt ở thời đại họ và cho hậu thế, tạo một dòngchảy liên tục đến hôm nay Ông nhận định sâu về mặt chuyển biến của “mảng tiểu thuyết nôngthôn đã phần nào làm được một công việc là ghi lại những biến động ở nông thôn cùng nhữngđổi thay, những vật vã của một thời Hai chủ đề khá nổi bật được phản ánh trong hầu hết cáctác phẩm, là những xung đột âm ỉ quyết liệt về dòng họ, và cuộc vật vã thoát khỏi thời kỳ quan
niệm bao cấp, xác lập một cơ chế làm ăn mới” [181;tr.64] Góp lời nhận xét, trong bài Hiện trạng tiểu thuyết, Bùi Việt Thắng đã khẳng định: “Các nhà tiểu thuyết hôm nay đã từ bỏ được
lối nhìn dễ dãi về đời sống con người… Họ đã thôi nhìn nông thôn với cảnh điền viên, trốngdong cờ mở Nông thôn đích thực hiện ra trong tiểu thuyết của các anh trong khung cảnh “longtrời lở đất” rối rắm và cũng nhìn vào nông thôn ấy ta sẽ thấy cả xã hội Việt Nam mấy chụcnăm qua” [184;tr.9]
Nguyễn Hà, Tôn Phương Lan đi vào xác định ranh giới khác biệt của tiểu thuyếtviết về nông thôn trước và sau đổi mới Trong bài Về hướng tiếp cận mới đối với hiện thực trong văn xuôi sau 1975, Tôn Phương Lan cho rằng: “Lâu nay vấn đề người nông dân hầu
như chỉ được nhìn nhận qua vấn đề ruộng đất, vấn đề vào ra hợp tác xã, giờ đây vấn đề đóđược nhà văn nhìn vào số phận lịch sử của họ Và lịch sử đất nước được hiện ra qua lịch sửcuộc đời nhân vật trong cuộc mưu sinh, trong sự duy trì đóng góp để làm nghĩa vụ cho Tổquốc, với phần trách nhiệm của từng hoàn cảnh gia đình” [95;tr.50] Từ góc độ đó, tác giảchỉ ra rằng “đã có một cách soát xét lại một thời đã qua, thông qua những số phận cá nhân
Trang 8và những vấn đề của một làng xã, một dòng họ” [95;tr.48], trong đó “nổi bật lên là mốimâu thuẫn về quyền lợi cá nhân nấp dưới vấn đề họ tộc” [95;tr.40] Theo hướng này, trong
bài Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết Việt Nam nửa sau thập niên 80, xuất phát
từ cảm hứng nhân văn bi kịch trong con người, Nguyễn Hà rất tinh tế khi nhận xét: nhà tiểuthuyết quan tâm đến bi kịch cá nhân, khắc đậm trạng huống “một người -– hai mặt” củacon người Quan tâm đến con người nông dân nhưng ở kiểu loại khác, không phải nhữngngười nông dân xuất thân từ nông thôn, chủ yếu là những chiến binh trở về từ chiến trường
hòa mình vào cuộc sống nông thôn [57] Nhân dịp Cuộc thi tiểu thuyết lần 2 (2002-2004)
kết thúc, báo Sài Gòn giải phóng có cuộc trao đổi với nhà thơ Hữu Thỉnh -– Chủ tịch Hộinhà văn Việt Nam Trong cuộc trả lời phỏng vấn, ông khẳng định: có mùa gặt mới của tiểuthuyết viết về nông thôn đầu thế kỷ XXI Nét mới của cuộc thi tiểu thuyết lần 2 là các nhàvăn đã có sự mở rộng biên độ khi viết về nông thôn Họ “đặt nông thôn Việt Nam trongnhững biến cố của dân tộc đầy bão táp theo chiều dài lịch sử”, “với độ mở và góc khuất màtrước đó nhiều nhà văn chưa có điều kiện để truyền tải tới bạn đọc Những yếu tố đó tạo
nên bộ mặt và sức bền của nông thôn Việt Nam Qua Dòng Sông Mía, Cánh đồng lưu lạc… đã chứng tỏ được “sức sống của dân tộc, cốt cách của người nông dân được phác họa
bẫy Do đó, mảng sáng tác “về nông thôn và nhân dân vẫn là một đề tài lớn”, “vẫn có sức lôi cuốn bạn đọc, vẫn kích thích các nhà văn sáng tạo” [22] Phạm Ngọc Tiến trong bài Đề tài nông thôn không bao giờ mòn cũng có cái nhìn lạc quan Tác giả khẳng định đề tài nông thôn không hề “bạc màu”, “không bao giờ mòn” Bởi, nông thôn Việt Nam đang từng bước
chuyển mình, đáng được ghi nhận Quá trình nông thôn hóa, sự tác động của công nghiệpvào nông nghiệp, sự lai căng về văn hóa…, cũng có mặt tích cực và tiêu cực nên đáng đểcác nhà văn suy ngẫm, trăn trở [169] Cùng quan điểm, trong cuộc trả lời phỏng vấn vớibáo Nông nghiệp Việt Nam, Nguyễn Đăng Điệp đánh giá rất xác đáng: “Văn học về nôngdân và nông thôn tuy ít người theo đuổi nhưng vẫn chưa đến mức đoản mệnh”, “số lượngngười viết về nông thôn nhiều hay ít không phải là quá quan trọng mà quan trọng hơnnhiều là làm sao để có được nhiều tác phẩm hay” [53] Bùi Ngọc Tấn cũng rất tin tưởng,lạc quan khi cho rằng: trong thời gian gần đây, mảng văn học nói chung, tiểu thuyết viết vềnông thôn nói riêng có những tác phẩm hay, đáp ứng được tầm đón đợi của bạn đọc:
“Chúng ta sẽ viết được những cuốn tiểu thuyết như chúng ta hằng mong ước, cũng như tôi
Trang 9luôn tin mỗi giọt máu của chúng ta đều cháy lên lòng yêu nhân dân, yêu đất nước; mộtnhân dân, một đất nước đã đổ máu, đổ mồ hôi, đang vượt qua mọi khó khăn để xây dựngcuộc sống mới và đang chờ đón những tác phẩm của chúng ta” [53].
Trong công trình nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 -– 2005: Diện mạo và đặc điểm, Lê Thị Hường đã chỉ ra được những đặc điểm chính của tiểu thuyết giai đoạn này là sự
đa dạng về hệ đề tài, trong đó đề tài nông thôn là một trong những đề tài có lực hút đối với cácnhà tiểu thuyết đương đại: tiểu thuyết về đề tài nông thôn sau 1986 đã gây được ấn tượng Cácnhà văn đã gặp gỡ nhau ở vấn đề cốt lõi của nông thôn: gia đình và dòng tộc, phong tục, nếpnghĩ, nếp sống của những con người sống trên những mảnh đất phần lớn còn chịu sức đè củanhững thói tục cũ [86] Năm 2000, trong Luận án Tiến sĩATS Ngữ văn, Nguyễn Mạnh Hùng
đã khảo sát Sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1975 một cách có hệ thống và có
những đóng góp đáng kể Trên phương diện đề tài, tác giả nhận xét rất xác đáng về vị trí của đềtài nông thôn trong dòng chảy văn học: “Công cuộc xây dựng và phát triển đất nước bây giờ lànhiệm vụ trung tâm của thời đại, nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu và phần lớn số dân
là nông dân, vai trò to lớn của nông dân và nông nghiệp đối với đất nước, lối sống và tâm lýnông dân cũng như ảnh hưởng của chúng đối với đời sống xã hội, cảnh sắc làng quê và hấpdẫn của nó đối với nghệ thuật, và cao hơn hết là sự hiểu biết cũng như tình cảm của nhà vănđối với người nông dân với những bước đường đi theo cách mạng” [82;tr.65] Và đề tài nông
thôn đã, đang và sẽ rất hấp dẫn đối với tiểu thuyết gia đương đại: “Tiếp bước những Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm của Đào Vũ Bão biển, Đất mặn của Chu Văn Tầm nhìn xa, Xung đột của Nguyễn Khải Ao làng của Ngô Ngọc Bội Buổi sáng, Hạt mùa sau của Nguyễn Thị Ngọc Tú.
Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn…, thì Thủy hỏa đạo tặc của Hoàng Minh Tường xứng
đáng là cuốn tiểu thuyết mở đường cho một hướng đi mới trong việc tiếp cận hiện thực nôngthôn - – cái hiện thực của quá khứ, của hiện tại và của tương lai, cái hiện thực gắn với sự sinhtồn của dân tộc, một hướng đi mà từ đó tiểu thuyết sẽ phát huy hết khả năng thể loại của mình”[82;tr.75] Năm 1996, trong Luận án phó PTiến sĩ SNgữ văn Văn xuôi viết về nông thôn trong
công cuộc đổi mới qua một số tác giả tiêu biểu, Lã Duy Lan đã nhìn lại văn xuôi viết về nông
thôn trước 1986 và cũng đã đánh giá được diện mạo chung của văn xuôi viết về nông thôn sau
1986 đổi mới trên bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật Năm 2012, trong Luận án
ATiến sSĩNgữ văn Văn xuôi viết về nông thôn trong văn học Việt Nam sau 1975, Bùi QuangTrường đã khái lược đề tài nông thôn trong văn xuôi Việt Nam trước 1975: đề tài nông thôntrong văn xuôi quốc ngữ buổi giao thời 1900 - – 1930, 1930 -– 1945, 1945 -– 1975, đặc biệttác giả đã có cái nhìn bao quát về đề tài nông thôn trong văn xuôi từ 1975 đến 2011nay Trênphương diện đề tài, tác giả nhận xét: “Trong khoảng thời gian 35 năm, kể từ 1975 đến nay,văn xuôi viết về nông thôn đã có những bước phát triển vượt bậc Sự phát triển này không chỉthể hiện số lượng tác giả đông đảo, ở số lượng tác phẩm lớn mà quan trong hơn là sự thay đổiquan niệm nghệ thuật về con người, về tư duy nghệ thuật, đổi mới về đề tài, phương thức biểu
Trang 10hiện … Tất cả những thay đổi này chính là bằng chứng cho sự phát triển mạnh mẽ của vănxuôi viết về nông thôn sau 1975 -– một giai đoạn mới trong sự phát triển của văn xuôi ViệtNam hiện đại viết về nông thôn” [215;tr.43-44].
Như vậy, nhiều bài viết khẳng định văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn đã thực sự hồi sinh, để lại dấu ấn qua mỗi giai đoạn, mỗi tác giả và tác phẩm., tuy nhiên vẫnchưa có những đỉnh cao, gây được tiếng vang lớn như một số tác phẩm giai đoạn 1932-
1945 Trên thực tế, các nhà văn viết về đề tài nông thônnó sau đổi mới đã không đi theo những lối mòn quen thuộc, mà đã có những bước chuyển mình, hứa hẹn những thành tựu
mới trong tương lai Tuy nhiên, tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn sau đổi mới vẫn chưa
có những đỉnh cao, gây được tiếng vang lớn như một số tác phẩm giai đoạn 1932-1945
1.1.2 Quan ngại về dấu hiệu chững lại
Những năm trở lại đây, một số nhà văn, nhà nghiên cứu băn khoăn trước thực trạng ngày càng thưa dần, thiếu vắng các tác phẩm viết về nông thôn Trong bài Đề tài về người nông dân, làm sao cho xứng tầm, Đào Thái Tuấn cho rằng: nông thôn Việt Nam đang
“đứng trước công cuộc Công nghiệp hóa -– Hiện đại hóa đất nước hiện nay rất nhiều vấn
đề về Nông nghiệp - – Nông thôn đã nảy sinh” Vì vậy,, do đó “mảng về văn học nông thônrất quan trọng”, nNhưng thời gian gần đây “chỉ lẻ tẻ một vài tác phẩm viết về nông thôn”,
“các nhà văn chưa đi sâu vào để tiếp tục khai thác”., Do đó,Vì vậy “đây là một thiếu sótcủa giới sáng tác văn học nghệ thuật” [177;tr.22] Đây chính là dấu hiệu của sự chững lạicủa văn xuôi và tiểu thuyết viếtviết về đề tài nông thôn và nó còn kéo dài sang cả thập niên
đầu của thế kỷ XXI Trong bài Tiểu thuyết 2009 trong chuyển động của tiểu thuyết Việt Nam mười năm đầu thế kỷ XXI, Đỗ Hải Ninh cho rằng: đời sống của tiểu thuyết viết về đề
tài nông thôn sau đổi mới, đặc biệt thập niên đầu thế kỷ XXI khá bình lặng, mặc dù cónhững cuộc thảo luận, trao đổi: “Với một quốc gia có hơn bảy mươi phần trăm dân số sống
ở nông thôn như Việt Nam, trong quá khứ đã từng có những tác phẩm xuất sắc về nôngthôn thì hiện nay sáng tác hay về đề tài này lại không nhiều…, vẫn chưa dành sự quan tâmđích đáng mặc dù cách đây mấy năm đã có vài ba tác phẩm gây được sự quan tâm của
người đọc như Dòng sông Mía (Đào Thắng), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh), Cách đồng lưu lạc (Hoàng Đình Quang) Số tác phẩm xuất bản năm nay lọt vào vòng chung khảo cuộc thi tiểu thuyết lần 3 rất ít như Cách trở âm dương (Vũ Huy Anh), Họ vẫn chưa về (Nguyễn Thế Hùng), Thần thánh và bươm bướm (Đỗ Minh Tuấn)” [136] Trong bài Nhà quê, nông thôn: Tự nó và về nó, Mai Anh Tuấn cho rằng: dẫu có hẳn một hội thảo mang tên
“Văn học với đề tài Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn”, nhưng “văn học chưa có nhiều
tác phẩm xuất sắc viết về tam nông như “tầm” của nó” [178] Trong bài Nhà văn với đời sống nông thôn và nông dân ngày nay, Nguyễn Bính Hồng Cầu cũng khẳng định: văn học
Việt Nam có “bề dày lịch sử, có thành tựu”, nhưng thẳng thắn mà nói “còn thiếu vắng về
Trang 11đề tài nông thôn, nhất là nông thôn ngày nay đang trong tiến trình công nghiệp hóa -– hiệnđại hóa đất nước” [15]
Nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân (chủ quan và khách quan) dẫn đến đề tàinông thôn vắng bóng, nhạt nhòa Hồ Ngọc Xung cho rằng: các phương tiện truyền thôngchủ yếu chạy theo thị hiếu của người dân thành phố để thu hút quảng cáo nên đã vô tình
“bỏ quên” người nông dân và nông thôn; đội ngũ sáng tác xa rời, không còn rung cảm vềngười nông dân; đặt mục tiêu kiếm tiền và lợi nhuận lên hàng đầu [67] Phạm Thị NgọcDiệp chỉ ra nguyên nhân ít có những tác phẩm viết về đề tài nông thôn hay và có giá trị, là
vì “đa số các nhà văn gốc nông dân đã về sống và làm việc ở thành thị”, mà “ở thành thị thìkhông phải là người thành thị vì cái bản chất quê mùa của mình Còn sống ở nông thônkhông phải là người nông dân vì không có khả năng làm những việc của nông dân Làngười lừng khừng, đúng hơn là một người nhà quê” [32] Nguyễn Bính Hồng Cầu chorằng: “Có thể các nhà văn chưa hiểu hết nông thôn và cũng có thể các nhà văn tránh né đềtài này để đến với đề tài khác đỡ vất vả hơn Vì thế mà nông thôn và nông dân vắng bóngtrên văn đàn…” [15]
Một số người còn dự báo đề tài nông thôn hiện tại và tương lai sẽ trở nên vắng bóng, nhạt nhòa trong giới sáng tác trẻ Đỗ Hải Ninh gióng lên hồi chuông báo động về
mảng đề tài nông thôn ngày càng ít ỏi hơn, vắng bóng hơn đối với thế hệ viết văn trẻ.Những cây bút trẻ chuyên sáng tác đề tài nông thôn “có thể đếm trên đầu ngón tay” [136]
Hồ Huy Sơn cũng đã chỉ ra sự thật đau lòng là giới sáng tác trẻ hiện nay đang hào hứng,chạy đua với đề tài “hoót” (sex, les, gay, ma, kinh dị, trinh thám), còn đề tài nông thôn họlại “xa lánh” Do đó, hiện nay nhà văn trẻ viết về mảng đề tài này rất “ít ỏi” [156] Trong
bài Những trang viết trẻ thiếu chất nông thôn, Hồ Quỳnh Yên có cái nhìn đối sánh giữa hai
thế hệ sáng tác, sau đó khẳng định: thế hệ trước 1986 (Lê Lựu, Dương Hướng, NguyễnKhắc Trường, Nguyễn Minh Châu, Đào Thắng, Nguyễn Huy Thiệp) chuyên tâm hơn và có
những tác phẩm xuất sắc (Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Khách ở quê ra, Dòng sông Mía) Ngược lại, thật khó khăn khi kể tên các tác giả trẻ nổi lên
trong những năm gần đây viết về đề tài nông thôn Đây đó, bắt gặp Đỗ Bích Thúy, Đỗ TiếnThụy (miền Bắc), Ngô Phan Lưu (miền Trung), Nguyễn Ngọc Tư (miền Nam) Tác giả cònchỉ ra một thực tế đau lòng: “Chúng ta thử đi vào một tiệm sách tìm sáng tác của những nhà
văn trẻ, nhìn vào từ truyện ngắn đến tiểu thuyết, thấy nổi lên: 48h yêu nhau, Lạc giới, Đường còn dài còn dài, Dị bản, Khi nào anh thuộc về em, Giường…” Cuối cùng tác giả đi
đến kết luận: “Xã hội nông thôn đang dần bị thu hẹp trong những trang viết trẻ Đây là thựctrạng có thật và đang trở thành mối quan tâm lớn trong thời gian vừa qua… Những tác giảtrở về sau càng thể hiện rõ điều đó” [226] Cùng quan điểm, trong cuộc phỏng vấn ngắn với
Báo Nông nghiệp Việt Nam, Nguyễn Đăng Điệp cũng đã khẳng định: trong lịch sử văn học dân tộc có rất nhiều tác phẩm xuất sắc viết về đề tài nông thôn (Tắt đèn, Chí Phèo, Vợ nhặt,
Trang 12Vỡ đê) Thời đổi mới cũng có một số tác phẩm gây được sự chú ý của bạn đọc, nghiên cứu
như:, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bài học nông thôn,
nhưng lại thuộc về các nhà văn lớp trước Còn thực tế hiện nay đang diễn ra là các nhà văntrẻ không mấy mặn mà với đề tài nông thôn: “Nhìn vào văn học trẻ hiện nay, không chỉ tôi
mà nhiều người điều thấy chuyện đó… Ngay cả những cuộc tọa đàm về văn học gần đây
do Hội Nhà văn tổ chức cũng không có tác phẩm nào thật sự chuyên chú về người nôngdân” [53]
Truy tìm căn nguyên đó, Hồ Huy Sơn cho rằng: các nhà văn trẻ không “mặn mà” với
đề tài nông thôn là vì “đa số các cây bút trẻ hiện nay đều tập trung ở thành thị Tuy rằng trước
đó họ đã có một khoảng thời gian sống ở nông thôn nhưng “kho tàng kíý ức” ấy theo thời giankhông còn được sống động, vẹn nguyên như ngày xưa Khi đó, họ bắt buộc phải viết theo tâmthức và cảm thức đương đại Bên cạnh đó, sự khắt khe của thời kinh tế thị trường đã làm chovăn học, đặc biệt là văn học về nông thôn thêm phần chật vật Nhiều nhà xuất bản cũng nhưcác tờ báo muốn sách, báo của mình “đắt hàng” thì bắt buột phải chạy theo thị hiếu của độcgiả” [157] Nguyễn Đăng Điệp cũng cho rằng: “Thế hệ trẻ hiện nay lên phố lập nghiệp sớm,thời gian truy cập internet nhiều, sợi dây gắn bó với nông thôn và nông dân vì thế cũng khôngthật sâu Hơn thế nữa, lớp trẻ là những người nhạy cảm với những cái mới, cái lạ nên rất dễ hútvào những đề tài hoót như sex, đồng tính, tình tay ba tay tư” [53] Hồ Quỳnh Yên dẫn ranguyên nhân nữa là “giới sáng tác trẻ hiện nay viết những gì mà Nhà xuất bản, tòa soạn cần đểđáp ứng nhu cầu độc giả Chính vì vậy, nên vô hình trchung, đề tài về nông thôn càng trở nênnhạt nhòa”[226] Ngay một số nhà văn trẻ cũng thừa nhận sự yếu kém của mình khi sáng tácmảng về đề tài nông thôn và nông dân Họ cho rằng: muốn có tác phẩm viết về nông thôn đểđời, thì “cần sự chín muồi” (Nguyễn Thị Thu Thủy), “phải am hiểu về nó” (Hà Thanh Phúc)
“viết khó hay và sách khó bán”(Nguyễn Văn Học) [157]
Theo một số nhà nghiên cứu, văn xuôihọc và tiểu thuyết viết về đề tài nông thônthực sự hồi sinh và đáp ứng được thực tiễn của đời sống xã hội nông thôn thời đổi mới,cũng như từ phía bạn đọc, thì cần phải có sự bứt phá từ hai phía: Nhà văn và Nhà quản lí.Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: nhà văn “phải thực có tài, phải gắn bó, am hiểu và tâm huyếtvới người nông dân Không hội đủ những phẩm chất ấy, muốn viết về nông thôn và nôngdân… cũng chẳng có gì để người đọc phải nhớ” [53] Nguyễn Phúc Lai cho rằng: cần phảithay đổi từ chính nội tại của nhà văn: “hình như tài năng chúng ta có, nhưng lại thiếu đi cáiđộng lực để sáng tạo trong mỗi nhà văn” Nguyễn Hữu Nhàn nói lên tình trạng hiện naycủa các nhà văn thiếu đi cái chiều sâu trải nghiệm hiện thực nông thôn nên khi “viết vềnông thôn mà thoát li nông thôn, không hiểu người nông dân…, với cách nhìn ấy, văn họcchỉ có thể gdiễu cợt châm biếm hài hước nông dân, không thấy được chiều sâu những biếnđổi to lớn trong lòng nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” Cùng hướng đó, Hoàng MinhTường và Bùi Ngọc Tuấn cho rằng: Muốn có những tác phẩm viết về đề tài nông thôn và
Trang 13nông dân hay, nhà văn phải “tắm mình trong đời sống của chính họ, nhà văn phải đổi mớichính mình, đổi mới cách nghĩ cách viết”, và đó còn là nhu cầu “được nhìn khác đi, đượcviết khác đi; đó còn là sự thi đua, ganh đua làm việc giữa các nhà văn, trong một bầu khôngkhí thân ái, tự do, dân chủ của đời sống văn học” [22]
Hội thảo Nông nghiệp, nông dân và nông thôn, diễn ra trong hai ngày từ 18 -– 19,tháng 3, năm 2009, tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, Trần Sang đã tập hợp những ýkiến từ chính các nhà văn tham gia Ngô Khắc Tài cho rằng nhiệm vụ quan trọng trong thờibuổi hội nhập đối với các nhà văn, là phải “tỉnh táo tìm đường đi cho đúng”, “nhà văn cần cómột đôi mắt lạnh mà lạc quan như vậy, giấc mơ về một đồng quê và hiện thực xã hội mớigắn kết vào nhau” Như vậy, trong thời buổi hội nhập ngày nay, các nhà văn khi viết về đề tàinông thôn, cũng phải viết với góc nhìn mới, khai thác các khía cạnh mới trong đời sống của
họ và hơn hết là tự nâng tầm tri thức mình lên để theo kịp tầm thời đại: “Sứ mạng của nhữngngười cầm bút thật nặng nề, đòi hỏi mỗi người phải tự nâng mình về nhiều mặt, điều chốt là
ra sức tìm hiểu người nông dân cùng lịch sử mảnh đất sinh ra họ một cách thấu đáo” (LêChí) Hơn nữa, muốn bạn đọc chấp nhận tác phẩm của mình, thì nhà văn phải viết hay và viếtđúng về nông thôn và nông dân: “Nông thôn đang chuyển hóa rất nhanh Nếu thời kỳ trướcđổi mới suốt mấy chục năm không có mấy thay đổi về cơ bản thì bây giờ chỉ đầu năm, cuốinăm đã khác Không chỉ khác về diện mạo bên ngoài, mà khác cả trong nếp sống, nếp nghĩ.Nếu trước đây ta có một nông dân hoàn toàn thuần phác, thì hôm nay sự thuần phác dướibóng tre làng đang bị cơ chế thị trường dùng đại bác tấn công san bằng mọi thứ lô cốt bảothủ rồi dựng lên những pháo đài của thời kỳ đổi mới, một bức tranh hoành tráng trắng đen
lổn chổn…” [152] Ở góc nhìn khác, trong bài Suy nghĩ về đề tài nông thôn trong văn học hiện nay, Trần Quốc Toàn cho rằng: viết về đề tài nông thôn cần mở rộng biên độ trong việckhắc họa hình ảnh người nông dân, đặc biệt là nhân vật thiếu nhi: “Bàn về nNông nghiệp,nông thôn, nông dân không thể quên thiếu nhi, vì không ít, hay rất nhiều các em sẽ lớn thànhnông dân để làm nông nghiệp hiện đại trong một nông thôn mới” Thực tế, “phần lớn nhữngtác phẩm văn học thiếu nhi của văn học Việt Nam hiện đại, sống được với thời gian vẫn là
những tác phẩm có đề tài nông thôn như Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài, Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, Dòng sông thơ ấu của Nguyễn Quang Sáng đều là như thế” Theo tác
giả bài viết, ngoài ra nhân vật nông thôn có học vấn, học vị cũng không thể bỏ qua Nhữngnhân vật -– con người này có đóng góp không nhỏ trong bước chuyển mình của nông thônhiện đại Vì thế, “cứ viết cho kĩ về nhân vật này, có thể nắm bắt được diện mạo đồng đất ViệtNam hôm nay” [173] Về phía nhà quản lí, phải “khuyến khích những cây viết trẻ”, “cónhững chính sách”, “cần sự quan tâm của người viết” (Trần Thị Hồng Hạnh), “phải tổ chứccho nhà văn đi và vận động cả những cây bút ở nông thôn nữa” (Hà Thanh Phúc), “mỗi năm
tổ chức cuộc thi truyện ngắn và tiểu thuyết về đề tài nông nghiệp nông thôn dành cho tuổi
Trang 14trẻ, trao giải cao… Cứ mang kinh tế ra khuyến khích, động viên, người viết trẻ cảm thấymình đầu tư viết về đề tài nông thôn rất đáng đồng tiền bát gạo, họ sẽ dấn thân viết”(Nguyễn Văn Học) [156]
Ngay lĩnh vực nghệ thuật khác như truyền hình, sâu khấu cũng cùng chung số phận HồNgọc Xung trăn trở, băn khoăn trước thực trạng đề tài nông thôn và nông dân ngày càng ít đi,lép vế so với các đề tài khác: “Trong mấy năm gần đây, số đầu phim Việt Nam được phát sónglên tới hàng trăm… Nhưng trong số đó, phim có đề tài nông thôn, nông dân thực sự không
nhiều Gây tiếng vang nhất của đề tài này trong thời gian qua là hai bộ phim Ma làng và Gió làng Kình… Lĩnh vực sân khấu (tuồng, chèo, cải lương), hiện tượng hiếm vở diễn về người
nông dân và nông thôn cũng đang diễn ra…, hình ảnh người nông dân cũng mờ nhạt dần vàđến gần đây thì vắng bóng hoàn toàn trên sân khấu dân tộc” [67]
Như vậy, sự băn khoăn, lo lắng của bạn đọc, của các nhàgiới nghiên cứu, phê bình vănhọc cũng như từ chính giới sáng tác về sự giảm sút chất lượng và số lượng các tác phẩm viết về
đề tài nông thôn là có cơ sở, đúng với tình hình hiện nay Thực tế đó đã gióng lên hồi chuông cảnh báo cho văn giới và đặt ra cho họ trách nhiệm khi viết về nông thôn và nông dân
1.2 LUẬN BÀN QUANH MỘT SỐ TIỂU THUYẾT NỔI TRỘI
Từ 1986 đến nay, tiểu thuyết viết về nông thôn luôn dành được sự quan tâm của ngườiđọc, đặc biệt các nhà phê bình Hàng loạt bài viết đã được in trên tạp chí, báo; nhiều cuộc hộithảo, tọa đàm diễn ra Những nhà nghiên cứu, phê bình nổi tiếng như Nguyễn Đăng Mạnh,Phan Cự Đệ, Phong Lê, Hoàng Ngọc Hiến, Văn Giá, Bùi Việt Thắng, Lý Hoài Thu tham giaviết bài Những ý kiến, nhận định dẫu có trái chiều, nhưng nhìn trên phạm vi bao quát, chúngtôi nhận thấy đa số đều khẳng định: tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn sautừ 1986 đến nay cóbước tiến mới về nội dung và nghệ thuật so với trước
Do khung giới hạn của luận án, nên chúng tôi chỉ chọn những bài viết tập trung
nghiên cứu một số tác phẩm tiêu biểu, được dư luận quan tâm như Thời xa vắng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng, Dòng sông Mía, Lão Khổ, Ba người khác Để tiện
theo dõi chúng tôi tạm sắp xếp nguồn tư liệu thành hai vấn đề sau:
1.2.1 Nhận định, đánh giá về những thành công
1.23.1.1 Năm 1986, Thời xa vắng ra đời, được bạn đọc đón nhận, báo hiệu sự đổi
thay lớn trong dòng chảy của tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới Trên tạp chí, báo,sách xuất hiện rất nhiều bài viết đánh giá sự đóng góp nhất định về mặt nội dung và nghệthuật Hoàng Ngọc Hiến đề cập đến số phận của người nhà quê trước những biến động của
xã hội nông thôn, trong đó nhân vật Giang Minh Sài là một ví dụ điển hình Theo tác giả,anh nông dân này chính là “người nhà quê” của Lê Lựu hai lần khốn khổ, vừa xung đột với
hệ tư tưởng gia trưởng, vừa xung đột với thành phố ở bộ phận phức tạp nhất của nó là đàn
bà, con gái” [64;tr.119], cuộc sống của anh cứ bùng nhùng, bế tắc, vướng vào hết bi kịch
Trang 15này đến bi kịch khác Từ nhân vật Giang Minh Sài, tác giả luận suy đến những vấn đề bứcxúc trong đời sống xã hội nông thôn Việt Nam sau giải phóng: “Trên đất nước ta sau khithống nhất, không phải cán bộ tiếp quản nào cũng trở thành người chủ quản của thành phố,không ít “người nhà quê” tiếp xúc với đô thị đã bị bại hoàn toàn, sống dở chết dở, điêuđứng bi thảm, sự thất bại của họ mang ý nghĩa xã hội sâu sắc” [64;tr.119] Thiếu Mai có cáinhìn thấu đáo khi phân tích sự tác động của hoàn cảnh đến quá trình hình thành tính cáchGiang Minh Sài Đó là anh nông dân cả cuộc đời đã phải gánh trên vai hệ tư tưởng giatrưởng, những quan niệm, định kiến khiến “anh nhà quê” không lúc nào được sống bằngchính cuộc đời mình, chỉ biết nghe và chiều ý mọi người: “Trong con người anh, luôn luôntồn tại hai thế lực: chống đối và khuất phục Hai thế lực ấy ngày càng phát triển, càng mâuthuẫn, và đẩy bi kịch trong con người Sài lên một mức độ ngày càng cao hơn” [118;tr.121].Không những Sài, rất nhiều nông dân làng quê Hạ Vị cũng sống và làm những điều mìnhkhông muốn chỉ vì không dám làm phật ý hay làm khác mọi người như cụ đồ Khang, chú
Hà, anh Tính, chính ủy Đỗ Mạnh, anh Hiển Nói cách khác, những con người này vừa đạidiện cá nhân riêng lẻ, đồng thời là sản phẩm chung của “một thời -– thời xa vắng, nhưngchưa xa là bao” Cái thời - do hoàn cảnh của nó mà ý thức cá nhân tạm lu mờ, nhường chỗcho những vấn đề lớn lao mang ý nghĩa dân tộc Theo Thiếu Mai, để hiểu được căn cốt tínhcách về anh nông dân Giang Minh Sài, thì “Lê Lựu đã tỏ ra hiểu nhân vật của mình đến tậnchân tơ kẽ tóc, đến tận những ngọn ngành sâu thẳm nhất của tình cảm, suy nghĩ Xót xa chocuộc đời Sài bao nhiêu, tác giả lại giận dữ lên án cách sống, cách ứng xử thiếu bản lĩnh củaanh ta bấy nhiêu” [118;tr.122] Về mặt nghệ thuật, tác giả cho rằng: mặc dù nhiều ngườiđánh giá “văn Lê Lựu không chuốt, mộc quá, và không phải không có những câu què, hoặc
trúc trắc, thậm chí có câu ngữ pháp chưa chỉnh”, thế nhưng, tiểu thuyết Thời xa vắng được
chưng cất bằng “một giọng văn trầm tĩnh vừa giữ được vẻ đầm ấm chân tình, vừa kháchquan, không thêm bớt, tô vẽ, đặc biệt là không cay cú, chính giọng văn như vậy đã gópphần đáng kể vào sức thuyết phục, hấp dẫn của tác phẩm” [118;tr.123] Đinh Quang Tốn
cho rằng: tiểu thuyết Thời xa vắng “viết về hậu phương miền Bắc trong công cuộc chống
Mĩ cứu nước với cả cái vui và cái buồn, cái nồng nhiệt và sự non nớt, những quầng sáng vànhững bóng mờ, có cả nụ cười và nước mắt…” [174;tr.18] Tác giả cũng khẳng định đề tàihậu phương nông thôn miền Bắc trong chiến tranh chống Mĩ có nhiều người viết, nhưng
“Lê Lựu là người viết thành công nhất”, và “nếu trong tổng số sáu trăm hội viên Hội nhàvăn Việt Nam, cứ mười người chọn lấy một người tiêu biểu, thì Lê Lựu là một trong tổng
số 60 nhà văn ấy Nếu về văn xuôi Việt Nam hiện đại, chọn lấy 30 tác phẩm, thì có mặt
Thời xa vắng Nói thế để thấy, trong văn học Việt Nam hiện đại, Lê Lựu đã có một vị trí
đáng kể” [174;tr.22]
1.23.1.2 Năm 1990, Bến không chồng và Mảnh đất lắm người nhiều ma vừa mới ra
đời, ngay lập tức gây tiếng vang trên văn đàn và được dư luận quan tâm Đáng chú ý, rất
Trang 16nhiều bài viết bàn luận sôi nổi trên báo Văn nghệ (tháng 1/1991) sau khi tác phẩm đượcgiải thưởng của Hội nhà văn năm 1991 Có những ý kiến đánh giá khác nhaukhác nhau(khen có và chê có), nhưng hầu như đều thừa nhận hai tiểu thuyết này khá thành công trênphương diện đề tài, ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu, hình tượng nhân vật, điểm nhìn trần
thuật, không và thời gian… Về phương diện đề tài, Thiếu Mai, Nguyễn Đăng Mạnh, Trung
Trung Đỉnh cùng nhận định: “Năm 1990, sách viết về nông thôn không ít trong đó có haicuốn được dư luận chú ý và đánh giá cao nhất là Bến không chồng của Dương Hướng và Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường … Ý kiến khá thống nhấtthànhcông chứ không mâu thuẫn trái chiều như với một số tác phẩm khác… Vấn đề dòng họ ở
nông thôn đã được hai tác giả quan tâm, khai thác và khai thác khá thành công Mảnh đất lắm người nhiều ma tạm coi là một cái cột mốc trong đề tài nông thôn”, “đã lâu lắm rồi mới xuất hiện một tác phẩm viết về nông thôn Việt Nam theo đúng cái mạch của Tắt đèn, Chí Phèo Có thể nói cái làng Giếng Chùa trong Mảnh đất lắm người nhiều ma là sự cộng
lại của hai cái làng Đông Xá của Ngô Tất Tố và Vũ Đại của Nam Cao” [138], “Có người
nói, tiểu thuyết Bến không chồng viết về đề tài nông thôn Lại có người nói, tiểu thuyết này
viết về đề tài chiến tranh Có người lại cho rằng đây là cuốn sách viết về đề tài xã hội Tất
cả đều có đấy, nhưng theo tôi Dương Hướng không nhằm vào đề tài Anh khai thác đến tậncùng thân phận những nhân vật chính” [48;tr.99] Trần Cương, Bùi Việt Thắng, NguyênNgọc đều khẳng định sự thành công nhiều mặt của tác phẩm, đặc biệt là phạm vi phảnánh… đi vào hiện thực nông thôn và số phận của người nông dân Nguyên Ngọc cho rằng:
khi viết Bến không chồng, Dương Hướng luôn cố đặt vấn đề một cách thẳng thắn trực diện,
chứ không né tránh hiện thực, cho dù là một hiện thực nghiệt ngã nhất Chiến tranh, hòabình, thời mở cửa…, những bước ngoặt đó tác động rất mạnh đến từng làng quê, từng vùngmiền, từng gia đình, từng số phận trong tác phẩm Thông qua họ ta nhận ra vóc dáng làngquê mình [126] Nguyễn Văn Long có cái nhìn sắc sảo vềĐề cập đến số phận bi kịch củangười nông dân, Nguyễn Văn Long khẳng định: “Trong nhiều trường hợp, con người vừa
là nạn nhân mà cũng là thủ phạm của tấn bi kịch đời mình, họ phải chịu trách nhiệm mộtphần về số phận của mình” [220] Cùng mạch suy nghĩ đó, nhưng Trung Trung Đỉnh đi vàothân phận của nhữngđã lý giả thấu đáo nguồn cơn bi kịch của những nhân vật nữ như bàNhân, bà Khiêm, mụ Hơn, cô Hạnh, cô Thủy… ĐDặc biệt, là Nguyễn Vạn -– một ngườinhà quê suốt đời gìn giữ cái bóng của vinh quang nên đã đánh mất đi bản thân mình, cánhân mình [48] Trần Cương đào sâu vàotập trung khai thác số phận nhân vật Vạn: “Vạn
trong Bến không chồng là cả một đời không vượt nổi những định kiến và nhận thức ấu trĩ,
cực đoan để rồi sau phút “lầm lỡ” phải quyên sinh” [24;tr.35] Nguyễn Hà lí giải nguyênnhân dẫn đến bi kịch của Vạn: “Nguyễn Vạn là một dạng khác của bi kịch con người hai
mặt” [57;tr.56] Phong Lê cho rằng: “Mảnh đất lắm người nhiều ma đặt ra những vấn đề
chìm nổi, bề mặt và chiều sâu trong sự đan xen giữa “nề nếp ý thức và sinh hoạt tinh thần
Trang 17của con người, là các vấn đề về gia tộc và dòng họ, hôn nhân và gia đình, là các quan hệlàng xã và nề nếp công xã” [138] Hoàng Ngọc Hiến, Lê Nguyên Cẩn xếp tác phẩmnó vàoloại “tiểu thuyết phong tục” Bởi, tác phẩm đã lấy việc miêu tả phong tục, tập quán và lềthói của một vùng cư dân làm cảm hứng Chính những lề thói và thành kiến hủ lậu của xómGiếng Chùa đã thâm nhập vào đời sống nông thôn, chi phối mạnh mẽ đến nếp nghĩ, nếpsống của người nông dân [138] Thế giới kỳ ảo in đậm trong tác phẩm, nó được đan kếtbằng các mối quan hệ tình yêu không bình thường, đặt trong những cái chết không bìnhthường Và qua thế giới kỳ ảo đó, “những nét riêng của bản sắc văn hóa dân tộc hiện ra,giúp chúng ta nhìn nhận thấu đáo hơn về chính mình Đồng thời cũng khẳng định tính chấttiểu thuyết phong tục thể hiện qua việc miêu tả các sự kiện liên quan đến điều kiện sống,
điều kiện tồn tại của con người” [16;tr.276] Về không gian và thời gian, hai tác phẩm đã tạo dựng được không gian đặc biệt Ở Mảnh đất lắm người nhiều ma, Hà Minh Đức,
Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: nổi lên không gian “làng xóm”, là sự “oi nồng vô cùng xưa
cũ mà hết sức hôm nay ở những làng quê bao lần ta thờ ơ đi qua chẳng biết và bổng hiểu rarằng, trong cái “không khí” ấy thì ắt mọi chuyện nhất thiết phải diễn ra như vậy”, là “khôngkhí âm dương lẫn lộn, quỷ ở với người”, là “âm khí còn nặng nề nhưng dương khí đã bắtđầu phát triển” [138] Nguyễn Hữu Sơn phát hiện ra thời gian bóng đêm chính là đặc trưngcủa tác phẩm Thời gian này gắn liền với cảnh chiều tà, bóng tối, bởi “chúng lại thuộc vềđêm cuối tháng không trăng sao, hoặc có trăng cũng chỉ thấy hình hài kì dị, không bao giờđược miêu tả như cái đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên” [153;tr.133] Và đêm cũng chính làthời gian của ma quỷquỉ, hắcm ám; là sự đồng lõa của những tâm địa đen tối cũng như bộc
lộ tínch cách, thân phận của từng nhân vật Nói cách khác, thời gian bóng đêm là đòn bẩy
để phần “ma” trong con người được hiện hữu Từ đó, tác giả bài viết đi đến kết luận: “Thờigian đêm tối có “ý nghĩa thanh lọc, khát khao hoàn thiện tính người”, bởi nếu “dứt bỏbóng đêm ma quỉ mới chính là thông điệp tác giả muốn gửi tới bạn đọc” [153;tr.135] Còn
Bến không chồng, Phan Cự Đệ có nhận xét rất chính xác: “Không gian huyền thoại… làthước đo hiệu nghiệm để thâm nhập vào thế giới giữa ý thức và tiềm thức, ở thời điểmbước ngoặt của tính cách nhân vật”, “có sự phát triển cốt truyện trên nền không gian huyềnthoại, dụng ý sử dụng không gian huyền thoại để lý giải hiện thực” [40;tr.101] TrungTrung Đỉnh, Nguyễn Phan Hách, Từ Quốc Hoài, Nguyễn Văn Long đi sâu vàotập trungkhảo sát phương diện bố cục, kết cấu, cốt truyện Trung Trung Đỉnh đánh giá rất khách quan khi cho rằng: Bến không chồng có kết cấu “hồn nhiên, thuận theo chiều thời gian,
theo sự kiện chung của đất nước trong khoảng thời gian đó, và theo sự đến với thân phậntừng nhân vật Chính vì thế anh không mất nhiều thời gian trong việc tính toán chương hồi,mặc dù vẫn có chương hồi” [48;tr.99] Nguyễn Văn Long cũng có nhận xét: “Sức hấp dẫncủa cuốn tiểu thuyết là ở bố cục chặt chẽ và cách viết chân thực, vốn hiểu biết đời sốngnông thôn và cách nhìn nhân đạo với số phận con người” [220] Từ Quốc Hoài nhận xét về
Trang 18kết cấu Mảnh đất lắm người nhiều ma: “Có hơi “phình” ra ở phần sau, song do có được
vốn sống sâu sắc, cộng với thứ ngôn ngữ tươi rói chất dân gian, tác giả đã cột chặt ngườiđọc từ trang đầu đến trang cuối” [138]
1.23.1.3 Mặc dù Lão Khổ không có tên ở bất cứ giải thưởng nào, nhưng vẫn trở
thành “cuốn tiểu thuyết quan trọng”, đánh dấu bước tiến vượt bậc ở mảng tiểu thuyết viết
về đề tài nông thôn, trở thành điểm nóng thu hút của các nhà nghiên cứu, phê bình và bạn
đọc tham gia tranh luận, viết bài Việt Hoài, Vương Quốc Hùng cho rằng: Lão Khổ tiếp nối nguồn mạch truyện ngắn Bước qua lời nguyền Tác phẩm tái hiện được bức tranh toàn cảnh
nông thôn Việt Nam đầy máu và nước mắt, nhưng “thời gian rộng hơn, từ những năm trướccách mạng tháng Tám tới những năm cải cách ruộng đất và cả về sau đó; và dung lượngtiểu thuyết lớn hơn truyện ngắn, cộng với sự trưởng thành của nhà văn với sự già dặn từngtrải về kĩỹ thuật viết (nỗ lực tạo ra hình thức và hiệu quả cao nhất cho tác phẩm) điêu luyệnhơn”, vì thế tác phẩm xem “như một bước tiến dài của Tạ Duy Anh” [75], [84] HoàngNgọc Hiến đánh giá: “Đây là một cuốn tiểu thuyết rất quan trọng… thêm một giả thuyếtvăn học về bản chất và thân phận người nông dân Việt Nam” Nhận xét về nghệ thuật,Nguyễn Thị Hồng Giang cho rằng: “Thời gian luân chuyển và thời gian đan xen trước –/sau, quá khứ/ - hiện tại (tuy không có con số cụ thể) vẫn là thời gian bên ngoài lịch sử, thời
gian nguyên cấp” [141;tr.65] Đoàn Ánh Dương khẳng định: tiểu thuyết Lão Khổ đã phá vỡ
kết cấu cổ điển với một cảm hứng lãng mạn bao trùm, thể hiện kiểu tư duy khác, lối viếttiểu thuyết khác, không còn nhất phiến, liền mạch của câu chuyện, tiểu thuyết hiện lên bởimột “chuyện chính yếu” và rất nhiều “chuyện ngoài rìa” [30]
1.23.1.4 Dòng sông Mía đạt giải thưởng Hội nhà văn (2002 - 2004) và giải thưởng văn học viết về Nông nghiệp, nông dân và nông thôn lần nhất (3/6/2011) Trong Báo cáo tổng kết cuộc thi tiểu thuyết 2002 - – 2004, Hữu Thỉnh đánh giá cao mảng tiểu thuyết viết
về đề tài nông thôn, đặc biệt tác phẩm Dòng sông Mía: “Nông thôn trong Dòng Sông Mía
của Đào Thắng vừa vạm vỡ, đằm thắm vừa đầy ắp thế sự với biết bao xung đột xoay quanhmột gia đình, một dòng tộc Chỗ chênh vênh mà lại chính là chỗ thành công của tác giả này
là họ đã không bị rơi vào chủ nghĩa khách quan lạnh lùng ngay cả khi miêu tả những tình
huống tồi tệ, bi đát nhất của cuộc sống” [195;tr.241] Nhìn Từ cuộc thi tiểu thuyết 2002 -–
2004, Phong Lê khai thác sâu vấn đề hiện thực nông thôn trong chiều dài lịch sử, đặc biệt nhấn mạnh đến thân phận người nông dân: “Đọc Dòng sông Mía để hiểu thêm và hiểu mới
về nông thôn Việt Nam trong chiều dài và chiều sâu lịch sử Một nông thôn xuyên suốt thế
kỷ XX, dẫu có một cái đập lớn là cách mạng tháng Tám ngăn đôi nhưng dòng chảy thì vẫnthế Vẫn cuồn cuộn cả hai phần đục trong Vẫn dữ dội và bi thống trong biết bao thân phậncon người, không kém bất cứ một xứ sở nào khác trên thế giới này” Và như thế, “sau
Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía là cuốn sách hiếm hoi tiếp tục được mạch
sâu những vấn đề căn cốt của nông thôn Việt Nam trên các phương diện của dân tộc và giai
Trang 19cấp, gia đình và dòng họ, đạo lý và phong tục, nếp nghĩ và lối sống” [104;tr.249] TrầnMạnh Hảo đi sâu tìm hiểu các kiểu bi kịch của người nông dân, đồng thời khẳng định:
“Thông điệp của Dòng sông Mía của Đào Thắng vừa là câu hỏi hàm sự trả lời ngay trongđó: hãy cho người tốt cơ hội tồn tại!” [61;tr.154] Đáng chú ý, Lý Hoài Thu đã có những ýkiến giải xác đáng về Dòng sông Mía Tác giả bài viết cho rằng: “Cùng viết về nông thôn nhưng hiện thực đời sống trong Dòng sông Mía là bức tranh thu nhỏ của một vùng dân cư
có nghề chính là trồng mía, làm đường”, ở đó có “những kiếp người trôi nổi Họ vừa lànhững con người có chút may mắn được hưởng những ân huệ đặc biệt của một vùng thiênnhiên sông nước đặc sản cá tôm, vừa luôn phải chịu sự trừng phạt, phải trả giá cho nhữnglầm lỗi của chính mình và có nguy cơ bị nhấm chìm, bị cuốn trôi khi dòng sông nổi giận”[201;tr.226] Ngoài ra, sức hấp dẫn của tác phẩm còn thể hiện trong việc tạo ra vùng hiệnthực tâm linh huyền diệu: “Không khí Folklore bao bọc chung quanh đời sống con người ởmột vùng đất tuy không rộng nhưng khá đa dạng về môi trường, sinh thái, văn hóa và tôngiáo” [201;tr228] gắn với cuộc đời của các nhân vật “già và trẻ, chủ và tớ, dị dạng quái thai
và đẹp đẽ tươi tốt, hiền lành tử tế và ngoa ngoắt điêu ngoa” [314;tr.230] Có thể nói ĐàoThắng đã dành cho nhân vật phụ nữ và người lính nhiều tình cảm nhất Ông “chú ý khaithác nhiều hơn ở khía cạnh hoang dã, ở phần đời sống bản năng tự nhiên của con người”,với “ước muốn vươn tới một cuộc sống lành mạnh khỏe khoắn và lương thiện cho con
người” [201;tr.231] Về hình thức nghệ thuật, tác phẩm “có được nhiều dấu hiệu thành
công, mở ra được những hướng tiếp cận mang ý nghĩa cách tân về mặt thể loại”
[201;tr.322] như không gian và thời gian, điểm nhìn trần thuật, kết cấu, ngôn ngữ… Dòng sông Mía “tạo được một không gian đậm đặc chất tiểu thuyết, vừa quen thuộc vừa mới mẻ”
[201;tr.226], “mở ra nhiều khoảng không gian, trong đó cũng có những khoảng không gianrộng nhưng rõ nét hơn cả trong tâm trí độc giả là những mảng không gian có kích thướcvừa và nhỏ”, đặc biệt là sự hiện diện trở đi trở lại của “dòng sông Châu Giang” -– khônggian trung tâm của tác phẩm “càng tô đậm thêm tính luận đề và tư tưởng triết lý về sự chìmnổi của kiếp người mà nhà văn đã gửi gắm vào tác phẩm”[201;tr.233] Thời gian nghệthuật xử lý khá linh hoạt, vận dụng một cách hiệu quả: “Tác giả đã biết ngắt quãng, đa dạnghóa hình tượng thời gian bằng thủ pháp đồng hiện, bằng cách đảo ngược trật tự thời gianqua kí ức, hoài niệm, những giấc mơ, bằng sự điều chỉnh nhịp độ nhanh chậm của thời gianứng với những mô hình không gian” [201;tr.233] Nghệ thuật tự sự, điểm nhìn trần thuậtchủ yếu tuân thủ những nguyên tắc của tiểu thuyết truyền thống, nhưng bù lại tác giả biếtcách dẫn dắt câu chuyện, độc đáo ở chi tiết, biết hé mở dần dần những bức màn bí mật, biết
“dựng người, dựng cảnh”, “ngôn ngữ phong phú, nhiều màu sắc, âm điệu Đáng chú ý lànhững lời ăn tiếng nói vận nhiều tục ngữ, ca dao, đối đáp, ví von rất quen thuộc trong dângian và cách nói năng mang “dáng dấp Tây Phương” cùng ngữ điệu âm ái, du dương củakinh Thánh làm cho lời văn trở nên mượt mà, trong sáng và nhiều đoạn lôi cuốn” Kết thúc
Trang 20tác phẩm đã tạo được điểm nhấn: “Ngoài lối kết thúc mở nhằm trao một phần quyền phán
xét cho độc giả, đoạn kết của Dòng sông Mía có vẻ rất “xinê”, “ngôn ngữ điện ảnh” quả thật là tỏ rõ được ưu thế của mình” [201;tr.234] Kết thúc bài viết, tác giả kết luận: “Dòng sông Mía là một cuốn tiểu thuyết thành công trên nhiều phương diện, đánh dấu một bước
tiến quan trọng trong sự nghiệp cầm bút của nhà văn Đào Thắng” [201;tr.235]
1.23.1.5 Dưới chín tầng trời cũng được một số nhà nghiên cứu như Hoàng Ngọc Hiến,
Bùi Việt Thắng, Hữu Tuân… đánh giá cao Hữu Tuân đi sâu nghiên cứu hiện thực đời sống
nông thôn được tái hiện trong tác phẩm Người viết khẳng định: Dưới chín tầng trời là bức
tranh hiện thực hoành tráng nhưng sự hoành tráng đó không chỉ thể hiện ở độ dày tác phẩm,không chỉ ôm trọn một thời kỳ lịch sử nửa thế kỷ đất nước trải qua nhiều biến động dữ dội,không chỉ ở hàng chục nhân vật, đủ các thành phần xã hội, mang đầy cá tính sắc sảo -– đó chỉ
là phần nổi Còn “chiều sâu tác phẩm khiến Dưới chín tầng trời mang dáng dấp sử thi chính ở
tư tưởng nghệ thuật có tính khái quát cao, ở ý nghĩa nhân sinh sắc nét, ở lĩnh vực tâm linh bí
ẩn” [176;tr.20-23] Bùi Việt Thắng tinh tế nhận ra Bến không chồng, Bóng đêm và mặt trời
chính là cột “xương sống”, “cốt tủy” để nhà văn tiếp tục mở rộng, đào sâu vào hiện thực nông
thôn và số phận bi kịch của người nông dân Vì thế, Dưới chín tầng trời “ròng ròng sự sống”,
thể hiện sinh động qua những số phận bi kịch - nhưng đó là bi kịch lạc quan Bởi qua những
số phận biị kịch của mỗi nhân vật, người đọc không thấy yếu hèn đi, mà có niềm tin vào ngàymai sẽ là “một con đường mới” Vì vậy, bi kịch chính là hình thức để “tẩy rửa tâm hồn” conngười nên đó là “bi kịch lạc quan” Hai là, cách tiếp cận lịch sử của nhà văn, tác giả bài viết
khẳng định: Dưới chín tầng trời là “một cuốn tiểu thuyết toàn bích về những góc khuất của
lịch sử”, vì thế tác phẩm “mang đậm chất sử thi tâm lí”, “mở ra với một thời gian dài và mộtkhông gian rộng và tầng tầng lớp lớp nhân vật Một hình ảnh đời sống trọn vẹn, đa chiều và
phứúc tạp từ thượng đỉnh tới “hạ giới” [185] Hoàng Ngọc Hiến nêu bật được “linh hồn” củatác phẩm Qua phân tích một số nhân vật như Yến Quyên, Hoàng Kỳ Trung, Trần Tăng,Hoàng Kỳ Nam, Đào Thanh Măng…, người viết đã làm nổi bật nghệ thuật xây dựng nhân vậtcủa Dương HDướng, toát lên tư tưởng chủ đề tư tưởng của tác phẩm Tác giả còn khẳng định:
“Nếu như tiểu thuyết trước hết là cốt truyện thì tác phẩm này thừa sức hấp dẫn Vì cốt truyệnrất liy kỳ, nhiều tuyến nhân vật quan hệ éo le, số phận ba chìm bảy nổi…, nhiều tuyến hànhđộng diễn ra các miền Trung, Nam, Bắc, có xóm làng và thành phố, có chiến trường ác liệt củamiền Nam và sinh hoạt nhộn nhạo, rối ren vùng biên giới phía Bắc” [65;tr.503] Cùng nhận
định, Phong Lê cho rằng: cốt truyện Dưới chín tầng trời vẫn là một cuốn tiểu thuyết viết theo
lối truyền thống nhưng có sự tìm tòi trong cách viết như lắp ghép các sự kiện không tuân theotuyến tính thời gian, lắp ghép cấu trúc các khối đời, vừa độc lập với nhau, vừa đan cài vàonhau, nhiều chi tiết mang tính biểu tượng [106]
1.23.1.6 Ba người khác vừa mới ra mắt đã gây được tiếng vang lớn trên diễn đàn văn
học trong nước và hải ngoại, được Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức hội thảo (22/12/2006) Nhiều
Trang 21nhà văn, nhà nghiên cứu như Nguyên Ngọc, Nguyễn Xuân Khánh, Bằng Việt, Châu Diên, LạiNguyên Ân, Lê Sơn, Văn Chinh, Hoàng Minh Tường, Phan Thị Thanh Nhàn, ThuHuệ, Nguyễn Trọng Tân, Nguyên An, Văn Giá …, viết bài tham luận, đăng các tạp chí, báo,nguồn internet Qua đó, chứng tỏ được sức sống mãnh liệt về nội lực bên trong của một câybút hơn tám mươi tuổi Các bài viết tập trung đi sâu nghiên cứu về nội dung và nghệ thuật củatác phẩm Bằng Việt khẳng định tác phẩm “có ý nghĩa rất lớn”, khiến người đọc “rút ra đượcbài học cho hiện tại và tương lai” [142] Lê Sơn: “Đây là một trong những đỉnh cao của tiểuthuyết Việt Nam hiện đại, tái hiện tâm lý của những người trong cuộc Đây là lời sám hối và
tiếng kêu” [142] Văn Giá cho rằng: “Mô tả tính dục ở đây có ý nghĩa lớn hơn là sự phê phán
cái vô luân: đó là sức sống của con người, lòng ham sống, quyết liệt sống, khẳng định sự sống,khẳng định sức sống của người Việt, của văn hóa làng Việt” Qua đó, cho thấy “tầm vóc tácphẩm càng lớn và càng đáng nể”, là một tác phẩm “thiết yếu để con người phấn đấu làm ngườilương thiện, nâng cao chất lượng sống và nhân văn cho con người chúng ta” [142] LạiNguyên Ân kiến giải sâu sắc và thấu đáo về quá khứ nông thôn: “Viết về một nhân vật, một xã
nhưng Ba người khác khái quát về cải cách ruộng đất đó, cả khoảng thời gian đó Quả thật là
một tiểu thuyết cho đến giờ phút này là ấn tượng nhất về cải cách ruộng đất… Tôi nghĩ đối với
xã hội ta, sự xuất hiện những cuốn sách như cuốn này là một cách giải tỏa cho một trongnhững chấn thương của xã hội” [7] Đề cập đến sự tha hóa của người nông dân, Trúc Anh nhậnđịnh: trong cơn giông bão cải cách đã đẩy “một vùng quê đang yên lành, bỗng chốc chìm ngậptrong các cuộc đấu tố, tranh giành, oan khuất, đem tối và đẫm máu”, người nông dân vốn chấtphác, hiền lành như Bối, Đình, Cự thành những kẻ độc ác Cuối cùng những kẻ gieo rắc tội ácđối với nhân dân phải nhận kết cục bi thảm: “Đội Cự vào Nam, chiêu hồi, bị đặc công ta giết;Đội Đình và vợ con đi ăn mày rồi tha hương vào vùng kinh tế mới Lâm Đồng, tiếp tục đeođuổi giấc mơ trại Đại Đồng hão huyền; Đội Bối bị vợ con bỏ, bật ra lề hè bơm xe Bi kịch cảicách ruộng đất ở xã nọ kết thúc có hậu, kèm theo lời giải đáp “đúng hướng” về nguyên nhân đẻ
ra sự xáo trộn làng quê kinh hoàng: Đội Cự có vẻ như do địch cài vào, Đội Bối là đảng viên giảmạo, còn Đội Đình, đảng viên thật sự, chỉ có mỗi tội lãng mạn không tưởng” [1] Tác giả truytìm “nguyên nhân đẻ ra sự xáo trộn làng quê kinh hoàng…, chỉ có mỗi tội lãng mạn khôngtưởng” Nguyên Ngọc nhấn mạnh: “Không chỉ là sự tha hóa của nông thôn, mà là sự tha hóacủa xã hội, tầm khái quát lớn” [1421] Về phương thức biểu hiện, Văn Chinh cho rằng tác
phẩm viết có “kĩỹ thuật”, “hiện đại” [1421] Nguyên Ngọc: “Cách viết hay, độc đáo về cảicách ruộng đất Đó là bút pháp mỉa mai, dửng dưng, cười cợt” [1421] Hà Minh Đức “nhiềuđoạn tả hay” “tư duy hiện đại”, “ngôn ngữ tự nhiên, mộc mạc” [1421] Văn Giá: “giọng điệubao trùm là cười cợt, như không, vui với nó, đùa với nó, cái nhìn humour hài hước: tức là ôngcởi bỏ được mọi thứ ràng buộc, mọi thứ đe nẹt, cởi bỏ luôn trong định kiến của mình và của xãhội, đạt tới cảnh giới hoàn toàn tự tại, không vướng bận một chút gì Ngòi bút và sức viết hếtsức phóng túng, thoải mái, nói ra được hết những gì ông chiêm nghiệm về cuộc đời này Điều
Trang 22đó rất quan trọng Các nhà văn của ta viết vẫn rón rén, tính toán ghê lắm, riêng Tô Hoài khôngcòn hãi gì cả, nên ông viết rất vui và rất tưng tửng” [1421] Nguyên Ngọc: sử dụng bút pháp
“hư cấu Đó là bút pháp hiện đại, mỉa mai, dửng dưng, cười cợt, tạo nên sức mạnh của vănhọc” [1421]
1.2.2 Nhận định, đánh giá về những hạn chế
Nêu bật hạn chế, các nhà phê bình, lý luận văn học không có ý hạ thấp tác phẩm, têntuổi nhà văn, mà nhằm mục đích đóng góp ý kiến chân thành để hầu mong gương mặt tiểuthuyết viết về đề tài nông thôn ngày càng hoàn thiện, đa diện và phong phú hơn Trong bài Nghĩ về một “Thời xa vắng” chưa xa, Thiếu Mai không đồng ý với cách kết thúc truyện
của tác giả, “vì tính chất bất hợp lí của nó, và vì nó thể hiện một sự áp đặt do ý muốn chủquan của tác giả”: “Cuối cùng là phần kết Đọc đến đây tôi cảm thấy tác giả mệt rồi, hụthơi rồi Thế nhưng dường như anh quá thương cảm cho số phận nhân vật của mình nênkhông nỡ để cho nó lơ lửng, mà phải tìm cho nó một hướng đi ổn định Nhưng chính cáihướng đi này, theo sự suy nghĩ của đa số người đọc thì lại không ổn, không phù hợp vớinhân vật Sài của anh” Thế nhưng, “tuy vẫn có những nhược điểm, còn thiếu một sự chặtchẽ, nhất quán cần thiết, nhưng với ưu điểm rất trội của nó, nó là một thành công, một đónggóp vào nền văn học đang có đà phát triển khởi sắc cùng chúng ta mấy năm vừa qua”
[118;tr.125] Trong bài viết Lê Lựu -– chân dung văn học, Trần Đăng Khoa vừa nêu những
nét nổi bật về mặt nội dung cũng nhưvà phương thức nghệ thuật ;, đồng thời cũng tác giảbài viết đã chỉ ra những hạn chế nhất định: “Xét về mặt nghệ thuật, cuốn sách không có gìcách tân, tìm tòi, lối viết rất cũ, tốc độ truyện chậm, hơi văn ở phần một và phần hai hìnhnhư lạc nhau, không liền mạch Có cảm giác như đấy là hai cuốn tiểu thuyết cùng một nội
dung gộp lại” [109;tr.678] Như trình bày ở trên, Bến không chồng và Mảnh đất lắm người nhiều ma hầu như ý kiến đánh giá về sự thành công chiếm đa số, nhưng dù thành công đến đâu cũng phải có một vài hạn chế nhất định Trung Trung Đỉnh trong bài Dương Hướng và Bến không chồng đã chỉ ra mặt hạn chế của tác phẩm: là trong quá trình dẫn dắt “có nhữngchỗ sắp xếp vụng và đôi khi lại thiếu sự tế nhị của nghề nghiệp”, “phần đầu quá dài Câuchữ có chỗ hơi luộm thuộm quá” [48;tr.100] Nhưng “đây là nhược điểm của người say” - –
là cái say của người nghệ sĩ Dương Hướng giữa làng Đông Tác giả đi đến kết luận, ưuđiểm vẫn là chủ yếu, bởi nó đã “chiếm lĩnh được tâm hồn người đọc bằng sức hút của tấmlòng yêu thương nhân hậu, tự nhiên, không ồn ào văn vẻ với một bút lực dồi dào đầy tráchnhiệm Dương Hướng là người có bản lĩnh, dám chịu trách nhiệm trước những số phận bi
ai, không né tránh nửa vời khiến cho thiên truyện càng tới những trang cuối cùng càng dồn
nén, dồn nén đến ngạt thở” [48;tr.98] Đánh giá mặt hạn chế về Mảnh đất lắm người nhiều
Trang 23ma, Trần Đình Sử cho rằng: người đọc vẫn trăn trở điều gì đó khi gấp trang sách vì “cảm
thấy dư ba chưa nhiều, những xung đột tầy đình như vậy đang xảy ra ở nông thôn, vậy màtác giả vẫn chưa làm cho người đọc thấy day dứt, đau đớn” [38;tr.12] Hồng Diệu cũng chỉ
ra nhược điểm về kết cấu: “Đọc tới chỗ bà Son chết, giá mà tác giả chỉ làm thêm chút vĩthanh giống như cái điếu văn cho lũ ma sống thì vừa Diễn giải thêm bao nhiêu, nhạt bấy
nhiêu” [138;tr.15] Cùng quan điểm, Thanh Phước cho rằng: cấu trúc chính là “cái dở nhất của tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma” Thiếu Mai chỉ ra “đôi điều đáng tiếc”:
“Trong lúc dồn tâm lực cho bài binh bố trận sao cho diễn biến câu chuyện dẫu gay go phứctạp vẫn thông suốt đâu ra đấy, không bị rối tung rối mù, dường như tác giả đã mảãi say sưatheo câu chuyện mà có phần xao nhãng, nói đúng hơn là chưa quan tâm đúng mức đếnnhân vật của mình…, không được nhà văn khai thác đến đầu đến cuối” [138] Văn Chinhcũng đã chỉ ra nhược điểm của hai tiểu thuyết này: “Bây giờ đọc lại bộc lộ ra những khiếmkhuyết, ở đây là sự thiếu thiết chế khiến đoạn cuối bị tãi ra, ở kia thì còn lổn nhổn những dễ
dãi, tạo nên những cú “vấp” rải rác trên đường tác phẩm đi vào lòng người” [21] Về Ba người khác, Phan Thị Thanh Nhàn nhận định: “Trong Ba người khác có đến ba nhân vật
đều dâm ô cả, như thế thì nặng quá, liều lượng như thế thì hơi quá” [142] Hà Minh Đứccho rằng: “Cái kết hơi gò, hơi dang dở, không thể nói Tô Hoài nên tìm kết khác, nhưng
theo tôi so với tổng thể thì phần kết chưa được ưng ý Cuốn Ba người khác nhiều điểm rất
hay nhưng nhiều điểm trình độ tôi chưa tiếp thu được, có khi phải vài năm nữa” [142] Về
Dòng sông Mía, Lý Hoài Thu có cái nhìn khá toàn diện về mặt nội dung và nghệ thuật,
đồng thời cũng chỉ ra những khuyết điểm: “Do mải miết đi tìm sự độc đáo khác biệt, cuốnsách có nhiều chi tiết, hình ảnh xa lạ, thiên về nét dị hình, dị biệt, nhất là đối với nhân vậtLẹp và bên cạnh Lẹp là cô Bê lớn - – vợ Lẹp…”, vì vậy người đọc “kinh hoàng khi đốidiện với nhân vật Lẹp và luôn đặt câu hỏi: “Tại sao hắn lại tập trung quá nhiều cái xấu xa,thấp hèn và độc ác đến như vậy” [201;tr.232] Về điểm nhìn trần thuật, tác giả bài viết chorằng: “Chính bởi một mình tác giả (trong vai nhân vật trung gian “thuật sự”) ôm đồm tất cảmọi biến cố của tác phẩm nên đôi khi ông phải nói thay nhân vật, đôi chỗ chuyển đoạn cònquá mộc” [201;tr.234]
*Các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đi trước đã khẳng định đề tài nông thôn cóchiều dài lịch sử, trong đó tiểu thuyết viết về nông thôn có những đóng góp nhất định trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc Họ tỏ ra tin tưởng, lạc quan, hi vọng vào sự hồi sinh và tương lai của đề tài nông thôn nói chungn nói chung, và tiểu thuyết viết viết vềnông thôn nói riêng sẽ gặt hái nhiều thành công hơn nữa Tiểu thuyết viếtviết về nông thôn
sau 1986 đã có sự bứt phá trong việc mở rộng biên độ hiện thực trong bức tranh nông thôn
Trang 24và đi sâu khám phá số phận người nông dân trong thờicơn bão tố của lịch sử dân tộc,trongvà cơn lốc thờicủa cơ chế thị trường; có sự cách tân, đổi mới vềtrong nghệ thuật tự sự
như cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệudiễn ngôn, hình tượng nhân vật, không gian
và – thời gian nghệ thuật… Tuy nhiên, đó mới chỉ là những nét chấm phá tản mạn chứchưa đàobàn sâu, bàn kĩ, vì vậy nó vẫn còn ẩn số, chứa đựng nhiều vấn đề mới mẻ, thú vịcần khám phá Chúng tôi kế thừa thành tựu của những người đi trước để nghiên cứu toàndiện và đầy đủ hơn, nhằm khẳng định thành công và chỉ ra một cách có hệ thống nhữngthành tựu đó trên các bình diện nội dung và nghệ thuậtphương thức thể hiện
Trang 25Chương 2 DIỆN MẠO CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY
2.1 NHU CẦU ĐỔI MỚI TƯ DUY NGHỆ THUẬT
Hiện thực đời sống luôn đổi thay, biến động không ngừng Những biến động đóthường ảnh hưởng không nhỏ đến sự thay đổi của văn học, đặc biệt là tư duy nghệ thuậtcủa nhà văn Sự thay đổi của tư duy nghệ thuật kéo theo sự biến đổi vềcủa phương thứcmiêu tả và biểu hiện nghệ thuật Trong điều kiện cho phép, tác giả luận án tìm hiểu tư duytiểu thuyết Việt Nam viết của các tác giả viết về đề tài nông thôn giai đoạn từ 1945 - –
1975, 1975 - 1985 và giai đoạn từ 1986 trở về sau, nhằm để làm rõ sự biến đổi của tư duynghệ thuật qua hai giai đoạn trong tiến trình văn học
2.1.1 Tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết về nông thôn trước 1986
Cách mạng tháng Tám và hiện thực lịch sử của hai cuộc kháng chiến đã làm chovăn học nói chung, tiểu thuyết viết viết về nông thôn nói riêng có bước chuyển biếnquan trọng Từ chỗ bộc lộ khát vọng giải phóng cá nhân, mưu cầu hạnh phúc (tiểuthuyết Tự lực văn đoàn: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo); miêu tả đời sống ngườinông dân nghèo trong cảnh sưu cao thuế nặng, bị bóc lột trắng trợn, dã man của chế độphong kiến (tiểu thuyết hiện thực phê phán: (Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, NamCao), tiểu thuyết viết viết về nông thôn đã chuyển sang thời kỳ mới -– đó là thời kỳsáng tác theo khuynh hướng sử thi Tư duy sử thi đã ngự trị, chi phối gần bốn mươinăm trong dòng chảy của tiểu thuyết viết viết về nông thôn (1945 - 1985) Đề tài nôngthôn nằm trong đề tài kháng chiến, vì thế nó thực sự là thứ vũ khí sắc bén, đắc lực trêncon đường đấu tranh, dựng xây đất nước, là một nhiệm vụ thiêng liêng không thể chốicãi Đây là “đề tài sinh tử” và “đề tài cao đẹp nhất” Chúng ta từng ghi nhận sức mạnh tolớn của tiểu thuyết viết viết về nông thôn bởi sức mạnh động viên khiến một thời baothế hệ nông dân từ những miền quê một lòng quyết tâm, hăng hái ra trận đã in dấu trong
những trang văn đầy nhiệt huyết của Nguyễn Văn Bổng (Con trâu), Nguyễn Đình Thi (Vỡ bờ), Nguyễn Khải (Xung đột)… Vì vậyThế nên, chủ âm nổi lên là cảm hứng ngợi
ca gắn bó với kiểu tư duy sử thi ngự trị gần như tuyệt đối thời kỳ này Tư duy ấy đã chiphối đến hầu hết các phương diện nghệ thuật như chủ đề, hình tượng, xây dựng tínhcách nhân vật, ngôn ngữ, kết cấu, không gian và– thời gian nghệ thuật……
Trang 26Như trên đã nói, hai cuộc cách mạng và kháng chiến vĩ đại của dân tộc Việt Nam
đã giúp các nhà văn nhận thức và có nhu cầu thể hiện các đề tài trung tâm của hiện thựcsôi động đó, trong đó, có đề tài nông thôn Viết về đề tài chủ lực này, các nhà văn tậptrung miêu tả hiện thực đời sống xã hội nông thôn và người nông dân thấm đẫm khuynhhướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, trong đó hình tượng người nông dân nổi lên nhưmột điểm sáng thể hiện tư tưởng và lý tưởng thẩm mỹ của thời đại Những người nông
dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ như Trợ, Đẩu (Con trâu), Tiệp (Bão biển), chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng), Lũy, Trần Phú (Xung kích)…, không còn
là nạn nhân của xã hội, mà đã trở thành những chủ nhân chân chính của chế độ mới Họ
là những người nông dân tiêu biểu về lý tưởng cách mạng, tràn đầy niềm tin yêu cuộcsống và con người, kết tinh vẻ đẹp truyền thống của con người Việt Nam trong thời đạibão táp cách mạng Họ được giác ngộ cách mạng và trực tiếp tham gia có hiệu quảnhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc trọng đại của dân tộc mà Đảng, cách mạng, nhândân và người thân tin tưởng và giao phó Và thực tế, tiểu thuyết viết về nông thôn giaiđoạn trước 1986 đã làm tròn trọng trách tinh thần của mình ở việc giải quyết hài hòa(trong tương quan với nhu cầu thời đại) mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và khách thểthẩm mỹ, tập trung “làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm” của người nông dân Việt Nam,
và “họ là những con người hết sức trong sáng, kết tinh vẻ đẹp của quê hương” [111 ;tr.172]
Cuộc binh lửa đi qua và với độ lùi thời gian nhất định, với sự phát triển của tư duy
và nhận thức của con người hiện đại, cùng với cnhu cầu tiếp nhận của người đọc chịu ảnhhưởng từ Mỹ học tiếp nhận Âu - Mỹhúng ta tĩnh tâm nhìn nhận lại, vén đi lớp bụi phủkín thời gian để chúng ta có cái nhìn khách quan, biện chứng hơn về thành tựu cũng nhưhạn chế của tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này Ở đó, ngoài ưu điểm nó vẫn hiệndiện những hạn chế Đó là,khẳng định: với tư duy sử thi, cái nhìn sử thi đã tước đi phầnnào tính đa dạng, phong phú và độc đáo của chủ thể sáng tạo Những thuộc tính của vănhọc biểu hiện còn mờ nhạt, khiên cưỡng, đặc biệt lúc này tiểu thuyết viết về nông thônchưa chú ý đào xới những “vùng mờ khuất” trong đời sống nông thôn và trong cái nhìn
đa trị về người nông dân Hầu hết các tác phẩm đềuukhắc họa đưa hình ảnh người nôngdân lúc nào cũng thánh thiện như là hình mẫu lý tưởng của thời đại và dân tộcđến vớithánh địa của sự trong sáng, thủy chung, sạch sẽ và phủ vây bởi thiên lương cao cả nên ởhhình ảnh người nông dân ọ thiếu đi cá tính, mờ nhạt về tâm lí và thiếu khuyết các quan
hệ bình thường, riêng tư khác., tính cách… Đó là những điểm trống cần được làm đầymột cách khách quan và nghệ thuật theo nhu cầu nhận thức tối đa về hiện thực và conngười quá khứ trong tiểu thuyết viết về nông thôn sau 1986 theo tầm đón đợi và đón nhậncủa con người hôm nay
Trang 272.1.2 Nhu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết về nông thôn sau 1986
Sau năm 1975, đặc biệt từ 1986 trở về sau, tiểu thuyết viết về nông thôn bướcvào vận hội mới để thể nghiệm trọn vẹn tính linh hoạt của nó Cùng với sự đổi thay vềquan điểm đạo đức, thẩm mỹĩ do công cuộc đổi mới đem lại làm cho tư duy sử thi nhạthóa và tăng dần tư duy tiểu thuyết Tư duy tiểu thuyết hiện đại đã nhanh chóng đáp ứngphần nào những đòi hỏi đó và trở thành dòng chủ lưu của tiểu thuyết viết về nông thôngiai đoạn này Đổi mới tư duy nghệ thuật dẫn đến kéo theo hàng loạt những đổi mớiquan trọng như quan niệm nghệ thuật về con người, cảm hứng sáng tác, phương thứcbiểu hiện… Ở mục này, chúng tôi chỉ nêu những dấu hiệu đổi mới cơ bản của kiểu tưduy nghệ thuật trong tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này Những đổi mới cụ thể
sẽ được trình bày kĩỹ hơn ở các chương sau
2.1.2.1 Với kiểu tư duy tiểu thuyết, tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này có
những tìm tòi, thể nghiệm trong hình thức nghệ thuật Về cấu trúc tác phẩm, ngoài một số
tiểu thuyết có xu hướng quay về mô hình tự sự truyền thống, kết cấu rõ tràng, mạch lạc, có
mở đầu, có kết thúc, cách kể không quá phức tạp (Thời xa vắng, Giời cao đất dày, Đứa con của thần linh, Ma làng, Bến không chồng, Thủy hỏa đạo tặc) là kết cấu “phức hợp” Ở
đó, các nhân vật (người kể chuyện, nhân vật xưng tôi, tác giả…) đối thoại với nhau, không
ai có quyền phán xét, áp đặt (Chuyện làng Cuội, Bên kia bờ ảo vọng, Ba người khác) Kết
cấu như một trò chơi rubich, tạo nên sự hỗn loạn, lỏng lẻo, rời rạc, lắp ghép, gấp khúc, khó
nắm bắt (Giã biệt bóng tối, Lão Khổ) Kết cấu theo lối đảo lộn thời gian (quá khứ - hiện tại
-– tương lai), không có sự tổ chức sắp sếp theo quy luật (Lão Khổ, Chuyện làng Cuội) Kết
cấu “buông lửng”, “bỏ ngỏ” -– nhằm đưa người đọc tự do suy nghĩ, tự do sáng tạo kiểu kết
thúc riêng theo quan niệm riêng (Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía) Kết cấu liên văn bản, “tiểu thuyết lồng tiểu thuyết” (Giã biệt bóng tối, Lão Khổ, Dòng chảy đất đai)… Chính tư duy tiểu thuyết và những biến đổi thi pháp đã chi phối nguyên tắc xây
dựng tác phẩm, tạo ra nhiều mô hình cấu trúc mới mẻ: cấu trúc theo đường đời nhân vật
(Thời xa vắng, Giời cao đất dày), cấu trúc đan cài số phận mỗi con người với mỗi dòng họ, gia đình, làng quê, đan cài hiện tại với các lớp trầm tích văn hóa lịch sử (Mảnh đất lắm người nhiều ma, Lời nguyền hai trăm năm, Lão Khổ, Đội gạo lên chùa , Thuyền nghiêng), cấu trúc theo ký ức hồi cố (Giời cao đất dày, Lão Khổ), cấu trúc tập trung vào nhân vật cá nhân dị biệt (Dòng sông Mía), cấu trúc đảo lộn thời gian xen kẽ quá khứ và hiện tại (Chuyện làng Cuội), cấu trúc dồn tụ chất liệu hiện thực để khắc sâu một tư tưởng, một luận
đề (Thời xa vắng, Dưới chín tầng trời , Mảnh đất lắm người nhiều ma)… Nghĩa là điểm
nhìn được tối ưu hóa trong tiểu thuyết viết về nông thôn đương đại Một khi tư duy tiểuthuyết thắng thế tư duy sử thi thì ngôn ngữ cũng biến đổi theo hướng đó Do nhu cầu phảnánh hiện thực đời sống xã hội nông thôn trong thời đại mới, các nhà văn tiếp cận đời sống ở
Trang 28cự li gần chứ không phải qua một “khoảng cách sử thi tuyệt đối”(M Bakhtin) nên ngônngữ ít mực thước, trang trọng, chuẩn mực, mỹĩ lệ, mà xu hướng đời thường hóa, đậm tínhkhẩu ngữ, thậm chí thô tục trở thành “hiệu ứng” riêng trong phản ứng mỹĩ cảm của nhà văn
với thế giới (Lão Khổ, Ba người khác, Thời của thánh thần) Xuất phát từ tinh thần dân chủ và
ý thức cá tính trong việc đi sâu tìm hiểu khám phá đời sống nông thôn ở chiều sâu nên giá trịtriết lý trong diễn ngôn được các nhà văn chú ý ngôn ngữ ngày càng gia tăng tính triết luận,khái quát, thông qua việc sử dụng và cách ứng xử ngôn ngữ của họ tự do, phóng khoáng hơn,nhằm đem lại hiệu ứng trực tiếp mạnh mẽ trong sự tiếp nhận của công chúng (Lão Khổ, Giã biệt bóng tối, Màu rừng ruộng)
Từ lớp nhà văn trưởng thành đến lớp nhà văn xuất hiện từ cao trào đổi mới vànhững cây bút phần lớn còn trẻ vẫn luôn nỗ lực sáng tạo, vẫn lặng lẽ kiếm tìm nhằm tạo
ra những hình thức mới, mang lại hiệu quả cao nhất Hiện tượng những cuốn tiểu thuyếtviết về nông thôn ngắn gọn, co lại, dồn nén về mặt dung lượng là một trong những biểuhiện của sự đổi mới của tư duy tiểu thuyết viết về nông thôn từ sau đổi mới Tạ DuyAnh - nhà văn trẻ chuyên viết về nông thôn cũng rất tâm huyết đã nói lên tính ưu việtcủa tiểu thuyết ngắn: “Xu hướng ngắn, thu hẹp bề ngang, vừa khoan sâu theo chiều dọc,
đa thanh hóa sự đối thoại, nhiều vỉa ý nghĩa, bi kịch thời đại được dồn nén trong mộtcuộc đời bình thường, không áp đặt chân lý là dễ thấy Tiểu thuyết ít mô tả thế giới hơn
là tạo ra một thế giới theo cách của nó Ở đó con người có thể chiêm ngưỡng mình từnhiều chiều hơn là chỉ thấy cái bóng của mình đổ dài xuống lịch sử” (Dẫn theo Bùi ViệtThắng), [194;tr.185] Xu hướng này phù hợp với kiểu tư duy của con người hiện đại.Dưới áp lực cơ chế thị trường, áp lực cạnh tranh phương tiện nghe nhìn và sự bùng nổthông tin, con người buộc phải hối hả chạy đua với thời gian, vì thế ngoại trừ những nhànghiên cứu, phê bình và những ai quan tâm đến tiểu thuyết, còn lại ít người chịu bỏ ramột lượng thời gian lớn để đọc những cuốn tiểu thuyết dày hàng trăm, hàng nghìn trang
như thời chống Pháp, chống Mỹ (Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Xung đột của Nguyễn Khải, Cửa biển của Nguyên Hồng) Vì thế, tiểu thuyết được mệnh danh là “cỗ máy cái”
buộc phải “thu mình lại” để có một “khuôn hình” phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu bạnđọc trong thời đại công nghệ thông tin Theo Bùi Việt Thắng, “những biểu hiện củakhuynh hướng tiểu thuyết ngắn trong văn học Việt Nam” [194;tr.186] xuất hiện đầunhững năm 60 của thế kỷ trước Chúng tôi thiết nghĩ, phải đến 30 năm sau (những nămđầu thập niên 90 của thế kỷ XX) thì khuynh hướng dồn nén dung lượng như tiểu thuyếtngắn mới thật sự có mặt, đúng theo tinh thần “less is more”(càng ít càng nhiều), “thiểungôn đa ý” (ít lời nhiều ý) Một số tiểu tiểu thuyết viết về nông thôn ra đời gần đây gâyđược bạn đọc chú ý với khuôn khổ nhỏ, có hình thức rất ngắn gọn, chú trọng sự côđọng, góin gọn trong phạm vi một tập, với số lượng phổ biến dgiao động dưới 300
Trang 29trang, dồn nén đúng nghĩa của tiểu thuyết ngắn như Bến không chồng (281 trang), Lời nguyền hai trăm năm (191 trang), Lão Khổ (260 trang), Ma làng (187 trang), Ba người khác (250 trang), Đứa con của thần linh (231 trang), Giời cao đất dày (243 trang), Trăm năm thoáng chốc (183 trang), Họ vẫn chưa về (210 trang), Cánh đồng lưu lạc (256 trang), Cách trở âm dương (260 trang) Độ ngắn như thế chưa nói được điều gì
đáng kể, song ít nhất “sự thành công của không ít tác phẩm thuộc dạng này đã nói lênrằng giá trị của một cuốn tiểu thuyết hoàn toàn không phụ thuộc vào bề dày và số trangcủa nó” [200;tr.54], nhưng mặt khác, nó thể hiện thiên hướng “chống lại một xu hướngchính từng ngự trị trong truyền thống: viết những bộ sử thi, tùng thư dài trang đượcxem như một giá trị, còn viết ngắn đồng nghĩa với sự non yếu, thất bại; mặt khác minhchứng cho một sự mới mẻ rằng: tính toàn thể của thế giới chỉ có thể được biểu hiện vànhận ra trong từng phân mảnh của thực tại, rằng miêu tả toàn bộ hoặc phần lớn thế giớitrong một tác phẩm tiểu thuyết là siêu hình và trên thực tế là không thể đạt được, do vậy
mà tiểu thuyết truyền thống đã rơi vào tình trạng quá nhiều lời và thừa mứa ngôn từ”[51] Và dĩ nhiên, khuôn hình ấy không làm giảm đi dung lượng phản ánh, trái lại có sựdồn nén lớn về nội dung phản ánh hiện thực, góp phần tạo nên chất thơ và tính triết lítrong tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới Chất thơ và tính triết lí như thể là cặpsong sinh trong hệ hình tư duy của tiểu thuyết viết về nông thôn đương đại Tính triết lítoát ra từ những suy tư, tranh biện giữa các nhân vật (đối thoại) và trong chính nhân vật(độc thoại) Chất thơ thể hiện qua những trang văn miêu tả thiên nhiên đồng quê, vớinhững vẻ đẹp kỳ thú, huyền ảo, thơ mộng, có sức sống; chất thơ đi sâu vào những cảmxúc của thế giới nội tâm đầy huyền bí của con người, tạo nên sắc thái thẩm mĩ cho lờivăn Ngôn ngữ giàu chất thơ xuất hiện nhiều trong những trang văn làm nên sự quyến
rũ riêng cũng như hiện thực “bỏng rát” chuẩn bị tâm thế để người đọc lắng dịu lại màcảm nghiệm hiện thực Thứ ngôn ngữ đời sống đó được thăng hoa trong dòng cảm xúcbay bổng, mãnh liệt dùng để bày tỏ trọn vẹn những cảm hứng phức hợp của nhà văn về
bức tranh hiện thực đời sống nông thôn, về sự diệu kì của tâm hồn người nông dân (Bến không chồng, Dòng sông Mía, Dòng chảy đất đai) Như vậy, tiểu thuyết viết về nông
thônnông thôn sau đổi mới đã giai đoạn này vẫn kế thừa, phát triển những đặc điểm ưu việtcủa hình thứcvề phương thức nghệ thuật trước đóuyền thống, nhưng mặt khác, đã tiếp thunhững kĩ thuật mới của nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại trên thế giới Những nét mới mẻ,tinh túy nhất được tiểu thuyết viết về nông thôn vận dụng, biến hóa linh hoạt, uyển chuyểntrên tinh thần dân tộc
2.1.2.2 2.1.2.2 Tư duy tiểu thuyết cũng góp phần đắc lực cho các nhà văn cũnggóp phần đắc lực cho tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn giai đoạn này đi sâu khám phá
Trang 30thế giới bên trong đầy bí ẩn, thầm kín , nhấn mạnh tới và chiều kíchsâu tâm linh của người nông dân ,; đi vào những hướng tiêu cực, cổ hủ lạc hậu, những mất mát hi sinh
và cả những bi kịch của người nông dân; khám phá sâu con người đời tư, con người tự vấn, tự ý thức, con người bản năng, đa phân lưỡng trị… tạo nên quan niệm nghệ thuật mới về con người Đây chính là nét đổi mới đáng kể thể hiện tư duy nghệ thuật khác
trước Nguyễn Thị Bình có lý khi cho rằng: tiểu thuyết (trong đó có tiểu thuyết nôngthôn) sau 1986 “có một dòng chảy mới, lúc đầu âm thầm lặng lẽ, càng về sau càngmạnh mẽ hơn, trong đó chứa đựng nhận thức khoa học hơn, đầy đủ hơn về hiện thực”[10;tr.22] Đặc biệt, với kiểu tư duy nghệ thuật mới, tiểu thuyết viết về đề tài này đã
khám phá ra con người đời tư (tiếp cận người nông dân ở góc độ riêng tư) Phát hiện ra
con người nông dân dưới góc độ đời tư, thực ra không phải là bước đột phá mới trongtiểu thuyết nông thôn đương đại, vì đã từng xuất hiện ở giai đoạn trước đó (những năm
1930 -– 1945 của thế kỷ XX trong văn học hiện thực phê phán và Tự lực văn đoàn), thểhiện ước mơ, khát vọng sống mãnh liệt của người nông dân trong “đêm trường trungcổ” Giai đoạn 1945 -– 1975, nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ(hậu phương lớn chi viện tiền tuyến lớn) nên quan niệm cũng như tư duy nghệ thuậtluôn hướng tới cái chung của cộng đồng, dân tộc Con người chủ yếu là mẫu số chungcủa cộng đồng, là con người quần chúng, tập thể, lịch sử đã che khuất con người đờithường Ở đó, mọi nhận thức, đánh giá được “bao bọc trong một không khí vô trùng”(Niculin), nên họ là ai, ở vị trí nào đều thể hiện chung một trình độ nhận thức về chínhtrị, xã hội, về niềm tin đối với cách mạng, ý chí và tấm lòng sắt son, thủy chung với quê
hương đất nước (Bão biển của Chu Văn, Chủ tịch huyệncủa Nguyễn Khải) Trong hoàncảnh ấy, cái tôi cá nhân hết sức mờ nhạt, không có điều kiện để phô diễn mình, những
tiếng nói riêng của “cái tôi” bị lạc lõng, cô đơn (Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Con trâu của Nguyễn Văn Bổng) Từ 1975 trở về sau, con người đời tư xuất hiện trở lạinhưng phổ biến hơn, đậm nét hơn và được xem như một kiểu tư duy của “thời hiệnđại” Con người đời thường, con người cá nhân ấy được soi rọi từ nhiều chiều khácnhau, đặt vào vòng xoáy nghiệt ngã của cuộc đời nhất Con người ấy không còn giảnđơn, một chiều, “không có những bất ngờ, may rủi”, không “nhạt” như trước, mà đó lànhững con người “đầy những vết đập xóa trên thân thể, trong tâm hồn” Ở đó, conngười đồng thời tồn tại cả mặt tốt lẫn mặt xấu, cả nhân tính và phi nhân tính, cả bản ngã
và phi ngã, cả ý thức và vô thức và luôn biểu hiện cá tính rõ rệt Cá tính ấy biểu lộ xungđột trong cùng một thời điểm tạo nên nét riêng biệt của mỗi con người Con người đời
tư pha lẫn hối hận, dằn vặt, đau đớn, day dứt, sám hối Họ dằn vặt trước thời cuộc, sống
trong sự tự bộc bạch, tự mổ xẻ chính mình như Chị Nhân, Hạnh (Bến không chồng), Giang Minh Sài (Thời xa vắng), bà Son (Mảnh đất lắm người nhiều ma), bà Đất
Trang 31(Chuyện làng Cuội), chị Cả Thuần (Dòng sông Mía), Hai Thìn (Lời nguyền hai trăm năm), Thuần (Giời cao đất giày)… Họ đắng cay, xa xót xa nhất khi hiển lộ ra sự sai tráicủa mình, bởi con người không phải bao giờ cũng sáng suốt tuyệt đối, trái lại có những
lúc, thậm chí nhiều lúc đã để mình rơi vào những khoảng tối Hạnh (Bến không chồng)
luôn mang nỗi khổ đau, đơn côi để cuối cùng Hạnh nhận ra “trên đời này không có aitốt như chú Vạn và không có ai khổ cô đơn như chú Vạn” [275;tr.308] Lão Xung suốtđời chìm đắm trong hận thù, về già khi không còn đủ sức để làm điều xấu điều ác đã ănnăn: “Tôi bây giờ già rồi, giờ nghĩ lại mà khiếp sợ” [275;tr.304] Cuộc đời của chị Cả
Thuần (Dòng sông Mía) là một chuỗi dài tủi nhục vì quá khứ ám ảnh, nỗi đớni đau củangười mẹ khi người con thân yêu hi sinh ngoài chiến trường Nhà văn đã tạo ra nhữngcon người có nội tâm phong phú, biết suy xét, thức nhận cuộc sống ở mức độ riêng, đấutranh trong cùng một con người để tìm ra được chân lý đích thực của hiện tại, tìm ra
chính bản thân mình như nhân vật Sài (Thời xa vắng) là một điển hình Đồng thời, với
mặt trái tiêu cực trên của xã hội nông thôn, con người cá nhân được tự do phát triển,suy nghĩ, bộc bạch, theo đuổi ước mơ, sở thích của mình Họ có quyền riêng tư, chọnlựa phong cách sống dù phải nhận lấy bi hài kịch, cá tính được phát huy cao độ, không
phân biệt giai cấp, địa vị Trong Dòng sông Mía, Đào Thắng xây dựng người nông dân
rất đỗi đời thường, họ có ước mơ, hoài bão và khát vọng riêng Một cô bé xinh đẹp, connhà giàu nhưng dám quẳng thân vào gió bụi, lao vào cuộc tình éo le với Lẹp -– đứa conrơi, tàn tật Một bà Mến lúc nào cũng tâm niệm: “Đàn bà chúng tôi không cần cái gì,tiền bạc, của nả, danh tiếng không bằng một đứa con, khi khỏe mạnh đã vậy, còn lúc
ốm đau, trái gió trở trời, thêm nữa tránh sao khỏi miệng đời, người ta rủa xả mình là vôphúc” [291;tr.157] Trong thẳm sâu tâm hồn người nông dân, luôn ẩn chứa bao nỗiniềm khắc khoải, dằn vặt thao thức, luôn đi tìm ý nghĩa cuộc sống, nhạy cảm trước đổi
thay của thế cuộc Ông Phúc (Mảnh đất lắm người nhiều ma) luôn bày tỏ quan niệm
của mình về hiện thực đời sống xã hội: “Thời buổi bây giờ nó nhiễu nhương, trắng đenlẫn lộn, cóc ngóe nhảy lên làm người! Muốn có chỗ đứng thì phải biết lựa” [277;tr.29]
Hương (Thời xa vắng) nhận thấy cuộc đời đầy bất công, ngang trái: “Đời hay thật, kẻ
hèn nhát không muốn mất đi cái gì thì được tất cả Người sẵn sàng đánh đổi tất cả chomột cái gì thì chỉ còn thân tàn ma dại” [263;tr.97] Đôi khi ước mơ chỉ là giản dị, đơn
sơ nhưng mãi là giấc mơ xa vời đối với người nông dân Hạnh (Bến không chồng) suốt
cuộc đời “chỉ ước mơ được ở một căn nhà nhỏ”, được cầm chiếc chổi rơm quét nhà,được tự tay nhóm lửa nấu cơm” [275;tr.307] vậy mà cũng không có được Con ngườiđời tư, con người cá nhân hiện diện trong tiểu thuyết viết về nông thôn đương đại đượccác nhà văn phản ánh trung thực bằng kinh nghiệm sống chắt lọc, vắt kiệt trên từng câuchữ, trang văn Con người ấy hiển lộ đời sống nội tâm phong phú và đa dạng: có cái tốt
Trang 32xen lẫn với cái xấu, có niềm vui pha lẫn nỗi buồn, có hạnh phúc lắng lại trong nỗiđau…
2.1.2.3 Tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết viếtviết về đề tài nông thôn giai đoạn
nàyy còn còn thể hiện sự nhạy bén của các tác giả trong việc nhận thức tối đa đạo đức tối đa về thực trạng suy thoái đạo đức , băng hoại đạo đức, nhân cách của người nông dân trong quá trình đô thị hóa nông thôn Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới toàn
diện, xã hội nông thôn Việt Nam biến đổi nhanh chóng theo vòng quay hối hả của cơ chếthị trường, thì tiếng gọicảnh báo khẩn thiết về sự suy thoái đạo đức của người nông dânđượcđặt ra bức khẩn thiết hơn bao giờ hết.! Chính những điều kiện tốt đẹp đó đưa ngườinông dân ngự trên những vinh quang nhưng cũng sẵn sàng tước đoạt đi “nhân tính”thiêng liêng nhất của mình Những cơ hội thách thức đã hòa trong mỗi cá nhân để mở ra
cả một xã hội bộn bề trong một con người bé nhỏ Và cũng chính từ đây, các nhà văn truytìm trong cơ chế thị trường và quá trình hiện đại hóa nông thôn, người nông dân đã đánhmất đi chất thuần hậu, đạo đức bị băng hoại, tha hóa và biến chất về mặt nhân phẩm Lốisống thực dụng đã làm đảo lộn, lung lay và có nguy cơ sụp đổ những giá trị đạo đứctruyền thống dân tộc vốn bám sâu nơi làng quê trước cơn sóng gió của thời cuộc Phan
Cự Đệ có lý khi cho rằng: “Cơ chế thị trường có những mặt tích cực của nó nhưng cũngkéo theo những mặt tiêu cực Nó đưa đến một lối sống cạnh tranh vô chính phủ, lối sốngchụp giật hoặc thực dụng, lấy đồng tiền làm thước đo mọi giá trị Đạo đức, nhân cáchđược coi là dại dột, lỗi thời, người tốt bị cô đơn, lép vế, bị rơi vào tình trạng bi kịch, còncái xấu, cái ác…, có nguy cơ lộng hành, thậm chí xâm nhập vào những gia đình truyềnthống” [40;tr.268] Nông thôn đương đại vì thế không là một chiều, giản đơn, dễ hiểu màluôn biến chuyển phức tạp, sinh động và đa thanh Am tường những ngóc ngách đó, cácnhà văn lần lượt đưa ra những con đường lựa chọn nhân cách giằng co để bạn đọc suynghĩ, đắn đo và tìm ra những giải pháp tối ưu nhất mà các nhà văn quan tâm thể hiện Vớinội lực riêng trong cá tính sáng tạo, các nhà văn đã và đang chiêm nghiệm, vừa ở tư thếnhập cuộc, vừa biết lùi xa và đứng trên tầm cao của đất nước trong những năm chuyểnđộng dữ dội để dựng những góc nhìn Các nhà văn đã nhận ra trạng thái “chấn thương”của dòng đời trong cơn vây bủa tâm lý hiện đại trong dòng đời vây bủa Đó là lối sốngthực dụng của một bộ phận nông dân chạy theo vật chất, xem quyền lực, đồng tiền là
“chúa tể”, là thước đo tất cả Đọc Mảnh đất lắm người nhiều ma, Lão Khổ, Ma làng, độc
giả bàng hoàng trước mưu ma chước quỷ của những kẻ vì quyền lực, lợi ích cá nhân, giađình và dòng họ mà hãm hại, trù dập những người ngay thẳng, trung thực và bần cùnghóa người nông dân Ở đây, cái ác không chỉ riêng cho một cá nhân nào, mà nó có nguy
cơ loang bùng khắp thôn xóm, làng xã Chính vì quyền lực và đồng tiền, Hiếu (Chuyện làng Cuội) đã táng tận lương tâm, đẩy mẹ mình đến cái chết và cũng từ đó khiến anh
Trang 33đánh mất hoàn toàn lòng tin ở thế hệ trẻ (như con của Hiếu) Người đọc chua xót trước
hành động của Quàng (Mảnh đất lắm người nhiều ma) quyết định chôn cất người anh xấu
số của mình bằng bó chiếu chỉ vì sợ tốn kém Quyền lực và đồng tiền với sức mạnh của
nó cũng như những vị kỉ của cá nhân đã len lỏi vào, che lấp các mối quan hệ thiêng liêngcủa gia đình, làng xã, hủy hoại dần những giá trị đạo đức cao quý, thiêng liêng mà chaông dày công dựng xây Chỉ vì gia đình, dòng tộc mà chú cháu ông Hàm đào mồ cha
Phúc (Mảnh đất lắm người nhiều ma) Do dục vọng thấp hèn, vô đạo đức mà sau những cơn bộc phát bản năng, Lẹp (Dòng sông Mía) đã loạn luân với chị dâu và em gái mình.
Và sa đọa hơn, vì lợi ích cá nhân mà cụ Chánh lấy nơi linh thiêng để làm nơi thỏa mãnlạc thú: “Không mấy ai được biết gian nhà dùng cho việc hành lạc xây phía sau điện thờ
Cụ Chánh thường nuôi mấy cô gái đồng trinh phòng có quan huyện hoặc quan Tây đituần thú ghé ngủ qua đêm” [291;tr.171] Guồng quay nghiệt ngã của cuộc sống nông thôntrên bước đường hiện đại hóa đã làm xói mòn giá trị đạo đức của người nông dân Qualời phát ngôn của Côn với mẹ chồng: “Đánh đĩ rồi đi trôi sông” [291;tr.506], “lúc nàocũng chính chuyên… nằm ngửa ra mời nó, chửa hoang có con, bây giờ mới lộ cái mặt ra!Lại vẫn chứng nào tật ấy, giờ sắp xuống lỗ rồi còn tí tởn, tí táu tí mẻ, sờ soạng, hú hí”[291;tr.478] Sang, con của Khuê đã dành cho người cha của mình những lời tệ mạt, xấcxược: “Ông cút khỏi cái nhà này đi, nếu không tôi đánh ông chết ngay bây giờ”[291;tr.507] Côn, Sang những vết thương đang lở loét trên cơ thể xã hội nông thônđương đại khiến lòng người nhói đau, xa xót xa.! Hay chỉ cần qua chi tiết điển hình trong
Mảnh đất lắm người nhiều ma, sự phi nhân tính trong bản chất của người nông dân hiển
lộ khi mọi trật tự đã bị đảo lộn và phỉ báng; con gọi bố bằng mày: “Địa chủ Đại, mày cóbiết tao là ai không? Dạ thưa ông tôi có biết ông, vì tôi đã trót đẻ ra ông?” [277;tr.27].Những góc khuất hiện thực đầy đau lòng trong đời sống nông thôn đã được các nhà vănquan tâm cảnh báo, thể hiện tính nhân văn về phương diện đạo đức xã hội
2.2 NHU CẦU NHẬN THỨC VÀ SỰ CHIẾM LĨNH HIỆN THỰC ĐA CHIỀU
Hiện thực cuộc sống luôn đa dạng và phức tạp, là “vùng trời, vùng đất thênhthang”(Lý Hoài Thu), thích hợp cho sự sáng tạo của tiểu thuyết Nhưng mỗi nền văn học,mỗi thời đại, trào lưu, trường phái lại có một quan niệm riêng về hiện thực Bởi văn học làkết tinh của sự “tái tạo” những chất liệu cuộc sống qua thế giới chủ quan của nhà văn, và từ
đó đã mở ra chân trời bất tận để nghệ sĩ nhập thân mà thể nghiệm Nằm trong quy luật đó,tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới giai đoạn này đã có sự chuyển biến tích cực, năngđộng trong việc chiếm lĩnh hiện thực đa chiều, phức tạp vềcủa đời sống xã hội nông thôn
và nông dân.đương thời
Trang 342.2.1 Nhu cầu nhận thức mới về hiện thực trong tiểu thuyết về nông thôn trước 1986
Phản ánh hiện thực là nhiệm vụ, chức năng của văn học, nhưng con đường điđến đích ấy là sự riêng khác, độc đáo ở mỗi thời kỳ Văn học chân chính bao giờ cũnggắn bó máu thịt với thời đại mình, với đông đảo thị hiếu thẩm mĩ của thời đại để manglại những hiệu ứng mới Phát triển trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, tiểu thuyếttrước 1975 đã nhận ra sứ mệnh lịch sử của bản thân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc nên hiện thực cuộc sống của toàn dân tộc là hiện thựcchiến tranh Những gì thuộc về riêng tư con người thường ít có tư cách để tồn tại độclập, bởi vì không có cơ sở kinh tế - xã hội cho cái riêng, mà có chăng cũng chỉ là sơ
lược hoặc làm nền để nổi bật ý nghĩa cuộc sống kháng chiến, cách mạng như Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Hãy đi xa hơn nữa của Tô Hoài…
Nằm trong nguồn mạch hiện thực đó, tiểu thuyết viết về nông thôn trước 1986cũng vận động và biến chuyển theo chiều hướng chung của thời đại Viết về đề tài nôngthôn, các nhà văn có sự chuyển biến trong phạm vi bao quát hiện thựcBức tranh hiệnthực đời sống nông thôn và nông dân trong tiểu thuyết viết về nông thôn trước 1986chưa được phản ảnh đa dạng, phong phú, phức tạp Nông thôn thời kỳ 1932-1945trong văn xuôi và tiểu thuyết viết viết về đề tài nông thôn của Nguyễn Công Hoan
(Bước đường cùng), Ngô Tất Tố (Tắt đèn), Vũ Trọng Phụng (Vỡ đê), Nam Cao (Chí Phèo)…, chỉ là bức tranh u tối của những vô lý và bất công, những thủ đoạn bóc lột tànnhẫn, trắng trợn, tù đọng trong không khí “Nửa đêm thuế thúc trống dồn -– Sân đìnhmáu đổ, đường thôn lính đầy”* Sau Cách mạng tháng Tám 1945, trong quá trình xâydựng nông thôn mới, người nông dân có nhiều đổi thay trong đời sống vật chất lẫn tinhthần Nhưng dĩ nhiên, ở đó vẫn còn đọng lại không ít những mặt tiêu cực làm cản trở sựphát triển đời sống xã hội nông thôn, gây ra nhiều nhức nhối, thảm kịch đối với ngườinông dân Thời kỳ cải cách ruộng đất (1955-1956), do quan niệm đấu tranh giai cấp mộtcách máy móc, vấn đề mối quan hệ giữa nông dân và địa chủ đã bị đẩy đến hai cực đốilập gây gắt, gây ra hận thù, đổ máu và làm đảo lộn toàn bộ nền tảng xã hội nông thôn vànông dân Thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp (đầu những năm 1960), chủ yếu xoayquanh vấn đề ra vào “hợp tác xã”, hiện thực nông thôn được tô hồng, đơn điệu một
chiều (Bếp đỏ lửa của Nguyễn Văn Bổng, Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng, Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm của Đào Vũ) Thời kỳ chiến tranh chống Mỹ (1964 -1975), chủ yếu tập trung vào vấn đề “hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn”, “vừasản xuất vừa chiến đấu” Những khuyết tật tồn tại trong đời sống nông thôn và khôngkhí xây dựng cuộc sống mới như lề lối làm ăn tùy tiện, những toan tính cục bộ, những
Trang 35mưu toan vun vén cá nhân, “nạn” hội họp, phong tục, hủ tục, lệ làng (Bão biển của Chu Văn, Đất làng của Nguyễn Thị Ngọc Tú, Ao làng của Ngô Ngọc Bội, Vùng quê yên tĩnh của Nguyễn Kiên, Chủ tịch huyện của Nguyễn Khải) cũng được phản ánh rõ nét.
Thời kỳ tiền đổi mới (1975-1985), những vấn nạn trong đời sống xã hội nông thôn nhưhiện tượng ô dù, nỗi thống khổ của người dân quê do cung cách làm ăn và quản lý nông
thôn theo kiểu cũ, lề lối làm ăn và quản lý nông thôn theo kiểu mới (Nhìn dưới mặt trời của Nguyễn Kiên, Bí thư cấp huyện của Đào Vũ, Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn)
…
Nhìn chung, tiểu thuyết viết về nông thôn trước 1986 có cái nhìn bao quát hiệnthực của một giai đoạn cách mạng lớn lao, với những sự kiện và con người đáng ghinhớ Phản ánh hiện thực như vậy, lúc này phù hợp với nhu cầu và đòi hỏi có tính thờiđại mà các nhà văn muốn chiếm lĩnh Song, phần “máu thịt” thuộc về đời sống nôngthôn vẫn chưa in đậm “không khí, mùi vị, màu sắc và âm thanh” của đời sống nôngthôn Việt Một khi những vấn đề, những chuyện không còn giá trị thời sự, thì bản thântác phẩm cũng bị rơi vào lãng quên Cho nên, các nhà văn ra sức kiếm tìm, thể nghiệm
để tìm tòi tiếng nói riêng, để khẳng định và trả về cho những trang văn viết về nôngthôn với mùi nồng của rơm rạ lẫn mồ hôi và máu huyết của người dân quê Đó là hànhtrình đầy gian lao nhưng lắm vinh quang của người nghệ sĩ
2.2.2 Sự chiếm lĩnh hiện thực đa chiều trong tiểu thuyết về nông thôn sau 1986
Khi tư duy nghệ thuật chuyển sang biên độ mới, thì hiện thực được mở rộng đến
vô cùng nên Nhờ không khí dân chủ hóa trong đời sống sáng tác mà hiện thực đượcphản ánh trong tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này được nhìn từ nhiều chiều,phản ánh toàn diện, không chỉ bằng kinh nghiệm của cả cộng đồng, mà còn cả kinhnghiệm của mỗi cá nhân Hiện thực trong tác phẩm đã được lựa chọn, chắt lọc, kháiquát để hướng về “tối ưu hóa” khả năng miêu tả hiện thực ở chiều sâu ý thức Nhà vănphản ánh hiện thực không phải từ một, mà từ nhiều điểm nhìn, nhiều cách tiếp cận khácnhau Nhà văn không chỉ miêu tả hiện thực, mà còn nghiền ngẫm hiện thực, chủ độnglựa chọn hiện thực, chủ động về tư tưởng và kinh nghiệm cá nhân trong ý thức sáng tạo.Nhà văn không chỉ tái tạo cái cụ thể trông thấy được, đồng thời còn phải tìm tòi, khámphá, tái tạo, cắt nghĩa, lí giải và đánh giá cái bí ẩn, tiềm tàng của hiện thực đời sốngnữa Trong khi tìm hiểu mối quan hệ giữa nhà văn và hiện thực, Nguyễn Thị Bìnhkhẳng địn: h: “Không phải ngẫu nhiên, người ta nói nhiều đến khái niệm “suy ngẫm”,
“nghiền ngẫm” về hiện thực Hiện thực là cái mà chủ thể chưa biếtđang nhận thức vànhận thức ấy luôn tồn tại giới hạn, vì vậy, chủ thể không thể biết hết, hiện thực phứctạp, cần phải khám phá, đi sâu vào hiện thực đótìm tòi Nhà văn lựa chọn hình thức nào
Trang 36không quan trọng bằng cách đánh giá của ông tahọ về hiện thực ấy Ở đây kinh nghiệmriêng giữ vai trò quyết định, tạo ra sự độc đáo thẩm mĩ trong cái nhìn hiện thực của mỗicon người” [10;tr.22] Chính nhà văn Nguyễn Khải -– cây bút sớm có tư tưởng đổi mớicũng đã ghi nhận: “Thời nay rộng cửa, gợi được rất nhiều thứ để viết Tôi thích cái hômnay, cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầyrẫy những biến động, những bất ngờ mới thật là một mảnh đất phì nhiêu cho các cây bútthả sức khai vở”* Nhờ Nhờ sự tiến bộ của thời đại và, nhờ sự khai phóng về tư tưởng,
mà không ít nhà văn đi vào khai thác những mảng hiện thực trước đây chưa hề có hoặchiếm khi xuất hiện Họ đã tạo ra cho tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn giai đoạn nàyhướng đi riêng, nhưng phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Người đọc buộc phảiđối diện với một hiện thực đời sống không phải tỉa gọt, sửa sang cho vừa với ý đồ giáohuấn đã định sẵn, mà đó là cuộc đời hết sức phức tạp đang diễn ra trước mắt mỗi người.Nông thôn được các nhà văn trở về không chỉ là hành trình tìm lại kỷ niệm, mà họ lậttìm cả những mảng màu đa diện trong bộ mặt văn hóa làng quê vốn rất yên ả Chính vìthế nên hơi thở của hiện thực và nhịp sống của thời đại đã len vào trong mỗi làng quê,hiện thực nhiều chiều được tái tạo, tìm kiếm, suy ngẫm, vì thế đã tạo dựng được nhữngbước đi đáng khích lệ trong việc đổi mới ở mọi khu vực của đề tài này
Hiện thực nông thôn Việt Nam trước 1975 chủ yếu “vào ra hợp tác xã”,
“xây dựng hợp tác xã” và “lề lối làm ăn tập thể”, vì thế nông thôn được dựng lên với khôngkhí chung là “thuần chiều yên ổn”, tất cả vì tiền tuyến Sự vận động đó chủ yếu hướng tới
sự dung hòa các chủ đề xã hội, bởi “cái mà các nhà văn tìm kiếm là sự thống nhất giữa cáiriêng và cái chung, được xem là biểu hiện đẹp nhất, lý tưởng nhất của xã hội yên ổn pháttriển” [125;tr.35] Hiện thực ấy được ví von rất hình tượng: “Dân có ruộng dập dìu hợp tác/Lúa mượt đồng ấp áp làng quê/Chiêm mùa cờ đỏ ven đê/Sớm khuya tiếng trống đi về trongthôn”* Nông thôn sau 1975, đặc biệt từ sau đổi mới đã có những thay đổi lớn, văn xuôi vàtiểu thuyết viết viết về nông thôn cũng phải chuyển mình để “các nhà văn viết về nôngthôn sau 1986 không còn bị ràng buộc bởi thực tế chiến tranh Mặt khác, trong bản thân họcũng có những tìm tòi và chứng kiến khác các nhà văn giai đoạn trước hoặc là khác vớichính bản thân mình” [125;tr.35] Các nhà văn không chỉ tiếp cận, khai thác hiện thực đờisống nông thôn và nông dân ở bề nổi, mà còn ở tầng sâu, mạch ngầm của nó để mang lạiluồng sinh khí mới cho làng quê Việt Nam Trần Cương đánh giá đúng khi cho rằng: “Cácnhà văn viết về nông thôn sau 1986 đã nhìn nhận và phản ánh hiện thực nông thôn kỹ cànghơn Họ nhìn thấy những gì ở tầng sâu, mạch ngầm của đời sống nông thôn Không phải họkhông hiểu chuyện tình nghĩa và những cái tốt đẹp trong nông thôn truyền thống, nhưngkhông vì thế mà làm mờ đi những vấn đề thuộc thực trạng của xã hội nông thôn hiện đại”[125;tr36] Hướng ngòi bút vào hiện thực đời sống xã hội nông thôn và nông dân, tiểu
Trang 37thuyết viết về nông thôn giai đoạn này đã đặt ra và điều trần, bóc tước trần trụi, phơi bàytoàn bộ những vấn đề nhức nhối đã và đang tồn tại trong xã hội nông thôn, và dĩ nhiênnhững mảng màu hiện thực ấy chờ đợi cả sự phán quyết nơi người đọc Đặc biệt, tiểuthuyếtCác nhà văn nông thôn giai đoạn này đã dũng cảm phản ánh những góc khuất củahiện thực nông thôn trong quá khứ và hiện tại đang làm bỏng rát tâm hồn người nông dân.Những vấn đề quá khứ nông thôn được soi chiếu trên tinh thần nhân văn Chiến tranh đượcnhìn nhận, đánh giá lại qua số phận của những người nông dân mặc áo lính từ chiến trường
trở về làng quê (Thời xa vắng, Bến không chồng, Dòng sông Mía, Cuồng phong, Dòng sông chở kiếp) Cải cách ruộng đất được nhìn từ mặt trái của nó (Mảnh đất lắm người nhiều ma, Lão Khổ, Ba người khác, Giời cao đất dày, Thời của thánh thần) Những xung
đột phe cánh, tranh chấp âm ỉ, quyết liệt về dòng họ, chi phái và cả những hủ tục, tập tục
cũng được quan tâm ráo riết (Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía, Bão đồng, Ma làng) Chiến tranh đã đi qua nhưng hậu quả là sự nghèo đói, rồi nhữngbất công, nạn cường hào , ác bá, cảnh thu sản nghiệt ngã còn hoành hành khắp mọi nẻođường thôn xóm Sự phân biệt giàu nghèo giàu có tính đẳng cấp cũng được đề cập đến
(Thời xa vắng, Mảnh đất lắm người nhiều ma) Cái ác, cái xấu đã lợi dụng lòng cả tin, sự
ấu trĩ của con người để hành động Và một khi cái ác kết hợp cùng với sự ngu muội, dốtnát, những thiên kiến, hủ tục lạc hậu và ma lực đồng tiền hoành hành trên sự nghèo đói thì
sự tàn phá của nó thật ghê gớm, không lường Tiếng nói ấy vang lên khẩn thiết trong
Chuyện làng Cuội, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía, Ma làng, Lão Khổ…
Bên cạnh bài học mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, còn là cái nhìn bao quát về hiện thực đờisống nông thôn và nông dân trong cơn lốc của cơ chế thị trường Nhận thức lại về hiệnthực nông thôn và người nông dân đã trở thành ý thức thường trực của các nhà văn viết về
đề tài nông thôn, “mệnh lệnh” của các nhà văn viết về nông thôn, nhằm cắt nghĩa hiện thựcđời sống nông thôn và bản chất của người nông dân một cách cốt yếu nhất Từ đó, tiểuthuyết viết về nông thôn giai đoạn này mở rộng và đào sâu vào hiện thực, tiến tới “làm nổilên những khoảng sáng tối, những chỗ lồi lõm, những mặt khuất nẻo, mà nhìn từ xa ta cứngỡ là phẳng phiu, hoặc không dễ phân biệt Sự sát gần sẽ cho ta thấy hiện thực như nó có,như chính nó, chứ không phải như ta ao ước, như ta muốn có” [103;tr.16]
CCác nhà văn đã khai thác triệt để những vỉa tầng hiện thực đa dạng, phong phú,tiếp tục khơi sâu, bám sát và bao quát những sự kiện, những vấn đề của đời sống xã hộinông thôn Việt Nam đương đại Việc phản ánh chân thực hiện thực đời sống nông thôn vàngười nông dân đã mang lại sinh khí mới cho tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới, thểhiện sâu sắc xu hướng dân chủ hóa trong đời sống văn học Thành tựu bước đầu này đãkhắc phục được những hạn chế của tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn trước, làm mới
Trang 38cách nhìn về hiện thực và con người, giúp người đọc hiểu được diện mạo, tâm hồn ngườinông dân Việt Nam trong những thời kỳ lịch sử đầy biến động
2.3 DIỆN MẠO CỦA TIẾU THUYẾT VỀ NÔNG THÔN TRONG MẠCH NGUỒN TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY
2.3.1 Tiến trình của tiểu thuyết về nông thôn trước 1986
Quá trình hiện đại hóa văn học từ đầu thế kỷ XX đã mở đường và tạo điều kiệncho các nhà văn có cách tiếp cận đa dạng đối với hiện thực nông thôn và nông dân Cóthể nói đây là đề tài thu hút và hấp dẫn các nhà văn ở nhiều khuynh hướng khác nhauthể hiện năng lực khám phá hiện thực, và con người với những chiều kích và phẩmchất nghệ thuật mới
2.3.1.1 Tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn giai đoạntừ 1932 -– 1945 chủ yếu có hai khuynh hướng sáng tác là lãng mạn (với các tác phẩm của Tự lực văn đoàn)
và hiện thực (với các sáng tác của của các nhà văn hiện thực phê phán) Các nhà văn Tự
lực văn đoàn viết về đề tài nông thôn và người nông dân chỉ yếu tập trung giai đoạn từ
1936 đến 1939 Những tác phẩm như: Tối tăm (Nhất Linh), Gia đình và Thừa tự (Khái Hưng), Bùn lầy nước đọng và Con đường sáng (Hoàng Đạo)…, trực tiếp miêu tả bứctranh nông thôn trong cảnh “bùn lầy nước đọng”, nông dân thuộc tầng lớp “dưới đáy”
xã hội; Dẫu các nhà văn Tự lực văn đoàn tập trung phản ánh, phê phán tư tưởng cổ hủ,lạc hậu vốn ăn sâu bám rễ trong đời sống xã hội nông thôn và trong nghịch cảnh thấtthế, sa sút của người nông dân.nhưng họ lại lí giải rằng: những thảm kịch ấy đều xuấtphát từ những thói quen, trình độ thấp kém chứ không phải bị giai cấp địa chủ, quan lạibóc lột, đàn áp Cách lí giải đó, thiết nghĩ các nhà văn Tự lực văn đoàn đã đứng trên lậptrường tư tưởng cải lương
Trong số các nhà văn Tự lực văn đoàn, Trần Tiêu là nhà văn tiêu biểu nhất Nằmtrong dòng chảy chung, nhưng Trần Tiêu đã tạo cho mình một phong cách riêng khácvới những giá trị mới Những trang văn viết về nông thôn của Trần Tiêu không giàu lýtưởng như Hoàng Đạo, không mơ mộng, bay bổng như Thạch Lam, mà thuần phác,
chân chất Hằn in trong nhiều tác phẩm như Sau lũy tre (truyện ngắn), Con trâu, Chồng con (tiểu thuyết) là hình ảnh của làng quê dấu yêu, với những cảnh vật và con ngườimang đậm dấu ấn của những phong tục văn hóa ngàn đời Trần Tiêu cũng đã dành cảtrái tim của mình để cùng đồng hành với những nỗi đau, mất mát của người nông dân
bé nhỏ sau lũy tre làng, đặc biệt thân phận người phụ nữ ở nông thôn Con trâu là một
trong những tác phẩm xuất sắc viết về nông thôn và nông dân Tác phẩm được vinh dựđón nhận danh hiệu người viết tiểu thuyết con trâu đầu tiên của Việt Nam* , tác phẩmđược vinh dự đón nhận danh hiệu người viết tiểu thuyết con trâu đầu tiên của Việt Nam
Trang 39Tác phẩm không chỉ miêu tả phong tục, tập quán trong đời sống nông thôn, mà còn đisâu vào những mảnh đời khốn khổ của những người nông dân trong xã hội bị áp bứcbóc lột Những người nông dân như bác Chính suốt cả đời lam lũ, cần cù, chắt chiu cốtchỉ để thực hiện một ước mơ nhỏ nho: có được con trâu cái làm giống, cầy cày bừa,trồng trọt, nhưng cuối cùng vẫn không thực hiện thành mơ ước nhỏ bé ấy Bác Chính đãngã bệnh và chết trong cảnh đói nghèo vì làm việc quá sức
Đỉnh cao của văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn ở giai đoạn này lại thuộc
về các nhà văn hiện thực Các nhà văn như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,
Vũ Trọng Phụng… đi vào khám phá và thể hiện bức tranh đời sống nông thôn ViệtNam trước Cách mạng tháng Tám một cách chân thực, sinh động mà sâu sắc Nhữngsáng tác của họ thực sự đã góp phần đánh dấu bước phát triển mới về chất đối với đề tài
nông thôn Một số tiểu thuyết (Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan), truyện ngắn (Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao, Cảnh nghèo của Cô Việt Bằng, Một đồng bạc của Quang Huy, Thôn quê, Chuồng nuôi ngựa của Như Phong) và phóng sự (Tập án cái đình, Việc làng của Ngô Tất Tố, Bùn lầy nước đọng của Hoàng Đạo, Cường hào của Nguyễn Đình Lạp, Xôi thịt của Trọng Lang, Một huyện ăn tết của Vũ Trọng Phụng) vừa ra đời được người đọc chú ý,
quan tâm Với cái nhìn xã hội “trên tinh thần giai cấp”(Vũ Trọng Phụng) và khát vọngmuốn làm “người thư ký trung thành của thời đại”, các nhà văn hiện thực đã dựng lênmột bức tranh toàn cảnh về cuộc sống nông thôn và thân phận người nông dân trướcCách mạng tháng Tám Đó là một nông thôn tối tăm, xơ xác, ngột ngạt và nghèo đói, hủtục và nhiêu khê, hà khắc với sưu cao thuế nặng, vô lý, bất công, thủ đoạn bóc lột tàn
nhẫn, trắng trợn của bọn quan lại thống trị, địa chủ (Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan) Nông thôn của những cuộc mâu thuẫn, xung đột
triền miên, quyết liệt và gaây gắt giữa người nông dân lương thiện, chân lấm tay bùn và
bọn địa chủ, quan lại thống trị tham lam, độc ác, xảo trá (Ông chủ, Bà chủ của Nguyễn
Công Hoan) Nông thôn của những mánh khóe trong việc cho vay nặng lãi, cướp đoạt
ruộng đất… đẩy người nông dân đến “bước đường cùng” (Nghị Quế trong Tắt đèn, Nghị Lại trong Bước đường cùng, Bá Kiến trong Chí Phèo) Nông thôn của nạn cường
hào, nạn xôi thịt, nạn dịch tể hoành hành, nạn lụt lội đói kém, nạn phu phen tạp dịch,
nạn dốt nát tối tăm, nạn mê tín dị đoan (Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Vỡ
đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng) Nông thôn của những người nông dân lương
thiện, hiền lành bị đọa đày, bóc lột, hắt hủi, lăng nhục một cách tàn nhẫn, đẩy vào tình
trạng cùng cực, bần cùng và lưu manh hóa (Chị Dậu trong Tắt đèn, Chí Phèo trong Chí Phèo, lão Hạc trong Lão Hạc) Và nông thôn của những cuộc vùng lên đấu tranh chống
áp bức, bóc lột của tầng lớp nông dân giành lấy quyền sống, quyền làm người và quyền
Trang 40mưu cầu hạnh phúc (Chị Dậu trong Tắt đèn, anh Pha trong Bước đường cùng, Phú trong
Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng)
Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa ở chặng đường 1940 -– 1945,văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn trong sáng tác của các nhà văn hiện thựckhông còn chiếm ưu thế Những nhà văn chuyên viết về nông thôn trước đây đã rẽ sangmảnh đất mới Vũ Trọng Phụng mất năm 1939, còn Nguyễn Công Hoan lại quay sangviết truyện ngắn, Ngô Tất Tố dành tâm huyết, thời gian cho hoạt động khảo cứu và dịch
thuật, rải rác chỉ một vài cây bút trẻ sáng tác như Tô Hoài (Quê người -– tiểu thuyết),
Bùi Hiển (Nằm vạ, Một trận bão cuối năm, Chuyện ông ba bị dân chài -– truyện ngắn),
Kim Lân (Đứa con người vợ lẽ, Tông chim Cả Chuống, Chó săn, Con Mã mái -– tiểuthuyết, phóong sự), Nguyễn Đình Lạp (Ngoại ô và Ngõ hẻm - – tiểu thuyết, phóng sự)
Mạnh Phú Tư (Làm lẽ và Sống nhờ - tiểu thuyết)… Dưới ngòi bút của những cây bút
trẻ, cuộc sống và con người nông thôn hiện lên sống động, trong đó nổi lên chủ đềphong tục, tập quán, góp phần đem đến cái nhìn mới mẻ cho người đọc
Nét nổi bật nữa trong văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn của các nhà vănhiện thực là, một mặt kế thừa, nhưng mặt khác lại biến đổi, sáng tạo những phương thứcnghệ thuật truyền thống như kết cấu, ngôn ngữ, bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật, hìnhtượng người nông dân, phong cách nghệ thuật… góp phần đem lại cho đề tài nông thônmột sức sống riêng, có sức cuốn hút đối với bạn đọc
Những thành tựu và cả sự đóng góp của văn xuôi và tiểu thuyết viết về nôngthôn và nông dân của các nhà văn Tự lực văn đoàn và hiện thực phê phán là không thểphủ nhận Tuy nhiên, do những hạn chế về vốn sống, về phương pháp sáng tác vànhững mâu thuẫn trong thế giới quan của nhà văn nên đôi lúc (và thậm chí nhiều khi)các nhà văn phản ánh hiện thực đời sống nông thôn và nông dân ở mặt tiêu cực hơn làtích cực, một nông thôn chỉ có xấu xa, bỉ ổi, độc ác; người nông dân chính là nạn nhâncủa chế độ đương thời tù túng, oi bức và ngột ngạt
2.3.1.2 Đất nước độc lập chưa lâu, cuộc kháng chiến bùng nổ, cả dân tộc bước vàomột cuộc trường chinh để bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc Do tính chất đặc thù đó mà
ranh giới giữa vĐất nước độc lập chưa lâu, cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, cả dân tộc bước vào một cuộc trường chinh để bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc Do tính chất đặc thù đó mà ranh giới giữa V ăn học kháng chiến nói chung và tiểu thuyết viết về nông thôn nói riêng trong giai đoạn ở chặng đường 1945 - 1954 có mối quan hệ gắn bó chặt chẽquyện chặt vào nhau , không xác định đường biên rõ ràng Như vậy, Đề tài nôngthôn nằm trong đề tài kháng chiến Nó là một đề tài lớn của nền văn học cách mạng cònnon trẻ Đội ngũ sáng tác ở giai đoạn này khá đông đảoúc, hùng hậu Bên cạnh lớp nhà văn
đã có bề dày sáng tác ở giai đoạn trước là một thế hệ nhà văn kiểu mới của cách mạng, họ