Nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý HĐDH như : quản lý có hiệu quả hoạt động dạy của giảng viên, tăng cường quản lý hoạt động học của sinh viên, quản lý công tác kiểm
Trang 1BỘ GIÂO DỤC VĂ ĐĂO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÍ MAI ANH
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÂO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS PHÙNG ĐÌNH MẪN
Huế, năm 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
LÊ MAI ANH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy, cô, các anh, chị Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, chúng tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
- PGS TS Phùng Đình Mẫn- người thầy, người hướng dẫn khoa học đã hết lòng giúp đỡ, và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
- Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học- Trường Đại học Sư phạm- Đại học Huế.
- Ban lãnh đạo và quý Thầy, Cô giáo Khoa Tâm lý- Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm- Đại học Huế đã hướng dẫn, giảng dạy tận tình, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập.
- Ban Giám hiệu nhà trường, lãnh đạo các Phòng, cùng quý Thầy, Cô giáo, sinh viên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Nha Trang đã nhiệt tình cung cấp thông tin, đóng góp nhiều ý kiến quý báu.
- Tất cả bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã luôn chia sẻ, giúp đỡ, và động viên chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập, nghiên cứu.
Huế, tháng 11 năm 2014
Tác giả
LÊ MAI ANH
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG 3
SƠ ĐỒ: 3
BẢNG 3
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
4 Giả thuyết khoa học 7
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
7 Phạm vi nghiên cứu 8
8 Cấu trúc luận văn: Gồm 5 phần 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 9
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HĐDH 9
Ở KHOA ÂM NHẠC, TRƯỜNG CĐ VHNT & DL 9
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 10
1.2.1 Quản lý 10
1.2.2 Quản lý giáo dục 15
1.2.3 Quản lý nhà trường 17
1.2.4 Quản lý hoạt động dạy học 18
1.3 Đặc trưng hoạt động dạy học ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL 21
1.3.1 Đặc trưng ngành học 21
1.3.2 Đặc trưng hoạt động dạy của giảng viên 22
1.3.3 Đặc trưng hoạt động học của sinh viên 23
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dạy học ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL 24
1.4.1 Xây dựng và ban hành quy định, quy chế 24
1.4.2 Yếu tố giảng viên 25
1.4.3 Yếu tố sinh viên 26
1.4.4 Điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học 27
1.5 Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL 27
1.5.1 Quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình dạy học 27
1.5.2 Quản lý hoạt động dạy của giảng viên 28
1.5.3 Quản lý hoạt động học của sinh viên 30
Trang 51.5.4 Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 31
1.5.5 Quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2 33
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HĐDH Ở BẬC CAO ĐẲNG, KHOA ÂM NHẠC, TRƯỜNG CĐ VHNT & DL NHA TRANG 33
2.1 Khái quát về Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL NT 33
2.1.1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển 33
2.1.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ 34
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 34
2.1.4 Mục tiêu, ngành nghề đào tạo và quy mô đào tạo của Khoa 35
2.1.5 Ngành đào tạo và quy mô đào tạo bậc Cao đẳng Âm nhạc 3 năm 36
2.1.6 Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý 36
2.1.7 Điều kiện cơ sở vật chất 37
2.2 Khái quát quá trình khảo sát 38
2.2.1 Mục đích khảo sát 38
2.2.2 Đối tượng khảo sát 38
2.2.3 Phương pháp khảo sát 38
2.2.4 Nội dung khảo sát 38
2.3 Thực trạng hoạt động dạy học ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL NT 39
2.3.1 Thực trạng mục tiêu, chương trình, nội dung dạy học 39
2.3.2 Thực trạng hoạt động dạy của giảng viên 41
2.3.3 Thực trạng hoạt động học của sinh viên 45
2.3.4 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 48
2.3.5 Thực trạng các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học 49
2.4 Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL NT 51
2.4.1 Thực trạng quản lý mục tiêu, chương trình, nội dung dạy học 51
2.4.2 Thực trạng quản lý hoạt động dạy của giảng viên 53
2.4.3 Thực trạng quản lý hoạt động học của sinh viên 56
2.4.4 Thực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 59
2.4.5 Thực trạng quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học 60
2.5 Nhận định, đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL NT 61
2.5.1 Ưu điểm 61
2.5.2 Hạn chế 62
2.5.3 Nguyên nhân của thực trạng 63
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64
CHƯƠNG 3 65
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HĐDH NHẰM NÂNG CAO 65
CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC Ở BẬC CAO ĐẲNG, KHOA ÂM NHẠC, TRƯỜNG CĐ VHNT & DL NT 65
3.1 Định hướng và các nguyên tắc xác lập biện pháp 65
3.1.1 Các định hướng xác lập biện pháp 65
Trang 63.1.2 Các nguyên tắc xác lập biện pháp 66
3.2 Các biện pháp quản lý HĐDH nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL Nha Trang 68
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý , giảng viên, sinh viên trong việc đảm bảo chất lượng dạy học 68
3.2.2 Biện pháp 2: Hoàn thiện mục tiêu, chương trình, nội dung dạy học 72
3.2.3 Biện pháp 3: Đổi mới công tác quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên 74
3.2.4 Biện pháp 4: Quản lý hoạt động học tập của sinh viên một cách hiệu quả .77
3.2.5 Biện pháp 5: Chú trọng đến quản lý công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên 81
3.2.6 Biện pháp 6: Đẩy mạnh hiệu quả sử dụng các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học 82
3.2.7 Biện pháp 7: Đổi mới và nâng cao chất lượng tuyển sinh 84
3.2.8 Biện pháp 8: Xây dựng môi trường giáo dục âm nhạc trong nhà trường .85
3.2.9 Mối quan hệ giữa các biện pháp 86
3.3 Khảo nghiệm nhận thức về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 90
3.3.1 Về tính cần thiết 91
3.3.2 Về tính khả thi 91
3.3.3 Những khó khăn và thuận lợi khi triển khai các biện pháp quản lý 92
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
1 KẾT LUẬN 95
2 KHUYẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG SƠ ĐỒ: Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý 14
Sơ đồ 1.3: Chức năng quản lý giáo dục 17
Sơ đồ 1.4 : Mô hình quản lý hoạt động dạy học 21
Sơ đồ 1.5: Cấu trúc quá trình đào tạo nghệ thuật 24
Sơ đồ 3.1: Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở bậc Cao Đẳng, Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL Nha Trang 87
BẢNG Bảng 2.1: Báo cáo năm học 2013-2014 ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc 36
Trang 7Bảng 2.3: Thực trạng về việc rà soát, điều chỉnh mục tiêu dạy học 39
Bảng 2.4: Thực trạng về nội dung, chương trình dạy học 40
Bảng 2.5: Thực trạng về việc thực hiện nhiệm vụ của tổ trưởng chuyên môn 42
Bảng 2.6: Thực trạng về việc tổ chức dự giờ giảng chuyên ngành Âm nhạc 43
của giảng viên theo định kỳ 43
Bảng 2.7: Thực trạng về phương pháp giảng dạy hiện nay của giảng viên ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc 43
Bảng 2.8: Thực trạng về việc GV quan tâm giáo dục đạo đức cho SV 45
Bảng 2.9: Nhận thức về sự cần thiết của hoạt động tự học 46
Bảng 2.10: Lý do theo học tại bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc 47
Bảng 2.11: Nhận xét về ý thức, thái độ học tập của sinh viên 47
Bảng 2.12: Đánh giá về công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV 48
Bảng 2.13: Sinh viên nhận xét về tình trạng phòng học và trang thiết bị dạy học hiện nay ở Khoa Âm nhạc 49
Bảng 2.14: Ý kiến của GV về điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học 50
Bảng 2.15: Nhận xét của GV về công tác quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình dạy học ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc 51
Bảng 2.16: Mức độ thực hiện của công tác quản lý nội dung, chương trình dạy học Âm nhạc ở bậc Cao đẳng 52
Bảng 2.17: Tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động dạy của giảng viên ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc 53
Bảng 2.18: Thực trạng quản lý công tác đổi mới phương pháp dạy học 54
Bảng 2.19: Thực trạng công tác quản lý hoạt động học của sinh viên 56
Bảng 2.20: Thực trạng công tác quản lý hoạt động học của sinh viên 57
Bảng 2.21: Thực trạng công tác quản lý hoạt động học của sinh viên 57
Bảng 2.22: Thực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 59
Bảng 2.23: Đánh giá sự cần thiết của công tác quản lý các điều kiện hỗ trợ 60
hoạt động dạy học 60
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm nhận thức về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 90
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, sự biến đổi nhanh chóng trên các lĩnh vực kinh tế, đời sống xã hội đã mở ra cho các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, những cơ hội lớn và thách thức lớn Trong bối cảnh đó, giáo dục và đào tạo (GD & ĐT) ngày càng có vai trò quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định tương lai của dân tộc Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng (khóa VIII) đã khẳng định : “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục nhấn mạnh : “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu
tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”
Cùng với việc đầu tư phát triển GD & ĐT, việc “Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc” cũng được coi là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nước ta Phát triển văn hóa phải dựa trên nền tảng tinh thần xã hội, phải vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Báo cáo của BCH TW Đảng được trình bày tại Đại hội IX ghi rõ:
“…kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, tăng sức đề kháng chống văn hóa đồi trụy, độc hại Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân”
Hiện nay nước ta có rất nhiều trường đào tạo lĩnh vực nghệ thuật nhằm đáp ứng được nhu cầu GD & ĐT nguồn lực hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Trong đó, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và DL Nha Trang (CĐ VHNT & DL NT) tỉnh Khánh Hòa từ lâu đã được xem là cái nôi của ngành VHNT
& DL ở địa phương, là nơi gìn giữ văn hóa nghệ thuật dân tộc, phát triển du lịch địa phương và là nơi ươm mầm tài năng cho ngành VHNT & DL của khu vực miền Nam Trung Bộ và Tây Nguyên nói chung, Khánh Hòa nói riêng
Trải qua chặng đường xây dựng và phát triển 35 năm, Trường CĐ VHNT &
DL NT đã dần khẳng định được vị thế của mình, đạt được những thành tựu quan trọng, nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, yếu kém
Trang 9Hoạt động dạy của giảng viên chưa có tính đột phá cao, việc giảng dạy Âm nhạc vẫn còn mang tính chủ quan, chưa có sự thống nhất đồng bộ Trình độ đầu vào tuyển sinh và hoạt động học của sinh viên còn nhiều hạn chế nhất định, dẫn đến chất lượng đào tạo chưa đạt yêu cầu, sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa đáp ứng
được hết nhu cầu của xã hội.
Bên cạnh đó, cơ sở vật chất và trang thiết bị thiếu thốn cũng là nguyên
nhân không nhỏ gây ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy của giảng viên và học
tập của sinh viên.
Những khó khăn trên đây của Nhà trường cho thấy hoạt động quản lý giáo dục tuy có nhiều cố gắng song vẫn còn lúng túng, đặc biệt việc quản lý hoạt động dạy học (HĐDH) ở Khoa Âm nhạc còn nhiều hạn chế nhất định Điều đó đòi hỏi người cán bộ quản lý phải không ngừng nâng cao năng lực quản lý HĐDH, năng lực quản lý đào tạo nghệ thuật, nhằm tìm ra các biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng GD & ĐT
Cho đến nay, đã có một số luận văn thạc sỹ nghiên cứu vấn đề quản lý HĐDH ở nhiều trường tại địa phương Song thực trạng và các biện pháp quản lý HĐDH ở Khoa
Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL NT chưa có tác giả nào nghiên cứu
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Biện pháp
quản lý HĐDH ở Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL NT”.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý HĐDH, chúng tôi đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học
ở Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL NT.
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý HĐDH Khoa Âm nhạc
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý HĐDH ở Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL NT
Trang 104 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý HĐDH ở Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL NT hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập: hoạt động dạy của giảng viên chưa có tính đột phá cao, việc giảng dạy Âm nhạc vẫn còn mang tính chủ quan, hoạt động học của sinh viên còn nhiều hạn chế nhất định, cơ sở vật chất và trang thiết bị thiếu thốn
Nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý HĐDH như : quản
lý có hiệu quả hoạt động dạy của giảng viên, tăng cường quản lý hoạt động học của sinh viên, quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học, quản lý các điều kiện
hỗ trợ hoạt động dạy học phù hợp, thì sẽ đạt hiệu quả cao trong việc quản lý HĐDH, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL NT trong giai đoạn hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý HĐDH ở Khoa Âm nhạc, Trường
CĐ VHNT & DL.
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý HĐDH ở Khoa Âm nhạc,
Trường CĐ VHNT & DL NT.
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý HĐDH nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở
Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL NT
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận :
Sử dụng các phương pháp : phân tích, tổng hợp tài liệu , phân loại tài liệu, hệ thống hóa và khái quát tài liệu nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý HĐDH ở Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn :
Sử dụng các phương pháp : điều tra, quan sát, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý HĐDH ở Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL NT, và thu thập thêm các thông tin có liên quan đến đề tài nghiên cứu
6.3 Phương pháp thống kê toán học :
Sử dụng phương pháp này nhằm xử lý kết quả nghiên cứu.
Trang 117 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu biện pháp quản
lý HĐDH ở bậc Cao đẳng , Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL NT
8 Cấu trúc luận văn: Gồm 5 phần
- Phần thứ nhất: Mở đầu
- Phần thứ hai: Nội dung nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý HĐDH ở Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý HĐDH ở bậc Cao đẳng, Khoa
Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL NT.
Chương 3: Các biện pháp quản lý HĐDH nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc , Trường CĐ VHNT & DL NT.
- Phần thứ ba: Kết luận và khuyến nghị
- Phần thứ tư: Danh mục các tài liệu tham khảo
- Phần thứ năm: Phụ lục
Trang 12NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HĐDH
Ở KHOA ÂM NHẠC, TRƯỜNG CĐ VHNT & DL
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quản lý là vấn đề được rất nhiều nhà lãnh đạo, nhà giáo dục quan tâm và đề cập đến Các tác giả đều khẳng định tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động dạy học trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục
Ở phương Đông, nhà sư phạm kiệt xuất Khổng Tử (551- 479 TCN) đã có quan điểm rất khoa học về phương pháp dạy học thể hiện qua tác phẩm “Luận ngữ” khi “ông coi trọng việc:
- Tự học, tự luyện, tu nhân
- Phát huy mặt tích cực sáng tạo, phát huy năng lực nội sinh
- Dạy sát đối tượng, cá biệt hóa đối tượng
- Kết hợp học và hành, lý thuyết với thực tiễn
- Phát triển hứng thú, động cơ, ý chí người học” [27, tr.25]
J A Kômenxki (1592- 1670) trong cuốn “Lý luận dạy học vĩ đại” [18] cũng
nêu lên các nguyên tắc giáo dục và dạy học được rút ra từ những quy luật chung của tạo hóa Từ đó, ông đúc kết thành những kết luận bổ ích cho việc lựa chọn nội dung, phương pháp, cách tổ chức quá trình giáo dục- dạy học.
Những quan điểm trên đã khẳng định quản lý giáo dục phải gắn với thể chế
xã hội, trình độ của người thầy, năng lực tư duy và sáng tạo của người học.
Ở Việt Nam, lĩnh vực nghiên cứu giáo dục nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động dạy và học đã được nhiều tác giả quan tâm như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Ngọc Quang, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm Hầu hết các nhà nghiên cứu khoa học đều khẳng định vai trò quan trọng của công tác quản lý trong việc nâng cao chất lượng dạy học ở các cấp học, bậc học,
và đó là nhiệm vụ trọng tâm của người cán bộ quản lý trường học trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục.
Trang 13Trong những năm gần đây, ngành giáo dục nước ta đã có những chủ trương,
định hướng đổi mới, và có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý hoạt
động dạy học như : “Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Gia Lai” (2004) của Nguyễn Ngọc Nghĩa, “Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông tỉnh Bình Định” (2006) của Nguyễn Thị Hạnh Trang, “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Học viện Âm nhạc Huế” (2008) của Nguyễn Thị Phương Tú, “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở Trường Đại học dân lập Phú Xuân” (2008) của Nguyễn Hồng Sơn…
Tuy nhiên, vấn đề quản lý hoạt động dạy học ở các trường nghệ thuật vẫn là
một lĩnh vực chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Có thể kể đến một số công
trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu về chuyên ngành âm nhạc như: “Sự hình thành và phát triển nghệ thuật đàn violon ở Việt Nam” (1982) của tác giả Ngô Văn Thành, “Sự phát triển của nền nghệ thuật piano của Việt Nam” (1987) của tác giả Trần Thu Hà …Các công trình này có đề cập tới công tác đào tạo nghệ thuật song ở phạm vi còn rộng.
Trường CĐ VHNT & DL NT từ khi thành lập đến nay, cũng đã có nhiều đề
tài nghiên cứu về đào tạo nghệ thuật, nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường như: “Một số biện pháp cải tiến quản lý quá trình đào tạo ở trường Nghệ thuật Khánh Hòa” (2000) của tác giả Hoàng Minh Tâm, “Những giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường Văn hóa Nghệ thuật Khánh Hòa” (2001) của tác giả Nguyễn Thị Kiều Linh…Từ những nghiên cứu trên, có thể nhận thấy, về thực tiễn các công trình nghiên cứu đã giải quyết một số vấn đề Tuy vậy, ở trường CĐ VHNT & DL NT, vấn đề quản lý hoạt động dạy học ở Khoa Âm nhạc, cho đến nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu.
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một loại hình hoạt động xã hội quan trọng của con người trong
cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra Ngay từ
Trang 14thời xa xưa, khi con người biết kết thành nhóm, sống với nhau thành một cộng đồng, có ý thức về sự phân công và hợp tác trong lao động thì nảy sinh nhu cầu cần
có sự chỉ huy, điều khiển, phối hợp các mối quan hệ trong một hệ thống Do vậy, quản lý đã trở thành một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội.
Các- Mác đã coi việc xuất hiện quản lý như là tất nhiên của sự chuyển nhiều
quá trình lao động cá biệt, độc lập với nhau thành một quá trình lao động xã hội gắn
bó chặt chẽ với nhau Các- Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng” [20, tr.481].
Đã có nhiều tác giả đưa ra khái niệm quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau ở các góc độ khác nhau Chẳng hạn:
- Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc quan niệm rằng: “Quản lý là tác
động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [5, tr.1].
- Theo Đặng Quốc Bảo: “ Bản chất của hoạt động quản lý gồm hai quá
trình tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự coi sóc giữ gìn để duy trì tổ chức ở trạng thái ổn định, quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa
hệ vào thế phát triển”.
- Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định
hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [22].
Từ những quan niệm về quản lý như trên, có thể hiểu: Quản lý là quá trình
tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý và đối tượng quản lý trong một tổ chức, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất những tiềm năng, những cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành có hiệu quả.
Trang 15Có thể mô hình hóa khái niệm quản lý qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Mô hình khái niệm quản lý
Như vậy, khái niệm quản lý luôn bao hàm các yếu tố chủ thể quản lý, khách
thể quản lý, công cụ, phương pháp và mục tiêu quản lý Các yếu tố này không thể
tách rời nhau mà có quan hệ ràng buộc với nhau trong quản lý Người cán bộ quản
lý phải biết vận dụng một cách sáng tạo các kinh nghiệm đã được đúc kết, khái quát thành những nguyên tắc, phương pháp, kỹ năng quản lý cần thiết, tạo môi trường thuận lợi để hướng đến mục tiêu.
1.2.1.2 Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là những nội dung và phương thức hoạt động cơ bản mà
nhờ đó, chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu chung.
Có nhiều quan điểm khác nhau về chức năng quản lý Về cơ bản, các nhà
nghiên cứu thống nhất quản lý có bốn chức năng chủ yếu có liên quan mật thiết với nhau Các chức năng đó là: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, và kiểm tra Trong quá trình quản lý, chủ thể quản lý không nhất thiết phải thực hiện theo tuần tự các chức năng, mà có thể thực hiện một chức năng nào đó kết hợp với chức năng khác.
+ Chức năng kế hoạch hóa:
Trong các chức năng quản lý, kế hoạch hóa là chức năng cơ bản nhất Kế
hoạch hóa là quá trình xác lập mục tiêu, thời gian, biện pháp, cách thức, quyết định
phương thức để tiến hành thực hiện, hoàn thành mục tiêu đó.
KHÁCH THỂ CHỦ THỂ
CÔNG CỤ
PHƯƠNG PHÁP
MỤC TIÊU
Trang 16Chức năng kế hoạch hóa có ba nội dung chính: Thứ nhất là hình thành mục tiêu đối với tổ chức Thứ hai là xác định và đảm bảo về các nguồn lực tổ chức để đạt được các mục tiêu này Thứ ba là quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó.
+ Chức năng tổ chức:
Sau khi kế hoạch hóa, các nhà quản lý cần phải chuyển hóa những ý tưởng
thành hiện thực Chức năng tổ chức chính là chức năng hiện thực hóa những ý tưởng đó Đây là chức năng quan trọng thứ hai sau chức năng kế hoạch hóa Hoạt động tổ chức là một quá trình phân công, phối hợp các nhiệm vụ và các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu tổng thể của hệ thống.
Tổ chức quản lý là sự liên kết giữa các cá nhân dựa trên cơ sở các nguyên
tắc của quản lý hệ thống., bao gồm các nhiệm vụ: xây dựng các cơ cấu, nhóm; tạo
sự hợp tác, mô hình; xây dựng các yêu cầu; lựa chọn, sắp xếp; bồi dưỡng cho phù hợp; tiến hành phân công nhóm và cá nhân Nếu người quản lý làm công tác tổ chức tốt, thì người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực.
+ Chức năng chỉ đạo:
Sau khi kế hoạch được lập, tổ chức bộ máy đã được hình thành thì phải
có người chỉ đạo, đứng ra dẫn dắt tổ chức Chỉ đạo là quá trình chủ thể quản lý
sử dụng quyền lực quản lý của mình để tác động, gây ảnh hưởng đến các thành viên trong tổ chức một cách có chủ đích, để hướng họ tự nguyện thực hiện tốt các công việc nhằm đạt được mục tiêu chung đã đề ra Việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi đã hình thành kế hoạch, mà nó ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kế hoạch hóa và tổ chức.
Trong chức năng chỉ đạo, chủ thể quản lý phải trực tiếp ra quyết định, mệnh
lệnh cho nhân viên dưới quyền, hướng dẫn, quan sát, phối hợp, động viên, thúc đẩy
họ hoạt động đạt được các mục tiêu đó bằng các biện pháp khác nhau.
Để chỉ đạo có hiệu quả các hoạt động quản lý, quyết định phải đúng đắn, có tính thực tiễn và khả thi cao
Trang 17+ Chức năng kiểm tra:
Kiểm tra là chức năng quan trọng của người quản lý Kiểm tra chính là thiết lập mối liên hệ ngược trong quá trình quản lý, là quá trình thực hiện các cơ chế thích hợp nhằm phát hiện các sai sót, vướng mắc của hệ thống trong quá trình hoạt động Bằng cách thông qua cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát thường xuyên các thành quả hoạt động, và để tìm cơ hội, các nguồn lực có thể khai thác được Đồng thời có sự xem xét, đánh giá cụ thể định ra các tiêu chuẩn để sửa chữa, uốn nắn khi cần thiết nhằm thúc đẩy hệ thống đạt được mục tiêu đã định
Quản lý mà không kiểm tra thì coi như chưa hoàn thành nhiệm vụ cơ bản của người quản lý
Các chức năng quản lý được thực hiện một cách có hiệu quả hay không là nhờ việc khai thác nguồn thông tin của nhà quản lý Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng trong quản lý Vì thông tin là nền tảng, là huyết mạch nuôi sống quản lý
Thông tin vừa là điều kiện, vừa là phương tiện tổng hợp các chức năng quản lý
Chỉ có những người quản lý tài giỏi mới có khả năng xử lý thông tin thành kiến thức cho bản thân mình.
Có thể mô hình hóa mối quan hệ giữa các thành tố trên bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý
Kiểm
tra
Thông tin
Lập
kế hoạch
Tổ chức
Chỉ đạo
Trang 18đối tượng quản lý nhằm hoàn thành công việc của mình Phương pháp quản lý là
sự biểu hiện mối quan hệ tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý Trong quá trình quản lý, chủ thể luôn tác động có mục đích vào phương pháp quản
lý, hướng đối tượng quản lý sớm nhận thức để hoàn thành công việc Vì vậy, sự lựa chọn phương pháp quản lý phải đảm bảo theo đúng mục tiêu quản lý Trong quá trình quản lý, nếu thấy cần nhanh chóng đạt kết quả tốt, người lãnh đạo có thể điều chỉnh phương pháp quản lý cho thích hợp.
Tùy theo tiêu chuẩn, mục đích nghiên cứu hoặc quan niệm mà các nhà
nghiên cứu phân loại phương pháp quản lý khác nhau Cách phân loại phổ biến hiện nay căn cứ vào nội dung và cơ chế hoạt động, chia thành 03 loại phương pháp quản lý: Phương pháp hành chính, Phương pháp kinh tế, Phương pháp giáo dục.
Theo Vũ Văn Tảo, người quản lý khi vận dụng các phương pháp quản lý để
ra quyết định cần dựa trên 05 cơ sở: đạo lí, tâm lí, và pháp lí, nhằm đạt được tính hợp lí, dẫn đến sát thực tiễn- tức là chân lí.
1.2.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là một chức năng của xã hội nên
giáo dục phải được quản lý Như vậy, giáo dục và quản lý giáo dục luôn tồn tại song hành Quản lý giáo dục là quản lý một loại hình kinh tế- xã hội nhằm thực hiện đồng bộ, hài hòa sự phân hóa xã hội, để tái sản xuất sức lao động có kỹ thuật phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội Nghị quyết lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII có nêu: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”.
Trang 19Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của
chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát…một cách
có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội” [16].
Tác giả Đặng Quốc Bảo định nghĩa: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát
là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [1].
Từ những quan niệm như trên, có thể khái quát như sau: Quản lý giáo dục là
quá trình tác động có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý, nhằm tổ chức, phối hợp, sử dụng một cách đúng đắn các nguồn lực và phương tiện, đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất.
Quản lý giáo dục là quản lý các mục tiêu vừa tường minh, vừa khoa học trong mối tương tác của 10 yếu tố chủ đạo của văn hóa nhà trường:
1 Mục tiêu đào tạo :M
2 Nội dung đào tạo : N
3 Phương pháp đào tạo : P
4 Lực lượng đào tạo : Th
8 Quy chế đào tạo : Q
9 Môi trường đào tạo : Mo
10.Bộ máy đào tạo : B
Trang 20Các yếu tố trên tương tác với nhau theo sơ đồ như sau:
SƠ ĐỒ 1.3: CHỨC NĂNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC 1.2.3 Quản lý nhà trường
Trường học là cơ quan hành chính nhà nước đồng thời là một tổ chức mang
tính xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ trở thành những người có
nhân cách toàn diện Do đó, nhà nước, xã hội cùng với cộng đồng hợp tác, chăm lo xây dựng và quản lý nhà trường.
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động tự
giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể
quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và
các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [15].
tr
T h
M
QLG D
Đ H
Mo
Q B
Phát triển
Kế hoạch Kiểm tra
Duy trì
Tổ chức Chỉ đạo
Ổn định
Đổi mới
Trang 21Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường
lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường
vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [12].
Như vậy, quản lý nhà trường là quản lý các hoạt động sau:
+ Quản lý quá trình dạy học và giáo dục
+ Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học
+ Quản lý hành chính, tài chính
+ Quản lý các nguồn nhân lực: giáo viên, học sinh và nhân viên.
+ Quản lý môi trường giáo dục.
Tóm lại, quản lý trường học thực chất là tác động có định hướng, có kế
hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục và tiến tới mục tiêu giáo dục.
1.2.4 Quản lý hoạt động dạy học
1.2.4.1 Hoạt động
Từ trên bình diện Triết học, có thể quan niệm: “Hoạt động là một phương
thức đặc thù của con người quan hệ với thế giới, một quá trình qua đó con người tái sản xuất và cải tạo một cách sáng tạo thế giới tự nhiên, do đó làm cho bản thân mình trở thành chủ thể hoạt động và làm cho những hiện tượng của tự nhiên mà con người nắm được trở thành khách thể hoạt động của con người”.
Từ trên bình diện Tâm lý học, có thể hiểu: Hoạt động là sự tương tác tích
cực giữa chủ thể và đối tượng theo mục tiêu mà chủ thể đặt ra Qúa trình chủ thể tác động vào đối tượng nhằm tạo ra sản phẩm Đặc trưng cơ bản của hoạt động là một hệ toàn vẹn gồm hai thành tố cơ bản là chủ thể và đối tượng Chúng tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau để tạo ra sự phát triển của hoạt động.
Như vậy, hoạt động là phương thức tồn tại và phát triển của con người trong
xã hội và trong môi trường xung quanh, là sự thể hiện mối quan hệ tích cực giữa con người (chủ thể) với khách thể nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định
Trang 221.2.4.2 Hoạt động dạy học
Trong nhà trường, dạy học là quá trình tương tác, thống nhất của hai hoạt
động dạy của thầy và hoạt động học của trò, qua đó giúp người học lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, thái độ HĐDH bao gồm: hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của học sinh Hai hoạt động này luôn gắn bó mật thiết với nhau, tồn tại song song cùng với nhau, vận động trong một quá trình thống nhất, là đối tượng tác động chủ yếu của nhau, nhằm kích thích động lực nội tại ở mỗi chủ thể
để cùng phát triển.
- Hoạt động dạy:
+ Là hoạt động của giáo viên nhằm tổ chức, điều khiển có hiệu quả quá
trình học tập của người học, làm cho học tập trở thành hoạt động có ý thức, tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo, qua đó ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của người học Người dạy với tư cách là chủ thể luôn giữ vai trò chủ đạo, định hướng, tổ chức, điều khiển và thực hiện các hoạt động truyền thụ tri thức đến người học một cách khoa học.
+ Mục đích của hoạt động dạy: Làm cho người học nắm vững tri thức, hình
thành năng lực, phát triển trí tuệ, nhân cách toàn diện, phù hợp với xu thế của thời đại, của dân tộc.
+ Nội dung hoạt động dạy: Thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học, đề cương môn học, bài giảng thông qua phương pháp dạy học tương thích giảng dạy trên lớp, tổ chức, điều khiển hoạt động tự học của người học
- Hoạt động học:
+ Là quá trình người học tự điều khiển một cách tối ưu hoạt động của mình
để chiếm lĩnh các giá trị của tri thức khoa học, giá trị văn hóa của nhân loại Sự tiếp thu tri thức, kỹ xảo trong hoạt động học là sự tiếp thu có tính tự giác cao
+ Mục đích của hoạt động học gồm ba mục đích bộ phận mà người học cần hướng đến: Trí dục (vận dụng được tri thức khoa học), Phát triển (tư duy và năng lực hoạt động trí tuệ), Giáo dục (thế giới quan khoa học, quan điểm, niềm tin, đạo đức, thái độ).
Trang 23+ Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm, thông
tin của môn học, phương pháp đặc trưng của môn học đó với phương pháp nhận thức độc đáo, chiếm lĩnh khoa học để biến kiến thức nhân loại thành học vấn của bản thân.
HĐDH là một trong những hoạt động giao tiếp sư phạm mang ý nghĩa xã
hội Các chủ thể của hoạt động này tiến hành các hoạt động khác nhau, nhưng không phải đối lập mà song song tồn tại và phát triển thống nhất với nhau.
1.2.4.3 Quản lý hoạt động dạy học
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Việc quản lý nhà trường phổ thông (có thể
nói rộng ra là việc quản lý giáo dục nói chung) là quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [12].
Từ quan niệm trên, có thể hiểu: Quản lý HĐDH là quản lý hoạt động dạy
của giáo viên, hoạt động học của học sinh, và các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động dạy học Quá trình dạy học vận động và phát triển là do các nhân tố cấu thành của nó vận động và phát triển tương tác với nhau Vì vậy, quản lý HĐDH cần quản lý đồng bộ và đảm bảo mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức, kết quả, người dạy
và người học Quản lý HĐDH là nội dung trọng tâm trong hệ thống nội dung quản lý nhà trường, do đó phải được tiến hành đồng bộ từ quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, quản lý đội ngũ sư phạm, quản lý điều kiện và môi trường làm việc đến cơ chế hoạt động, tổ chức, điều hành, kiểm tra, đánh giá, phối hợp các lý luận giáo dục trong và ngoài nhà trường.
Trang 24SƠ ĐỒ 1.4 : MÔ HÌNH QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Tóm lại, quản lý HĐDH là quản lý một cách có hiệu quả các thành tố cấu
trúc của HĐDH, làm cho các thành tố của HĐDH vận động và kết hợp chặt chẽ với nhau thông qua hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh, nhằm chuyển hóa đầu vào thành sản phẩm dạy học, đáp ứng yêu cầu của xã hội.
1.3 Đặc trưng hoạt động dạy học ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc, Trường
CĐ VHNT & DL
1.3.1 Đặc trưng ngành học
Ngành học Âm nhạc ở bậc Cao đẳng thuộc khối ngành nghệ thuật và có đặc
trưng riêng so với các ngành học khác Qúa trình đào tạo nghệ thuật phải luôn gắn
Môi trường Kinh tế - Xã hộiMôi trường Khoa học – Công nghệ
NDdạyhọc
PPDạy học
PTdạyhọc
Hình thức DHBài học
KiểmTraHP1HP2HP3HP4TN
PP học
Trang 25liền với hoạt động sáng tạo nghệ thuật của chính sinh viên, dưới sự hướng dẫn và điều khiển của giảng viên Do đó, hoạt động dạy học ngành Âm nhạc cho sinh viên bậc Cao đẳng chính là dạy sinh viên phương pháp sáng tạo nghệ thuật, kỹ thuật thể hiện tác phẩm, lý tưởng thẩm mỹ, để từ đó sinh viên tự mình tư duy sáng tạo, lựa chọn hình thức thể hiện tác phẩm của mình.
1.3.2 Đặc trưng hoạt động dạy của giảng viên
Người giảng viên giảng dạy ngành Sư phạm nhạc hay Chuyên ngành âm nhạc
của sinh viên bậc Cao đẳng đều mang tính cá biệt hóa, cá thể hóa Ngoài hình thức dạy học theo tập thể lớp đối với những môn học chung, còn có hình thức dạy học một thầy, một trò (áp dụng đối với dạy chuyên ngành) Người giảng viên luôn phải có giáo án riêng cho từng sinh viên nhằm phát huy năng khiếu cá biệt của mỗi em.
Qúa trình dạy học âm nhạc thực chất là quá trình giảng viên truyền đạt kinh
nghiệm sáng tạo của bản thân đã được đúc kết qua thời gian tự nghiên cứu, thể nghiệm của chính mình Trong đó, người dạy có vai trò quan trọng trong việc truyền đạt cho người học những kiến thức cơ bản, đơn giản, phát triển về kỹ thuật, khả năng biểu đạt tác phẩm Trong ngành nghệ thuật, đặc biệt là đối với nghệ thuật biểu diễn (nhạc cụ, thanh nhạc), thường thì người thầy sẽ là một hình mẫu có tính khuôn mẫu Hình dung của người học về một tác phẩm biểu diễn sẽ phản ánh dưới
sự truyền đạt của người thầy, kết hợp với các phương tiện nghe nhìn hiện đại sẽ cung cấp một bức tranh đa chiều, giúp cho người học hiểu sâu hơn về tác phẩm với
sự thể hiện đa dạng của nhiều người, nhiều hình thức biểu hiện Chắc chắn việc tham khảo một tác phẩm biểu diễn theo định dạng sống động đó sẽ góp phần giúp người học vỡ bài mới nhanh hơn, hiểu tác phẩm hơn Hơn nữa, người thầy phải có
trách nhiệm trong việc kích thích niềm yêu thích, say mê học tập của trò,
thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở trò thực hiện tốt các yêu cầu học tập cần đạt.
Như vậy, để hoạt động dạy của giảng viên Âm nhạc ở bậc Cao đẳng đạt được kết quả tốt, giảng viên cần đạt được các yêu cầu sau:
- Phát triển khả năng về tai nghe cảm thụ âm nhạc song song với việc phát triển tay nghề cho sinh viên
- Kích thích khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của sinh viên
Trang 26- Ngoài ra, người dạy cần tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên để có phương pháp giảng dạy phù hợp, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
1.3.3 Đặc trưng hoạt động học của sinh viên
Qúa trình học tập của sinh viên Âm nhạc là quá trình thực hành để hình
thành kỹ năng, kỹ xảo dưới sự hướng dẫn của giảng viên Học nghệ thuật thường
có hình thức bên ngoài giống như việc truyền nghề, nhưng học tập tại môi trường nghệ thuật chuyên nghiệp không chỉ đơn giản là người thầy sẽ chỉ dẫn cụ thể và người học tiếp nhận một cách thụ động Bên cạnh chuyên môn, người học còn được tiếp nhận nhiều kiến thức nghệ thuật tổng quát khác để làm nền tảng và hỗ trợ cho chuyên môn chính Sinh viên Âm nhạc phải nắm vững kiến thức cơ sở về Âm nhạc như Nhạc lý, Lịch sử Âm nhạc, Hình thức và thể loại âm nhạc, Hòa thanh, Phức điệu, Ký- Xướng âm Riêng các giờ chuyên ngành, lớp học theo chế độ một thầy- một trò để sinh viên tự rèn luyện các kỹ năng thực hành dưới sự giám sát và chỉ đạo của giảng viên Xuất phát từ đặc thù đó, tính chủ động rất hữu ích, giúp cho người học có cách tiếp nhận kiến thức, thông tin trong suốt cuộc đời để quá trình học trở thành một nhu cầu thật sự, không phụ thuộc vào người dạy Tính chủ động trong học tập của sinh viên cần hình thành ngay từ ban đầu trong cách tiếp cận kiến thức.
Hoạt động học tập của sinh viên gồm hai quá trình học tập đan xen lẫn nhau,
đó là: học tập tĩnh tại và học tập thực tế
- Học tập tĩnh tại: giờ học của sinh viên bao gồm học tập trên lớp và tự học của bản thân, có sự quản lý chung của nhà trường Về hình thức, hoạt động tự học tĩnh tại của sinh viên âm nhạc chính là sự sáng tạo nghệ thuật Đây là quá trình sinh viên học phương pháp sáng tạo nghệ thuật, là quá trình hình thành nhận thức thẩm
mỹ, chuyển hóa nội dung tư tưởng thành tác phẩm nghệ thuật, rèn luyện kỹ năng,
kỹ thuật để thể hiện các tác phẩm nghệ thuật một cách sáng tạo
- Học tập thực tế: Thực tập và thâm nhập thực tế là các hình thức học tập khác nhau, giúp cho sinh viên được sinh hoạt chuyên môn nhiều hơn, có cơ hội được cọ xát thực tế, trau dồi kinh nghiệm trong hoạt động biểu diễn của mình
Như vậy, quá trình học tập của sinh viên chuyên ngành Âm nhạc chính là
hoạt động tự học luôn gắn liền với quá trình sáng tạo của người học, có tính độc
Trang 27lập, chủ động cao và mang đậm nét cá nhân Học tập thông qua thực hành là nét đặc thù nổi bật của sinh viên ngành Âm nhạc, qua đó mỗi sinh viên sẽ chủ động trong việc tự học, tự nghiên cứu, hình thành kỹ năng, kỹ xảo của chính bản thân người học Kết quả đạt được là sinh viên sẽ thể hiện được một cách sáng tạo tác phẩm nghệ thuật bằng chính cảm xúc chân thật của bản thân.
Tóm lại, đặc trưng HĐDH Âm nhạc bậc Cao đẳng được mô tả theo sơ đồ
khái quát như sau:
SƠ ĐỒ 1.5: CẤU TRÚC QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỆ THUẬT
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dạy học ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm
nhạc, Trường CĐ VHNT & DL
1.4.1 Xây dựng và ban hành quy định, quy chế
Việc xây dựng và ban hành quy định, quy chế là công việc nhất thiết phải
tiến hành của người quản lý Quy định, quy chế ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL được người quản lý xây dựng dựa trên cơ sở từ các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, và căn cứ theo quy chế tổ chức, hoạt động của trường đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt Vì vậy, để HĐDH ngành Âm nhạc ở bậc Cao đẳng đạt kết quả tốt người quản lý cần đảm bảo mọi HĐDH được thực hiện theo đúng quy định, quy chế đã đề ra, hướng tới đạt mục tiêu đào tạo của Khoa và Nhà trường.
Người dạy
hướng dẫn
Phương pháp luận sáng tạo
Kỹ năng, kỹ xảo, kỹ thuật
Lý tưởng, thái độ sống
Người học sáng tạo
Sản phẩm nghệ thuật
Môi trường đào tạo
Môi trường cuộc sống
Trang 281.4.2 Yếu tố giảng viên
1.4.2.1 Phẩm chất, trình độ và năng lực sư phạm
Phẩm chất, trình độ và năng lực sư phạm là những yếu tố cơ bản của một
người giáo viên Người thầy muốn thành công trong hoạt động giảng dạy của mình
trước tiên phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu, phải có ý chí, không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện nhân cách Ngoài ra, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực sư phạm của người giáo viên cũng là những yếu tố quyết định đến chất lượng dạy học ở nhà trường Trình độ là tri thức tích lũy qua quá trình học tập và nghiên cứu của giáo viên, năng lực sư phạm là khả năng truyền thụ tri thức của người dạy đến người học một cách nhanh nhất và dễ hiểu nhất.
Do tính đặc thù của nghề nghiệp, và sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin, ngoài việc nắm vững kiến thức chuyên môn cần bổ sung, người dạy cần nâng cao kiến thức tổng hợp và khả năng vận hành trang thiết bị công nghệ hiện đại nhằm cập nhập được kiến thức mới mang tính tổng hợp
Như vậy, một giảng viên giảng dạy Âm nhạc ở bậc Cao đẳng cần phải đạt
các tiêu chuẩn sau: Phẩm chất, đạo đức tốt, có bằng Tốt nghiệp Đại học trở lên, có
chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm, có niềm yêu thích say mê nghề nghiệp, thường xuyên trau dồi, rèn luyện và đặc biệt có năng lực nghiệp vụ tốt để phát hiện và phát triển được năng khiếu của sinh viên.
1.4.2.2 Phương pháp dạy học
Trong thời đại khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, đất nước hội nhập, giao lưu văn hóa được mở rộng, việc trang bị tri thức cho sinh viên ngành Âm nhạc cần phải hiện đại, cập nhập Để thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển trí tuệ cho sinh viên ngành Âm nhạc, hoạt động đổi mới phương pháp dạy học là rất cần thiết
Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học đang là xu hướng chung trong hệ thống giáo dục, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy học trong nhà trường hiện nay Đổi mới phương pháp dạy học chủ yếu là đổi mới phương pháp dạy của giảng viên và phương pháp học của sinh viên Trong đó, người dạy cần thực hiện tốt các công việc: Soạn giáo án, đề ra phương pháp dạy học thích hợp với từng đối tượng sinh viên, công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập…
Trang 29Đối với các môn học lý thuyết âm nhạc, tùy vào đặc điểm môn học mà giảng
viên có thể sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học khác nhau: thuyết trình, diễn giảng, vấn đáp, đóng vai, đố vui, làm việc theo nhóm, phương pháp tích hợp, liên môn…Phương pháp dạy học của môn học thực hành âm nhạc cũng dựa trên cơ sở của phương pháp dạy học truyền thống Ngoài phương pháp chính là thực hành, luyện tập, giảng viên có thể thay đổi về hình thức tổ chức và truyền thụ kiến thức như: phối hợp giữa cá nhân và tập thể, hạn chế phương pháp làm mẫu và thay vào
đó bằng sự gợi mở tư duy trong thực hành có sáng tạo, yêu cầu về khả năng sáng tạo của sinh viên…
Như vậy, giảng viên giảng dạy Âm nhạc ở bậc Cao đẳng ngoài việc thường
xuyên bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, nghiệp vụ sư phạm, cần phải chú trọng đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường và xã hội.
1.4.3 Yếu tố sinh viên
Sinh viên ngành Âm nhạc bậc Cao đẳng (03 năm) có độ tuổi ít nhất từ 18, có bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông, có niềm yêu thích, đam mê âm nhạc, có năng khiếu phù hợp với ngành, sức khỏe tốt Những sinh viên có niềm đam mê nghệ thuật sẽ chủ động trong việc tự rèn luyện, chuyển hóa những kiến thức được học
thành kỹ năng, kỹ xảo riêng cho bản thân, hoàn thành tốt mục tiêu học tập đã đề ra.
Ngoài ra, phương pháp học tập tốt cũng giúp cho sinh viên lĩnh hội được tri thức một cách dễ dàng, đạt được mục đích học tập của bản thân Về cơ bản, quá trình dạy học sẽ bắt đầu tại mức xuất phát mà năng khiếu của sinh viên được xác nhận Từ đó, các yếu tố kỹ thuật, nghệ thuật, tâm lí phải được kết hợp với nhau đi
từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến phức tạp, từ chậm đến nhanh bởi vì khi hoàn thành quá trình dạy học, giảng viên phải đảm bảo được trình độ của sinh viên đạt tới mục tiêu đã đề ra Điều này đòi hỏi sinh viên phải có phương pháp học kết hợp được cả ba yếu tố kỹ thuât, nghệ thuật, tâm lí biểu diễn để hoàn thành tốt các tác phẩm trong chương trình học của mình.
Như vậy, muốn chất lượng học tập đạt hiệu quả, người học cần: Nhanh chóng, chủ động nắm bắt được đặc điểm của ngành học và phương pháp học tập;
Trang 30biết cách phối hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực hành; chú trọng rèn luyện năng lực sư phạm; có ý thức chủ động độc lập trong học tập, sáng tạo, từ
đó từng bước hình thành và hoàn thiện các phẩm chất nghề nghiệp trong tương lai
1.4.4 Điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học
Ngoài những yếu tố như: xây dựng quy định, quy chế, yếu tố đội ngũ giảng
viên và sinh viên, một yếu tố nữa cũng ảnh hưởng đến HĐDH ngành Âm nhạc ở bậc Cao đẳng, đó là các điều kiện hỗ trợ HĐDH Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học có vai trò quan trọng trong việc quyết định hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cho người học.
Với đặc thù của ngành Nghệ thuật nói chung và ngành Âm nhạc nói riêng,
việc giảng dạy phải đi từ trừu tượng đến cụ thể, tăng cường giờ thực hành, kết hợp
với các chương trình biểu diễn để nâng cao tay nghề cho sinh viên Do đó để nâng cao chất lượng dạy học, đổi mới phương pháp dạy học, cần phải chú trọng đến việc đầu tư vào các cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học Chú trọng đến các điều kiện
hỗ trợ HĐDH chính là giúp cho việc nâng cao chất lượng đào tạo một cách dễ dàng và nhanh chóng.
1.5 Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc,
Trường CĐ VHNT & DL
1.5.1 Quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình dạy học
Mục tiêu dạy học ngành Âm nhạc bậc Cao đẳng (03 năm):
+ Về kiến thức: Giúp cho sinh viên nắm vững được những kiến thức cơ bản
về khoa học xã hội và nhân văn, kiến thức giáo dục đại cương, kiến thức cơ sở ngành, kiến thức chuyên ngành âm nhạc.
+ Về kỹ năng: Trang bị cho sinh viên những kỹ thuật biểu diễn, vận dụng
được những kiến thức đã học vào biểu diễn, hình thành kỹ năng chuyên môn.
Mục tiêu dạy học ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc luôn gắn liền với mục
đích giáo dục nói chung và mục đích đào tạo của nhà trường nói riêng Hơn nữa,
để bắt kịp với xu thế hội nhập thế giới hiện nay đang ngày càng phát triển cả về kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ thì mục tiêu dạy học cũng phải luôn thay đổi, nhằm đem lại hiệu quả cao cho chất lượng đào tạo nghệ thuật.
Trang 31Mục tiêu dạy học sẽ chi phối đến nội dung và chương trình học của sinh
viên Việc xây dựng chương trình học ngành Âm nhạc bậc Cao đẳng dựa trên cơ sở
chương trình Khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Cấp chuyên môn của Khoa Âm nhạc sẽ căn cứ vào mục tiêu đào tạo của mình để lựa chọn khối kiến thức chuyên ngành, nghề nghiệp thích hợp Chương trình được xây dựng phải đảm bảo những yêu cầu về bồi dưỡng hệ thống tri thức âm nhạc, kỹ năng, kỹ xảo biểu diễn nghệ thuật, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của sinh viên.
Như vậy, quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình học là quản lý việc xây
dựng chương trình học, nội dung dạy học (thể hiện qua việc biên soạn đề cương chi tiết học phần,giáo án lên lớp) phù hợp với mục tiêu đã đề ra, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học, khẳng định sứ mạng, tầm nhìn và mục tiêu đào tạo của nhà trường.
1.5.2 Quản lý hoạt động dạy của giảng viên
- Quản lý hoạt động của tổ trưởng tổ chuyên môn:
Ở trường Cao đẳng, Khoa Âm nhạc chính là đơn vị trực tiếp thực hiện công
tác đào tạo, có nhiệm vụ quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình dạy học, quản lý hoạt động dạy học của giảng viên và sinh viên Trong đó, các tổ trưởng chuyên môn sẽ là đầu mối giúp cho Trưởng khoa thực hiện các công việc trên.
Nhiệm vụ của tổ trưởng chuyên môn bao gồm:
+ Quản lý chuyên môn (đề cương chi tiết, duyệt đề thi…) và tiến trình giảng
dạy (theo đề cương chi tiết, giáo trình, giáo án…) của giảng viên trong tổ.
+ Cố vấn cho học sinh - sinh viên trong quá trình học tập (trong phạm vi
chuyên môn tổ đảm nhận).
+ Tham gia tổ chức, xây dựng, triển khai kế hoạch biểu diễn âm nhạc, sinh
hoạt chuyên môn và các hoạt động khác của tổ.
+ Khi giải quyết công việc được Trưởng khoa giao, tổ trưởng các tổ chuyên
môn thay mặt Trưởng khoa và chịu trách nhiệm trước Trưởng khoa về kết quả công việc được giao.
+ Trước khi quyết định những vấn đề phát sinh ngoài kế hoạch thuộc lĩnh
vực mình phụ trách, phải có ý kiến của Trưởng khoa mới được triển khai thực hiện.
Trang 32Như vậy, quản lý việc thực hiện nhiệm vụ của tổ trưởng tổ chuyên môn là
khâu quản lý cơ bản nhất, quan trọng nhất của công tác quản lý hoạt động dạy của tập thể giảng viên trong Khoa.
- Quản lý hoạt động dạy của giảng viên:
Công tác quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên ngành Âm nhạc ở bậc
Cao đẳng là công việc của Trưởng khoa, tùy vào từng môn học cụ thể mà Trưởng khoa phân cấp quản lý cho Tổ trưởng chuyên môn Tất cả những vấn đề từ cơ bản đến quan trọng, Trưởng khoa trực tiếp quản lý cấp dưới của mình bằng việc ban hành các quy chế chuyên môn, quy định những vấn đề giảng viên phải thực hiện.
Như vậy, quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên ở Khoa Âm nhạc, bậc
Cao đẳng, Trường CĐVHNT & DL bao gồm các công việc sau:
+ Quản lý việc xây dựng kế hoạch giảng dạy dựa trên chương trình, kế hoạch của phòng Đào tạo trong từng học kỳ; tổ chức phân công các giảng viên trong khoa biên soạn chương trình, đề cương chi tiết môn học, giáo án, tài liệu tham khảo…
+ Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động sinh hoạt chuyên môn khác: bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ, biểu diễn âm nhạc, nghiên cứu khoa học, đăng ký tiết dạy giỏi, đi nghiên cứu thực tế…
+ Quản lý việc phân công giảng dạy các lớp, các môn học cho giảng viên, căn cứ vào số lượng lớp học, định mức giờ giảng, năng lực chuyên môn và nghiệp
vụ sư phạm của giảng viên, trình Lãnh đạo trường phê duyệt
+ Quản lý công tác giảng viên: giám sát, kiểm tra chất lượng nội dung chương trình và kế hoạch giảng dạy, thi hết môn; cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy, công tác nghiên cứu khoa học của giảng viên trong khoa
+ Quản lý hồ sơ sổ sách của giảng viên: Hồ sơ, sổ sách của giảng viên phản ánh một cách khách quan kết quả chuẩn bài giảng của giảng viên trước khi lên lớp
Vì vậy, thông qua việc quản lý hồ sơ của giảng viên, nhà quản lý có thể nắm chắc hơn các hoạt động chuyên môn của giảng viên , và việc thực hiện quy chế, nề nếp
chuyên môn của giảng viên theo các yêu cầu đề ra Để quản lý tốt, người quản lý
cần thống nhất các loại hồ sơ, cách ghi chép theo mẫu của từng loại hồ sơ, có kế
Trang 33hoạch kiểm tra hồ sơ theo từng tổ chuyên môn, sau khi kiểm tra có nhận xét, đánh giá và rút kinh nghiệm cho từng giảng viên.
+ Quản lý công tác bồi dưỡng giảng viên: động viên, nhắc nhở các giảng
viên chưa đủ chuẩn đi học nâng cao trình độ, phân công những giảng viên có kinh nghiệm và tay nghề cao hướng dẫn, giúp đỡ các giảng viên mới về nhằm trau dồi
và bồi dưỡng nghiệp vụ, đồng thời có biện pháp khắc phục những tồn tại…
1.5.3 Quản lý hoạt động học của sinh viên
Quản lý hoạt động học của sinh viên thông qua việc quản lý của Tổ trưởng
chuyên môn đối với hoạt động giảng dạy của giảng viên, và kết hợp với công tác chủ
nhiệm lớp của các giáo viên chủ nhiệm Người học vừa là khách thể của hoạt động dạy, vừa là chủ thể hoạt động tích cực, độc lập, sáng tạo Vì vậy, quản lý hoạt động học của sinh viên là giúp cho người học tự giác thực hiện các nội dung cơ bản sau:
- Quản lý học tập tại trường của sinh viên.
- Quản lý phương pháp học tập của sinh viên
- Quản lý việc thực hiện nề nếp học tập, tinh thần thái độ học tập của sinh viên.
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của sinh viên.
- Quản lý hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp của sinh viên.
- Quản lý việc giáo dục thái độ, tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên.
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của sinh viên
- Quản lý hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp của sinh viên.
- Quản lý việc lập kế hoạch tự học của sinh viên, tổ chức cho sinh viên tự rèn
luyện kỹ năng tay nghề theo nhóm, hoặc thông qua các hoạt động ngoại khóa về bồi
dưỡng chuyên môn thông qua các chương trình biểu diễn của Khoa.
- Quản lý công tác chủ nhiệm của giảng viên đối với từng đối tượng sinh
viên Giáo viên chủ nhiệm chính là người trực tiếp quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, uốn nắn việc học tập cũng như giáo dục nhân cách cho sinh viên.
- Quản lý hoạt động kiểm tra, thi kết thúc học phần, thực tập và thi tốt nghiệp của sinh viên
Trang 34- Phối hợp với các tổ chức giáo dục trong nhà trường, dựa trên mối quan hệ với phụ huynh học sinh và các tổ chức xã hội, chính quyền địa phương để quản lý sinh viên tham gia học tập tại trường.
1.5.4 Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Kết quả học tập của sinh viên là kết quả của cả quá trình học tập mà sinh
viên đạt được Nó phản ánh kết quả học tập của sinh viên trong suốt quá trình tham gia học, vừa là công cụ để giảng viên kiểm tra lại phương pháp dạy học của mình
đã đạt được hiệu quả đến mức độ nào, từ đó có sự điều chỉnh thích hợp nhằm đem lại kết quả cao nhất.
Có hai hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, đó là: Kiểm tra, đánh giá
định kỳ, thường xuyên, và kiểm tra, đánh giá tổng kết thông qua thi kết thúc học
phần và thi tốt nghiệp Chủ thể quản lý dựa vào hai hình thức kiểm tra này để xác định được mức độ kết quả học tập mà sinh viên đạt được có đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu đào tạo của nhà trường và nhu cầu của xã hội hay không.
Để thực hiện được những yêu cầu trên, người quản lý cần phải quản lý về
phương pháp, hình thức, quy trình kiểm tra, đánh giá, thực hiện đúng các quy định
về việc ra đề, tổ chức thi, chấm điểm một cách khách quan và công bằng, giúp cho sinh viên hoàn thiện kỹ năng, năng lực của bản thân.
1.5.5 Quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học
Các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học phục vụ cho ngành nghệ thuật nói
chung và ngành Âm nhạc nói riêng đều có nét riêng biệt so với các ngành nghề khác Môn Âm nhạc là những môn học trừu tượng, vì vậy việc sử dụng các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học như: trang bị phòng học chuyên môn riêng, phòng học lý thuyết riêng, các trang thiết bị như nhạc cụ, phương tiện hỗ trợ nghe nhìn…đều rất quan trọng đối với một giờ học năng khiếu của sinh viên ngành Âm nhạc.
Với nhu cầu đó, việc quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học cần
được các nhà quản lý đặc biệt chú trọng và đầu tư đúng mức Nhà trường cần trang
bị đầy đủ, hiện đại, khai thác, sử dụng hiệu quả, hợp lý các trang thiết bị, cơ sở vật chất nhằm góp phần tăng thêm niềm hứng thú học tập cho sinh viên, giúp sinh viên lĩnh hội được tri thức, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống.
Trang 35TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề, theo đó, trình bày các
khái niệm cơ bản của đề tài Xuất phát từ bình diện lý luận về đặc trưng hoạt động dạy học Âm nhạc ở bậc Cao đẳng, chúng tôi đã phân tích để làm rõ các nội dung về quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc ở bậc Cao đẳng Những vấn đề trình bày ở chương 1 này là cơ sở quan trọng để tiến hành nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học tại chương 2, và làm cơ sở xác lập các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc, Trường CĐVHNT & DL Nha Trang trong chương 3.
Trang 36CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HĐDH Ở BẬC CAO ĐẲNG,
KHOA ÂM NHẠC, TRƯỜNG CĐ VHNT & DL NHA TRANG
2.1 Khái quát về Khoa Âm nhạc, Trường CĐ VHNT & DL NT
2.1.1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển
Trường CĐVHNT& DL Nha Trang là cơ sở đào tạo đa ngành nguồn nhân lực chất lượng cao về các lĩnh vực Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch Tiền thân của
trường là Trường Lý luận nghiệp vụ Phú Khánh được thành lập vào ngày
01/07/1978 Năm 1989, Chính phủ quyết định tách tỉnh Phú Khánh ra thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa Do tọa lạc trên địa bàn Khánh Hòa nên trường mang tên
Trường Trung học VHNT Khánh Hòa Với sự phát triển nhanh về quy mô ngành
nghề đào tạo trước nhu cầu xã hội, ngày 05/07/2004, Trường Trung học VHNT Khánh Hòa được Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa và Sở Văn hóa, Thể thao và Du
lịch Khánh Hòa cho nâng cấp thành trường cao đẳng và mang tên Trường Cao đẳng VHNT & DL Nha Trang Sau khi được nâng cấp thành trường cao đẳng, nhà
trường tiếp tục được đầu tư phát triển về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy– học Số lượng sinh viên, học sinh theo học ngày càng đông, cho thấy uy tín của nhà trường ngày càng được nâng cao Tổng số sinh viên toàn trường hiện nay là 5.157 sinh viên
Khoa Âm nhạc là một trong tám khoa của trường, được ra đời từ ngày đầu thành lập trường vào năm 1978 Từ ngày đầu thành lập đến nay, Khoa Âm nhạc
đã đạt nhiều thành tích nổi bật trong sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo và biểu diễn nghệ thuật Hiện nay Khoa Âm nhạc vẫn là một trong những lá cờ đầu trong các hoạt động biểu diễn văn hóa nghệ thuật của tỉnh Khánh Hòa Hàng loạt các hoạt động như Festival biển, lễ hội đường phố hay các chương trình biểu diễn âm nhạc khác của tỉnh, cả thầy và trò Khoa Âm nhạc đều góp phần tham gia xây dựng và đảm nhiệm Do đó, ban Lãnh đạo nhà trường và Khoa Âm nhạc luôn đổi mới phương thức quản lý và không ngừng nỗ lực để đưa chất lượng giảng dạy,
Trang 37biểu diễn âm nhạc của nhà trường ngày một tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển chung của đất nước.
2.1.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ
Chức năng, nhiệm vụ chính của Khoa Âm nhạc bao gồm:
+ Giảng dạy các chuyên ngành theo kế hoạch của Nhà trường
+ Tham gia các chương trình biểu diễn âm nhạc theo sự phân công điều động của nhà trường và hoạt động biểu diễn âm nhạc theo sinh hoạt chuyên môn của Khoa
+ Độc lập và liên kết nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực chuyên môn, phục vụ công tác giảng dạy, hoạt động khoa học của nhà trường, địa phương và nhu cầu xã hội
+ Quản lý và giáo dục học sinh, sinh viên (HS, SV) trong phạm vi của Khoa.+ Tham mưu và tư vấn cho Lãnh đạo trường các nội dung công tác thuộc lĩnh vực Khoa phụ trách
* Nhận xét chung về cơ cấu tổ chức của Khoa Âm nhạc:
Nhìn chung, bộ máy tổ chức của Khoa Âm nhạc được sắp xếp tương đối hợp
lý, đáp ứng được các nhiệm vụ đề ra hằng năm Hiện nay, Khoa Âm nhạc đang áp dụng chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ với nhiều chuyên ngành khác nhau
Vì vậy, việc phân chia Khoa thành 03 tổ chuyên môn đã tạo điều kiện thuận lợi cho công việc tổ chức hoạt động, giám sát, tư vấn chuyên môn trong giảng dạy và học tập cũng như các hoạt động khác
Tuy nhiên, đa số các cán bộ quản lý của Khoa đều là các giảng viên chuyên ngành, kiêm nhiệm luôn chức năng, nhiệm vụ quản lý nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình dạy học Vì vậy, đội ngũ cán bộ quản lý Khoa phải luôn không ngừng học hỏi để tiếp cận được cách thức tổ chức bộ máy theo mô hình mới, đòi hỏi tính chuyên nghiệp của công tác quản lý giáo dục
Trang 382.1.4 Mục tiêu, ngành nghề đào tạo và quy mô đào tạo của Khoa
2.1.4.1 Mục tiêu đào tạo
Xây dựng Khoa Âm nhạc thành một cơ sở giáo dục đa ngành, đào tạo nguồn nhân lực về lĩnh vực nghệ thuật như: Biểu diễn nhạc cụ Truyền thống, Biểu diễn nhạc cụ phương Tây, Biểu diễn Thanh nhạc, Sáng tác âm nhạc và Sư phạm âm nhạc cho tỉnh Khánh Hòa và các tỉnh lân cận; thuộc các trình độ Cao đẳng, Trung cấp và
Sơ - Trung Âm nhạc
Bên cạnh đó, các giảng viên Khoa Âm nhạc còn kết hợp cùng với HS- SV trong các hoạt động biểu diễn nghệ thuật của nhà trường nói riêng và tỉnh Khánh Hòa nói chung, đóng góp phần lớn vào sự phát triển các phong trào văn hóa nghệ thuật tại thành phố Nha Trang, tạo nên một kênh quảng bá những nét đẹp của nghệ thuật truyền thống dân tộc đến với bạn bè và du khách muôn phương
2.1.4.2 Ngành nghề đào tạo
Bắt đầu từ năm học 2005-2006, Nhà trường tuyển sinh bậc cao đẳng khóa đầu tiên Từ thời điểm đó đến nay, Khoa Âm nhạc đã và đang đào tạo với nhiều chuyên ngành khác nhau, bao gồm các ngành và bậc đào tạo như sau:
- Bậc Cao đẳng (3 năm): gồm 05 ngành: Sư phạm âm nhạc, Biểu diễn
Thanh nhạc, Sáng tác âm nhạc, Biểu diễn nhạc cụ Truyền thống, Biểu diễn nhạc cụ phương Tây
- Bậc Trung cấp (3 năm): gồm 03 ngành: Biểu diễn Thanh nhạc, Biểu diễn
nhạc cụ Truyền thống, Biểu diễn nhạc cụ phương Tây
- Bậc Sơ - Trung chính quy (7 năm): gồm 02 ngành: Biểu diễn nhạc cụ
Truyền thống, Biểu diễn nhạc cụ phương Tây
2.1.4.3 Quy mô đào tạo
Theo báo cáo năm học 2013-2014 của phòng Đào tạo - Trường CĐ VHNT &
DL Nha Trang, tổng số HS, SV đang theo học tại Khoa Âm nhạc là 353 Với số liệu
trên, cho thấy số lượng sinh viên- học sinh trong năm học này được đào tạo tại trường vẫn tăng cao Đặc biệt ở bậc học Sơ- Trung âm nhạc đã tiếp nhận rất nhiều học sinh ở lứa tuổi 9-10 tuổi đến tham gia học tập tại trường, điều này xuất phát từ
Trang 39nhiều lý do: do xu hướng của xã hội hiện nay, do nhu cầu nguyện vọng của gia đình, do niềm đam mê âm nhạc của các em nhỏ…
2.1.5 Ngành đào tạo và quy mô đào tạo bậc Cao đẳng Âm nhạc 3 năm
2.1.5.1 Ngành đào tạo của bậc Cao đẳng Âm nhạc 3 năm
Hiện nay, bậc Cao đẳng Âm nhạc 3 năm được đào tạo với 5 ngành chính là:
Sư phạm âm nhạc, Sáng tác âm nhạc, Biểu diễn Thanh nhạc, Biểu diễn Nhạc cụ Truyền thống, Biểu diễn Nhạc cụ phương Tây
2.1.5.2 Quy mô đào tạo của bậc Cao đẳng Âm nhạc 3 năm
Bảng 2.1: Báo cáo năm học 2013-2014 ở bậc Cao đẳng, Khoa Âm nhạc
Tổng số sinh viên Tổng số sinh viên chia theo năm đào tạo
Năm thứ 1 Năm thứ 2 Năm thứ 3
Bậc Cao đẳng 222 HỆ A HỆ C HỆ A HỆ C HỆ A HỆ C
(Nguồn: Phòng Đào tạo)
Bảng số liệu 2.1 đã thể hiện được quy mô đào tạo của Khoa Âm nhạc, Bậc Cao đẳng trong năm học 2013- 2014 So với mặt bằng chung của đa số các ngành đào tạo ở trường CĐ VHNT & DL Nha Trang, ở khối ngành Nghệ thuật, cụ thể là
các ngành âm nhạc ở bậc Cao đẳng vẫn thu hút được nhiều sinh viên trong và ngoài
tỉnh Ngành học Cao đẳng Sư phạm Âm nhạc có số lượng sinh viên học nhiều hơn
so với các ngành khác, tiếp đến là ngành Biểu diễn Thanh nhạc, Biểu diễn nhạc cụ phương Tây, Biểu diễn nhạc cụ Truyền thống, còn chuyên ngành Sáng tác âm nhạc
do đặc thù của nghề nghiệp nên vẫn chưa thu hút được nhiều người đến học.
2.1.6 Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý
So với thời gian mới thành lập, đến nay đội ngũ giảng viên của Khoa Âm nhạc đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Tổng số giảng viên của Khoa hiện nay là 30 Trong đó: 01 giảng viên là nghệ sĩ ưu tú, 02 giảng viên là thạc sĩ, 07 giảng viên đang theo học thạc sĩ, số còn lại là cử nhân Tỷ lệ cán bộ
Trang 40giảng viên có trình độ, học vị còn thấp so với mặt bằng giảng viên trong Khoa: Tỷ
lệ trình độ Đại học chiếm đến 93.3 %, trong khi đó trình độ Thạc sĩ chỉ chiếm 6,7
%, và trình độ Tiến sĩ là 0 % Tuy xét về trình độ còn chênh lệch nhưng đội ngũ giảng viên Khoa Âm nhạc có thế mạnh là độ tuổi còn trẻ, năng động, đã và đang đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của Khoa đề ra
Đội ngũ cán bộ quản lý của Khoa Âm nhạc hầu hết là đội ngũ trẻ, công tác tại Khoa trên dưới 10 năm nên đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển giáo dục của Khoa và nhà trường Mặc dù còn nhiều khó khăn như: vừa kiêm nghiệm giảng dạy, vừa làm công tác quản lý, kinh nghiệm thực tế chưa có nhiều, nhưng đội ngũ cán bộ quản lý của Khoa luôn có tinh thần phấn đấu cao trong chuyên môn nghiệp vụ, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục của nhà trường, thường xuyên tham gia các lớp học bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho bản thân, đổi mới phương pháp quản
lý, đề xuất và thực hiện các giải pháp quản lý giáo dục phù hợp với điều kiện thực
tế, đảm bảo đủ điều kiện để quản lý giáo dục trong thời kì mới
Trong những năm gần đây, Khoa Âm nhạc là một trong những lá cờ đầu của các hoạt động biểu diễn văn hóa nghệ thuật của thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Với những kết quả đạt được, qua từng giai đoạn phát triển của nhà trường, Khoa Âm nhạc luôn xứng đáng là khoa mũi nhọn, phát triển vững chắc, góp phần quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục - đào tạo và khẳng định thương hiệu văn hóa–nghệ thuật–du lịch của Trường CĐ VHNT & DL Nha Trang
2.1.7 Điều kiện cơ sở vật chất
Trường CĐ VHNT & DL Nha Trang được Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa bàn giao tại cơ sở số 52 Phạm Văn Đồng- khu vực phía bắc Nha Trang, với tổng diện tích sử dụng là 1,4 ha, có khoảng 80 phòng học và một số cơ sở vật chất khác, trong đó, tổng số phòng học của Khoa Âm nhạc là 15 phòng Nhìn chung, tình hình
cơ sở vật chất của Khoa Âm nhạc trong những năm qua đã được nhà trường chú trọng đầu tư mạnh mẽ, nhưng với quy mô đào tạo ngày càng tăng theo từng năm thì
cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện nay vẫn chưa đáp ứng được hết nhu cầu đào tạo của nhà trường cũng như nhu cầu học tập của HS, SV