Ngân hàng Trung ương châu Âu, căn cứ trên các hiệp ước của Liên minh châu Âu,chịu trách nhiệm quản lý chính sách tiền tệ của đồng Euro nói chung và Liên minh châu Âu nói riêng.. 10/5/201
Trang 1LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Trang 2MỤC LỤC
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
………
Trang 3
1, Liên minh châu Âu
1.1 Tìm hiểu chung
Liên minh châu Âu hay liên hiệp châu Âu (tiếng anh: European Union), viết tắt là
EU, là một liên minh kinh tế chính trị bao gồm 27 quốc gia thành viên thuộc châu Âu.Liên minh châu Âu được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht vào ngày 1 tháng 11 năm
1993 dựa trên Cộng đồng châu Âu (EC) Với hơn 500 triệu dân, Liên minh châu Âuchiếm 30% (18,4 tỉ đô la Mỹ năm 2008), GDP danh nghĩa và khoảng 22% (15,2 tỉ đô la
Mỹ năm 2008) GDP sức mua tương đương của thế giới
Liên minh châu Âu đã phát triển một thị trường chung thông qua hệ thống luật
pháp tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các nước thành viên nhằm đảm bảo sự lưu thông tự docủa con người, hàng hóa, dịch vụ và vốn EU duy trì các chính sách chung về thương mại,nông nghiệp, ngư nghiệp vafphast triển địa phương Có tất cả 16 nước thành viên của EUchấp nhận đồng tiền chung, đồng Euro, tạo nên khu vực đồng Euro
Liên minh châu Âu đã phát triển một vai trò nhất định trong chính sách đối ngoại,
có đại diện trong Tổ chức thương mại Thế giới, G8, G-20 nền kinh tế lớn và Liên HiệpQuốc Liên minh châu Âu đã thông qua việc bãi bỏ kiểm tra hộ chiếu bằng Hiệp ướcSchengen giữa 22 quốc gia thành viên và 3 quốc gia không phải là thành viên Liên minhchâu Âu
Hệ thống chính trị của EU bao gồm Ủy ban châu Âu, Hội đồng Liên minh châu
Âu, Hội đồng châu Âu, Tòa án công lý Liên minh châu Âu và Ngân hàng Trung ươngchâu Âu
Sau đây là danh sách 27 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu xếp theo nămgia nhập
1951: Bỉ, Đức, Ý Luxembourg, Pháp, Hà Lan
1973: Đan Mạch, Ireland, Anh
1981: Hy Lạp
1986: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha
1995: Áo, Phần Lan, Thụy Điển
Ngày 1/5.2004: Séc, Hungary, Ba Lan, Slovakia, Slovenia, Litva, Estonia,Malta, Cộng hòa Síp
Ngày 1/1/2007: Romania, Bungary
1.2 Đồng Euro
Trang 4Quá trình thành lập Liên minh kinh tế và tiền tệ được chia thành 3 giai đoạn từ
ngày 1 tháng 7 năm 1990 tới ngày 1 tháng 1 năm 1999, và kết thúc bằng việc giải tán
Viện tiền tệ châu Âu, thành lập Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB).
Theo Hiệp ước Maastricht, điều kiện để tham gia vào liên minh kinh tế và tiền tệ
(còn gọi là những tiêu chỉ hội nhập) là:
1. Tỷ lệ thâm hụt ngân sách của chính phủ trong tổng sản phẩm quốc nội không vượtquá 3%;
2. Tỷ lệ nợ của chính phủ trong tổng sản phẩm quốc nội không vượt quá 60%;
3. Cần phải có một mức độ ổn định giá cả bền vững và một tỷ lệ lạm phát trung bình(được theo dõi trong vòng một năm để xem xét gia nhập EMU) không vượt qua1,5% mức của ba quốc gia có thành tích ổn định giá cả tốt nhất;
4. Cần phải có lãi suất danh nghĩa dài hạn không vượt quá 2% mức của ba quốc gia
có thành tích ổn định giá cả tốt nhất;
5. Biên độ dao động danh nghĩa đối với cơ chế tỷ giá hối đoái (ERM) của Hệ thốngtiền tệ châu Âu (theo mô hình sau năm 1992) phải được tôn trọng mà không gâycăng thẳng nghiêm trọng trong ít nhất hai năm trước khi xem xét gia nhập
Kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 đồng Euro đã chính thức được lưu hành trong 12quốc gia thành viên (còn gọi là khu vực đồng Euro) gồm Pháp, Đức, Áo, Bỉ, Phần Lan,Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha; các nước đứng ngoài làAnh, Đan Mạch và Thụy Điển
Ngân hàng Trung ương châu Âu, căn cứ trên các hiệp ước của Liên minh châu Âu,chịu trách nhiệm quản lý chính sách tiền tệ của đồng Euro nói chung và Liên minh châu
Âu nói riêng
Đồng tiền chung châu Euro được tạo ra nhằm mục đích xây dựng một thị trườngduy nhất Ý nghĩa của hành động này bao gồm việc thúc đẩy các quyền tự do di chuyển,xóa bỏ vấn đề trao đổi ngoại tệ, cải thiện sự minh bạch về giá cả hàng hóa và dịch vụ,thiết lập một thị trường tài chính thống nhất, ổn định giá cả và lãi suất thấp và nhất là hạnchế những tác động tiêu cực do khối lượng giao dịch thương mại nội tại khổng lồ trongphạm vi Liên minh châu Âu Đồng tiền chung Euro cũng chính là biểu tượng chính trị cho
sự hòa hợp và phát triển kinh tế liên tục
2, Khủng khoảng kinh tế Hy Lạp
2.1 Một số đặc điểm nền kinh tế Hy Lạp trước khủng hoảng
Trang 5Hy Lạp là một quốc gia nhỏ ở Nam Âu, là thành viên của khu vực đồng tiền chungchâu Âu Dân số Hy Lạp khoảng 11 triệu người chiếm 2,2% EU, đóng góp 2,8% GDP của
EU Hy Lạp có thu nhập bình quân đầu người khoảng 17.440 đô la Mỹ, tỷ lệ thất nghiệptrung bình là 10,2% (trong khi tỷ lệ này của EU là 10%) nhưng lại duy trì được tốc độtăng trưởng cao so với các nước trong EU-16
Năm 2006, Hy Lạp xuất khẩu khoảng 24,4 tỷ USD Các mặt hàng xuất khẩu chủyếu của Hy Lạp là thực phẩm, hàng chế tạo, dầu mỏ, hóa chất và vải vóc Những thịtrường xuất khẩu chính của nước này bao gồm Đức (13,2%), Ý (10,3%),Ireland (7,5%),Bulgaria (6,3%) và Mỹ (5,3%)
Nhập khẩu năm 2006 của Hy Lạp đạt khoảng 59,1 tỷ USD Các mặt hàng nhậpkhẩu của Hy Lạp bao gồm máy móc, phương tiện vận tải, nhiên liệu và hóa chất Các thịtrường nhập khẩu chính của nước này là Đức(13,3%), Ý (12,8%), Pháp (6,4%), Hà Lan(5,5,%) và Nga (5,5%)
Trong những năm qua, tình trạng thâm hụt ngân sách của Hy Lạp ngày càng giatăng Năm 2009, mức thâm hụt ngân sách là 12,7% GDP vượt ngưỡng an toàn là 5% GDP
và vượt mức cho phép của khu vực đồng tiền chung là 3% GDP Để bù đắp thâm hụt ngânsách, Chính phủ Hy Lạp đã vay nợ dưới nhiều hình thức, đặc biệt là tăng cường thực hiệnphát hành trái phiếu chính phủ
Tình hình nợ công của Hy Lạp nói riêng và khu vực đồng Euro nói chung từ năm1999-2009 liên tục gia tăng Hiện nay, tổng số nợ công trong khu vực Euro vào khoảng
Trang 67.062 tỉ Euro, trong đó khoản nợ của Hy Lạp là 273 tỉ Euro, chiếm khoảng 4% tổng nợcủa khu vực đồng tiền chung Tỷ lệ nợ công trên GDP của Hy Lạp là 108,1%.
Với mức vay nợ như trên, Hy Lạp đang phải đối mặt với khoản nợ đến hạn phảithanh toán 8,5 tỉ Euro (tương đương 11,3 tỉ đô la Mỹ) trái phiếu chính phủ vào ngày 19-5-
2010 Hầu hết các khoản nợ của Hy Lạp là ngắn hạn, trong đó, số nợ phải trả trong năm
2010 là 16% tổng nợ
Qua phân tích tình hình tài chính, kinh tế của Hy Lạp ta thấy khủng hoảng kinh tế
Hy Lạp là không thể tránh khỏi Nói cách khác nguyên nhân khủng hoảng kinh tế Hy Lạp
đã tiềm ẩn và tồn tại trong thời gian dài Và khi khủng hoảng xảy ra cũng chính là lúc
“giọt nước tràn ly”
2.2 Diễn biến khủng hoảng kinh tế Hy Lạp dẫn đến khủng hoảng châu Âu
Cuộc khủng hoảng nợ bắt đầu vào tháng 12/2009 khi thủ tướng mới của Đảng xãhội Hy Lạp, ông George A Papandreou, thông báo rằng người tiền nhiệm của ông đã chedấu tình trạng thâm hụt ngân sách khổng lồ mà nước này đang mắc phải Thâm hụt ngânsách chính phủ của nước này là 12,7% GDP, chứ không phải 3,7% như chính phủ tiềnnhiệm dự báo trước đó Vào đầu năm 2010, nỗi lo sợ về khả năng mất thanh toán của HyLạp đã chuyển thành sự hoảng loạn tài chính khi các nhà đầu tư nghi ngờ khả năng củachính phủ Hy Lạp trong việc thực hiện các biện pháp cứng rắn như cam kết nhằm cắtgiảm thâm hụt ngân sách Khi sự sợ hãi này lan sang cả với Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha,các nhà lãnh đạo của các nước có ảnh hưởng lớn ở châu Âu như Đức và Pháp bắt đầu longại về sự nguy hại kéo dài của nó đối với đồng Euro Họ cam kết bảo vệ đồng tiền củakhu vực nhưng từ chối một gói cứu trợ ngay đối với Hy Lạp
Dưới đây là những mốc quan trọng trong khủng hoảng nợ châu Âu tính từ tháng11/2009 khi chính phủ mới của Hy Lạp tuyên bố nâng gấp đôi ước tính về thâm hụt ngânsách năm 2009
5/11/2009 Thủ tướng Hy Lạp cho biết thâm hụt ngân sách năm 2009 sẽ ở mức
12,7% GDP, cao gấp đôi con số công bố trước đó và sẽ cố gắng cứu Hy Lạp khỏi khảnăng vỡ nợ
22/12/2009 Moody’s hạ xếp hạng nợ của Hy Lạp xuống mức A2 từ mức A1 bởi
thâm hụt ngân sách của nước này tăng cao Đây là cơ quan thứ 3 hạ xếp hạng tín dụng của
Hy Lạp
Trang 714/1/2010 Chính phủ Hy Lạp công bố kế hoạch bình ổn, chính phủ Hy Lạp tuyên
bố muốn giảm thâm hụt ngân sách xuống mức 2,8% GDP vào năm 2012
29/1/2010 Chính phủ Tây Ban Nha công bố kế hoạch tiết kiệm 50 tỷ Euro tương
đương 70 tỷ USD trong đó tổng số tiền chi tiêu giảm tương đương 4% GDP Lương laođộng trong lĩnh vực công giảm 4%
11/4/2010 Bộ trưởng Tài chính các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu
chấp thuận kế hoạch 30 tỷ Euro dành cho Hy Lạp, tuy nhiên Hy Lạp tuyên bố không cần
23/4/2010 Hy Lạp cầu cứu EU và IMF.
2/5/2010 Thủ tướng Hy Lạp cho biết chính phủ nước này đã đạt được thỏa thuận
với EU và IMF để nhận được gói giải cứu, đổi lại nước này phải giảm chi tiêu 30 tỷ eurotrong 3 năm tới
Gói giải cứu Hy Lạp nhận được bao gồm 110 tỷ Euro trong 3 năm Đây là nướcđầu tiên tại khu vực đồng tiền chung châu Âu được hỗ trợ Chính phủ Đức đồng ý góp22,4 tỷ Euro tương đương 30 tỷ USD cho kế hoạch cứu Hy Lạp
9/5/2010 IMF đơn phương chấp thuận trước một phần kế hoạch giải cứu, cung cấp
lập tức 5,5 tỷ Euro
10/5/2010 Các nhà hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu đưa ra kế hoạch khẩn
cấp trị giá 750 tỷ Euro để hỗ trợ thị trường tài chính và vực dậy đồng Euro, ngăn đồngtiền này chịu ảnh hưởng tệ hại từ khủng hoảng nợ Hy Lạp
18/5/2010 Chính phủ Đức, trong nỗ lực ngăn hoạt động đầu cơ tài chính được coi
như nguyên nhân dẫn dến khủng hoảng nợ, công bố cấm bán khống vô căn cứ cổ phiếucủa 10 tổ chức tài chính lớn nhất tại Đức, trái phiếu chính phủ đồng Euro và hợp đồnghoán đổi vỡ nợ tín dụng (CDS)
Gói giải cứu bao gồm 440 tỷ Euro từ các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu
Âu, 60 tỷ Euro từ công cụ nợ của châu Âu IMF đóng góp 250 tỷ Euro, tổng số tiền lên tới
750 tỷ Euro tương đương khoảng gần 1.000 tỷ USD tính theo tỷ giá ở thời điểm đó
25/5/2010 Nội các Italia bỏ phiếu thông qua kế hoạch thắt chặt ngân sách, tiết kiệm
24 tỷ Euro với mục tiêu đến năm 2012 đưa thâm hụt ngân sách về mức 2,7% GDP từ mức5,3% của năm 2009
27/5/2010 Quốc hội Tây Ban Nha chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách nhằm
tiết kiệm 15 tỷ Euro tương đương 18,4 tỷ USD
Trang 828/5/2010 Fitch hạ xếp hạng tín dụng của Tây Ban Nha từ AAA xuống AA+ bởi
nợ tiêu dùng và doanh nghiệp tại nước này tăng lên mức quá cao, đó là chưa kể đến nợcông đang ở mức đáng báo động
29/5/2010 Hàng ngàn người biểu tình ở Lisbon - Bồ Đào Nha để phản đối kế hoạch
thắt chặt ngân sách của chính phủ
7/6/2010 Đảng của Thủ tướng Đức chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách và
thuế để hoàn thành mục tiêu đưa thâm hụt ngân sách của Đức về mức quy định của Liênminh châu Âu trong khoảng thời gian từ nay đến năm 2013
8/6/2010 Công đoàn Tây Ban Nha công bố 75% người lao động trong lĩnh vực
công không đi làm để thể hiện sự phản đối kế hoạch thắt chặt chi tiêu của chính phủ Tỷ
lệ lạm phát của Hy Lạp tháng 5/2010 tăng 5,4%, vượt mọi kỳ vọng của các chuyên gia vàlên mức cao nhất từ tháng 8/1997
9/6/2010 Kế hoạch thắt chặt ngân sách được bàn đến trong các cuộc bầu cử và
Đảng có chủ trương này đã chiến thắng Tuy nhiên cuối cùng, thật khó để các nhà hoạchđịnh chính sách thống nhất với nhau
10/6/2010 Thỏa thuận để cải tổ thị trường lao động Tây Ban Nha sụp đổ Chính
phủ buộc phải áp dụng quy định tuyển dụng và sa thải lỏng lẻo hơn dù không có sự hỗ trợcủa nghiệp đoàn lao động
Quá trình khủng hoảng kinh tế Hy Lạp diễn ra trở thành “cú sốc lớn” cho cả nền kinh tế châu Âu, và giải pháp chủ yếu mà các nước đưa ra đầu tiên là nhờ sự giúp đỡ của IMF và sau đó là thực hiện thắt chặt ngân sách nhà nước Tuy nhiên các giải pháp này đều có tính hai mặt, nếu không thực hiện hợp lý và khôn ngoan sẽ để lại những hậu quả nặng nề cho cả nền kinh tế và chính trị Và để có thể thực hiện các giải pháp toàn diện hơn, hiệu quả hơn chúng ta cần phải đi tìm hiểu rõ nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế
Hy Lạp.
2.3 Nguyên nhân khủng hoảng kinh tế Hy Lạp
2.3.1 Nguyên nhân chủ quan – chính sách trong nước
Khủng hoảng kinh tế của Hy Lạp xuất phát từ nguyên nhân chính là khả năng quảntrị tài chính công yếu kém cùng với những khoản chi tiêu của chính phủ quá lớn, vượt khảnăng kiểm soát Kết quả là thâm hụt ngân sách của Hy Lạp vượt hơn 13% GDP và tổng
Trang 9nợ công chiếm tới gần 130% GDP (năm 2010) Có thể nêu những nguyên nhân chính của
nợ công Hy Lạp, đó là:
Tiết kiệm trong nước thấp dẫn tới phải vay nợ
nước ngoài cho chi tiêu công:
Thập niên 90 tỷ lệ tiết kiệm trong nước bình quân của Hy Lạp chỉ ở mức 11%,thấp hơn nhiều so với mức 20% của các nước như Bồ Đào Nha, Ý, Tây Ban Nha và đang
có xu hướng sụt giảm nhanh chóng Do vậy, đầu tư trong nước phụ thuộc khá nhiều vào
các dòng vốn đến từ bên ngoài; Lợi tức trái phiếu liên tục giảm nhờ vào việc gia nhập liên
minh châu Âu EU (năm 1981) và làn sóng bán tháo trái phiếu từ dân chúng cho thấy HyLạp đã để tuột khỏi tay một kênh huy động vốn sẵn có buộc chính phủ Hy Lạp tăng cườngvay nợ tài trợ cho chi tiêu công
Chi tiêu công tăng cao dẫn đến thâm hụt ngân
sách:
Tăng trưởng GDP của Hy Lạp vẫn được ca ngợi với tốc độ tăng trung bình hàng năm
là 4,3% (2001–2007) so với mức trung bình của khu vực Eurozone là 3,1% Tuy nhiên,trong giai đoạn này, mức chi tiêu chính phủ tăng 87% trong khi mức thu của chính phủchỉ tăng 31%, khiến cho ngân sách thâm hụt vượt quá mức cho phép 3% GDP của EU.Theo đánh giá của các nhà kinh tế, bộ máy công quyền cồng kềnh và thiếu hiệu quả của
Hy Lạp chính là nhân tố chính đằng sau sự thâm hụt của quốc gia này
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), chi tiêu cho quản lý côngtrong tổng số chi tiêu công của Hy Lạp năm 2004 đã cao hơn nhiều so với các nước thànhviên OECD khác trong khi chất lượng và số lượng dịch vụ không được cải thiện nhiều
Năm 2008, khủng hoảng tài chính toàn nổ ra đã ảnh hưởng khá mạnh đến cácngành công nghiệp chủ chốt của Hy Lạp Ngành du lịch và vận tải biển, doanh thu đều sụtgiảm trên 15% trong năm 2009 Kinh tế Hy Lạp cũng lâm vào tình trạng khó khăn, nguồnthu để tài trợ cho ngân sách nhà nước bị co hẹp mạnh Trong khi đó Hy Lạp lại phải tăngcường chi tiêu công để kích thích kinh tế Chi tiêu kích thích kinh tế sau khủng hoảngnăm 2008 cũng làm trầm trọng thêm vấn đề nợ công Tính đến tháng 01/2010, nợ côngcủa Hy Lạp ước tính lên tới 216 tỷ Euro và mức nợ lũy kế đạt mức 130% GDP
Sự già hóa dân số và hệ thống lương hưu vào loại hào phóng bậc nhất khu vựcchâu Âu của Hy Lạp cũng được coi là một trong những gánh nặng cho chi tiêu công Dự
Trang 10đoán tỷ lệ số người trên 64 tuổi của Hy Lạp sẽ tăng từ 19% năm 2007 lên 32% năm 2060.Người về hưu được hưởng một khoản tiền tương đương với 70-80% mức lương chínhthức trước khi về hưu chưa kể những lợi ích từ những cơ chế hỗ trợ khác với đủ 35 nămcống hiến so với mức 40 năm ở các quốc gia châu Âu khác Ước tính tổng số tiền chi trảcho lương hưu khu vực công của Hy Lạp sẽ tăng từ 11,5% GDP (2005) lên 24% (2050).
Một ví dụ dễ thấy nhất là công tác tổ chức Olympic 2004 - kỳ thế vận hội được
hoành tráng nhất và cũng tốn kém nhất trong lịch sử Chi 12 tỷ euro (cao hơn tới 10 tỷ
so với dự kiến) nhưng không cho phép bất cứ một biển hiệu quảng cáo nào được xuất hiệntrên đường phố, Chính phủ Hy Lạp đã khiến ngân sách quốc gia năm 2004 thâm hụt tới6,1% (so với GDP) trong khi giới hạn mà khối EU cho phép là 3%
Nguồn thu giảm sút cũng là một nhân tố dẫn
tới tình trạng thâm hụt ngân sách và gia tăng
nợ công
Trốn thuế và hoạt động kinh tế ngầm ở Hy Lạp là nhân tố làm giảm nguồn thu
ngân sách Theo đánh giá của Ngân hàng thê giới (WB), kinh tế không chính thức ở Hy
Lạp chiếm tới 25 - 30% GDP (so với mức 15,6% GDP của Việt Nam; 13,1% GDP của
Trung Quốc và Singapore; 11,3% GDP của Nhật Bản) Hệ thống thuế với nhiều mức thuếcao và bộ luật phức tạp cùng với sự điều tiết dư thừa và thiếu hiệu quả của cơ quan quản
lý là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn thuế và kinh tế ngầm phát triển ở Hy Lạp
Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế, Hy Lạp là một trong những nước có tỷ lệ tham
nhũng cao nhất trong EU Không chỉ có công nhân viên chức không chịu nộp thuế, mà
việc nhận tiền hối lộ còn khá phổ biến từ trung ương đến địa phương Năm 2008, hơn13% người Hy Lạp đã chi tới 750 triệu EUR tiền phong bì cho các lãnh đạo khu vực công
và khu vực tư, trong đó có bác sĩ là những người đòi nhiều tiền hơn cho các cuộc phẫuthuật; các nhà quy hoạch thành phố là những người quyết định thời gian giấy phép xâydựng được cấp và các quan chức ở địa phương cũng liên quan đến những vụ việc nhận hối
lộ Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou thừa nhận “tham nhũng mang tính hệ thống”
(systematic corruption) là vấn đề cơ bản nhất dẫn đến tình trạng nợ công Hy Lạp Thiệt
hại mà tham nhũng gây ra cho Hy Lạp ước tính vào khoảng 8% GDP Tham nhũng khôngchỉ gây ra trốn thuế, nó còn làm tăng chi tiêu chính phủ, nhắm tới duy trì mức lương caocho công chức và thực hiện các dự án có vốn đầu tư lớn thay vì nhắm vào các dự án tạo ra
Trang 11nhiều việc làm và nâng cao năng suất lao động Mức lương cao không chỉ tạo ra gánh
nặng ngân sách mà còn làm cho tính cạnh tranh của nền kinh tế Hy Lạp yếu đi Lươngcao, đồng euro tăng giá từ mức 1 euro đổi hơn 0,8 đô la Mỹ lên đến 1 euro đổi 1,6 đô latrong suốt giai đoạn từ 2000-2008 khiến sức cạnh tranh của hàng hóa Hy Lạp yếu và hệquả tất yếu là một cán cân thương mại thâm hụt triền miên
Sự tiếp cận dễ dãi với nguồn vốn đầu tư nước
ngòai và việc sử dụng nguồn vốn không hiệu quả:
Bên cạnh đó, việc gia nhập Eurozone năm 2001 là cơ hội lớn để Hy Lạp có thể tiếpcận với thị trường vốn quốc tế với việc sử dụng một đồng tiền được những nền kinh tế lớnnhư Đức và Pháp bảo đảm cùng với sự quản lý chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trungương châu Âu (ECB) Nhờ việc gia nhập Eurozone Hy Lạp đã có được hình ảnh ổn địnhcao và chắc chắn trong mắt các nhà đầu tư, dễ dàng thu hút vốn đầu tư nước ngoài với
mức lãi suất thấp Trong gần một thập kỷ qua, chính phủ Hy Lạp liên tục bán trái phiếu
để thu về hàng trăm tỷ đôla Số tiền này lẽ ra có thể giúp kinh tế Hy Lạp tiến rất xa nếu
chính phủ có kế hoạch chi tiêu hợp lý Tuy nhiên, chính phủ Hy Lạp đã chi tiêu quá tay(phần lớn cho cơ sở hạ tầng) mà hầu như không quan tâm đến các kế hoạch trả nợ dẫn đếnmức nợ ngày càng tăng
Thiếu tính minh bạch trong số liệu thống kê
kinh tế làm giảm niềm tin của các nhà đầu tư:
Sự thiếu minh bạch trong số liệu thống kê của Hy Lạp đã làm mất niềm tin của cácnhà đầu tư mà quốc gia này đã tạo dựng được với tư cách là một thành viên của Eurozone
và nhanh chóng xuất hiện các làn sóng rút vốn ồ ạt khỏi các ngân hàng của Hy Lạp, đẩy
quốc gia này vào tình trạng khó khăn trong việc huy động vốn trên thị trường vốn quốc tế
Sự phụ thuộc vào nguồn tài chính nước ngoài đã khiến cho Hy Lạp trở nên rất dễ bị tổnthương trước những thay đổi trong niềm tin của giới đầu tư Khủng hoảng nợ công của Hy
Lạp do chính phủ không minh bạch các số liệu, cố gắng vẽ nên bức tranh sáng, màu
hồng về tình trạng ngân sách, về những chính sách sắp ban hành để khắc phục những
khó khăn về ngân sách hay vấn đề kinh tế vĩ mô do vậy, hiệu lực của những chính sách đó
sẽ bị hạn chế nhiều
Trang 12Tóm lại, nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng kinh tế Hy Lạp chính là sự chi tiêu quá mức của chính phủ, đầu tư kém hiệu quả Bên cạnh đó là “bệnh thành tích” trong EU đã khiến Hy Lạp đã cố tình che giấu khuyết điểm, cố tình đưa ra những số liệu
ảo trong việc thống kê các thông tin kinh tế Vì thế mà khủng hoảng kinh tế Hy Lạp còn gọi là khủng hoảng nợ Hy Lạp.
2.3.2 Nguyên nhân khách quan – chủ yếu là chính sách kinh tế của EU
Nguyên nhân đầu tiên và rõ nét nhất thường được các nhà lãnh đạo EU đề cập là
tác động của khủng hoảng tài chính năm 2008 Để cứu vãn nền kinh tế khỏi cơn suy
thoái, các chính phủ đã tung ra những gói hỗ trợ khổng lồ nhằm kích thích kinh tế pháttriển Gói hỗ trợ này làm gia tăng chi ngân sách và nợ công một cách đáng kể Tuy nhiên,thực trạng này diễn ra tại hầu hết các nước trên thế giới, không chỉ có Hy Lạp và EU Dovậy, bên cạnh các tác nhân bên ngoài, Hy Lạp còn có những nguy cơ tiềm ẩn - đó là cácyếu tố nội sinh của khu vực đồng tiền chung
Việc EU không tuân thủ chặt chẽ các quy định của Hiệp ước Maastricht
trong việc gia nhập thành viên
Thật vậy, theo Hiệp ước Maastricht, để tham gia vào khu vực đồng tiền chung, cácquốc gia thành viên phải đáp ứng nhiều chuẩn mực, trong đó có quy định mức bội chi củangân sách phải nhỏ hơn hoặc bằng 3% GDP, có xem xét trường hợp mức thâm hụt đangtrong xu hướng được cải thiện hoặc mức thâm hụt lớn hơn 3% nhưng mang tính tạm thời,không đáng kể, không là mức bội chi cơ cấu; nợ chính phủ nhỏ hơn hoặc bằng 60% GDP,
có xem xét các trường hợp đang điều chỉnh
Theo quy định này, Hy Lạp chưa đủ điều kiện tham gia khu vực đồng tiền chungchâu Âu vào tháng 5-1998 Nhưng hai năm sau, ngày 1-1-2001, mặc dù vẫn chưa đủchuẩn, Hy Lạp cũng được chấp thuận gia nhập vào khu vực đồng tiền chung với điều kiệnphải nỗ lực cải thiện mức thâm hụt ngân sách và nợ chính phủ Tuy nhiên, đến nay, cácràng buộc trên vẫn chỉ là lời hứa của Hy Lạp Bội chi ngân sách và nợ nước ngoài khôngnhững không được cải thiện mà có xu hướng ngày càng tăng
Tác động tiêu cực của tiến trình hội nhập kinh tế khu vực: năng lực cạnh
tranh và sự công bằng giữa các quốc gia
Quá trình hình thành đồng tiền chung được chia thành ba giai đoạn nhằm giúp cácquốc gia điều chỉnh nền kinh tế theo hướng hội nhập toàn diện và sâu rộng - hàng hóa,
Trang 13vốn và sức lao động được tự do hóa hoàn toàn Tuy nhiên, hội nhập cũng có mặt trái của
nó Đối với các quốc gia nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu thì đây thực sự là thách thức
Là một quốc gia nhỏ, Hy Lạp có nguồn tài nguyên hạn hẹp, lợi thế thương mạithấp, năng lực cạnh tranh thấp vì thế không thể xây dựng rào cản để bảo hộ nền sản xuấttrong nước Hàng hóa thiếu cạnh tranh, sản xuất đình trệ, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, thungân sách giảm, chi an sinh xã hội cao
Ngoài ra, theo quy định của EU, các quốc gia được phép giữ lại 25% thuế xuấtnhập khẩu hàng hóa vào EU để trang trải chi phí hoạt động và 75% còn lại được chuyểnvào ngân sách chung của EU Điều này có nghĩa, các quốc gia có vị trí thuận lợi về giaothông quốc tế: sân bay, bến cảng sẽ nhận được một nguồn thu đặc biệt từ thuế nhậpkhẩu vào EU mà các quốc gia nhỏ hơn, ở vị trí bất lợi hơn như Hy Lạp không nhận được;thậm chí đó là khoản thuế đánh trên hàng hóa nhập khẩu đang tiêu thụ tại nước mình.Nguồn thu ngân sách của họ bị suy giảm
Ngoài ra, tại các nước kém phát triển hơn như Hy Lạp, để tránh làn sóng di dân khithực hiện tự do hóa lao động, chính phủ buộc phải gia tăng các khoản chi phúc lợi, chi ansinh xã hội cho công dân của mình Điều này góp phần làm gia tăng thâm hụt ngân sách
Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ(do ECB điều hành) và chính sách tài
chính (ngân hàng trung ương của các nước tự quyết định):
Đồng tiền chung hệ thống ngân hàng trung ương châu Âu bao gồm Ngân hàngTrung ương châu Âu (ECB) và 16 ngân hàng trung ương của các quốc gia thành viên.ECB điều hành chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạm phát Quy định này tạo nền tảng choviệc hình thành và ổn định đồng euro Nhưng nó cũng mang lại nhiều thách thức cho cácchính phủ do họ không thể sử dụng chính sách tiền tệ làm công cụ hữu hiệu để hỗ trợ kinh
Trang 14Cụ thể, lãi suất trên thị trường tiền tệ phụ thuộc vào chính sách lãi suất do ECBđịnh đoạt Lãi suất trái phiếu chính phủ lại do bộ tài chính của từng quốc gia quyết định.
Quyết định của bộ tài chính phụ thuộc vào chính sách tài khóa của từng quốc gia.Đối với một số nước có năng lực cạnh tranh kém hơn, thâm hụt ngân sách lớn hơn cácquốc gia khác trong khối, để bình ổn nền kinh tế, phát hành trái phiếu chính phủ với lãisuất cao hơn là giải pháp được ưa chuộng Vì vậy, khủng hoảng nợ do mất khả năng chitrả chỉ còn là vấn đề thời gian
Ngoài ra, so với các quốc gia khác, khoản chi phúc lợi - an sinh xã hội và thu thuếcủa EU rất cao so với nhiều quốc gia khác trên thế giới Thật vậy, Mỹ có thu nhập bìnhquân đầu người là 34.320 đô la nhưng chỉ dành 19,4% GDP chi phúc lợi và an sinh xãhội Con số tương tự ở Nhật là 25.130 đô la Mỹ/người và 18,6% Trong khi đó, tại EU, tỷ
lệ này dao động từ trên 20-38,2%
Để có tiền chi phúc lợi và an sinh xã hội, các nước buộc phải gia tăng các khoảnthuế Thực tế cho thấy, tỷ lệ thu thuế tính trên GDP của các nước trong khối EU cũng tăngvượt trội so với các quốc gia khác trên toàn cầu Tỷ lệ này biến động từ trên 30-50%GDP
Trong khi đó, tỷ lệ này tại Mỹ, Nhật , Canada lần lượt là 28,2%; 27,4%; 33,4% Để
có nguồn thu lớn, EU đã xây dựng một biểu thuế suất cao hơn Thuế giá trị gia tăng trungbình trên 20%, trong khi tỷ lệ này ở Mỹ và Hàn Quốc khoảng 10%; tại Nhật và Canada là5% Chính điều này đã làm cho EU trở thành thiên đường của hưởng thụ hơn là nơi hấpdẫn nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh Lợi thế trong thu hút nguồn vốn nước ngoài của EUcũng bị tác động
Là một thành viên của EU, trong các hoạt động kinh tế đối ngoại với các quốc giangoài EU, Hy Lạp cũng gặp những khó khăn tương tự Không chỉ bị tác động bởi các yếu
tố bên ngoài, Hy Lạp còn bị thất thế trong các giao dịch nội khối Là một quốc gia nhỏ,nghèo tài nguyên, năng lực cạnh tranh của Hy Lạp giảm Mặc dù Hy Lạp thiết lập một tỷ
lệ thu thuế và chi phúc lợi và an sinh xã hội ở mức trung bình của khu vực đồng tiềnchung, nhưng nó cũng làm tăng mức thâm hụt ngân sách, tạo áp lực gia tăng nợ công
Sau khi phân tích nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế Hy Lạp, ta thấy nguyên nhân xâu xa chính là sự “bảo hộ” trong EU, “tham vọng” muốn lớn mạnh, rộng lớn về số lượng và đã bộc lộ những yếu kém trong EU Những yếu kém đó không những
Trang 15về cơ cấu tổ chức, sự tôn trọng các quy định, hiệp ước mà còn trong cả chính sách tiền tệ
và tài chính của Khu vực đông tiền chung châu Âu.
2.4 Tác động của khủng hoảng kinh tế Hy Lạp đến nền kinh tế thế giới
Từ năm 2000 đến nay, kinh tế thế giới luôn trải qua nhiều biến động Bắt đầu từ sựphá sản của Worldcom năm 2003, Mardoff với vụ lừa đảo lịch sử 65 tỷ USD năm 2005,
và lớn nhất là khủng hoảng tín dụng Mỹ năm 2007, dẫn đến sự sụp đổ của đế chế LehmanBrothers, ùng khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2009 Bước sang 2010, tuy ảnh hưởngkhủng hoảng kinh tế đã tạm lắng nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều biến động, điển hình làkhủng hoảng nợ công của Hy Lạp, các nước châu Âu như Tây Ban Nha, ý và Bồ Đào Nhacũng đang đứng trước nguy cơ tương tự và bong bóng tài sản ở Trung Quốc
2.4.1 Phản ứng dây chuyền kéo theo khủng hoảng các nước EU
Mặc dù chỉ chiếm 2% GDP của EU, nhưng khủng hoảng nợ của Hy Lạp sẽ tácđộng mạnh tới sự ổn định của đồng Euro, tạo nên phản ứng dây chuyền đối với các nềnkinh tế trong khu vực và thế giới Những quốc gia nắm giữ số lượng lớn trái phiếu của HyLạp như Pháp, Đức, Thụy Sỹ đứng trước nguy cơ mất trắng số trái phiếu này nếu Hy Lạp
vỡ nợ, điều này tác động đến ngân sách của các nước chủ nợ
Do Hy Lạp dùng đồng Euro, bê bối về tài chính của họ làm suy yếu đồng tiền này
và có thể sẽ làm tỷ giá trên tòan châu Âu tăng cao Những rắc rối về nợ công ở Hy Lạp đãchâm ngòi cho cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử 11 năm của khu vực sử dụngđồng tiền chung Euro
Với số nợ 404 tỉ USD (113% GDP) của Hy Lạp nếu không được giải quyết sớm sẽgây ảnh hưởng đến cả châu Âu, nền kinh tế Mỹ và nhiều quốc gia khác, có nguy cơ đẩyhàng vạn người lao động đến tình cảnh thất nghiệp Nếu không được kiểm soát tốt, khủnghoảng sẽ đe dọa đến sự ổn định của 16 nước đang dùng đồng tiền chung Euro và rất có thểlan sang Đại Tây Dương đến nước Mỹ
Sau khi quyết định tài trợ 110 tỷ € cho Hy Lạp trong vòng 3 năm, lãnh đạo khốiđồng Euro cho rằng rằng mọi việc sẽ từng bước ổn định Thế nhưng, thị trường tài chínhkhông như mong muốn, thậm chí, có người còn cho rằngngoài Hy Lạp, Bồ Đào Nha, TâyBan Nha, thì có thể cả Ý và Pháp cũng gặp khó khăn Theo tính toán của ngân hàngNatixisthìtừ nay đến 2012, Bồ Đào Nha sẽ cần 65 tỷ €, Tây Ban Nha 410 tỷ
2.4.2 Ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế của Mỹ và thế giới
Trang 16Vào đầu tháng 3/2010, thủ tướng Hy Lạp George Papandreou đã đến thăm nước
Mỹ đồng thời phát đi thông điệp: khủng khoảng nợ đang đe dọa kinh tế Hy Lạp, sự ổnđịnh tài chính của Liên minh châu Âu có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của nước Mỹ, vàchúng ta cần cùng nhau giải quyết vấn đề này Thủ tướng Hy Lạp khi đó thậm chí còn liên
hệ đến một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mới nếu khủng hoảng nợ ở châu Âu lanrộng
Tuy nhiên, tác động của khủng hoảng nợ Hy Lạp đối với nước Mỹ không phải làmột tác động trực tiếp Liên minh châu Âu đang hi vọng có thể kiểm soát được khủnghoảng nợ của Hy Lạp trước khi nó có thể lan rộng trong khu vực và đe dọa sự ổn định củacác nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu, và sau đó thậm chí là bên kia bờ Đại TâyDương Khủng hoảng châu Âu đã tác động xấu đến nước Mỹ chủ yếu qua kênh xuất khẩu.Nếu khủng hoảng nợ lan rộng, đồng Euro sẽ mất giá và lãi suất ở châu Âu sẽ tăng Điềunày khiến cho hàng hóa Mỹ trở nên đắt đỏ hơn và người dân châu Âu khó có khả năngthanh toán cho hàng xuất khẩu của Mỹ Ngoài ra, xuất khẩu của Mỹ sang các nước khácnhư Trung Quốc có thể cũng giảm do hàng hóa châu Âu trở nên cạnh tranh hơn
Nhiều nhà kinh tế cho rằng chỉ riêng cú sốc xuất khẩu không thôi sẽ là không đủ
để đưa nước Mỹ và kinh tế thế giới quay trở lại suy thoái Không phải xuất khẩu khôngảnh hưởng đến kinh tế Mỹ tuy nhiên tiến trình hồi phục kinh tế của nước Mỹ phụ thuộcchủ yếu vào tiêu thụ nội địa chứ không phải xuất khẩu Giá trị xuất khẩu của Mỹ sang khuvực sử dụng đồng euro chỉ xấp xỉ hơn 1% GDP của Mĩ Do vậy tác động tiêu cực trực tiếpcủa cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu với Mĩ là rất nhỏ
Bên cạnh đó khủng hoảng nợ của Hy Lạp không phải không có những tác động
tích cực đến kinh tế Mĩ và thế giới Lo ngại về sự lan rộng khủng hoảng khiến cho giá
dầu thế giới liên tục giảm trong thời gian vừa qua, và hiện ở mức khoảng dưới
70USD/thùng Rõ ràng điều này tác động tích cực đến chi phí sản xuất và sức mua ở nước
Mỹ cũng như kinh tế thế giới Hơn nữa, dòng vốn quốc tế cũng đang chu chuyển theohướng có lợi hơn cho nước Mỹ Dòng vốn quốc tế đang tự tìm đến nơi trú ẩn an toàn hơn.Cầu mua trái phiếu chính phủ Mỹ từ Trung Quốc và Anh tăng vọt kể từ tháng 3 sau những
lo ngại về châu Âu Điều này giúp cho lãi suất ở Mỹ tiếp tục được duy trì ở mức thấp vàcác tín hiệu hồi phục kinh tế ngày càng tốt hơn (kinh tế tăng trưởng trong quý thứ ba liêntiếp, hơn nửa triệu việc làm được tạo ra trong 4 tháng đầu năm, kết quả kinh doanh quý 1của nhiều công ty tốt hơn dự kiến,…) Trường hợp xấu nhất, khi khủng hoảng nợ lan rộng
Trang 17sang các nước khác ở châu Âu, hệ thống ngân hàng Mỹ một lần nữa có thể chịu ảnhhưởng Tuy nhiên, lúc đó nước Mỹ có thể sẽ sử dụng lại những biện pháp giải cứu mà họvừa ngừng sử dụng.
Thị trường tài chính thế giới đang trong tình trạng bất ổn do những lo ngại về sựlan rộng của cuộc khủng hoảng nợ và tiến trình hồi phục kinh tế ở khu vực châu Âu Tuynhiên, chúng ta cũng có những tín hiệu tích cực từ sự hồi phục chậm nhưng khá chắc củakinh tế Mĩ Bài học về Hy Lạp với những hậu quả của nó có lẽ sẽ còn được nhắc lại nhiềulần với các quốc gia đang thiếu thận trọng với các quyết định chi tiêu của mình
Khủng hoảng kinh tế Hy Lạp diễn ra sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 đã giáng một đòn mạnh vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt là nền kinh tế của các nước châu
Âu nói chung và EU nói riêng Bên cạnh đó, khi khủng hoảng xảy ra cũng chính là thử thách đối với nền kinh tế các nước, nó là thách thức nhưng cũng là cơ hội nếu các nước biết cách tận dụng Tuy nhiên, dù sao đi nữa thì khủng hoảng vẫn tác động xấu đến nền kinh tế thế giới, vì vậy để hạn chế ảnh hưởng của nó, các nước trên thế giới, đặc biệt là
EU cần phải có những giải pháp hợp lý, kịp thời và hiệu quả.
2.5 Các giải pháp đối với khủng hoảng kinh tế Hy Lạp
2.5.1 Các gói cứu trợ của IMF và EU
Sau nhiều tháng tranh cãi, vào cuối tháng 3 các nước sử dụng chung đồng Euro đãđồng ý về một giải pháp an toàn cho Hy lạp Theo đó Hy Lạp sẽ nhận được các khoản vay
từ các quốc gia châu Âu và IMF Vào ngày 11/4/2010 các nhà lãnh đạo châu Âu thôngbáo hứa sẽ cho chính phủ Hy Lạp vay 30 tỉ USD, cùng với khoản vay 15 tỷ USD từ IMF,với mức lãi suất 5%- thấp hơn so với mức lãi suất 7,5% mà Hy Lạp đang phải trả trên thịtrường tài chính trong nước (trái phiếu chính phủ Hy Lạp)
Cũng trong tháng 4/2010, ông Papandreou đã chính thức thỉnh cầu gói cứu trợ trịgiá 60 tỷ USD nhằm cứu “con tàu kinh tế” đang chìm dần Giới đầu tư quốc tế tiếp tục hạthấp mức tín nhiệm của trái phiếu chính phủ Hy Lạp, điều này khiến Quỹ Tiền tệ Quốc tế(IMF) và các đối tác của Hi Lạp ở châu Âu buộc phải đứng ra cam kết một gói cứu trợ lớnhơn Theo kế hoạch này, công bố ngày 2/5 và được thông qua bởi quốc hội Hy Lạp ngày6/5, Hi Lạp sẽ nhận được khoản vay trị giá 110 tỉ euro (140 tỉ USD) trong vòng 3 năm tớinhằm tránh mất khả năng thanh toán Đổi lại, chính phủ Hy Lạp phải đáp ứng những camkết cắt giảm nợ trong vòng 3 năm tới Chính phủ Hy Lạp đã đồng ý thực hiện các biện