Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam đã có nhiều biến động lớn gắn với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, với những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và cả những cuộc nội chiến tranh giành quyền lực kéo dài, qua đó khắc họa nên diện mạo đất nước, cốt cách dân tộc. Ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với những điều kiện kinh tế xã hội đặc trưng có một thể chế chính trị và pháp luật tương ứng, phù hợp với nó. Việt Nam thời cổ trung đại là thời kì mà những nhà nước đầu tiên ra đời, cùng với đó là sự ra đời của các thể chế chính trị và pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn. Đặt trong bối cảnh đó thì đây cũng là thời kì mà phương thức sản xuất châu Á chiếm vị trí chủ đạo và chi phối. Có thể thấy suốt từ thời Văn lang cho đến đầu thế kỉ XV ở Việt Nam đã tồn tại phương thức sản xuất Châu Á với những biểu hiện cụ thể. Trong có có những biểu hiện trùng với những đặc trưng của phương thức sản xuất châu Á theo quan điểm của Mác và Ănghen như chế độ công xã nông thôn kéo dài, chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất mà đứng đầu là nhà vua và sự chiếm dụng của các công xã, sự bóc lột theo kiểu cống nạp, sự không tách rời nông nghiệp và thủ công nghiệp, thành thị chậm ra đời và khó phát triển, sản xuất hàng hóa chậm phát triển. Tuy nhiên ở Việt nam cũng có những đặc điểm riêng đó là nhà nước chưa thực sự chuyên chế một cách tuyệt đối với quyền lực tối cao nằm trong tay một cá nhân, có sự phân chia các đẳng cấp nhưng chưa thực sự khắc nghiệt của chế độ đẳng cấp.
Trang 1Mục lục
Trang 2A Dẫn nhập
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam đã có nhiều biến động lớn gắn với
sự nghiệp dựng nước và giữ nước, với những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và
cả những cuộc nội chiến tranh giành quyền lực kéo dài, qua đó khắc họa nên diện mạo đất nước, cốt cách dân tộc Ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với những điều kiện kinh tế - xã hội đặc trưng có một thể chế chính trị và pháp luật tương ứng, phù hợp với nó
Việt Nam thời cổ trung đại là thời kì mà những nhà nước đầu tiên ra đời, cùng với đó là sự ra đời của các thể chế chính trị và pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn Đặt trong bối cảnh đó thì đây cũng là thời kì mà phương thức sản xuất châu Á chiếm
vị trí chủ đạo và chi phối
Có thể thấy suốt từ thời Văn lang cho đến đầu thế kỉ XV ở Việt Nam đã tồn tại phương thức sản xuất Châu Á với những biểu hiện cụ thể Trong có có những biểu hiện trùng với những đặc trưng của phương thức sản xuất châu Á theo quan điểm của Mác và Ănghen như chế độ công xã nông thôn kéo dài, chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất mà đứng đầu là nhà vua và sự chiếm dụng của các công xã, sự bóc lột theokiểu cống nạp, sự không tách rời nông nghiệp và thủ công nghiệp, thành thị chậm ra đời và khó phát triển, sản xuất hàng hóa chậm phát triển Tuy nhiên ở Việt nam cũng
có những đặc điểm riêng đó là nhà nước chưa thực sự chuyên chế một cách tuyệt đốivới quyền lực tối cao nằm trong tay một cá nhân, có sự phân chia các đẳng cấp nhưng chưa thực sự khắc nghiệt của chế độ đẳng cấp
Như chúng ta đã biết thì cở sở kinh tế quyết định sự ra đời của các thể chế chính trị, các thiết chế chính trị sinh ra trên cơ sở các tiền đề kinh tế, và ngược lại các thiết chế xã hội quy định sự ổn định và phát triển của kinh tế
Trang 3Qua đó chúng ta có thể thấy được thể chế chính trị và pháp luật có những nét tương đồng và sự khác biệt với phương thức sản xuất Châu Á Để hiểu thêm về điều này thì chúng ta cùng tìm hiểu bài tiểu luận của nhóm chúng tôi với đề tài:” Đối chiếu thể chế chính trị và pháp luật Việt Nam thời cổ trung đại với phương thức sản xuất Châu Á”
Trang 4B Nội dung
I Phương thức sản xuất châu Á
Từ lâu vấn đề nghiên cứu phương thức sản xuất châu Á đã trở thành đề tàinghiên cứu và tranh luận trong giới nghiên cứu mác xít ở nhiều nước trên thế giới.Nhằm mục đích làm sáng tỏ học thuyết Marx - Lênin về sự phát triển của xã hội vậndụng học thuyết Marx - Lênin và việc giải quyết các vấn đề thời sự nóng bỏng đangđặt ra trong lịch sử nhân loại, đó là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước Á, Phi ,
Mĩ la tinh đã và đang thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa Đế quốc Vấn đềphương thức sản xuất châu Á ngày càng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứuMac xít ở nhiều nước, các nước XHCN, các bước phát triển phi tư bản của các nướcTBCN Các cuộc tranh luận về phương thức sản xuất châu Á ở Liên Xô vào nhữngnăm 1929-1931, 1964-1965, ở Pháp vào những năm 1962 đến năm 1963 những côngtrình nghiên cứu về vấn đề này học giả trên thế giới đã xuất hiện nhiều năm trướcđây đã chứng tỏ điều đó
1.1 Phương thức sản xuất châu Á.
Để tìm hiểu phương thức sản xuất châu Á là gì, chúng ta phải làm rõ khái niệmphương thức sản xuất là gì
1.1.1 Phương thức sản xuất: là một khái niệm trong học thuyết duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Marx Nó có nghĩa nôm na là “cách thức của sản xuất” Theo Marx,
nó là tổ hợp hữu cơ cụ thể của:
• Lực lượng sản xuất: bao gồm lực lượng lao động, công cụ và thiết bị lao động,nhà xưởng, công nghệ, nguyên vật liệu và đất đai được sử dụng
• Quan hệ sản xuất bao gồm các quan hệ sở hữu, các quan hệ kiểm soát và phânchia các tài sản đã được sản xuất trong xã hội, thông thường được đưa ra trong cáchình thức của luật, lệ và các quan hệ giữa các giai cấp xã hội
1.1.2 Ý nghĩa của khái niệm phương thức sản xuất
Trang 5Theo Marx, tổ hợp của lực lượng và quan hệ sản xuất có nghĩa là cách thức màcon người tác động tới thế giới vật chất và cách thức mà con người có quan hệ xãhội với nhau, được gắn kết cùng nhau theo những cách thức cần thiết và cụ thể nào
đó Con người cần phải tiêu dùng để tồn tại, nhưng để tiêu dùng thì con người phảisản xuất, và trong quá trình sản xuất họ cần thiết phải tham gia vào các quan hệ màchúng tồn tại độc lập với ý chí của họ
Đối với Marx, bí mật tổng thể của “tại sao, như thế nào” mà trật tự xã hội tồntại và các nguyên nhân của các thay đổi xã hội cần phải khám phá trong phươngthức sản xuất cụ thể mà xã hội đó có Ông còn chứng minh xa hơn rằng phương thứcsản xuất thể hiện sự tồn tại qua bản chất của phương thức phân phối, phương thứclưu thông và phương thức tiêu thụ, tất cả chúng cùng nhau tạo thành môi trườngkinh tế Để hiểu cách thức mà của cải được phân bổ và tiêu thụ, thì cần thiết phảihiểu các điều kiện mà nó đã được sản xuất ra
Phương thức sản xuất là “tổng thể hữu cơ”(hay tái sản xuất tổng thể), mà nó cókhả năng tái tạo liên tục các điều kiện ban đầu của chính nó, và vì thế nó tồn tại theonhững cách thức ổn định nhiều hay ít trong hàng thế kỷ hoặc thậm chí hàng thiênniên kỷ Bằng cách tạo ra lao động thặng dư xã hội trong một hệ thống cụ thể, cácgiai cấp lao động tái sản xuất liên tục những nền tảng của trật tự xã hội Khi các lựclượng sản xuất mới hay các quan hệ xã hội mới phát triển đến mức mâu thuẫn vớiphương thức sản xuất hiện hành, phương thức sản xuất này sẽ hoặc là tiến hóa màkhông làm mất đi cấu trúc cơ sở của nó, hoặc là bắt đầu bị phá vỡ Khi đó nó chuyểnsang thời kỳ chuyển tiếp của bất ổn và mâu thuẫn xã hội, cho đến khi trật tự xã hộimới được thiết lập với phương thức sản xuất mới
1.1.3 các phương thức sản xuất
Theo Marx, xã hội loài người trong các giai đoạn lịch sử và ở các khu vực khácnhau có thể trải qua 7 phương thức sản xuất khác nhau Cụ thể là:
Trang 6Phương thức sản xuất cộng sản nguyên thủy: Xã hội loài người được tổ chức
trong các cấu trúc bộ lạc truyền thống với ít hơn 50 người trên một đơn vị sản xuất,điển hình bởi việc chia sẻ sản xuất và tiêu thụ toàn bộ sản phẩm xã hội Do không cósản phẩm thặng dư nào được sản xuất, nên không có khả năng tồn tại các giai cấpthống trị Do phương thức sản xuất này không có sự phân chia giai cấp, nó được coi
là xã hội không giai cấp Các công cụ của thời kỳ đồ đá, các hoạt động săn bắn, háilượm và nông nghiệp thời kỳ đầu là các lực lượng sản xuất chính của phương thứcsản xuất này
Phương thức sản xuất châu Á: Đây là đóng góp gây tranh cãi của học thuyết
Marx, nguyên thủy được sử dụng để giải thích các công trình xây dựng bằng đào đắpđất lớn tiền slavơ và tiền phong kiến ở Trung Quốc, Ấn Độ, Ơ-phrát và lưu vực sôngNin (và nó được đặt tên trên cơ sở này của các chứng cứ nguyên thủy có được từchâu Á) Phương thức sản xuất châu Á được cho là hình thức sơ khai của xã hội cógiai cấp, trong đó một nhóm nhỏ thu được các sản phẩm thặng dư xã hội bằng bạolực nhắm vào các nhóm cộng đồng định cư hay không định cư trong lãnh thổ đó Sựbóc lột lao động là khai thác lao động cưỡng bức không trả công trong thời kỳ nhànrỗi mỗi năm (để xây dựng những công trình như kim tự tháp ở Ai Cập, đền thờ ởthung lũng Mesopotamia cổ đại và Ba Tư, nhà tắm công xã cổ ở Ấn Độ hay Vạn lýtrường thành ở Trung Quốc) Ngoài ra việc bóc lột lao động cũng là việc bòn rút sảnphẩm trực tiếp từ các cộng đồng bị bóc lột Dạng sở hữu chính của phương thức này
là chiếm hữu tôn giáo trực tiếp trong các cộng đồng (làng, xóm thôn, nhóm) đối vớitất cả những gì tồn tại trong chúng Tầng lớp cai trị của xã hội này nói chung là tầnglớp quý tộc bán thần quyền, tự cho mình là hiện thân của thần thánh trên trái đất.Các lực lượng sản xuất chính của xã hội này bao gồm các nông dân với các kỹ thuậtcanh tác nông nghiệp nền tảng, các công trình xây dựng lớn và các kho chứa khổng
lồ của các sản phẩm dành cho phúc lợi xã hội
Trang 7Phương thức sản xuất Slavơ: Nó tương tự như phương thức châu Á, nhưng
khác biệt ở dạng sở hữu là sự chiếm hữu cá nhân trực tiếp những gì thuộc về loàingười Ngoài ra, tầng lớp thống trị thông thường tránh nói rằng họ là hiện thân củathánh thần mà thích nói rằng họ là hậu duệ của thánh thần, hay tìm kiếm các lý lẽbào chữa khác để bảo vệ quyền cai trị của mình Các xã hội Hy Lạp và La Mã cổ đại
là các ví dụ điển hình của phương thức sản xuất này Các lực lượng sản xuất củaphương thức này bao gồm nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), sử dụng tích cựcgia súc trong nông nghiệp Phương thức sản xuất châu Á là một khái niệm khoa học
do Marx đề ra lần làm sức kéo, cũng như hệ thống thương mại bắt đầu phát triển.+ Phương thức sản xuất phong kiến
+ Phương thức sản xuất tư bản
+ Phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa
+ Phương thức sản xuất cộng sản
1.1.4 Khái niệm phương thức sản xuất châu Á và nội hàm của nó
1.1.4.1.Khái niệm về phương thức sản xuất châu Á.
Đầu tiên vào năm 1859, để biểu thị một số đặc thù của xã hội phương Đông cổxưa Marx đưa ra trong tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” xuấtbản năm 1859, trong đó Marx chủ yếu bàn về những nguyên lý của phép biện chứngduy vật và áp dụng nguyên lý đó vào trong nghiên cứu lịch sử Trong công trình này
có một mệnh đề Marx phát biểu rằng: “Về đại thể, có thể coi phương thức sản xuấtchâu Á cùng với cổ đại, phong kiến và tư bản hiện đại là những thời đại tiến triểndần dần của hình thái kinh tế xã hội”
Marx và Engel đã nghiên cứu lịch sử phương Đông thời kỳ tiền thực dân và đãphát hiện nhiều đặc điểm quan trọng của xã hội phương Đông như vai trò của thủylợi trong phát triển nông nghiệp và hình thành nhà nước về ruộng đất, đặc điểm củathành thị và mối quan hệ mật thiết không tách rời giữa thành thị với nông thôn, sự
Trang 8hình thành sớm nhà nước quân chủ tập quyền phát triển theo xu hướng chuyên chế,tình trạng trì trệ vào cuối thời trung đại.…
Từ việc phát hiện ra một số đặc điểm của phương thức sản xuất châu Á, Marx
đã chính thức đưa ra sử dụng khái niệm phương thức sản xuất châu Á thay cho kháiniệm “hình thái châu Á” mà Marx đã từng nhắc đến trước đó Tiếp đó, Marx tiếp tục
đi sâu nghiên cứu làm rõ thêm các đặc điểm đã phát hiện, trong quá trình nghiên cứu
đó Marx lại phát hiện thêm một số đặc điểm nữa của phương thức sản xuất châu Á.Còn về những đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất châu Á, Marx vàEngels không khái quát một cách rõ ràng như với hình thái cộng sản nguyên thủy,chiếm hữu phong kiến, phong kiến, tư bản chủ nghĩa…Đó là nguyên nhân đưa đếnnhiều cuộc tranh luận về phương thức sản xuất châu Á vào cuối những năm 60, 70của thế kỷ XX ở Pháp rồi lan ra nhiều nước ở châu Âu, châu Á, châu Phi, châuMỹ…(trừ Tây Âu)
Cuộc tranh luận cũng xoay quanh 3 vấn đề cơ bản sau :
+ Phương thức sản xuất châu Á có đúng là một hình thái kinh tế xã hội ngoàinăm hình thái kinh tế đã được xác định rõ là: cộng sản nguyên thủy, phong kiến, tưbản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa không?
+ Những đặc trưng của phương thức sản xuất châu Á là gì?
+ Phương thức sản xuất châu Á đã đóng vai trò như thế nào trong sự phát triểncủa lịch sử xã hội phương Đông?
Trong quá trình tranh luận tại hội thảo Lêningrat, người ta phải quyết định làphải chấm dứt cuộc thảo luận vì để nó tiếp tục diễn ra thì nó sẽ làm ảnh hưởng thậmchí làm rối loạn tình hình chính trị ở Liên Xô Từ đó hình thành lên hai nhóm ý kiếnkhác nhau:
+ Nhóm 1 cho rằng : phương thức sản xuất châu Á là những nét đặc thù củahình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ hay phong kiến phương Đông
Trang 9+ Nhóm 2 cho rằng : phương thức sản xuất châu Á là một hình thái kinh tế xãhội phân hóa giai cấp và nhà nước sơ kỳ ở phương Đông, không thuộc phạm trù chế
độ chiếm hữu nô lệ hay phong kiến
Như vậy, sau cuộc tranh luận lần thứ nhất trên thế giới, cả phương Đông vàphương Tây điều diễn ra cuộc tranh luận gay gắt về phương thức sản xuất châu Á,cuộc tranh luận đó của giới sử học Mác xít và tiến bộ trên thế giới đến nay vẫn chưangã ngũ
1.1.4.2 Nội hàm của phương thức sản xuất châu Á
Trước khi đi vào tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuấtchâu Á ở Việt Nam, ta cần phải thấy được đặc trưng của phương thức sản xuất châu
Á nói chung mà Mác cho rằng đó là một hình thái đặc biệt của xã hội phương Đông
Từ đó đối chiếu vào lịch sử Việt Nam để tìm ra những đặc trưng riêng
Qua nhiều công trình nghiên cứu của mình như : Hệ tư tưởng Đức (1845 1846), sự khốn cùng của triết học, sự thống trị của Anh ở Ấn Độ (1853), những kếtquả tương lai của sự thống trị của Anh ở Ấn Độ (1853), những hình thức có trướcnền sản xuất tư bản chủ nghĩa (1857 - 1858), đến tác phẩm Góp phần phê phán khoakinh tế chính trị (1859)…và một số công trình khác về phương thức sản xuất châu
-Á Và từ những luận điểm cơ bản đó, Marx đi tới khẳng định : “Về đại thể, có thểcoi các phương thức sản xuất châu Á, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là nhữngthời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế xã hội”
Như vậy cho tới đây, phương thức sản xuất châu Á đã được Marx khẳng định từnhững nét đặc thù của nó mà Marx đã phát hiện ra Đó là:
+ Chế độ công xã nông thôn với tất cả sự trì trệ và bảo thủ của nó
+ Nhà nước chuyên chế phương Đông
+ Chế độ sở hữu tập thể ruộng đất mà đứng đầu là nhà vua và chiếm dụng củacác công xã
+ Sự bóc lột theo kiểu nộp cống
Trang 10+ Sự không tách rời thủ công nghiệp cới nông nghiệp Thành thị chậm ra đời vàkhó phát triển.
+ Sự tồn tại một cách kiên trì nhất và lâu dài nhất của “hình thái châu Á”.Sau khi đưa ra khái niệm phương thức sản xuất châu Á, Marx lại phát triển thêm lýluận về vấn đề này, nhất là ở tập I bộ Tư bản (xuất bản năm 1867 và tái bản ngay balần: 1872, 1883, 1890) nhằm nêu thêm những nét đặc thù của công xã châu Á trongphương thức sản xuất châu Á như sau :
+ Trong phương thức sản xuất châu Á, sản xuất hàng hóa chậm phát triển + Trong phương thức sản xuất châu Á, tô và thuế kết hợp làm một
+ Với phương thức sản xuất châu Á, nhân tố về sức mạnh của hiệp tác giản đơncủa những người lao động dưới sự chỉ huy của nhà nước chuyên chế phương Đông
đã tạo nên những công trình xa hoa hay có ích
+ Tính độc chuyên của phường hội và sự hình thành các đẳng cấp xã hội cũngđược Marx – Engel coi như coi nhẹ một trong những nét đặc thù của phương thứcsản xuất châu Á
+ Sự duy trì các tôn giáo cổ đại, sự thần thánh hóa thiên nhiên, củng được coinhư một đặc trưng của phương thức sản xuất châu Á về mặt văn hóa xã hội
+ Tính trì trệ và tồn tại dai dẳng của phương thức sản xuất châu Á trong các xãhội phương Đông
Đó là những nét đặc thù của phương thức sản xuất châu Á mà Mác đã phát hiện
ra Như vậy là nội hàm của phương thức sản xuất châu Á đã được phát triển vớinhững nét riêng biệt của nó
Engel tuy đồng ý với Marx về nội dung của phương thức sản xuất châu Á,nhưng không sử dụng khái niệm này Trong tác phẩm chống Đuyrinh, Engel đã pháttriển tư tưởng phương thức sản xuất châu Á của Marx, nhấn mạnh đến tính chất bìnhquân công xã, bình đẳng giữa các thành viên công xã, các công xã nguyên thủy – cơ
sở của Nhà nước thô sơ nhất – Nhà nước chuyên chế phương Đông, chế độ sở hữu
Trang 11công cộng về ruộng đất, chế độ nô lệ gia đình…nhằm làm rõ thêm những nét đặc thùcủa phương thức sản xuất châu Á.
Sau này Lê nin đã tiếp tục nghiên cứu và phát triển tư tưởng phương thức sảnxuất châu Á của Marx, Lênin không đi sâu phân tích về nội dung của phương thứcsản xuất châu Á, sự ra đời và tồn tại của nó, mà chỉ vận dụng tư tưởng lý luận nàycủa Marx – Engel vào việc nhận thức xã hội Nga để tiến hành cách mạng
Nhìn chung, tư tưởng của hai ông về phương thức sản xuất châu Á đã ra đờimặt dù còn nhiều chỗ chưa rõ Nhưng đã cho thấy đó là một quá trình tư duy khoahọc, sâu sắc, thận trọng, nghiêm túc, luôn có sự hoàn thiện, phát triển, bổ sung
2.1 Phương thức sản xuất châu Á theo quan điểm của các nhà Mácxít 2.1.1 Quan niệm của Marx về phương thức sản xuất châu Á
Để đưa ra được khái niệm về phương thức sản xuất châu Á, Marx đã phải trảiqua một quá trình nghiên cứu lâu dài Quan điểm của Mác về hình thái kinh tế nàycũng được thể hiện qua nhiều công trình mà Ông nghiên cứu và viết ra
Từ công trình “Hệ tư tưởng Đức (1845 - 1846), Mác đã phát hiện ra rằng “Sựphân công lao động cũng đồng thời là những hình thức khác nhau của sở hữu ” Từđây Mác đã tìm thấy 3 hình thức sở hữu đầu tiên :
+ Sở hữu bộ lạc
+ Sở hữu công xã và sở hữu Nhà nước
+ Sở hữu phong kiến (hay sở hữu đẳng cấp)
Các hình thức sở hữu đó đều gắn liền với sự xuất hiện của nhà nước
Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”, Mác đã phát hiện ra mối quan hệgiữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một phương thức sản xuất
Mác chỉ rõ : “những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượngsản xuất Do có những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi những phươngthức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống củamình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình”
Trang 12Từ cơ sở lý luận trên, Mác đã đi đến khẳng định sự ra đời và kế tiếp lẫn nhaugiữa các hình thái kinh tế xã hội từ Công xã nguyên thuỷ -> Chiếm hữu nô lệ ->Phong kiến -> Tư bản chủ nghĩa.
Mặc dù đã đưa ra được mô hình của các hình thái kinh tế lần lược ra đời và tồntại trong lịch sử loài người Nhưng cả Mác và sau đó là Enghen khi nghiên cứu vềphương Đông thì lại không sắp xếp được mô hình kinh tế - xã hội ở đây vào loạihình thái kinh tế nào của Ông Bởi vì các xã hội đó có những nét đặc thù riêng
Đến công trình về “Sự thống trị của Anh ở Ấn Độ (1853)”, Mác và Enghen đãphát hiện ra những nét đặc thù của xã hội phương Đông là “Nhà nước chuyên chếphương Đông – chuyên chế châu Á” và “chế độ công xã nông thôn”
Tiếp đến, trong thư gửi cho Enghen, tháng 6-1853, Mác khẳng định : “Nhà vua
là kẻ sở hữu duy nhất tất cả mọi đất đai trong quốc gia”, và “Tình hình không có chế
độ tư hữu về ruộng đất Đó là chiếc chìa khoá thực sự ngay cả cho thiên giới phươngĐông” Quan điểm trên của Mác tiếp tục được ông nhắc đến ở các công trình sau đónhư trong tác phẩm : Những kết quả tương lai của sự thống trị của Anh ở Ấn Độ (7-1853); Những hình thức có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa (viết từ tháng 3-1857 –tháng 3 - 1858)…
Trong tác phẩm “Những hình thức có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa (xuất bản1976)”, Mác có viết : “Lịch sử châu Á – đó là một thể thống nhất không phân biệtgiữa thành thị và nông thôn”
Như vậy, đến công trình “Những hình thức có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa(viết từ tháng 3-1857 – tháng 3 – 1858), tư tưởng của Mác đã chín muồi cho sự rađời của khái niệm phương thức sản xuất châu Á
Và đến tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị (1859)”, Mác đãchính thức đưa ra khái niệm phương thức sản xuất châu Á
2.1.2 Quan điểm của Lênin về Phương thức Sản xuất châu Á.
Trang 13Sự chuyển biến liên tục về kinh tế - xã hội nằm trong quy luật vận động và pháttriển của lịch sử xã hội loài người Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”,Các Mác đã phát hiện ra mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuấttrong một phương thức sản xuất rồi chỉ rõ: Những quan hệ xã hội đều gắn liền mậtthiết với những quan hệ sản xuất Do có lực lượng sản xuất mới liên tục ra đời, nênloài người đã thay đổi phương thức sản xuất, thay đổi cách kiếm sống và thay đổiluôn cả những quan hệ xã hội, tạo động lực cho sự thay đổi, phát triển của nền kinh
tế - xã hội Vì vậy, các hình thái kinh tế - xã hội ra đời rồi lần lượt thay thế nhau từCộng sản nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa, Chủ nghĩa
xã hội và chính đó cũng là kết quả của quá trình chuyển biến, phát triển của nền kinh
tế - xã hội
Mác và Anghen lại thấy, ở phương Đông, xã hội có những nét đặc thù riêng biệt
mà không thể lấy các hình thái kinh tế - xã hội kể trên để giải thích Mãi đến năm
1859, trong tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” của Mác nghiêncứu về phương Đông, khái niệm “Phương thức sản xuất châu Á” chính thức ra đời.Cũng từ đó bắt đầu nảy sinh nhiều bất đồng giữa các nhà nghiên cứu kể cả phươngĐông lẫn phương Tây khi đề cập đến khái niệm “Phương thức sản xuất châu Á”Lênin là một nhà Mácxít chính thống, hậu duệ trung thành của Marx và Engels
về khái luận Phương thức Sản xuất châu Á Mặc dù trong tác phẩm: Nguồn gốc giađình, tài sản tư hữu và nhà nước, Engels đã đoạn tuyệt với khái luận Phương thứcSản xuất châu Á, không làm cho Lênin - vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 – “xalánh” khái luận Phương thức Sản xuất châu Á của hai bậc thầy Lênin đã mặc nhiêncông nhận và tiếp thu khái niệm “Hệ thống châu Á” trong đúng hai thập niên từ
1894 tới 1914
Sau khi tham gia vào phong trào Dân chủ Xã hội năm 1893, với một thời giantương đối ngắn, Lênin đã nghiên cứu lý thuyết của Marx và Engels, và đã chấp nhậnPhương thức Sản xuất châu Á là một trong bốn hình thái kinh tế xã hội đối kháng
Trang 14Trong tiểu luận: Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản tại Nga, công bố năm 1899,Lênin cũng đã đề cập tới khái niệm “Hệ thống châu Á” khi nhận xét các quan hệkinh tế xã hội Nga thời đó Năm 1900, ông mô tả chính phủ của Trung Hoa cổtruyền là chính phủ mang tính châu Á Hai năm sau ông khẳng định tính chất thâmđộc của sự đàn áp châu Á Trong những năm 1906-1907 ông đã tranh luận gay gắtvới Plechanow, một nhà Mácxít Nga đại diện cho nhóm thiểu số (Menschewiki) vàlập luận rất vững chắc về “Hệ thống châu Á” và đặc tính “bán châu Á” của xã hộiNga Năm 1911, ông lại nhấn mạnh đăc thù của “Hệ thống Đông phương”, “Hệthống châu Á” và sự “ trễ nải của Đông phương” Cùng năm đó, khi xảy ra Cáchmạng Tân Hợi, ông lại đề cập tới “đặc thù châu Á” của Trung Hoa cổ truyền và còngọi nguyên thủ của Trung Hoa thời ấy là “Tổng thống Á châu” Trong một cuộctranh luận với Rosa Luxemburg năm 1914, ông đã thống nhất về chủ nghĩa chuyênchế châu Á là một hiện tượng bao hàm mọi khía cạnh kinh tế, chính trị, văn hoá lịch
sử và cả xã hội nữa, và ông còn triển khai thêm rằng một trật tự nhà nước như thế sẽrất bền vững ở trường hợp hình thái kinh tế của những quốc gia mang đậm nét phụ
hệ, tiền tư bản và nền kinh tế hàng hoá, cũng như sự phân hoá giai cấp phát triểnkhông đáng kể
2.1.3 Các quan điểm về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam
Từ lâu vấn đề phương thức sản xuất châu Á đã trở thành đề tài nghiên cứu vàtranh luận của giới nghiên cứu Mác xít ở nhiều nước trên thế giới Nhằm mục đíchlàm sáng tỏ chủ nghĩa Mác – Lê nin về sự phát triển của xã hội, lý giải hàng loạt cácvấn đề đang được đặt ra trong lịch sử nhân loại, đó là con đường phát triển và xâydựng xã hội của các nước Á, Phi, Mỹ la tinh đã và đang thoát ra khỏi ách thống trịcủa đế quốc chủ nghĩa, vấn đề phương thức sản xuất châu Á ngày càng thu hút sựquan tâm của giới nghiên cứu Mác xít ở nhiều nước, các nước xã hội chủ nghĩa, cácnước phát triển phi tư bản và cả các nước tư bản chủ nghĩa
Trang 15Hàng loạt các cuộc thảo luận về phương thức sản xuất châu Á ở Liên xô (1929 1921), (1964-1965), ở Pháp (1962-1963) và nhiều công trình nghiên cứu khác củacác học giả trên thế giới đã chứng minh điều đó.
-Tuy nhiên, cho tới nay, các cuộc thảo luận về phương thức sản xuất châu Á vẫnchưa kết thúc, các ý kiến về phương thức sản xuất châu Á vẫn còn phân tán
Ở Việt Nam, hàng chục công trình nghiên cứu về phương thức sản xuất châu Ácũng đã được công bố và in trên các tạp chí khoa học, đặc biệt là trên các số thôngtin khoa học lịch sử về phương thức sản xuất châu Á và Tạp chí nghiên cứu lịch sử
và nhiều công trình nghiên cứu của nhiều học giả hàng đầu như : Nguyễn HồngPhong, Nguyễn Lương Bích, Lê Kim Ngân, Trần Quốc Vượng, Văn Tạo, Phan HuyLê…Có người thì cho rằng xã hội cổ đại Việt Nam đã tiến thẳng từ cộng sảnNguyên thủy sang chế độ phong kiến, không qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ Cũng cómột số người thì cho rằng xã hội cổ đại Việt Nam là xã hội chiếm hữu nô lệ…
Vậy, vấn đề đặc ra là trong lịch sử Việt Nam có tồn tại phương thức sản xuấtchâu Á hay không? Nếu có thì nó bắt đầu từ khi nào? Và mốc kết thúc của nó là lúcnào? Đặc trưng cụ thể của phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam là gì? Đó lànhững vấn đề mà đòi hỏi giới nghiên cứu cần phải làm rõ
Ở Việt Nam, sau khi miền Bắc được giải phóng hòan tòan (năm 1954), đất nước
ta đối mặt với không ít những khó khăn về kinh tế, chính trị, xã hội…trong khi đóvấn đề nông dân và nông thôn trở thành vấn đề nổi trội Cho nên, tìm hiểu làng xã –nông thôn Việt Nam hiện nay cái gì là do lịch sử xa xưa để lại kể cả mặt tích cực vàtiêu cực, đều là bổ ích cho việc cải tạo và xây dựng chủ nghãi xã hội
Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội cho phù hợp với đặcđiểm của nước ta thì việc nghiên cứu về phương thức sản xuất châu Á nói chung vàphương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam nói riêng là rất quan trọng Để từ đó chúng
ta có thể tìm ra được những di sản tích cực và tiêu cực của phương thức sản xuấtchâu Á và đề ra những biện pháp khắc phục hiệu quả
Trang 16Nghiên cứu về phương thức sản châu Á, đó là nhiệm vụ đặt ra để nhận thức lịch
sử, phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước còn mang nhiều tàn
dư của xã hội phương đông cổ đại Để từ đó có được đánh giá một cách khoa học và
có thái độ, biện pháp xử lý đúng mức Không nhưng thế, nhiệm vụ đó còn góp phầnlàm phong phú học thuyết Mác – Lênin về con đường phát triển xã hội từ vị trí mộtnước phương Đông của mình
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, vào những năm 1959 – 1960 nhiều cuộc hộithảo khoa học được mở ra và gây nhiều tranh cải sôi nổi Bên cạnh cuộc thảo luận vềvấn đề có hay không có chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam, còn xuất hiện côngtrình nghiên cứu về xã thôn Việt Nam và tiếp theo là hàng loạt luận văn, công trìnhmang tính chất thông tin, hoặc trực tiếp đề cập đến vấn đề phương thức sản xuấtchâu Á, về công xã nông thôn, đặc biệt từ năm 1968 trở đi, vấn đề này được đề cậprộng rãi và có hệ thống
Trong các cuộc thảo luận cũng như trong các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
từ những năm 60 tới nay, vấn đề mà được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều nhất
là có hay không có phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam?
Nếu có thì thời điểm bắt đầu và kết thúc của nó là khi nào? Từ những hoạtđộng khoa học trên, ta thấy ở Việt Nam xuất hiện nhiều tác giả đề cập đến vấn đềphương thức sản xuất châu Á và và đã đưa ra được những luận điểm cụ thể NgoàiNguyễn Hồng Phong và Nguyễn Lương Bích từng xuất hiện từ thời kỳ trước ta thấycòn có Phan Huy Lê với các tác phẩm “Xã hội thời Hùng Vương”; Lê Kim Ngân vớibài “Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý Trần”; Đặng Phong với bài “Ruộng côngthời phong kiến ở Việt Nam và vấn đề phương thức sản xuất châu Á” Vũ Huy Phúcvới tác phẩm “Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX” Trần QuốcVượng với tác phẩm “Thế kỷ X - Việt Nam – Văn hoá”….Bên cạnh những hoạtđộng nghiên cứu ở trong nước, thì ở nước ngoài như : ở Pháp tác giả Lê Thành Khôi
Trang 17cũng tham gia nghiên cứu với tác phẩm “Góp phần nghiên cứu phương thức sản xuấtchâu Á : Nước Việt Nam cổ đại”….
Qua những tìm hiểu của bản thân tôi về phương thức sản xuất châu Á ở ViệtNam, tôi nêu lên những bước phát triển và kết quả thu được trong quá trình nghiêncứu về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam một cách khái quát
Từ sau năm 1959, hàng loạt các vấn đề về lịch sử Việt Nam đã được nghiêncứu, trong đó vấn đề lịch sử cổ đại và truyền thống dân tộc được đề cập đến mộtcách khá tích cực Trong giới nghiên cứu bấy giờ, một trong những người đầu tiênbàn về vấn đề này là Nguyễn Hồng Phong Dưới góc độ dân tộc học, Nguyễn HồngPhong đã viết tác phẩm “xã thôn Việt Nam” (1959) Với tác phẩm này, mặc dùkhông nhắc đến phương thức sản xuất châu Á nhưng tác giả đã đề cập đến nội dung
cơ bản của phương thức sản xuất châu Á là “chú trọng nghiên cứu về những dấu vếtcủa tổ chức xã hội nguyên thuỷ - công xã thị tộc và công xã nông thôn còn tồn tạitrong xã thôn Việt Nam trong cơ sở kinh tế cũng như trong tổ chức xã hội và ý thức
tư tưởng” Và khẳng định rằng : “đặc điểm của xã hội phương Đông cổ đại là sự tồntại rất lâu của công xã nông thôn…” Còn ở Việt Nam, Ông cũng khẳng định rõ :
“tới thời Pháp thuộc, trước cách mạng Tháng 8 Trong xã thôn ở Việt Nam vẫn còntồn tại rất nhiều di tích của xã hội nguyên thủy, cụ thể là những di tích của công xãthị tộc và công xã nông thôn, nhất là công xã nông thôn”
Qua tác phẩm Xã thôn Việt Nam, ta thấy từ năm 1959 đặc điểm của xã hộiphương Đông cổ đại nói chung, của Việt Nam nói riêng, được nhìn nhận dưới ánhsáng của lý thuyết phương thức sản xuất châu Á và được đề cập một cách cơ bản.Với sự khẳng định phương thức sản xuất châu Á đã từng tồn tại trong lịch sử xãhội Việt Nam, Nguyễn Hồng Phong đã nêu lên được những vấn đề cơ bản mang tínhchất khởi đầu cho việc thảo luận về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam
Sau khi tác phẩm Xã thôn Việt Nam ra đời một năm, ở Việt Nam một cuộc thảoluận về chế độ chiếm hữu nô lệ được mở ra Trong cuộc thảo luận này, vấn đề có
Trang 18hay không có chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam tiếp tục được thảo luận Nhữngnhà nghiên cứu đã cố gắn vận dụng học thuyết Mácxít về 5 hình thái kinh tế xã hội
để lý giải vấn đề này, để làm sáng tỏ đặc điểm của xã hội Việt Nam Cổ đại Mặc dùphương thức sản xuất châu Á không được trực tiếp đề cập đến, nhưng qua kết quảthảo luận ngiều người đã sớm phát hiện ra rằng ở phương Đông Cổ đại, cụ thể làtrong lịch sử Việt Nam Cổ đại quá trình phát triển xã hội có nhiều nét đặc thù mà sơ
đồ 5 hình thái kinh tế không bao quát nổi
Đến đây, sự lúng túng, bế tắc của việc áp dụng lý thuyết sơ đồ 5 hình thái kinh
tế vào lý giải lịch sử xã hội Việt Nam Cổ đại đã thôi thúc giới nghiên cứu đi sâu hơnnữa để tìm ra một chìa khoá để giải đáp về xã hội Việt Nam cổ đại
Trên cơ sở kế thừa những vấn đề cơ bản về phương thức sản xuất châu Á màNguyễn Hồng Phong đã nêu lên, Nguyễn Lương Bích là người đã mở đầu cho việcthảo luận về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam Với tác phẩm “phương thứcsản xuất châu Á là gì?” đăng liên tiếp trong 2 số Nghiên cứu lịch sử vào năm 1963.Trong tác phẩm này, tác giả đã giành nhiều cho việc giới thiệu, thuyết minh vềphương thức sản xuất châu Á Mặc khác, ông còn nêu lên tầm quan trọng của việcnghiên cứu phương thức sản xuất châu Á là : “giải quyết được vấn đề phương thứcsản xuất châu Á, tức là thuyết minh được một quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác
về lịch sử châu Á, đồng thời giải quyết được một phần những khó khăn, mắc míutrong vấn đề phân kỳ lịch sử Việt Nam” Nguyễn Lương Bích cho rằng phương thứcsản xuất châu Á “là chế độ công xã nông thôn ở châu Á mà Mác đã nhấn mạnh làmột chế độ đặt biệt ở châu Á” Cuối cùng, Ông khẳng định : “căn cứ vào sự thật lịch
sử, chúng ta có thể thừa nhận : ở Việt Nam đã có phương thức sản xuất châu Á vàphương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam đã tồn tại cho đến trước khi Pháp xâmlược…”
Tuy những kiến giải của Nguyễn Lương Bích về phương thức sản xuất châu Áchưa phải đã được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát lịch sử cụ thể của xã hội
Trang 19Việt Nam cổ đại nhưng đã đánh dấu một mốc quan trọng đó là lần đầu tiên phươngthức sản xuất châu Á được đề cập đến một cách trực diện Và đây cũng là điều đượcgiới nghiên cứu trong và ngoài nước chú ý quan tâm.
Sau công trình nghiên cứu của Nguyễn Lương Bích cũng đã có hàng loạt cáccuộc thảo luận về phương thức sản xuất châu Á diễn ra ở Hà Nội vào năm 1964,1965,…Nhưng nhìn chung, cuộc thảo luận cũng chỉ dừng lại ở những kết luận mangtính chất thông tin, thảo luận chung về phương thức sản xuất châu Á
Như vậy, trong những năm 59, 60 ở Việt Nam công tác nghiên cứu về phươngthức sản xuất châu Á đã đạt được một số thành tựu cơ bản sau :
+ Bước đầu hình thành nên các thông tin về phương thức sản xuất châu Á.+ Khẳng định khái niệm phương thức sản xuất châu Á và xác định nhiệm vụ cầnphải nghiên cứu khái niệm đó nhằm làm sáng tỏ học thuyết Mác Lênin, góp phầnvào việc nhận thức lịch sử Việt Nam Cổ Trung đại, phục vụ sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội
+ Khẳng định sự tồn tại của công xã nông thôn và chế độ ruộng công chia định
kỳ là đặc điểm của xã hội phương Đông Cổ đại và cũng là đặc điểm của xã hội ViệtNam Đặc điểm này còn tồn tại cho đến trước cách mạng tháng Tám ở Việt Nam.Trong tập thông tin khoa học lịch sử năm 1968 – 1970, một số nhà sử học nhưTrương Hữu Quýnh, Hòang Hưng, Nguyệt Linh, Ngô Văn Hòai…Qua quá trìnhnghiên cứu về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam cũng khẳng định rằng ởViệt Nam có tồn tại hình thái phương thức sản xuất châu Á
Nhìn chung, qua các hội nghị khoa học, các công trình của nhiều nhà nghiêncứu ở Việt Nam, những vấn đề đặc điểm của lịch sử Việt Nam, quá trình phát triểncủa xã hội Việt Nam, một phần đã được nhìn nhận, soi rọi dưới sánh sáng của lýthuyết phương thức sản xuất châu Á
Khi bàn về vấn đề phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam đa số các nhànghiên cứu đều khẳng định có sự tồn tại phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam từ
Trang 20rất sớm Tuy nhiên, xét riêng về móc chấm dứt của phương thức sản xuất châu Á ởViệt Nam lại chưa có sự thống nhất, thậm chí còn gây ra nhiều tranh cải trong giới
sử học
Khi bàn về mốc chấm dứt của phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam , trongtham luận “Sự phát triển của xã hội Việt Nam các thế kỷ X – XV (vài nét đặc thùhình thái xã hội)” Nguyễn Hồng Phong đã viết : “Tác giả luận văn này và một số tácgiả khác trong viện sử học khẳng định rằng cho đến thế kỷ XV, xã hội Việt Namthuộc phạm trù hình thái xã hội châu Á”
Cũng là một trong những người quan tâm nghiên cứu về phương thức sản xuấtchâu Á ở Việt Nam, và cũng là người có cùng quan điểm với Lê Hồng Phong về vấn
đề phương thức sản xuất châu Á Lê Kim Ngân, vào các năm 1974 – 1975, là mộttrong những người tham gia nghiên cứu đề tài “Nông thôn Việt Nam” và qua nhiềucông trình nghiên cứu khác Cho đến năm 1976, trong hội nghị khoa học về xã hộiViệt Nam thời Lý Trần, Lê Kim Ngân mới trình bày cụ thể quan điểm của mình vềphương thức sản xuất châu Á Lê Kim Ngân cho rằng nền kinh tế công xã ở thê kỷ X– XI nằm trong phạm trù phương thức sản xuất châu Á Xã hội đó gồm hai giai cấp
cơ bản : giai cấp nông dân công xã là giai cấp bị bốc lột và giai cấp quý tộc là giaic
ấp hưởng sản phẩm thặng dư của công xã Tác giả đi đến kết luận : “kết cấu kinh tếcủa xã hội Việt Nam ở thế kỹ X-XII là kết cấu kinh tế Á Châu tiền phong kiến”.Mặc khác, tác giả còn cho rằng xã hội Việt Nam chuyển sang giai đọan Á Châuphong kiến hóa mạnh mẽ vào thế kỷ XIV Mặc dù quan điểm này của Lê Kim Ngânmang tính chất tiến bộ Nhưng vẫn gây ra nhiều tranh cải của nhiều khuynh hướngkhác nhau
Cũng bàn về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam, từ những năm đầu 70,trong tác phẩm nghiên cứu về “ Xã hội thời Hùng Vương”, sau khi phân tích tìnhhình của sản xuất, quá trình phân hoá xã hội, Phan Huy Lê đã nhận xét : thời HùngVương là “một xã hội có giai cấp sơ kỳ với những nét đặc trưng của hình thái Á
Trang 21Châu” Ngoài ra ông còn khẳng định : Việt Nam từ chế độ công xã nguyên thủybước vào thời kỳ phương thức sản xuất châu Á tiến thẳng lên chế độ phong kiến chứkhông qua giai đọan chiếm hữu nô lệ Quan điểm này của Phan Huy Lê tiếp tụcđược ông bảo vệ trong các công trình nghiên cứu sau đó như : “Về bản chất của nềnvăn hoá truyền thống Việt Nam” được in trong tạp chí Cộng sản số 11- 1979; trongTham luận tại hội nghị sử học quốc tế năm 1980…
Mặc dù tác giả chưa đưa ra được một mốc thời gian cụ thể nhưng tác giả đã chorằng sau chế độ công xã nguyên thuỷ Việt Nam bước vào xã hội có giai cấp sơ kỳmang đặc trưng “hình thái Á châu” hay phương thức sản xuất châu Á
Nghiên cứu lịch sử Việt Nam Cổ đại từ gốc độ văn hóa – văn minh Trong tácphẩm “Về truyền thống dân tộc” Trần Quốc Vượng đã đề cập đến “một hậu quả củaphương thức sản xuất châu Á ngự trị quá lâu trong xã hội Việt Nam” Tác giả chorằng, xã hội Việt Nam từ thế kỷ XIX trở về trước là “một xã hội tiểu nông truyềnthống nằm trong khung cảnh của một phương thức sản xuất châu Á” Những luậnđiểm này được tác giả tiếp tục bảo vệ trong các bài viết sau đó như : Tham luận “thế
kỷ X - Việt Nam – Văn hoá (1981)…
Khi nghiên cứu về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam, Văn Tạo khẳngđịnh rằng : “Trong lịch sử xã hội Việt Nam có phương thức sản xuất châu Á tồn tạicho đến thế kỷ XII Thế kỷ này coi như là sự giao thời giữa phương thức sản xuấtchâu Á chuyển sang xã hội phong kiến Mãi cho đến thế kỷ XIII, khi nhà nướcchính thức ban bố chính sách cho các làng xã bán công điền (1254) thì sự chuyểngaio giai đọan mới chính thức được thực hiện”
Như vậy, khi bàn về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam thì có rất nhiềuquan điểm khẳng định rằng có sự tồn tại phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam
và nó như là một phương thức sản xuất riêng biệt
Tuy nhiên, không phải ai cũng tán thành quan điểm đó Một số nhà nghiên cứukhông thừa nhận phương thức sản xuất châu Á như là một phương thức sản xuất
Trang 22riêng biệt ở Việt Nam Tiêu biểu ở đây là Đặng Phong Qua tác phẩm “Ruộng côngthời phong kiến việt Nam và vấn đề phương thức sản xuất châu Á” được in liên tiếphai số trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 5 và số 6 năm 1976 Đặng phong đã nghiêncứu ruộng công của làng xã Việt Nam từ nguồn gốc và sự chuyển biến của nó, tínhchất và chế độ khai thác đến quyền sở hữu và quan hệ sở hữu, quan hệ sản xuất.Trên cơ sử phân tích địa tô và quyền sở hữu đó, Đặng Phong đi tới kết luận về mộtchế độ đồng sở hữu lưỡng tính trên ruộng công thời phong kiến : Nhà nước phongkiến và nông dân làng xã là hai chủ thể khác nhau về bản chất, đối lập nhau, cùng cóquyền sở hữu trên ruộng công Từ việc phân tích về chế độ sở hữu trên ruộng công
và thừa nhận đặc điểm cơ bản của phương thức sản xuất châu Á là sự tồn tại phổbiến của ruộng công, Đặng Phong cho rằng : “Trong chế độ đồng sở hữu lưỡng tínhtrên ruộng công, bao giờ ta cũng thấy xã hội được cấu trúc bằng cách kết hợp hìnhthức công xã cổ xưa với một hình thức nào đấy của chế độ bốc lột, chế độ nô lệ, chế
độ nông nô, chế độ địa chủ tá điền, hoặc là pha tạp của nhiều chế độ đó” Đặngphong đi đến một kết luận : “cái gọi là phương thức sản xuất châu Á cũng vậy, nóvừa có tính chất riệng biệt, vừa không có tính riêng biệt”
Từ khía cạnh kinh tế học, theo quan điểm của Đặng Phong : “Phương thức sảnxuất châu Á chỉ là một dạng hoặc là một đặc điểm của chế độ phong kiến Việt Nam,không phải là một phương thức sản xuất độc lập, riêng biệt”
Cùng quan điểm với Đặng Phong, Lê Thành Khôi một học giả người Việt ởPháp cũng đã phủ định sự tồn tại của phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam Vớitác phẩm “Góp phần nghiên cứu phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam Cổ đại”
Lê Thành Khôi muốn góp phần đi sâu thảo luận vấn đề phương thức sản xuất châu Á
ở Việt Nam Lê Thành khôi cho rằng ở Việt Nam Cổ đại không có những nét cổ điểncủa chế độ “phong kiến” Theo Lê Thành Khôi : “Nước Việt Nam cổ đại không thểgọi là phong kiến vì không có chư hầu và lãnh chúa, không có tổ chức xã hội vàchính trị dựa trên một hệ thống những phụ thuộc cá nhân, không có phân chia quyền
Trang 23lực giữa đông đảo bọn phong kiến” Lê Thành Khôi còn nhấn mạnh Nước Việt Nam
cổ đại cũng “còn xa mới xác nhận sự ứng dụng khái niệm phương thức sản xuấtchâu Á, nó còn phản bác lại một số quan điểm thường được gán ghép cho nó, đặtbiệt là sự vắng mặt của tư hữu ruộng đất và cũng còn vắng mặt các giai đọan xãhội” Từ sự bác bỏ phương thức sản xuất châu Á, Lê Thành Khôi đi đến kết luận :
“theo ý chúng tôi, tốt hơn là nên bỏ nó đi và xây dựng một khái niệm mới theo mức
độ cho phép của việc đi sâu phân tích các xã hội ngoài châu Âu” Lê Thành Khôi đãphủ định hoàn toàn khái niệm về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam
Như vậy, vấn đề phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam đã được nghiên cứu
và cũng đã gây ra không ít cuộc tranh cải khá gây gắt Qua quá trình nghiên cứu đócủa nhiều học giả Việt Nam từ những năm 1968 đến nay ta thấy nổi lên 3 quan điểm
+ Phủ định khái niệm phương thức sản xuất châu Á và cho rằng lịch sử ViệtNam cổ đại không dung nạp được khái niệm này
Đa số các nhà nghiên cứu cũng thừa nhận mốc khởi đầu của phương thức sảnxuất châu Á ở Việt Nam là bắt đầu từ khi giải thể của chế độ Công xã nguyên thủy.Còn về mốc kết thúc thì lại có nhiều quan điểm khác nhau; có người cho là thế kỷ
XI, có người cho là thế kỷ XII, có ý kiến cho là thế kỷ XV và cũng có người cho là
Trang 24từ thế kỷ XIX trở về trước xã hội Việt Nam truyền thống vẫn “nằm trong khungcảnh của phương thức sản xuất châu Á”.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về phương thức sản xuất châu Á ở ViệtNam, cũng như mốc khời đầu và kết thúc của nó Nhưng nhìn chung đại đa số tácgiả đều thừa nhận có sự tồn tại của phương thức sản xuất châu Á trong lịch sử xã hộiViệt Nam với tư cách là một phương thức sản xuất độc lập
Theo quan điểm của tôi, tôi cho rằng phương thức sản xuất châu Á cũng đãtừng tồn tại trong lịch sử Việt Nam Về mốc khởi đầu của nó theo tôi cũng xuất hiệnkhi chế độ công xã nguyên thủy tan rã Còn về mốc kết thúc của phương thức sảnxuất châu Á ở Việt Nam, tôi đồng tình với ý kiến của Văn Tạo là xã hội Việt Nam
có tồn tại phương thức sản xuất châu Á cho đến thế kỷ XII Và đến thế kỷ XIII, khinhà nước chính thức ban bố chính sách cho các làng xã bán công điền thành tư điềnthì sự chuyển giai đọan chính thức được thực hiện
Tôi không đồng ý với ý kiến cho rằng phương thức sản xuất châu Á đã tồn tại ởViệt Nam đến thế kỷ XIX của một số học giả Bởi vì theo dòng lịch sử, thì nước ta
đã trải qua một thời kỳ phong kiến rất lâu Nhiều công trình nghiên cứu cũng đã đềcập về vấn đề này Đỉnh cao của chế độ phong kiến ở Việt Nam là vào thế kỷ XVdưới triều Lê Sơ và suy tàn vào cuối thời nhà Nguyễn Đó là sự thật mà lịch sử đãghi nhận
Nếu nói là phương thức sản xuất châu Á đã tồn tại ở Việt Nam cho đến thế kỷXIX thì vô hình chung chúng ta đã phủ nhận và xóa bỏ đi cả một thời kỳ lịch sử lâudài của dân tộc, bỏ đi cả một thời kỳ mà phương thức sản xuất phong kiến đã pháttriển và thậm chí còn cực thịnh trong thời gian lâu dài trong lịch sử dân tộc
Tôi chỉ thừa nhận là phương thức sản xuất châu Á vẫn còn tồn tại dai dẳng ởViệt Nam đến thế kỷ XIX, nhưng theo tôi đó chỉ là những tàn dư không điển hìnhcủa phương thức sản xuất châu Á mà thôi Thực tế, qua các thời kỳ khác nhau, đều
có sự tồn tại của nhiều phương thức sản xuất đan xen nhau
Trang 25Như đã nói ngay từ đầu, lịch sử dân tộc ta có nét đặc thù là khi chuyển từphương thức sản xuất xã hội này sang phương thức sản xuất xã hội khác đều khôngqua các cuộc cách mạng triệt để nên các di sản từ cổ đại đến cận đại cứ tồn tại mộtcách dai dẳng, đan xen, gối cạnh lẫn nhau, hoặc là chồng chất lên nhau Chính vì lẽ
đó, khi cho rằng phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam từ thế kỷ XIII đến thế kỷXIX cũng không phải là đã chấm dứt hẳn mà nó còn tồn tại với giá trị là tàn dư, kéodài và đan xen lẫn nhau, nó lẫn lộn với phương thức sản xuất phong kiến mà thôi.Thậm chí ngay cả ngày nay, phương thức sản xuất châu Á vẫn còn tồn tại ở ViệtNam Và cũng chính vì lẽ đó mà có thể nói phương thức sản xuất châu Á vẫn còntồn tại dai dẳn trong lịch sử Việt Nam
Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay là nghiên cứu về nó để làm sao tìm ra đượcnhững hạn chế của nó, gây nên sự trì trệ trong xã hội Việt Nam để từ đó có đượcphương án giải quyết thỏa đáng
II Thể chế chính trị và pháp luật Việt Nam cổ trung đại
2.1 Thời kỳ Hùng Vương
2.1.1 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội và diễn biến chính trị
a Điều kiện kinh tế - xã hội
Thời Hùng Vương với sự tiến bộ của công cụ sản xuất đã thúc đẩy nền kinh tếngày càng phát đạt đến một trình độ khá cao Nền kinh tế bao gồm nhiều ngành,nghề trong đó nông nghiệp trồng lúa nước đóng vai trò chủ đạo kinh tế phát triển tạonên bước chuyển biến quan trọng trong quan hệ sản xuất – xã hội, đưa đến sự phâncông lao động trong xã hội
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, sự phân công lao động xã hội giữa nôngnghiệp và thủ công nghiệp tạo nên sự trao đổi sản phẩm và các nguyên liệu giữa cácđịa phương ngày càng mở rộng dưới thời Hùng Vương tạo điều kiện thuận lợi choviệc tăng thêm nguồn của cải xã hội Những của cải chung của xã hội dần dần bị một
số người tìm cách chiếm đoạt biến thành của riêng Chế độ tư hữu tài sản ra đời và
Trang 26ngày càng phát triển theo sự phát triển kinh tế xã hội Đồng thời dẫn đến sự chuyểnbiến xã hội quan trọng là xã hội phân hóa thành kẻ giàu, người nghèo Sự phân hóa
đó diễn ra từ từ và ngày càng rõ nét Tuy nhiên, sự phân hóa xã hội thành hai thái cựcbấy giờ chưa sâu sắc Sự phân hóa tài sản là biểu hiện của sự phân hóa xã hội Gắnliền với hiện tượng này là sự ra đời của nô lệ gia trưởng, dẫn đến sự hình thành cáctầng lớp xã hội khác nhau (tù trưởng bộ lạc, tộc trưởng, thủ lĩnh liên minh bộ lạc…),
nô tỳ có số lượng ít, chủ yếu làm việc nhà Tầng lớp dân tự do cuả công xã nông thôn
là tầng lớp đông đảo nhất trong xã hội, giữ vai trò là lực lượng sản xuất chủ yếu.Mars gọi xã hội nô lệ kiểu châu Á này là chế độ nô lệ gia đình (gia trưởng)
b Diễn biến chính trị
Tục truyền, vua Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông, đi tuần thú PhươngNam đến Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc bây giờ) gặp một nàng tiên, lấynhau và sinh ra Lộc Tục Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghilàm vua Phương Bắc, phong Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh DươngVương, quốc hiệu là Xích Qủy
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Qủy vào khoảng năm Nhâm Tuất và lấycon gái Động Đinh Quân là Long Nữ sinh ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng làLạc Long Quân Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, sinh ra bọctrứng, nở ra một trăm người con trai Một ngày Lạc Long Quân bảo với Âu Cơ rằng:
Ta là dòng dõi Rồng, nàng thộc dòng dõi Tiên, ăn ở lâu với nhau không được Naynàng đem 50 con lên núi, còn ta mạng 5 con xuống biển Nam Hải
Sau đó Lạc Long Quân phong cho người con trai trưởng làm vua nước Vănlang, xưng là Hùng Vương Hùng Vương cai trị nước Văn Lang theo lối cha truyềncon nối đến 18 đời Sau cuộc kháng chiến chống quân Tần thắng lợi, Hùng Vương bịThục Phán – người chỉ huy liên quân Lạc Việt – Âu Việt đánh Tần, đánh bại ThụcPhán lên ngôi, xưng là An Dương Vương, đổi quốc hiệu là Âu Lạc Đó là năm 208TCN
Trang 27Triệu Đà, một tướng lĩnh nhà Tần, được giao cai quản phương Bắc Âu Lạc, năm
207 TCN nhà Tần suy yếu Triệu Đà liền mang quân đánh các vùng xung quanh.Quân dân Âu Lạc với tinh thần chiến đấu dũng cảm vũ khí tốt nên đã giữ được độclập Triệu Đà giả hòa và tìm cách chia rã nội bộ Âu Lạc Năm 179 TCN Âu Lạc bịchia rẽ, Cao Lỗ, Nội Hầu bỏ về quê Triệu Đà đánh, Âu Lạc không thể phòng mấttướng giỏi nên đã thất bại nhanh chóng Từ đó, nước ta bị mất độc lập tự chủ nằmdưới ách thống trị của các vương triều Phương Bắc
Trong tình hình kinh tế - chính trị - xã hội có nhiều biến đổi, thì nhà nước VănLang đã ra đời Sau khi ra đời nhà nước này đã xây dựng cho mình một thể chế chínhtrị, một hệ thống pháp luật riêng Thể chế chính trị và pháp luật thời kỳ này có mangnhững đặc trưng của phương thức sản xuất châu Á
2.1.2 Thể chế chính trị
Dựa vào tài liệu khảo cổ học, tài liệu thành văn (sử cũ của Trung Quốc, ViệtNam) có thể phác thảo sơ bộ cấu trúc của nhà nước thời Hùng Vương theo hệ thống
3 cấp của bộ máy cai trị tương ứng với 3 cấp quan chức
Đứng đầu nhà nước Văn Lang là Hùng Vương (Cun, Khun), nhà vua điều hànhcác việc chung, là người chỉ huy quân sự, chủ trì các nghi lễ tôn giáo Ngôi HùngVương theo cha truyền con nối
Dưới Hùng Vương và giúp việc cho vua là các Lạc Hầu, Lạc Tướng Lạc Hầu –tướng văn giúp vua giải quyết công việc trong nước Lạc Tướng (Phụ đạo, bộ tướng)trực tiếp cai quản việc của các bộ Nước Văn Lang chia làm 15 bộ, vốn là 15 bộtrước đó Lạc Tướng trước đó là tù trưởng, cũng thế tập cha truyền con nối Và phảinộp cống phẩm cho Hùng Vương Dưới bộ là các công xã nông thôn (kẻ, chạ,chiềng), do Bồ Chính (già làng) đứng đầu Bên cạnh Bồ Chính còn có Hội đồng công
xã Mỗi xã có một ngôi nhà công cộng làm nơi hội họp và là nơi sinh hoạt văn háotín ngưỡng
Trang 28Vậy Vua, Lạc Hầu, Lạc Tướng đều có những đơn vị thân binh bảo vệ, khi cóchiến tranh lạc tướng trở thành thủ lĩnh quân sự chỉ huy lực lượng vũ trang của bộlạc mình chịu sự điều động của Vua, Lạc Hầu Trải qua một thời gian dài thống trịnhững người làm việc trong bộ máy nhà nước dần tập trung nhiều của cải lẫn quyềnlực Nguồn sống chính của họ là bóc lột nhân dân Dù vậy thể chế chính trị của nhànước Văn Lang vẫn còn giữ được vẻ hài hòa.
Thể chế chính trị của nhà nước Âu Lạc về cơ bản giống thể chế chính trị củanhà nước Văn Lang, nhưng quy mô lớn hơn, chặt chẽ hơn Đứng đầu nhà nước là AnDương Vương có quyền lực tối cao bên cạnh là các Lạc Hầu, Lạc Tướng, Bồ Chính.Như vậy, các danh hiệu, chức vụ và các vật dụng là biểu tượng cho quyền lực trong
bộ máy nhà nước đã được xác định rõ So với thời kỳ của các vua Hùng thì nhà nướccủa An Dương Vương được tổ chức tốt hơn, quân đội mạnh hơn, thể chế chính trịchặt chẽ hơn trên cơ sở kế thừa của thể chế nhà nước trước đó
Cũng giống như đặc điểm của phương thức sản xuất châu Á nhà nước đầu tiêncủa nước ta ra đời xuất phát từ nhu cầu trị thủy, chống giặc ngoại xâm
Nhà nước ra đời thì buộc nó phải tổ chức cho mình một thể chế chính trị đểquản lý đất nước vì thế dưới thời Hùng Vương thể chế chính trị đầu tiên của nước tacũng đã được xây dựng tuy còn sơ khai, đơn giản nhưng nó phù hợp với hoàn cảnhlịch sử lúc bấy giờ đáp ứng yêu cầu của đất nước Như vậy qua việc tìm hiểu thể chếchính trị thời Hùng Vương ta thấy Phương thức sản xuất châu Á có từ thời kỳ này nóđược biểu hiện ở những đặc trưng đó là sự chuyên chế của nhà nước, dưới thời kỳnày nhà vua đóng vai trò chủ đạo tuy quyền lực chuyên chế của vua không biểu hiện
rõ nét như đặc trưng của phương thức sản xuất châu Á Thể chế chính trị thời HùngVương là bước khởi thủy cho lịch sử thể chế chính trị của nước ta, khẳng định tinhthần độc lập, tự chủ của dân tộc ta sánh ngang với các tộc người phương Bắc Tuy
Trang 29còn đơn giản sơ khai nhưng bộ máy máy nhà nước này đã hội tụ gần như đầy đủ cácyếu tố của một thể chế chính trị với những nhiệm vụ được phân bổ rõ ràng
Sự ra đời của nhà nước đã đánh dấu sự chuyển biến của xã hội từ những công
xã biệt lập sang sinh hoạt nhà nước mọi người cùng đoàn kết trong một cộng đồngthống nhất
Sau khi nhà nước Văn Lang ra đời tiếp đó là sự ra đời của nhà nước Âu Lạccũng mang tính tất yếu khách quan đáp ứng yêu cầu cấp thiết của lịch sử dân tộc.Những đặc trưng về công xã nông thôn, quyền lực nhà vua của phương thức sản xuấtchâu Á được thể hiện rõ nét hơn Quyền uy của vua được tăng cường.Quan hệ giữacông xã và chính quyền nhà nước cấp trên là quan hệ mang tính chất lưỡng hợpKhimột nhà nước mất đi thì sẽ có một nhà nước khác ra đời để tiếp tục sứ mệnh lịch sửcủa mình cùng với đó là một thể chế chính trị xã hội mới ra đời trên cơ sở kế thừacủa trước đó
Tóm lại thể chế chính trị Văn Lang – Âu Lạc là kết tinh của hàng nghìn nămhình thành và phát triển của nên văn minh sông Hồng, đã đặt nền tảng vững chắc chonền chính trị Việt Nam Thể chế chính trị thời kỳ Hùng vương đã có những biểu hiệncủa phương thức sản xuất châu Á
2.1.3 Pháp luật
Những đặc trưng cơ bản nhất của hình thái phương thức sản xuất châu Á làchế độ công xã nông thôn với tất cả sự trì trệ và bảo thủ của nó, cùng với đó là chế
độ sở hữu tập thể ruộng đất mà đứng đầu là nhà vua và chiếm dụng của các công xã
Xã hội của hình thái phương thức sản xuất châu Á là một xã hội có giai cấp…Nhữngđặc trưng này thì được thể hiện tương đối rõ nét trong xã hội Việt Nam thời HùngVương mà biểu hiện của nó là thông qua những phong tục, tập quán pháp của luậtpháp thời kỳ này
Hiện nay thì hầu hết tất cả các sử gia đều cho rằng trong thời đại Hùng Vươngthì có thể đã có pháp luật nhưng chắc chắn không phải là một thứ luật riêng của một
Trang 30địa phương mà là luật chung của người Lạc Việt Nó có thể là một thứ luật tục hay làtập quán pháp.
Trong thời kỳ này thì tập quán pháp giữ vai trò chủ đạo và phổ biến nhất.Trước hết là một số tập quán vốn có từ thời nguyên thủy và được bảo đảm thực hiệnkhông chỉ bằng sự tự nguyện mà bằng cả biện pháp cưỡng chế của quyền lực nhànước Tập quán pháp này điều chỉnh nhiều lĩnh vực của quan hệ xã hội như quan hệ
sở hữu, chiếm hữu và sử dụng ruộng đất, các quan hệ về trật tự an toàn xã hội…Mộttập quán khác mà người ta ít khi nhắc tới là tập quán chính trị, được hình thành trongquá trình vận hành bộ máy nhà nước và điều hành xã hội, như tập quán truyền ngôicủa vua và các chức quan cho con cái, tập quán cống nạp, “ăn ruộng”…
Lệ của công xã nông thôn cũng là một loại tập quán pháp, khi những lệ đóđược nhà nước mặc nhiên thừa nhận và được đảm bảo thực hiện bằng các biện phápcưỡng chế của tổ chức công xã Công xã nông thôn vừa là cơ sở kinh tế - xã hội củanhà nước, vừa mang tính tự quản nên các lệ của công xã nông thôn có vai trò đặcbiệt quan trọng trong đời sống chính trị xã hội bấy giờ Đây chính là biểu hiện điểnhình nhất của phương thức sản xuất châu Á tại nước ta thời kỳ này Bởi đặc trưnglớn nhất của phương thức sản xuất châu Á là sự tồn tại và khẳng định vai trò to lớncủa công xã nông thôn trong xã hội
Nội dung của pháp luật thời kỳ này thì cũng chỉ được phản ánh một cách giántiếp và mơ hồ trong truyền thuyết dân gian và các thư tịch cổ Trong đó luật lệ vàphong tục tập quán còn chưa được phân định rõ nét Tuy nhiên thì cũng có thể thấycác mối quan hệ xã hội đã được pháp luật điều chỉnh như:
+ Quan hệ hôn nhân – gia đình: qua các truyền thuyết thì có thể thấy ở thời kỳnày đã xuất hiện hôn nhân một vợ một chồng, không sống lang chạ Hôn nhân được
cử hành qua hôn lễ, con gái được cưới về nhà chồng và cũng đã có việc thách cưới.Trong hôn nhân người con gái cũng có vai trò chủ động Trong gia đình an hem phảibiết nhường nhịn thương yêu nhau Tức là trong thời kỳ Hùng Vương thì chế độ phụ
Trang 31hệ đã dần dần được xác lập, nhưng vẫn còn kết hợp với nhiều tàn dư và truyền thốngcủa chế độ mẫu hệ Trong xã hội tuy uy quyền đã thuộc về nam giới nhưng quyền lợi
và địa vị của người phụ nữ vẫn được tôn trọng và có nhiều mặt vẫn còn bình đẳngvới đàn ông
+ Quan hệ sở hữu: qua các khai quật khảo cổ học thì có thể thấy là ở thời kỳnày đã có ý niệm về sở hữu tài sản không chỉ đối với người sống mà còn cả đối vớingười chết Và qua sự khác biệt, chênh lệch về tài sản tống táng đã cho thấy ở thời
kỳ này đã xuất hiện sự phân hóa địa vị xã hội, mức độ giàu nghèo, quan lại vàthường dân…Đặc biệt là ở thời kỳ này vẫn chưa có sự tư hữu về đất đai Toàn bộruộng đất cày cấy cùng với rừng núi, sông ngòi, ao đầm trong phạm vi công xã thìđều thuộc quyền sở hữu của công xã các thành viên chỉ có quyền chiếm hữu và sửdụng Đây chính là biểu hiện tiếp theo chứng minh sự tồn tại của phương thức sảnxuất châu á ở nước ta thông qua pháp luật Bởi lẽ, đặc trưng lớn nữa của phươngthức sản xuất châu Á là chế độ công hữu về ruộng đất và đây là một xã hội bắt đầu
có giai cấp
+ Về hình phạt: những người vi phạm những luật tục này hay xúc phạm nhàvua…thì sẽ bị phạt lưu đày, và sau khi thụ hình xong thì có thể sẽ được xóa án vàphục hồi quyền lợi
Có thể nói rằng thời kỳ này đã có pháp luật nhưng đó chỉ là pháp luật sơ khaichủ yếu là tập quán pháp còn mang đậm tàn dư của chế độ nguyên thủy, tức là một
xã hội còn mang tính “phong tục thuần hậu chất phác” Và những pháp luật sơ khainày cũng chính là những biểu hiện rõ nét nhất về sự tồn tại của hình thái phươngthức sản xuất Châu Á ở nước ta thời kỳ Hùng Vương
2.2 Thời kỳ Bắc thuộc
2.2.1 Thể chế chính trị
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta có thể ví là một bản nhạc anhhùng ca lúc thăng, lúc trầm, trong đó giai đoạn Bắc Thuộc là thời kỳ đóng vai trò
Trang 32không thể thiếu trong bản anh hùng ca ấy Bởi lẽ, trong gần 1000 năm Bắc thuộc ấynhân dân ta đã phải sống dưới ách cai trị của nhiều nhiều triều đại phương bắc vớinhững cách thức cai trị khác nhau.
Nói về thể chế chính trị thời Bắc Thuộc có thể chia làm hai loại: một loại là thểchế chính trị của các thế lực đô hộ phương Bắc, một loại là thể chế chính trị củangười Việt
- Thể chế chính trị phương Bắc: chia làm ba thời kỳ.
Thời kỳ từ 179 Trước Công nguyên đến 40 Trong giai đoạn này nước
ta phải sống dưới ách thống trị của các nhà: Triệu, Tây Hán và Đông hán
Dưới thời nhà Triệu (179 – 111 trước Công nguyên): Sau khi thôn tính xong Âu
Lạc, Triệu Đà sát nhập Âu Lạc vào Nam Việt, sau đó chia Âu Lạc thành hai quận làquận Giao Chỉ (gồm miền đồng bằng và trung da Bắc Bộ) và quận Cửu Chân (baogồm vùng Thanh – Nghệ - Tĩnh ngày nay) Ở mỗi quận chúng cử hai viên quan caitrị và gọi là quan sứ hay điển sứ với tư cách là sứ giả của nhà vua Các Lạc tướngđều dưới quyền kiểm soát của hai viên quan sứ Ngoài ra, bên cạnh các viên quan sứ,Triệu Đà còn đặt một chức quan võ (gọi là Tả Tướng) và một số quân đồn trú đểkiểm soát các Lạc tướng
Ở cấp quận nhà Triệu chưa xây dựng một tổ chức hành chính nào khác Do vậy,chính quyền đô hộ phải thông qua các viên quan cai cai trị bản xứ cũ để thu cốngnạp hay khi bắt nhân dân đi lao dịch Như vậy, sau khi thôn tính xong Âu Lạc nhàTriệu đã không trực tiếp cai trị, do đó mà chế độ lạc tướng cổ truyền của nước ta vẫntồn tại và tổ chức bộ lạc vẫn chưa bị xóa bỏ Nhìn chung, cơ sở xã hội của Âu Lạcchưa bị thay đổi đáng kể
Triều Tây Hán: Từ 111 trước Công nguyên sau khi Tây Hán chinh phục được
Nam Việt (bao gồm cả Âu Lạc) Lúc này Âu Lạc bị chia ra làm các quận, huyện theo
hệ thống chính trị của Trung Quốc lúc đó Năm 106 trước Công nguyên, nhà TâyHán đặt Giao chỉ bộ (hau Châu Giao chỉ sau này), trụ sở đặt tại Mê Linh, quận Giao
Trang 33chỉ và nhà Tây Hán còn đặt thêm quận Nhật Nam (từ Hoành Sơn đến Quảng Nam.
Giao chỉ bộ bao gồm 9 quận do một thứ sử đứng đầu, phụ trách thanh tra công việc
của các quận Hàng năm thứ sử đi tuần hành các quận để xem xét việc cai trị vàthanh tra đối với tầng lớp quan lại đã được qui định bằng những điều cụ thể Qua đó
để thăng thưởng, bãi truất, xét đoán,…Nhưng đây là qui định cho triều Tây Hán.Giao chỉ bộ gồm 9 quận, bao gồm: Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố,Châu Nhai, Đạm Nhĩ, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, trong đó trên lãnh thổ củanước ta có ba quận: Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân (Thanh – Nghệ - Tĩnh) và Nhật
Nam (từ đèo Ngang đến Đà Nẵng) Mỗi quận có một viên Thái thú và một viên đô
úy phụ trách việc quân sự Các Lạc Tướng vẫn giữ quyền thế tập và cai trị dân như
cũ và được gọi là huyện lệnh Như vậy, mặc dù nhà Tây Hán đã áp đặt được bộ máy
đô hộ ở cấp Châu, cấp quận, nhưng ở cấp huyện vẫn do người Việt cai quản Nhìnchung phương thức bóc lột lúc này vẫn chỉ là cống nạp
Triều Đông Hán Sang đầu công nguyên, ở Trung Quốc nhà Đông Hán đã thay
thế nhà Tây Hán, chính sách đô hộ của chúng ở nước ta được xiết chặt hơn Ở cấpquận do thái thú cai quản, giúp việc hay thay thế cho thái thú khi vắng mặt có chứcquận thừa Ngoài ra, còn có một số chức quan thu thuế như: diêm quan, công quan,thiết quan,…
Thời kỳ thứ hai: Từ sau sự đàn áp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng
của nhà Đông Hán đến hết triều Tấn
Đông hán: Sau khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, nhà Hán lập lại ách
thống trị đối với nước ta Chính sách nô dịch, bóc lột và đồng hóa được đẩy mạnh,
có hệ thống và quy mô lớn hơn trước Cụ thể, Mã Viện đã chia huyện Tây Vu (thuộcquận Giao Chỉ) thành hai huyện mới là huyện Phong Khê và Vọng Hải Do đó, GiaoChỉ có 12 huyện, Cửu Chân có 5 huyện và chỉ có Nhật Nam là giữ nguyên
Trang 34Các chức thứ sử, thái thú vẫn được duy trì Ở cấp huyện lúc này các Lạc tướng đa
số đã bị mất quyền cai quản, thay vào đó là các quan cũng lấy tên là huyện lệnhnhưng hầu hết là người Trung Quốc Năm 203, Giao Chỉ bộ đổi thành Giao Châu.Trong hàng chức cai trị cũng có những thay đổi Trước hết, đó là viên Thứ sử lúcđầu chỉ có nhiệm vụ tuần sát ở các địa phương, chủ yếu là giám sát thái thú chứkhông có quyền can thiệp vào công việc sự vụ hành chính của các quận, huyện.Nhưng từ cuối thế kỷ II, thứ sử có quyền can thiệp vào sự vụ của địa phương, mụcđích là để trấn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân Còn thái thú – viên quan đứngđầu quận, do hoàng đế bổ nhiệm, được chia thẻ bài với hoàng đế và có con dấu bằngsừng, thao xanh để thi hành quyền lực Thái thú có quyền quyết định mọi việc trongquận, tuyển bổ các hạng thuộc loại dân sự, hàng năm còn phải cử những người hiềntài, thanh liêm, hiếu nghĩa để triều đình tuyển chọn làm quan lại Giúp việc cho tháithú có đô úy (chỉ huy quân sự) Ở cấp huyện, phục tá cho huyện lệnh có viên thừa(quan văn) và hai viên úy (quan võ) và các tào phụ trách từng công việc cụ thể
Năm 203, một đơn vị hành chính mới được thiết lập có tên Giao Châu, đứng đầuGiao Châu là châu mục, sau đó lại đổi lại thành thứ sử Lúc này thứ sử có nhiệm vụquản lý Giúp việc cho thứ sử gồm 7 viên tòng sự: Công tòng sự sử - coi việc tuyển
bổ quan lại hay việc dân chính; binh tào tòng sự sử - coi việc quân; Bạc tào tòng sự
sử - coi việc sổ sách, tiền, thuế,…Ngoài ra, còn có các giả tá trông coi các việc vănthư, thời tiết, tế tự, pháp luật, Ở Luy Lâu, trụ sở Giao Châu còn có chức tu quanchuyên đốc thúc việc cống nạp hoa quả
Như vậy, thể chế chính trị mới gồm ba cấp: châu – quận – huyện được thiết lập từ
203 đến hết gần 4 thế kỷ và ở cả ba cấp đều nằm trong tay các quan lại người Han.Tóm lại, cùng với việc thay đổi đơn vị hành chính, bộ máy thống trị nhà Hán trênlãnh thổ nước ta ngày càng được tăng cường
Trang 35Đến thời Tam quốc, nước ta sống dưới ách đô hộ của Đông Ngô (220 – 279).
Lúc này Giao Châu bị tách thành hai châu: Quảng Châu và Giao Châu Đến cuốithời Tam quốc, Giao Châu gồm 6 quận, 41 huyện
Dưới triều Tấn, nhân dân Chăm ở quận Nhật Nam nổi dậy giết huyện lệnh và lập
nên nước Lâm Ấp Sau đó, trải qua các nhà Tống (420 – 477), Tề (479 – 501) nước
ta đã có sự thay đổi về tên và số huyện Đến Nhà Lương (502 – 544) Giao Châu bịthu nhỏ lại để lập ra nhiều châu mới
Giai đoạn thứ Ba: kéo dài từ 603 – 938 Sau gần 60 năm độc lập và nội
chiến, đến năm 603 nước ta lại nằm dưới ách đô hộ của nhà Tùy
Dưới triều Tùy các quận đều trực tiếp chịu sự quản lý của trung ương, các cấp bộ
hay châu đều bị bỏ Cả nước ta lúc này chia thành 7 quận, gồm: Giao Chỉ, CửuChân, Nhật Nam, Tỉ Cảnh, Hải Âm, Lâm Ấp và Ninh Việt Thêm vào đó chế độhương xã bắt đầu được thiết lập với việc đặt đại hương, tiểu hương, đại xã và tiểu xã
Có thể nói, đây là lần đầu tiên các thiết chế cấp cơ sở của thể chế chính trị kiểu Tần– Hán được áp dụng vào nước ta
Đến triều Đường thì chế độ cai trị của vùng Giao Châu bị thay đổi nhiều lần.
Năm 622, nước ta chia thành 2 tổng quản phủ: Giao châu phủ và Đức châu phủ.Năm 679, toàn bộ đất Giao Châu đô đốc phủ và Hoan châu đô đốc phủ được đổithành An Nam đô hộ phủ Chính quền An Nam đô hộ phủ được chia thành hệ thống
4 cấp: phủ - châu – huyện – hương, trong đó có 12 châu, 59 huyện
Bộ máy cai trị lúc này cũng khá hoàn chỉnh Đứng đầu phủ đô hộ là viên đô hộ,dưới có hai phó đô hộ, 1 trưởng sứ trông coi việc dân chính, 1 tư mã chỉ huy quân
sự và một số ty, tào giúp việc quản lý quan lại, hộ khẩu, đất đai, tài chính, thươngmại, giáo dục,… Dưới đô hộ phủ là Lộ, châu
Đứng đầu mỗi châu là thứ sử, bên dưới có 1 hoặc 2 biệt giá (phó thứ sử), 1trưởng sử và một tư mã, Dưới châu là huyện, đứng đầu là huyện lệnh Bên dướihuyện lệnh có một số lại thuộc như: thừa úy, chủ bạ, lục sự, tư hộ, tư pháp,… Trong
Trang 36huyện lại chia thành các Hương Mỗi một hương có khoảng 70 đến 150 hộ (tiểuHương), hay 160 đến 540 hộ (đại Hương) Riêng những vùng có dân cư đông thìhương lại chia thành xã, những xã có 10 đến 13 hộ gọi là tiểu xã, còn những xã có số
hộ từ 40 đến 60 hộ thì gọi là đại xã Ngoài ra, An Nam đô hộ phủ còn có 41 châu cơ
mi (hay còn gọi là kỵ mi) là những đơn vị hành chính tự trị, phiên thuộc, tập trung ởcác vùng dân tộc thiểu số miền núi Đến 757, An Nam đô hộ phủ đổi thành TrấnNam đô đốc phủ, sau đó đổi lại thành An Nam đô đốc phủ Đứng đầu là một Tiết độ
sứ - cai trị toàn bộ lãnh thổ của nước ta Ở cấp châu, đứng đầu là thứ sử, còn nhữngngười chỉ huy quân đội gọi là trưởng lại Riêng thời kỳ 866 – 868, khi Cao Bền làm
An Nam tiết độ sự, ông này đã rất chú trọng tới việc củng cố hệ thống hương, xã Cảnước ta lúc này chia thành 159 hương
Sang thời Ngũ đại (907 – 960), thể chế cai trị của nước ta không có gì thay đổi.
Ban đầu họ Khúc, sau đó là Dương Đình Nghệ tự xưng làm tiết độ sứ Giao Châu.
- Thể chế chính trị của người Việt.
Trong gần 1000 năm sống dưới ách thống trị của thế lực phương Bắc nhân dân ta
đã nhiều lần nổi dậy khởi nghĩa, trong đó có những cuộc khởi nghĩa giành được độclập tự chủ, nhưng không duy trì và giữ vững được bao lâu như: Khơi nghĩa Hai BàTrưng, Khởi nghĩa Lý Bí,… Mặc dù tồn tại trong thời gian ngắn nhưng có thể nói từKhởi nghĩa Hai Bà Trưng đến khi họ Khúc dấy nghiệp , trong gần 10 thế kỷ đó kẻthù không thể có được một thế kỷ ổn định và trọn vẹn để cai trị và thực hiện mưu đồđồng hóa nhân dân ta
o Thời Trưng Vương (40 – 43) Chính quyền tự chủ của người Việt được
thiết lập Hai Bà Trưng xưng vương, đóng đô ở Mê Linh – Vĩnh Phúc Sau đó Hai
Bà Trưng đã ra lệnh bãi bỏ các thứ thuế của nhà Đông Hán Còn bộ máy nhà nướckhông thay đổi so với bộ máy nhà nước thời Hùng Vương, các Lạc tướng tiếp tục caiquản các đại phương Tuy nhiên, đến Tháng 4 năm 42, nhà Hán phong Mã Viện làm
Trang 37“Phục Ba tướng quân" đem 2 vạn quân cùng 2000 thuyền xe chia làm hai cánh, theohai đường thủy bộ sang xâm lược nước ta Hai Bà Trưng và các tướng sĩ mặc dùchiến đấu rất anh dũng, bảo vệ đến cùng căn cứ Cấm Khê, nhưng cuối cùng đã bị
Mã Viện dồn sức đánh bại
o Một thắng lợi không thể không kể đến giai đoạn này là Khởi nghĩa Lý Bíthắng lợi và việc thiết lập nhà nước Vạn Xuân những năm 544 – 603 Sau khi giànhđược thắng lợi, Lý Bí xưng là Lý Nam Đế, lập nhà nước Vạn Xuân, đóng đô ở LongBiên, đặt niên hiệu là Thiên Đức Cùng với đó Lý Bí tiến hành nhiều việc như đúctiền riêng, xây điện Vạn Thọ để làm nơi các quan triều hội họp Về bộ máy nhà nướclúc này được xây dựng theo kiểu trung ương tập quyền, nhưng cơ cấu triều đình cònđơn giản Dưới Hoàng đế có hai ban văn võ Tuy vậy, nhà nước Vạn Xuân chỉ ổnđịnh có hơn 1 năm Sau đó triều đình phân tán lực lượng, rút vào đồi núi, đầm lầy đểkháng chiến chống giặc Năm 548 Lý Nam Đế qua đời, Triệu Quang Phục đảmđương quyền bính Năm 571 Lý Phật Tử đánh úp quân của Triệu Quang Phục, đoạttoàn bộ quyền hành và tự xưng là hậu Lý Nam Đế Sau đó, Lý Phật Tử dời đô vềPhong Châu (Phú Thọ) với chủ trương thần phục phương Bắc Do vậy, khi nhà Tùyđưa quân sang bắt Lý Phật Tử thì nước ta lại rơi vào ách thống trị của nhà Tùy
o Mãi đến đầu thế kỷ X, nhân lúc nhà Đường bị suy yếu, Khúc Thừa Dụ đã tựxưng làm Tiết độ sứ (904) Khúc Thừa Dụ đã lợi dụng bộ máy và danh nghĩa củanhà nước đô hộ để giành lại quyền tự chủ Trước tình hình đó, vua nhà Đường buộclòng phải công nhận và còn phong thêm cho Khúc Thừa Dụ chức Tỉnh hải quân tiết
độ sứ Như vậy, Khúc Thừa Dụ đã nắm trong tay cả quyền quân sự, dân chính và tàichính Thứ sử ở các châu đều thuần phục Tiết độ sứ được cử quan lại văn võ, tự ýtrưng thu thuế trong vùng mình cai trị Trên thực tế, đó chính là quyền tự trị và dựatrên nền tảng dân tộc đã được phát triển thành độc lập sau này
Trang 38Sau khi Khúc Thừa Dụ mất (907), con là Khúc Hạo lên thay Sau khi lên kếnghiệp cha Khúc Hạo đã tiến hành một số cải cách quan trọng Ông đã cố gắng xâydựng một chính quyền độc lập từ trung ương đến cấp xã Cả nước được chia thànhcác đơn vị hành chính từ lộ, phủ, châu, giáp, xã Ở lộ, phủ, châu đặt một viên quanngười Việt cai trị, ở cấp xã đặt chức Chánh lệnh trưởng và Tá lệnh trưởng (các chức
xã quan) Những viên quan cấp xã có nhiệm vụ thi hành lệnh trên để phân chia đónggóp thuế ruộng và huy động lực địch khi cần Tiếp đó, ông cho đổi các Hương thànhGiáp, do quản Giáp và Phó tư giáp đứng đầu, giữ việc thu thuế và trưng binh Thêmvào đó, Khúc Hạo còn sửa đổi lại chế độ điền tô, thuế má nặng nề của nhà Đường, ralệnh “Bình quân thuế ruộng”, tha bỏ lực địch, lập sổ hộ khẩu, kê rõ quê quán, giaocho quản giáp trông coi Có thể nói, đường lối chính trị chung của Khúc Hạo là:
“Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui” Nhưng khiKhúc Họa mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên thay chưa được bao lâu đã bị quân NamHán bắt về Trung Quốc, chiếm lại đất Đại Việt và cử một thứ sử sang cai trị 930.Đến năm 931, một viên tướng của họ Khúc là Dương Đình Nghệ đã nổi dậy chốnggiặc và tự xưng làm tiết độ sứ, tiến đánh thành Đại La (năm 931) thắng lợi, giànhđược độc lập, tự chủ Nhưng chưa được bao lâu đến năm 937, ông bị một tùy tướng
là Kiều Công Tiễn sát hại để đoạt chức
Tóm lại, trong 1000 năm Bắc thuộc, chính quyền đô hộ Trung Hoa trên đấtnước ta đã có những thay đổi theo các triều đại ở chính quốc Mỗi triều đại phân cấpquản lý theo cách riêng, nhưng đều nhằm mục đích đồng hóa và biến nước ta thànhmột bộ phận của chính quyền phương Bắc Tuy nhiên, sống dưới ách thống trị củaphương Bắc, nhân dân ta đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh và giành được độc lập Tuychỉ tồn tại trong một thời gian ngắn nhưng các chính quyền này đã cho thấy phầnnào sức mạnh và tinh thần dân tộc của nhân dân ta
2.2.2 Pháp luật
Trang 39Theo các thư tịch cổ Trung quốc và Việt sử lược, Đại việt sử ký toàn thư có thể thấy rằng pháp luật của nước ta trong thời bắc thuộc thì bao gồm hai nguồn luật chính.
Những đặc trưng của phương thức sản xuất châu Á được thể hiện khá rõ ở những hình thức pháp luật sơ khai của nước ta thời kỳ Hùng Vương Mà bước sang thời kỳ bắc thuộc thì những luật tục của người Việt mà chủ yếu vẫn là lệ làng đã có
từ thời đại Hùng Vương đã được chính quyền đô hộ mặc nhiên thừa nhận Nó khôngchỉ là luật riêng của người Việt mà còn là một bộ phận trong luật pháp của chính quyền đô hộ Chính vì thế mà có thể nói rằng phương thức sản xuất châu Á vẫn tồn tại trong thời kỳ này như một điều hiển nhiên
Mặt khác thì một số luật pháp của phong kiến Trung Hoa đã được mang sang
áp dụng ở nước ta Tuy nhiên nó chỉ có mức độ và hiệu lực điều chỉnh rất hạn chế
Nó chỉ có tác dụng ở những vùng mà chính quyền đô hộ trực tiếp khống chế như vùng quanh thị trấn, nhiệm sở, đồn binh và những nơi có người Hoa cư trú Tức là
nó chỉ tác động đến người Hán và quý tộc người Việt trong những lĩnh vực như hànhchính, hình sự, thuế khóa
Luật pháp thời kỳ này chủ yếu đề cập đến những nội dung chính như:
+ Về luật hình: chủ yếu là những quy định để ngăn chặn sự chống đối của
nhân dân ta, ngăn chặn tệ nạn tham ô, tham nhũng, nhận hối lộ…Điển hình như những lãnh tụ nghĩa quân của nhân dân ta nổi dậy thì đầu bị khép vào tội phản loạn, phản nghịch Và những tội này thì hầu như là phải chịu những hình phạt rất nặng như thích chữ vào mặt, cắt tai, cắt mũi hay thậm chí là bị chết
+ Về luật dân sự và thuế khóa: trong thời kỳ bắc thuộc thì nước ta đã tồn tại hai hình thức sở hữu đất đai là sở hữu tối cao của Hoàng đế Trung Hoa (sở hữu