Cùng với việc tăng dân số và sự phát triển của xã hội, nông nghiệp thế giới phải đối mặt với những thách thức như:đất đai bị thu hẹp, thiếu nước phục vụ sản xuất,thiếu vốn đầu tư cơ sở hạ tầngnông thôn, ....Thêm vào đó, tình hình thiếu hụt về lao động do sự chuyển dịch lao động trẻ ở nông thôn sang các khu vực kinh tế khác đang có xu hướng tăngdần,dẫn đến lao động nông nghiệp ngày một khan hiếm. Giữa thời kì hội nhập vào xu thế toàn cầu, trình độ khoa học công nghệ đã có bước tiến vượt bậc,nông nghiệp bước vào công nghiệp hoáhiện đại hóa thì lực lượng và chất lượng lao động, nhất là máy móctrở nên cần thiết, nó góp phần tăng năng suất và tạo ra sản phẩm chất lượng.Và điều quan trọng là nó làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa. Chính vì vậy, các quốc gia trên thế giới đã không ngừng đầu tư sâu và rộng để phát triển khoa học công nghệ, bởi vì nó chính là mũi nhọn mang tính quyết định trong sản xuất, phát triển và cạnh tranh trên thếgiới.II. Sơ lược về tình hình nông nghiệp Việt Nam
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
I Sơ lược về tình hình nông nghiệp thế giới
Cùng với việc tăng dân số và sự phát triển của xã hội, nông nghiệp thế giới phải đối mặt với những thách thức như: đất đai bị thu hẹp, thiếu nước phục vụ sản xuất, thiếu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn, Thêm vào đó, tình hình thiếu hụt
về lao động do sự chuyển dịch lao động trẻ ở nông thôn sang các khu vực kinh tế
khác đang có xu hướng tăng dần, dẫn đến lao động nông nghiệp ngày một khan
hiếm Giữa thời kì hội nhập vào xu thế toàn cầu, trình độ khoa học công nghệ đã có bước tiến vượt bậc, nông nghiệp bước vào công nghiệp hoá hiện đại hóa thì lực lượng và chất lượng lao động, nhất là máy móc trở nên cần thiết, nó góp phần tăng năng suất và tạo ra sản phẩm chất lượng Và điều quan trọng là nó làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa Chính vì vậy, các quốc gia trên thế giới đã không ngừng đầu tư sâu và rộng để phát triển khoa học công nghệ, bởi vì nó chính
là mũi nhọn mang tính quyết định trong sản xuất, phát triển và cạnh tranh trên thế giới
II Sơ lược về tình hình nông nghiệp Việt Nam
Từ lâu đời, Việt Nam được biết đến như là một đất nước nông nghiệp, với hơn 80% dân số sinh sống ở vùng nông thôn và hơn 74% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp Việt Nam trong những năm qua đạt nhiều thành tựu quan trọng, đứng hàng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo Song, tăng trưởng nông nghiệp trong những năm qua chủ yếu tập trung đầu tư sản xuất theo chiều rộng, chưa chú ý đầu tư chiều sâu Ngày 07/11/2006, Việt Nam chính thức được gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO, và chính phủ Việt Nam thực hiện một loạt các cam kết theo quy định, điều đó đã đặt nông nghiệp Việt Nam trước những khó khăn và thử thách rất lớn Văn kiện Đại hội X của Đảng đã
nêu: “…hết sức coi trọng công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
theo hướng sản xuất lớn, gắn công nghiệp chế biến và thị trường: thực hiện cơ giới hóa - điện khí hóa và thủy lợi hóa nhằm nâng cao năng suất, chất lượng phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa phương…”
Ngày nay, để Việt Nam có thể đứng vững trên trường Quốc tế, bắt nhịp với
xu thế hội nhập kinh tế trong khu vực và trên thế giới, đối với một nước nông
Trang 2nghiệp đang phát triển như nước ta, đòi hỏi Việt Nam ra sức đầu tư nghiên cứu các lĩnh vực khoa học công nghệ mới và ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật sẵn có phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên và địa hình khí hậu của nước ta Đặc biệt trong điều kiện hiện nay của nền kinh tế mở và ngày càng hội nhập sâu sắc hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh là điều kiện sống còn đối với sự phát triển của nông nghiệp
III Sơ lược về tình hình nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long [7]
Đồng bằng sông Cửu Long là một vựa lúa lớn của vùng đồng bằng Tây Nam
Bộ nói riêng và của cả nước nói chung Tại đây có tiềm năng rất lớn để phát triển nền nông nghiệp hiện đại của đất nước, hơn thế nữa, đồng bằng sông Cửu Long đã đóng góp khoảng 55% đến 60% trong tổng sản lượng nông nghiệp và khoảng 65% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp quốc gia Trong đó, sản xuất lúa gạo đạt 60% trong tổng sản lượng và khoảng 65% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của quốc gia (niên giám thống kê, 2008) Là vùng đồng bằng mang tính đặc thù với sản xuất nhỏ, đất manh mún cùng với thói quen sử dụng kinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất truyền thống lạc hậu nên năng suất lao động và hiệu quả sản xuất thấp Trong những năm gần đây, một bộ phận không nhỏ nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long đã chuyển đổi mô hình sản xuất lúa độc canh sang mô hình sản xuất luân canh lúa – màu, được
sự quan tâm của Đảng và nhà nước đã ứng dụng thành tựu khoa học kĩ thuật trong sản xuất giúp nông dân cải thiện lao động trong sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
IV Sơ lược về tình hình nông nghiệp tỉnh Long An [6]
Long An nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, là tỉnh có nền nông nghiệp lâu đời chiếm khoảng 40% trong tổng thể nền kinh tế của tỉnh, và nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long nên Long An cũng mang những đặc điểm của vùng là diện tích manh mún nhỏ lẻ, tập quán sản xuất của người dân Nhằm nâng cao năng suất, cải thiện cuộc sống người dân thì cơ giới hóa là nhu cầu cần thiết và đang được đẩy mạnh
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CƠ GIỚI HÓA TRONG SẢN XUẤT CÂY LÚA VÀ CÂY MÍA
1.1.1 Các khái niệm
- Cơ giới hóa: Là áp dụng máy móc có động cơ vào công nghiệp hay nông
nghiệp thay cho nhân công để sản xuất được nhanh [2]
- Khoa học kỹ thuật: Là các khoa học liên hệ trực tiếp với sản xuất, và các ngành kĩ thuật, ưu tiên phát triển khoa học kĩ thuật [2]
- Hiệu quả sản xuất chính là lợi nhuận đạt được sau khi đã trừ đi các khoảng chi phí tổn
1.1.2 Vai trò của cơ giới hóa trong sản xuất cây lúa và cây mía
Trong sự phát triển của đất nước, Đảng ta chủ trương công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Ở bất cứ góc độ nào, cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp nhất
là đối với cây lúa và cây mía cũng là một bộ phận quan trọng của công cuộc này
Cơ giới hóa góp phần:
- Việc đầu tiên mà cơ giới hóa mang lại là tăng sản lượng và nâng cao năng suất lao động
- Cơ giới hóa góp phần giải quyết tình hình thiếu lao động tại nông thôn, giúp nông dân giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống
- Cơ giới hóa sẽ góp phần mở mang dân trí, nông dân sẽ được tiếp xúc với các quy định chặt chẽ về sử dụng máy móc
- Phát triển giao thông ở nông thôn Nếu cơ giới hóa phát triển, bắt buộc phải phát triển hệ thống đường xá, vừa cho phép các loại xe cơ giới di chuyển, vừa nâng cấp về chất lượng đường giao thông nông thôn
- Các máy canh tác có động cơ góp phần bảo vệ sức khỏe và giúp nông dân thoát khỏi “cực nhọc” trong quá trình sản xuất
Trang 41.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CƠ GIỚI HÓA ĐỐI VỚI CÂY LÚA VÀ CÂY MÍA
1.2.1 Khí hậu và đất đai - địa hình [6]
· Khí hậu
Đặc trưng của đồng bằng sông Cửu Long là 2 mùa mưa nắng rõ rệt và luôn biến đổi Đó chính là yếu tố đã làm giảm khả năng thích ứng của các phương tiện máy móc ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Long An nói riêng
· Đất đai – địa hình
- Đồng bằng sông Cửu Long phần lớn là đất phù sa thích hợp cho việc trồng lúa nước và trồng mía, nhưng địa hình tại nơi đây không bằng phẳng, mặt ruộng còn nhiều lung trũng, nhấp nhô Mặc dù nông dân đã ra sức cải tạo rất nhiều lần nhưng chưa thể khắc phục được tình trạng này
- Địa hình phức tạp nên việc nghiên cứu và ứng dụng cơ giới hóa vào các khâu canh tác cây lúa và cây mía còn rất nhiều khó khăn Vì vậy hiện nay còn một
số khâu chưa đưa cơ giới hóa hoàn toàn
1.2.2 Nguồn vốn
Các trang thiết bị phục vụ nông nghiệp thay sức lao động của con người giúp giải quyết được tình trạng thiếu lao động ở nông thôn, mang lại lợi nhuận cao trong sản xuất và cải thiện đời sống của nông hộ
Nhưng cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có một nguồn vốn lớn Muốn mua một chiếc máy nông nghiệp người dân phải đầu tư hàng chục đến hàng trăm triệu đồng mới có thể sở hữu được chúng Trái lại cuộc sống của nông dân gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn Tuy được sự quan tâm và hỗ trợ của Đảng và nhà nước rất nhiều nhưng sự hỗ trợ đó còn nhiều hạn chế và chưa được thỏa đáng đối với người dân Do vậy để có đủ số tiền mua máy thì nông dân vẫn phải vay với lãi suất cao Chính vì vậy muốn nâng cao cơ giới hóa trong sản xuất lúa và mía cần có những chính sách ưu đãi, hỗ trợ thỏa đáng cho nông dân từ chính quyền nhà nước
1.2.3 Khả năng tiếp thu khoa học kĩ thuật
Góp phần thúc đẩy cơ giới hóa phát triển thì khả năng hiểu biết của nông dân không kém phần quan trọng
Có sự hiểu biết sẽ giúp nông dân dễ dàng tiếp thu khoa học kĩ thuật, nhanh chóng tiếp cận và nắm được nguyên lý hoạt động của các loại máy cơ giới Nhưng
Trang 5trình độ văn hóa của nước ta nói chung và vùng đồng bằng Nam Bộ nói riêng còn hạn chế để nông dân bắt nhịp với thời kì hội nhập còn rất khó
Tập quán lâu đời của nông dân là lao động bằng thủ công, dùng sức lao động của chính mình trong nhiều khâu sản xuất Đây sẽ là trở ngại rất lớn trong việc cơ giới hóa sản xuất cây lúa và cây mía
è Do đó, để thúc đẩy quá trình cơ giới hóa nông nghiệp thì cần phải nâng cao trình độ dân trí của nông dân ở khắp mọi miền đất nước
1.2.4 Các yếu tố khác
Vài năm gần đây, tình hình sâu bệnh diễn ra ngày càng phức tạp đối với cây lúa, làm cho nhà nông gặp nhiều khó khăn trong việc canh tác lúa, nhất là dịch rầy nâu, cộng thêm dịch ốc bươu vàng, dịch chuột đã làm giảm năng suất và sản lượng, cộng thêm một số loại bệnh mới lạ gây tâm lý hoang mang cho người trồng lúa Riêng đối với canh tác cây mía thì phòng trừ sâu bệnh đa số bằng thủ công nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm giảm khả năng cơ giới hóa tại đồng ruộng
1.3 ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm nghiên cứu
Long An một trong những tỉnh có sản lượng lúa và mía lớn của vùng đồng bằng sông Cửu Long, là nơi thuận lợi ứng dụng thành tựu khoa học kĩ thuật vào sản xuất cây lúa và cây mía
Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu của đề tài chủ yếu được thu thập bằng cách tiến hành phỏng vấn - điều tra trực tiếp 84 hộ sản xuất lúa và mía ở 3 huyện: Tân Thạnh, Vĩnh Hưng và Bến Lức của tỉnh Long An Cùng các cán bộ khuyến nông của xã, huyện, tỉnh, tài liệu tham khảo, niên giám thống kê, và các nghiên cứu trước đây, cũng như tham khảo các nhận định, đánh giá của các nhà chuyên môn quản lý lĩnh vực nông nghiệp
Trang 6CHƯƠNG II
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Biểu đồ 2: Sơ đồ tỉnh Long An
2.1 GIỚI THIỆU VỀ TỈNH LONG AN
Long An có đường biên giới quốc gia với Campuchia 137 km và có vùng đất thuộc hai huyện Cần Giuộc và Cần Đước tiếp giáp với cửa sông Soài Rạp Là tỉnh nằm cận kề với thành phố Hồ Chí Minh có mối liên hệ kinh tế ngày càng chặt chẽ với vùng phát triển kinh tế trọng điểm Phía Nam
Do có sự khác biệt về điều kiện địa hình, đất đai, khí hậu tại tỉnh Long An nên việc sản xuất nông nghiệp chia thành các vùng: vùng chuyên canh trồng lúa là vùng Đồng Tháp Mười với diện tích 189.270,6 ha chiếm 42% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, thường xuyên bị ngập lụt hàng năm bao gồm các huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa Khu vực phía Nam thường xuyên bị
Trang 7nhiễm mặn và phèn mặn Và vùng cao gồm các huyện: Huyện Đức Hòa, Huyện Đức Huệ, Huyện Bến Lức chủ yếu trồng mía và một số loại cây khác Những vùng đất nhiễm phèn, nhiễm mặn được nhân dân trồng tràm, đước
2.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH LONG AN
2.2.1 Vị trí địa lý – diện tích, địa hình [3][6]
Long An là một trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long – miền Nam Việt Nam, có toạ độ địa lý: 10008 30" đến 110
02 30" vĩ độ Bắc, 10500 30" đến 1060
47 02" kinh độ Đông, diện tích tự nhiên là 4.492,397 km2
, chiếm tỷ lệ 1,3 % so với diện tích cả nước và bằng 8,74 % diện tích của vùng đồng bằng sông Cửu Long Tổng dân số là 1.444.660 người (2008), gồm dân tộc Kinh, chiếm 99%, dân tộc Hoa chiếm 1% Mật độ dân số: 322 người/km2
Tỉnh Long An có vị trí địa lý
- Phía Đông giáp thành phố Hồ Chí Minh
- Phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp
- Phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang
- Phía Bắc giáp tỉnh Tây Ninh và tỉnh Svây - riêng (Cam Pu Chia)
Bảng 2: Phân bố diện tích tại các huyện, thị tỉnh Long An
nhiên (km2)
Diện tích trồng lúa cả năm (ha)
Diện tích trồng mía (ha)
Trang 8Đất nông nghiệp 304.177,9 ha chiếm 71,85% tổng diện tích, đất lâm nghiệp 66.717,99 chiếm 15,76% đất chuyên dùng 35.939,15 ha chiếm 8,49%, đất ở 16.504,99 ha chiếm 3,9%
Dù xếp vào vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng Long An là phần đất chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, nên địa hình có xu hướng thấp dần
từ phía Bắc - Đông Bắc xuống Nam - Tây Nam Phía Bắc và Đông Bắc tỉnh có một
số gò đồi thấp, giữa tỉnh là vùng đồng bằng và phía Tây Nam tỉnh là vùng trũng Đồng Tháp Mười, trong đó có khu rừng tràm ngập phèn rộng 46.300 ha
Hình 2.1: Cánh động ngập lũ tại huyện Vĩnh Hưng
2.2.3 Điều kiện tự nhiên [1],[6]
Long An là khu vực nằm trong châu thổ sông MêKông, là một tỉnh nông nghiệp Đất Long An màu mỡ trải ra trên hai triền sông của hai con sông lớn sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, ở phía Bắc tỉnh có một số gò, đồi thấp, còn lại thì bằng phẳng Phần đất phía Tây thuộc vùng trũng Đồng Tháp Mười Người dân sống chủ yếu bằng nông nghiệp đặc biệt là sản xuất lúa và mía
- Về đất đai: Tỉnh có 6 nhóm đất chính, nhưng phần lớn là dạng phù sa bồi lắng lẫn nhiều tạp chất hữu cơ, cấu tạo bở rời, tính chất cơ lý kém, nhiều vùng bị chua phèn và tích tụ độc tố Đất tại đây vừa mang những nét đặc thù của vùng đồng bằng sông Cửu Long, vừa mang sắc thái riêng của vùng đất chua, phèn, mặn nên cần có những giải pháp riêng định hướng phát triển, nhất là sản xuất nông nghiệp
- Khí hậu: Long An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo Nhiệt
độ bình quân năm là 27,5 0
C Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là tháng 4 khoảng 28,90C và tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng giêng khoảng 25,20C
Trang 9Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 92- 95% lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, chiếm 5 - 8% lượng mưa cả năm Tháng 4 và tháng 12 hằng năm là những tháng chuyển tiếp giữa 2 mùa, có lượng mưa trung bình từ 30 đến 50 mm
2.2.4 Cơ sở hạ tầng [6],[3]
- Giao thông: Long An có đường ranh giới quốc gia với Campuchia dài :
137,7 km và là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với đồng bằng sông Cửu Long, nhất
là có chung đường ranh giới với TP Hồ Chí Minh, bằng hệ thống giao thông đường
bộ như : quốc lộ 1A, quốc lộ 50,… Về đường thủy, ngoài sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây Long An còn được hưởng nguồn nước của hai hệ thống sông Mê Kông và Đồng Nai
Hình 2.2: Tuyến đường TT Tân Thạnh – Xã Hậu Thạnh Đông
- Công nghiệp: Là tỉnh nằm cận kề với TP.HCM có mối liên hệ kinh tế ngày càng chặt chẽ với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nhất là thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp 50% sản lượng công nghiệp cả nước và là thị trường tiêu thụ hàng hóa nông sản lớn nhất của đồng bằng Sông Cửu Long
- Toàn tỉnh có 16 bệnh viện, 5 phòng khám đa khoa, 181 trạm y tế, 2.075 giường bệnh, 2.717 y bác sĩ đáp ứng đủ nhu cầu của người dân nơi đây
2.2.5 Tình hình sản xuất lúa và mía tại tỉnh Long An [3],[5],[6]
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự quan tâm, hỗ trợ của Đảng: chương trình 3 giảm 3 tăng, IPM, đưa giống cao sản, … Nông dân đã luân canh giữa vụ lúa - màu và một số hộ dân đã mạnh dạn đầu tư các thiết bị công nghệ cao: máy gặt đập liên hợp, máy xịt thuốc kéo dây, motor bơm nước, xe kéo cải tiến, …
Trang 10đã góp phần giảm chi phí, tăng năng suất lao động Nhờ vậy năng suất được tăng cao: đối với lúa đạt 47,7 tạ/ ha cao hơn so với các năm trước 2,5 tạ/ha và lợi nhuận trên 1 ha là 4,67% (giá lúa tươi 4.300 - 4.400 đồng/kg, lúa khô 5.000 - 5.100 đồng/kg), riêng cây mía năng suất bình quân đạt 68,7 tấn/ha cao hơn năm trước 3tấn/ha
Hình 2.3: Lô thửa ruộng tại Long An
Trang 11CHƯƠNG III
ĐIỀU TRA TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG CƠ GIỚI HÓA CÂY LÚA
VÀ CÂY MÍA CỦA TỈNH LONG AN
3.1 CÂY LÚA
Long An là tỉnh đi đầu trong quá trình cơ giới hóa, hiện nay tại tỉnh Long An
có số lượng máy phục vụ nông nghiệp:
Bảng 3.1: Số lượng máy canh tác lúa tỉnh Long An
Loại máy Số lượng (chiếc)
Nguồn: Trung tâm khuyến nông tỉnh Long An (2009)
Khâu làm đất: 100% ứng dụng cơ giới, gieo cấy chiếm khoảng 55 – 60% ứng dụng cơ giới Thu hoạch (cắt, tách hạt thu hoạch liên hợp) đạt 70 – 75% cơ giới, làm khô lúa chiếm 30 – 40% cơ giới trong vụ Hè Thu
Riêng tại huyện Tân Thạnh và Vĩnh Hưng có số lượng máy:
Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ cơ giới hóa canh tác lúa huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh
1- Làm đất 2- Gieo trồng 3- Tưới tiêu 4- Phun thuốc 5- Bón phân 6- Làm cỏ 7- Thu hoạch (gặt đập liên hợp) 8- Vận chuyển
9- Bảo quản 10- Chế biến
Trang 12Làm đất
Sơ đồ 3.1: Tỷ lệ cơ giới hóa trong quy trình canh tác lúa của huyện Tân Thạnh và
Vĩnh Hưng
Gieo trồng (sạ hàng 48,5%)
Tưới tiêu (100%)
Trục thả
Khâu Chăm sóc
Phun thuốc (44%)
Làm cỏ (0%)
Bón Phân (0%)
Vận chuyển (90%)
Bảo quản
Thu hoạch 2 giai đoạn (67,7%) Gặt thủ công (29,7%)
Gặt xếp dãy (38%)
Đập (100%)
Thu hoạch GĐLH (32,3%)
Khâu Thu hoạch
Sấy (18% Hè Thu) Phơi thủ công
Trang 13Máy kéo (chiếc)
Tỷ lệ (%)
Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh năm 2009
Với số lượng máy trên không những đủ đảm bảo 100% bằng cơ giới cho công việc làm đất trên địa bàn mà còn có thể phục vụ cho các vùng lân cận
Các loại máy thường dùng là: KUBUTA, YANMAR, MITSUBISHI, … có công suất từ 12 – 35 Hp, trên 50 Hp
3.1.1.1 Vụ Đông Xuân
Làm đất vụ Đông Xuân được chuẩn bị rất kĩ và chia làm 2 giai đoạn
* Giai đoạn 1: Làm đất ngay sau vụ Hè Thu, đây là công việc làm đất sơ bộ trước khi ngâm lũ
Hình 3.1: Trục thả ngâm lũ
- Bước 1: Sau khi thu hoạch tiến hành cày hoặc xới đất trước khi ngâm lũ
- Bước 2: Khi nước lũ về ngập mặt ruộng khoảng 30-50 cm, người dân tiến hành trục thả
* Giai đoạn thứ 2: Làm đất sau khi lũ về, được tiến hành qua 3 bước
- Bước 1: Khi nước rút xuống vừa nổi đê bao an toàn, người dân tập hợp gia cố đê bao của mình để đặt motor bơm, máy bơm tiến hành rút nước ra
- Bước 2: Khi nước đã rút cạn người dân sửa ruộng theo 2 phương pháp: + Phương pháp 1: Trước tiên dùng len be bờ để giữ nước trên mặt ruộng, tiếp theo trục và bừa cho đất bằng phẳng
Trang 14+ Phương pháp 2: Dùng máy kéo có gắn đôi bánh lồng cùng bộ phận chạt phía sau tiến hành trục - chạt và san bằng mặt ruộng
- Bước 3: Làm các mương rãnh thoát nước ở các nơi trũng
Hình 3.2: Máy trục bánh lồng có gắn chạt
3.1.1.2 Vụ Hè thu
Làm đất vụ Hè Thu đơn giản hơn và được tiến hành qua 4 bước:
+ Bước 1: Đốt đồng sau khi thu hoạch vụ Đông Xuân
Hình 3.3: Người dân đốt đồng
+ Bước 1: Tiến hành làm đất theo hai cách là cày hoặc phay
Hình 3.4: Nông dân phay đất
Trang 15+ Bước 3: trục chạt với máy kéo có gắn đôi bánh lồng và bộ phận chạt + Bước 4: Người dân làm các rãnh thoát nước nơi trũng cho nước rút đều
Hình 3.5: Nông dân san bằng mặt ruộng
3.1.2 Khâu gieo sạ
Chuẩn bị hạt giống: Giống được chuẩn bị thật kĩ qua 4 bước
- Bước 1: Làm sạch hạt lúa trước khi ngâm ủ bằng cách ngâm hạt trong nước
muối 15% trong thời gian 5-10 phút, loại bỏ hạt lép lửng và lẫn tạp
Hình 3.6: Nông dân rê lúa giống (làm sạch giống thủ công)
- Bước 2: Cho giống vào bao ngâm trong nước sạch 30 giờ
- Bước 3: Rửa giống bằng nước sạch, để ráo nước, ủ trong 24 giờ
- Bước 4: Xử lý giống trước khi gieo bằng Regent, Actara hoặc Carban 3%
Phương pháp gieo sạ
- Lượng hạt giống gieo: 100 – 140 kg/ha (sạ hàng), 160 – 190 kg/ha (sạ lan)
- Khoảng cách gieo: hàng cách hàng 20 cm (đối với sạ hàng)
- Các loại giống được dùng để gieo sạ là: VLD 95 – 20, IR50404, OM 4900, Jasmine 85, …
Trang 16Hình 3.7: Nông dân sạ lúa
Bảng 3.3: Số lượng công cụ sạ hàng
DT sạ hàng (ha)
Chi tiết Công cụ sạ hàng
(chiếc)
DT canh tác (ha)
Tỉ lệ (%)
Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh (2009)
Qua khảo sát, điều tra thực tế tại huyện Tân Thạnh và Vĩnh Hưng gieo sạ với
sự hỗ trợ của công cụ sạ hàng là 48,5% trong 107.682 ha Riêng vụ Hè Thu diện tích gieo sạ bằng công cụ sạ hàng giảm, do vụ Hè Thu năng suất không cao, bên cạnh đó lại cộng thêm khí hậu có phần khắc nghiệt hơn vụ Đông Xuân
3.1.3 Tưới tiêu
“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” chính tầm quan trọng này mà
nước được cấp trên đồng ruộng phải đúng lúc, đủ số lượng
Hình 3.8: Nông dân sử dụng chiếc gầu sòng tưới nước cho lúa (ảnh minh họa)
Trang 17Đã từ lâu trong nông nghiệp không còn thấy bóng dáng của chiếc gầu sòng, cũng như bao tỉnh bạn, tưới nước cho lúa Long An đạt 100% cơ giới
Bảng 3.4 Số lượng động cơ diesel
Nội dung Đơn vị Động cơ diesel (chiếc)
DT canh tác (ha)
Tỉ lệ (%)
Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh (2009)
Với số lượng động cơ diesel hiện có thì đủ đáp ứng cho việc cung cấp nước cho 107,682 ha lúa
Ngoài những động cơ bơm nước tại huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh có 13 trạm bơm nước bằng motor cung cấp cho 9.140 ha trồng lúa
Hình 3.9: Motor bơm nước
Ngoài những đợt bơm chính còn có một đợt bơm lớn quan trọng đó là đợt rút nước ra vào trung tuần tháng 11 (vụ Đông Xuân)
3.1.4 Chăm sóc
Công việc chăm sóc chủ yếu là bón phân, xịt thuốc và diệt cỏ dại cho đến việc cung cấp nước cho cây lúa giúp cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao
* Bón phân: Khâu bón phân là khâu hoàn toàn bằng thủ công, chưa có sự hỗ
trợ cơ giới
Trang 18Hình 3.10: Nông dân bón phân cho lúa
Ngoài bốn đợt bón phân chính thì có nhiều nơi có thêm một đợt bón giặm trước hoặc sau khi sạ lúa
* Phun xịt: Từ lâu nông dân đã quen thuộc với bình xịt mang vai với năng
suất thấp và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe người dân Ngày này với sự hỗ trợ của
cơ giới, việc phun xịt cũng tương đối đơn giản hơn
Hình 3.11: Nông dân xịt thuốc
Bảng 3.5: Số lượng máy xịt vụ Đông Xuân Nội dung
Đơn vị
Máy xịt đa năng (cái)
DT canh tác (ha)
DT phun xịt (ha)
Tỉ lệ (%)
Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh (2009)
Qua khảo sát và điều tra thực tế tại huyện Tân Thạnh và Vĩnh Hưng số lượng máy xịt đa năng 13.358 máy đáp ứng đủ 47.255 ha và chiếm tỉ lệ 43,9% trên tổng diện tích canh tác là 107.682 ha
Trang 19Thông qua lần điều tra thực tế tại xã Khánh Hưng huyện Vĩnh Hưng được biết tại đây có xuất hiện máy xịt giàn do nông dân tự chế Máy này là máy tự chế của chú Nguyễn Văn Kiến, Chú cho biết máy có xuất thân từ nông dân tự chế tại tỉnh Kiên Giang Do Chú thấy loại máy này khá hay nên chú học hỏi và tự thiết kế lại, máy có năng suất cao, ít tốn nhân công – chỉ cần 1 người điều khiển, dễ sử dụng, khi xịt thuốc người vận hành gần như không tiếp xúc với thuốc, lưu lượng thuốc phun ra liên tục đều, mạnh có thể xịt rầy tốt hơn
Hình 3.12: Nông dân huyện Vĩnh Hưng sử dụng máy xịt giàn phun thuốc
Các thông số kỹ thuật của máy:
- Công suất của động cơ: 5,5 – 6,5 Hp
- Đường kính bánh xe: 1,9 m
- Bề rộng làm việc của máy là: 15m
- Năng suất: 30 ha/ngày (10h)
- Tổng trọng lượng máy: 300 - 450 Kg
* Làm cỏ: Đây là khâu ít quan trọng, vì nếu ta làm tốt khâu phun xịt, chọn
đúng thuốc, đúng lượng thì hạn chế sự phát triển của cỏ Chính vì vậy đã có cơ giới trong khâu phun xịt thuốc thì làm cỏ vẫn được ứng dụng từ máy phun xịt thuốc, nhưng vẫn còn lượng cỏ còn sót lại sau khi dùng thuốc hóa học để diệt cỏ và cho
đến nay cũng chưa thể cơ giới hóa được khâu này
3.1.5 Thu hoạch
Thu hoạch lúa ở tỉnh Long An được tiến hành bằng hai phương pháp:
* Phương pháp 1: Thu hoạch hai giai đoạn, đây là phương pháp phổ biến nhất từ trước đến nay và được tiến hành qua 2 bước:
- Gặt lúa: Trước đây, hình thức gặt lúa hoàn toàn bằng thủ công Nhưng
hiện nay, gặt lúa có hai phương pháp để lựa chọn:
Trang 20+ Phương pháp gặt thủ công: Đây là phương pháp có từ lâu đời, cho
năng suất thấp, và chiếm tỉ lệ 29,7% trong tổng diện tích canh tác 107.682 ha
+ Phương pháp gặt có sự hỗ trợ của cơ giới: Dùng máy gặt xếp dãy
Hình 3.13: Gặt lúa
Thông số kĩ thuật của máy cắt xếp dãy thông thường
- Động cơ 8 – 10 Hp
- Bề rộng làm việc 1,4m
- Năng suất của máy là 0,25 – 0,3 ha/giờ
Bảng 3.6: Số lượng máy cắt xếp dãy Đơn vị Máy cắt xếp
dãy (chiếc)
DT canh tác (ha)
DT cơ giới (ha)
Tỉ lệ (%)
Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh
Hiện trạng cơ giới hóa khâu gặt lúa tại huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh đạt 38% tổng 107.682 ha diện tích canh tác lúa
- Đập lúa: Đây là khâu đã được 100% bằng cơ giới
Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh (2009)
Với số lượng máy hiện có, việc suốt lúa bằng máy đập chiếm 67,7% tổng diện tích thu hoạch lúa tại huyện Tân Thạnh và Vĩnh Hưng
Trang 21Hình 3.14: Đập lúa
* Phương pháp 2: Dùng máy gặt đập liên hợp thu hoạch lúa, và đây là sự lựa chọn của hầu hết các hộ dân Hiện tại tỉnh Long An có 756 máy gặt đập liên hợp đáp ứng 35% tổng diện tích canh tác lúa (457.015 ha)
Hình 3.15: Thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp
Máy gặt đập liên hợp tại tỉnh đa phần là máy của Trung Quốc, số ít là của Nhật và phần nhỏ là do Việt Nam sản xuất
Thông số kĩ thuật của máy gặt đập liên hợp 4LZ-160B
- Động cơ 71 Hp
- Bề rộng làm việc 2 m
- Năng suất của máy là 6 ha/ngày (10 giờ)
Bảng 3.8: Số lượng máy gặt đập liên hợp Đơn vị hành
chánh
Máy gặt đập liên hợp (chiếc)
Diện tích canh tác
(ha)
Diện tích cơ giới (ha)
Tỉ lệ (%)
Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh (2009)
Trang 22Thu hoạch lúa bằng máy gặt đạp liên hợp tại huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh đạt 32,3% tổng diện tích thu hoạch lúa
3.1.6 Vận chuyển
Hình 3.16: Dùng máy kéo có romooc vận chuyển lúa
- Vận chuyển bằng đường bộ: Đa số người dân dùng máy kéo 2 bánh có gắn thêm romooc vận tải để vận chuyển lúa Thường dùng cho chuyển lúa ra bờ kênh
- Vận chuyển bằng đường thủy về nhà: Đa phần các phương tiện vận tải đường thủy ở đây đều có gắn các loại máy cơ giới giúp người dân vận chuyển nhanh và hiệu quả hơn
Hình 3.17: Vận chuyển lúa
Bảng 3.9: Số lượng máy vận chuyển Đơn vị Tàu thuyền vận
chuyển (chiếc)
Máy kéo + moóc kéo (chiếc)
Sản lượng lúa (tấn)
Tỉ lệ (%)
Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh
Trang 23Qua số liệu điều tra thực tế tại huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh, với sự hỗ trợ của 3.161 chiếc máy kéo có moóc kéo và 22.126 tàu thuyền đã cơ giới hóa khâu vận chuyển 90% tổng sản lượng thu hoạch
Ngoài ra, người dân còn chuyển lúa về nhà bằng xe máy vào vụ Đông Xuân
3.2.7 Làm khô – chế biến
* Làm khô: Sau khi thu hoạch lúa đa số người dân sử lý theo 2 hướng:
+ Hướng 1: Bán lúa tươi tại ruộng là sự lựa chọn của hầu hết người dân, tuy nhiên thường giá bán không cao, thương lái ép giá để tăng lợi nhuận
+ Hướng 2: Vận chuyển về nhà phơi khô hoặc sấy sau đó mới bán Đây cũng
là giai đoạn khó tính tỷ lệ cơ giớ hóa, bởi vì nó phụ thuộc rất nhiều vào thời điểm thu hoạch
Bảng 3.10: Số lượng máy sấy Đơn vị hành
chánh
Máy sấy (chiếc)
Sản lượng lúa (tấn)
Sản lượng lúa sấy (tấn)
Tỉ lệ (%)
Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh
Hiện tại trên địa bàn huyện Tân Thạnh và Vĩnh Hưng có 85 máy sấy Vụ Hè Thu sấy lúa ước tính 18%
Vào thời điểm thu hoạch, nếu trời nắng ráo người dân sẽ tiến hành phơi lúa,
sử dụng nguồn năng lượng vô tận là năng lượng mặt trời Khi gặp thời tiết ẩm ướt, mưa kéo dài, cùng với sự thu hoạch đồng loạt thì thiếu máy sấy càng trở nên nghiêm trọng
Hình 3.18: Làm khô lúa
Trang 24Cấu trúc lò sấy ở Long An thường từ 8- 12 tấn/mẻ, trung bình một mẻ sấy mất khoảng 8 – 10h (tùy thuộc vào độ ẩm của nguyên liệu), có khi đến 12h do đổ nhiều, thêm phần lúa đã ngậm nước Do đó, việc sấy lúa cũng trở nên khá phức tạp khi vào mùa vụ
* Chế biến: Với quy mô của của một hộ dân, thì chỉ tiến hành xay xát gạo để
ăn, số lượng là rất ít và đủ đáp ứng nhu cầu xay xát tại huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh
Bảng 3.11: Số lượng máy xay xát Đơn vị Loại nhỏ lẻ
Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh
Với số lượng máy xay xát hiện có đủ để đáp ứng nhu cầu của hộ dân, phần ít
số lượng máy xay xát công suất lớn phục vụ cho xuất khẩu
Biểu đồ 3.2: Cơ giới hóa cây mía huyện Bến Lức
Việc canh tác mía chủ yếu bằng thủ công, cơ giới chỉ áp dụng đối với khâu: làm đất, tưới tiêu, phun thuốc, vận chuyển
Trang 25Do điều kiện tự nhiên của tỉnh nên người dân trồng mía Long An sản suất được các vụ mía chính:
+ Vụ Mía tơ: Là vụ quan trọng nhất trong quá trình canh tác cây mía Vì nó
là một nền tảng rất quan trọng và cần thiết để có vụ mía gốc cho năng suất cao
Sơ đồ 3.2: Tỷ lệ cơ giới hóa trong quá trình sản xuất vụ mía tơ
Trang 26+ Vụ Mía Lưu Gốc: Mía tơ sau khi thu hoạch để lại gốc mang nhiều đốt và
mầm, từ gốc mầm nẩy thành nhiều con Cây con đẻ nhánh tạo thành một bụi mía, sinh trưởng vươn cao, chín và cho thu hoạch vụ gốc Một vụ mía tơ có thể lưu lại cho ba hoặc bốn vụ mía gốc
Sơ đồ 3.3: Tỷ lệ cơ giới hóa trong quá trình sản xuất vụ mía gốc
3.2.1 Làm đất (Chỉ áp dụng đối với mía tơ)
Hiện tại khâu làm đất mới chỉ cơ giới hóa được 10.306 ha đạt 97% tổng diện tích 10.625ha trồng mía tại huyện Bến Lức
Sau khi thu hoạch vụ mía năm trước, người dân liền bắt tay làm đất để chuẩn
bị xuống giống cho vụ mới Thường tiến hành theo 3 bước:
Bước 1: Vệ sinh đồng ruộng và đốt đồng:
Trang 27+ Phương pháp 1: Dùng máy cày chảo cỡ lớn hoặc cỡ trung cày với độ sâu
từ 10 – 20 cm Phương pháp này sử dụng cho ruộng mía có nhiều cỏ và chưa làm đất qua nhiều vụ
Hình 3.19 Máy cày làm đất mía
+ Phương pháp 2: Người dân dùng máy phay cỡ lớn hoặc cỡ trung phay với
độ sâu từ 5 – 10 cm
Bước 3: Kéo líp rộng 5 – 7 m, mương giữa 2 líp sâu từ 40 – 60 cm, rộng từ
80 – 100 cm Sau đó đào rãnh bằng thủ công, mỗi rãnh cách nhau 1,5 – 1,6m, sâu từ
15 – 20cm và chuẩn bị xuống giống
Chuẩn bị hom giống và trồng:
- Bước 1: Làm sạch giống mía
- Bước 2: Ngâm hom giống trong nước sạch khoảng 24h
- Bước 3: Trồng hom giống theo hàng ngang của líp
Trang 283.2.4 Chăm sóc
Việc chăm sóc mía của tỉnh chủ yếu bằng thủ công, ngay cả khi trên thị trường đã có một số máy hỗ trợ canh tác mía Chăm sóc có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và phẩm chất của cây mía gồm nhiều khâu: Làm cỏ, bón phân, phun thuốc và giặm
+ Phun thuốc
Đối với khâu này tỷ lệ cơ giới hóa của huyện Bến Lức chỉ đạt khoảng 25% với 75 máy Phần lớn người dân nơi đây phun thuốc bằng bình xịt mang vai thủ công rất nặng nhọc
Hình 3.21: Phun thuốc cho Mía
Trang 29+ Bón phân
Khâu bón phân được thực hiện bằng thủ công 100%
Hình 3.22: Nông dân bón phân cho Mía
3.2.5 Thu hoạch
Hiệu quả của sản xuất đường phụ thuộc rất nhiều vào độ chín của mía và chất lượng mía, quyết định giá cả thu mua nguyên liệu Việc thu hoạch mía của tỉnh được tiến hành bằng thủ công 100% Mặc dù trên thị trường đã có máy thu hoạch mía nhưng ở đây máy thu hoạch mía vẫn chưa được ứng dụng
Thu hoạch mía thủ công gồm 3 công đoạn:
- Đốn: Người dân trồng mía thuê nhân công đốn mía và xếp ngay ngắn về một phía
- Chặt ngọn: Nhân công tiếp tục loại bỏ lá và chặt ngọn Ngọn mía có thể làm giống cho vụ kế tiếp
- Bó: Nhân công bó mía đã chặt thành từng bó nhỏ để vận chuyển dễ dàng
Hình 3.23: Thu hoạch thủ công
Trang 30+ Giai đoạn vận chuyển thủ công: Mía sau khi thu hoạch và bó sẵn trên
ruộng, người dân thuê nhân công vác thủ công tập trung lại một nơi thuận tiện cho vận chuyển cơ giới
Hình 3.24: Nông dân vận chuyển mía thủ công
+ Giai đoạn vận chuyển bằng cơ giới: Giai đoạn này gồm 2 phương pháp:
- Phương pháp 1: Dùng ghe hoặc tàu chuyển đến nhà máy Phương pháp này thường sử dụng cho những ruộng mía ở vùng sâu vùng xa, không thể vận chuyển được bằng các phương tiện khác Ưu điểm của phương pháp này là có thể vận chuyển với một khối lượng mía lớn
Hình 3.25: Thương lái vận chuyển mía bằng đường sông
- Phương pháp 2: Dùng xe tải vận chuyển mía về nhà máy Phương pháp này thường được người dân sử dụng hơn, do nó có nhiều ưu điểm như: Tiết kiệm
Trang 31được thời gian và hiệu quả kinh tế khá cao Tuy nhiên phương pháp này có hạn chế
là chỉ sử dụng được ở những ruộng mía có đường giao thông thuận lợi
Hình 3.26: Vận chuyện mía bằng xe tải
Ngoài ra, khâu vận chuyển mía thường được các nhà máy mía đường đảm nhiệm, trước khi người dân trồng mía, nhà máy đường đã ký hợp đồng thu mua mía nguyên liệu với người dân với giá thỏa thuận Trước khi mía thu hoạch khoảng một tháng thì người dân chủ động liên hệ với nhà máy đường và thỏa thuận giá cả, nên ngay khi thu hoạch xong thương lái đã có mặt ngay để thu mua và vận chuyển về nhà máy rất nhanh chóng
3.2.7 Chế biến
Việc chế biến mía đường ở đây đã cơ giới hóa được 100% Do đặc điểm nguyên liệu mía chế biến đường, có khối lượng lớn, không thể bảo quản dài ngày nên nhà máy phải hoạt động trong một thời gian dài tương ứng với mùa thu họach mía trên đồng ruộng Long An có hai nhà máy chế biến mía đường lớn đó là nhà máy đường Hiệp Hòa và nhà máy đường NIVL Hai nhà máy này gần như đảm nhiệm toàn bộ việc thu mua và chế biến mía của tỉnh Long An Tuy nhiên, việc thu mua mía và ô nhiễm môi trường của hai nhà máy này đang là một vấn đề bức xúc của xã hội Việc bảo vệ giá mía nguyên liệu của người dân sau khi thu hoạch là hết sức cần thiết và nó có ảnh hưởng rất lớn quá trình cơ giới hóa sản xuất cây mía
Trang 32Tổng chi phí (tỷ đồng)
Trung bình (1.000 đồng/ha)
Nguồn: Mẫu phiếu điều tra huyện Vĩnh Hưng và Tân Thạnh (2009)
Tỉ lệ cơ giới và thủ công trong sản
xuất lúa
Thủ Công37%
cơ giới63%
Biểu đồ 4.1: Tỉ lệ cơ giới và thủ công trong sản xuất lúa tại Vĩnh Hưng và Tân
Thạnh (2009)