Bệnh tật và TV tim mạch trong và ngoài nước: Năm 1988, TCYTTG một lần nữa đưa ra những số liệu khẳng định lại vị trí nguy hiểm số 1 của bệnh tim mạch, đồng thời có những đánh giá cụ thể
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển như vũ bão của kinh tế, khoa học và xã hội thìnhân loại cũng phải đối mặt với sự thách thức của gánh nặng bệnh tật nhưbệnh tim mạch, ung thư và cả một số bệnh truyền nhiễm mới xuất hiện Trong
đó bệnh tim mạch là loại bệnh phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, đồngthời có tỷ lệ TV cao nhất trong các bệnh Các bệnh tim mạch chính làTBMMN, BTTMCB, tâm phế mạn, suy tim, bệnh mạch vành, thấp tim và cácbệnh mạch máu TBMMN là bệnh lý trầm trọng, tỷ lệ TV cao, để lại di chứngnặng nề ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống, sinh hoạt của người bệnh, cũngnhư gia đình và xã hội Các bệnh này gây bệnh cho mọi lứa tuổi với tỷ lệ mắccao, cao nhất cho nhóm tuổi trên 70 Vì vậy, bên cạnh những tiến bộ khoahọc trong thăm khám và điều trị được ứng dụng ngày càng rộng rãi, việc đánhgiá lại tình hình bệnh tật và TV là một việc làm hết sức cần thiết Nó giúpchúng ta nhìn nhận lại một cách khách quan thực trạng bệnh tật, tử vong vớinhững vấn đề còn tồn tại; từ đó rút kinh nghiệm và đưa ra những ý kiến thiếtthực, góp phần vào quá trình không ngừng nâng cao hiệu quả điều trị, hạ thấp
tỷ lệ mắc bệnh và TV, từng bước nâng cao đời sống sức khỏe nhân dân
Ở Bắc Ninh có rất ít khảo sát đánh giá về loại bệnh TV tim mạch để cónhìn nhận tổng quan tầm quan trọng của nó, từ đó có phương hướng phòngchống bệnh tim mạch Do vậy chúng tôi tiến hành khảo sát TV tim mạchtrong 4 năm tại tỉnh Bắc Ninh (từ năm 2005 đến năm 2008) với mục tiêu:
1 Mô tả tỷ lệ TV do một số bệnh tim mạch trong cộng đồng tỉnh Bắc Ninh, 2005 – 2008
2 Phân tích chiều hướng TV do bệnh tim mạch trong giai đoạn 4 năm (2005 – 2008)
Trang 2Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Lịch sử thăm dò tim mạch:
Từ thời kỳ Phục Hưng, lịch sử về tim mạch học mới bắt đầu mở ranhững trang đầu tiên: Aegina mới đề cập đến tim mạch, Galen mới nói đến sựtuần hoàn của máu “máu khi vào thất phải phải đi qua một cái van” [9] Đếnnăm 1625, quan niệm của W.Harvey về máu tuần hoàn mới được chứngminh và các khái niệm về mao mạch được hình thành Một loạt các pháthiện ra đời như: sự phình tách động mạch, còn ống động mạch, lỗ bầu dục
ở vách liên nhĩ, sự đổi màu của máu khi đi qua phổi…Giorgio Baglivi(Italia) đã phát triển mổ tử thi, mô tả suy tim và vôi hóa màng ngoài tim,phân biệt cơ vân và cơ trơn Đặc biệt, Albertim đã cho ra đời cuốn bệnhtim đầu tiên [9] Thời kỳ này chưa có những số liệu thống kê chính thức vềbệnh tật và TV tim mạch
Sang nửa đầu thế kỷ 19, sự ra đời của ống nghe Laenec, Allain Burrestìm hiểu sinh lý bệnh cơn đau thắt ngực, máy đo huyết áp do Poiseuille… đãđóng góp hết sức to lớn trong chẩn đoán bệnh tim mạch Và đặc biệt là nhữngtiến bộ vượt bậc của loài người trong nửa sau thế kỷ 19, nửa đầu thế kỷ 20:Marey phát minh ra điện tâm đồ (1876) và được Einthoven hoàn chỉnh(1903); Xquang được phát minh năm 1895 và ứng dụng vào y học năm 1902;chụp mạch máu với chất Iod được áp dụng đầu tiên năm 1920 và chụp độngmạch ngoại vi năm 1930; thông tim phát hiện đầu tiên bởi Hales (1796) vàhoàn chỉnh bởi Claude Bernard Forssman; Rousthoi tiến hành thí nghiệmchụp động mạch vành trên thỏ năm 1933, Radner tiến hành lần đầu tiên trênngười năm 1945 và năm 1959 Sones thực hiện chụp động mạch vành chọnlọc; siêu âm áp dụng lần đầu tiên trên người năm 1953; ghi hình cộng hưởng
từ (MRI) được mô tả đầu tiên năm 1946 bởi 2 nhà vật lý học và được hệthống hóa vào lâm sàng năm 1950 [9]
Trang 31.2 Bệnh tật và TV tim mạch trong và ngoài nước:
Năm 1988, TCYTTG một lần nữa đưa ra những số liệu khẳng định lại
vị trí nguy hiểm số 1 của bệnh tim mạch, đồng thời có những đánh giá cụ thểhơn về sự thay đổi tình hình TV do bệnh tim mạch gây ra ở các nhóm nướckhác nhau trên thế giới Theo TCYTTG, TV do bệnh tim mạch đứng hàngđầu trên con số TV toàn thế giới, chiếm 23% trong tổng số TV, vượt lên cácnhóm bệnh khác như hô hấp (18%), nhiễm trùng và ký sinh trùng (14%), ungthư (9%), TV do tai nạn giao thông (6%), thai sản (6%) [8] Bệnh tim mạchđược xác định là nguyên nhân mắc bệnh và TV quan trọng nhất ở tất cả cácnước đã Công nghiệp hóa và ngày càng phát triển mạnh mẽ ở các nước đangphát triển [17]
Tính riêng ở các nước phát triển, vị trí số 1 của TV tim mạch ngày càngnổi bật, chiếm 48% tổng số TV, vượt xa ung thư (19%), các bệnh nhiễm trùng
và ký sinh trùng (18,5%), các bệnh thai sản (18,5%), hô hấp (7,5%), TV do tainạn giao thông (7%) Nói cách khác cứ 2 người chết thì có 1 người chết dobệnh tim mạch [18] Tuy nhiên, điều đáng mừng là vài chục năm gần đây, ởnhiều nước phát triển đã thấy con số TV tim mạch có chiều hướng giảm đi rõrệt: TV ở nam giới giảm 60% ở Nhật Bản; 50% ở các nước Canada, Úc, Pháp,
Mỹ (ở nữ giới cũng giảm như vậy) Các nước Scandinavian gồm các nướcĐan Mạch, Na Uy, Thụy Điển…(có cùng ngữ hệ Scandinavia), Ailen, Bồ ĐàoNha, Tây Ban Nha chỉ giảm 20 - 25% [20]
Ở các nước đang phát triển hay ở các nước nghèo, tỷ lệ TV tim mạchchỉ chiếm 16% TV chung, đứng hàng thứ tư sau các bệnh hô hấp (21%),nhiễm trùng và ký sinh trùng (18%), các bệnh khác (27%) và trên các bệnh dothai sản (7%), ung thư (6%), tai nạn giao thông (5%) [20] Nhưng đáng longại là xu hướng gia tăng của các bệnh tim mạch và gia tăng TV do các bệnhtim mạch tại các nước này Cụ thể tại một số nước Đông Âu: TV tim mạch
Trang 4tăng lên 40% ở Hungari, Séc và Slovakia; tăng 60% ở Ba Lan; tăng gần 80%
ở Bungari trong vài chục năm gần đây Ở Trung Quốc, TV do bệnh tim mạchước tính là 86,2 trường hợp/100.000 người năm 1957 thì đến năm 1990 tănglên tới 214,3 trường hợp/100.000 người (tức là từ 12,1% tăng lên 35,8% tổng
số TV) [20]
Ở nước ta từ những năm 60, GS Đặng Văn Chung đã cho thấy: tại bệnhviện Bạch Mai, số mắc bệnh tim mạch là nhiều nhất, trên cả các bệnh phổi vàtiêu hóa nhưng chưa có thống kê đầy đủ trên phạm vi cả nước [7]
Sang những năm 70, theo BS Nguyễn Huy Dung: qua thống kê của cácbệnh viện, các cơ sở phòng khám thì thấy các bệnh tim mạch có xu hướngngày càng gia tăng Ở Hà Nội và Hải Phòng, các bệnh tim mạch đang tăng lênchiếm hàng đầu trong các bệnh nội khoa (26% - 29%), đứng đầu trong cácnguyên nhân gây TV và số 1 trong các cấp cứu nội khoa [12]
Bệnh tật và TV tim mạch ở nước ta từ cuối những năm 70 – đầu nhữngnăm 80 đến nay vẫn có chiều hướng gia tăng Số liệu tổng kết của GS PhạmGia Khải và cộng sự qua thống kê từ các bệnh viện cho thấy rõ điều đó [14]
Do chiều hướng gia tăng này nên vị trí của bệnh tim mạch so với các bệnhkhác cũng không thay đổi nhiều mặc dù việc ứng dụng các tiến bộ trong thămkhám và điều trị đã giảm được một số lượng đáng kể TV tim mạch hàng năm,cũng theo GS Phạm Gia Khải và cộng sự [14]: bệnh tật và TV tim mạch ởnước ta không nằm ngoài quy luật vận động chung của nhóm nước đang pháttriển Mặc dù tỉ lệ mắc và TV do các bệnh tim mạch chưa đứng đầu trong cácnguyên nhân gây TV như ở các nước phát triển nhưng lại có xu hướng giatăng trong những thập niên gần đây
Nhìn chung trên toàn cầu, bệnh tim mạch là nguyên nhân gây TV hàngđầu từ nhiều thập kỷ nay Trong đó, ở một số nước phát triển, số TV tim mạchtrước kia rất cao thì gần đây đang giảm đi đáng kể Trái lại, ở các nước đang
Trang 5phát triển, TV tim mạch hiện nay không đứng hàng đầu nhưng lại ngày càng
có xu hướng gia tăng Tình hình này cùng với tính chất cấp cứu của bệnh timmạch đã và đang trở thành mối đe dọa đòi hỏi nhân loại phải có những giảipháp hữu hiệu ngăn chặn kịp thời
1.3 Các bệnh tim mạch gây TV cao nhất:
Ở hầu hết các nước trên thế giới, TV do BTTMCB và TBMN là hainguyên nhân gây TV hàng đầu trong số các bệnh tim mạch Ở nhóm các nướcđang phát triển, không thể không kể đến nguyên nhân gây TV của bệnh thấptim và các bệnh tim do thấp Nhiều nước đang phát triển trong đó có nước ta,bệnh thấp tim và các bệnh do thấp từ nhiều năm nay vẫn là nguyên nhân gây
TV hàng đầu trong số các bệnh tim mạch Ở các nước đang phát triển khác,nếu không đứng hàng đầu thì tỉ lệ mắc bệnh, TV do bệnh thấp tim và các bệnhtim do thấp cũng là những con số khiến chúng ta đáng phải lưu tâm
1.3.1 Bệnh tai biến mạch máu não:
TBMMN là tình trạng tổn thương các chức năng thần kinh xảy ra độtngột do tổn thương mạch máu não (thường tắc hay do vỡ động mạch não).Các tổn thương thần kinh thường khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại quá 24 giờ,diễn biến có thể dẫn đến TV hoặc để lại di chứng
Thống kê gần đây tại Hoa Kỳ (2005) thấy rằng hàng năm có khoảng700.000 trường hợp mới mắc TBMMN, số bệnh nhân TV là 160.000 người vàước tính cứ mỗi phút có một bệnh nhân mắc TBMMN Với sự áp dụng củaphương pháp chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) trong lâm sàng đã giúpphát hiện thêm khoảng 22 triệu các trường hợp bị TBMMN nhưng chưa cócác triệu chứng trên lâm sàng Gánh nặng của TBMMN rất lớn và là nguyênnhân hàng đầu gây tàn phế ở các nước phát triển và là gánh nặng lớn cho nềnkinh tế và xã hội (ở Hoa Kỳ đã chi phí hàng năm ước tính khoảng 45 tỷ đôlacho chẩn đoán điều trị bệnh TBMMN [13] Theo dự đoán, tỷ lệ tử vong của
Trang 6TBMMN sẽ tăng lên gấp đôi đến năm 2020 Do đó việc dự phòng có vai tròrất quan trọng giúp giảm tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong và tỷ lệ tàn phế củaTBMMN.
Ở nước ta, theo thống kê của Bộ Y Tế về tỷ lệ tử vong tại sáu bệnh việnlớn tại Hà Nội cho thấy TBMMN lại là nguyên nhân gây tử vong đứng hàngđầu Gần đây, các nghiên cứu thấy rằng tỷ lệ mắc trong dân cư miền Bắc là75/100.000 dân, tỷ lệ mới mắc hàng năm là 53/100.000 dân
1.3.2 Bệnh nhồi máu cơ tim:
Ngày nay bệnh mạch vành đã trở thành vấn đề thời sự không chỉ ởnhững nước phát triển mà ngày càng gia tăng ở các nước đang phát triển Ở
Mỹ, có khoảng 13 triệu người mắc bệnh mạch vành, trong số đó có một nửa
là số người bị nhồi máu cơ tim và nửa còn lại là những người mắc bệnh timthiếu máu cục bộ mạn tính Ở Việt Nam tuy chưa có số liệu thống kê trên toànquốc nhưng theo con số thống kê của Viện Tim Mạch Quốc Gia thì trong 5năm trở lại đây số bệnh nhân mạch vành đã tăng gấp đôi (BS Nguyễn ThịHoa_KCBTYC_BV Bạch Mai)
Nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp là một trong những nguyên nhân hàngđầu gây tử vong ở các nước phát triển Ước tính ở Mỹ có khoảng 1 triệu bệnhnhân nhập viện mỗi năm vì NMCT cấp và khoảng 200.000 đến 300.000 bệnhnhân tử vong hảng năm vì NMCT cấp Tại các nước đang phát triển, trong đó
có Việt Nam, số bệnh nhân NMCT ngày càng có xu hướng gia tăng và pháttriển nhanh chóng Nếu như những năm 50, NMCT là bệnh rất hiếm gặp thìhiện nay hầu như ngày nào cũng gặp bệnh nhân NMCT cấp nhập viện (tạiViện Tim mạch Quốc gia) [1] Thật vậy, vào những năm trước 1960, ViệtNam được biết đến 3 trường hợp chết vì nhồi máu cơ tim đầu tiên gồm 1người Ấn Độ, 2 người Việt Nam (1 kỹ sư và 1 bác sĩ) [11] Những năm từ
1963 trở đi, đặc biệt từ thập niên 90 cho đến những năm gần đây tình hình
Trang 7thay đổi hẳn: số trường hợp NMCT phát triển tăng vọt và ngày một nhiềuhơn, thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học trong nước
Các chuyên viên của TCYTTG họp tại Geneva năm 1988 cho rằngBTTMCB tăng nhiều hơn ở các nước phát triển là do những “xáo trộn của nềnvăn minh hiện đại” bao gồm:
+ Chế độ ăn quá thừa làm cho huyết áp, cholesterol máu, trọng lượng
cơ thể, tỷ lệ đái tháo đường tăng
+ Thói quen hút thuốc lá quá nhiều ở thế kỷ 20
+ Thói quen sống ngồi một chỗ, ít đi lại
Tính chung ở các Bệnh viện Hữu Nghị - Hà Nội, Bệnh viện Việt Tiệp –Hải Phòng và Bệnh viện Bạch Mai – Hà Nội năm 1965 mới chỉ có 22 trườnghợp NMCT (trong đó 9 trường hợp ở Bệnh viện Hữu Nghị, 3 trường hợp ởBệnh viện Việt Tiệp và 10 trường hợp ở Bệnh viện Bạch Mai), nhưng cho đếnnăm 1993, chỉ tính riêng trong năm, viện Tim Mạch Việt Nam đã gặp 95trường hợp, Bệnh viện Hữu Nghị 66 trường hợp và Bệnh viện Việt Tiệp – HảiPhòng 16 trường hợp [19]
Tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 1988 có 313 trường hợp NMCT thì 4năm sau (năm 1992) tăng lên 639 trường hợp [19] Cũng vậy, tại viện TimMạch Việt Nam, năm 1991 BTTMCB là 3% (GS Trần Đỗ Trinh và cs) thìnăm 1996 là 6,05% (GS Phạm Gia Khải) và năm 1999 là 9,5% (BS Trần VănDương) [17] Hay tại bệnh viện Đa khoa Hải Phòng từ 1964 đến 1978 có 40trường hợp trong 15 năm (Vũ Đình Hải, Đinh Thị Nga), từ 1979 đến 1990 có
50 trường hợp trong 12 năm (Vũ Đình Hải, Nguyễn Thị Dung) và từ 1991 đến
1995 có 68 trường hợp trong vòng 5 năm [5]
Những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị NMCT cấp hiện nay đã làmgiảm đáng kể tử vong do NMCT cấp Sự ra đời của đơn vị cấp cứu mạch vành(CCU) đầu những năm 60, tiếp đến các thuốc tiêu huyết khối những năm 80
Trang 8và hiện nay là can thiệp động mạch vành cấp cứu và những tiến bộ về cácthuốc phối hợp đã làm cho tỷ lệ tử vong do NMCT cấp trên thế giới hiện naygiảm xuống chỉ còn khoảng < 7% so với trước đây là > 20% [1]
1.3.3 Suy tim:
Suy tim là một tình trạng bệnh lý rất thường gặp trên lâm sàng.TCYTTG ước tính có khoảng 5 triệu người mới mắc suy tim hàng năm trêntoàn thế giới Theo nghiên cứu Framingham thì có khoảng 2,3 triệu người Mỹ
bị suy tim (1981) và cũng ở Mỹ mỗi năm có khoảng 400.000 bệnh nhân mớimắc suy tim (thống kê năm 1983)
Tỷ lệ TV do suy tim vẫn ngày càng tăng trong khi các tai biến về mạchmáu não và mạch vành tim gây TV giảm 0,5 - 2% dân số bị suy tim, ở ngườigià có thể đến 10%
Theo thống kê của Viện Tim Mạch Việt Nam năm 1991 trong tổng số
1291 ca nhập viện có 765 ca suy tim, chiếm 59% 1984 - 1989 : có 27 ca suytim do tăng huyết áp, 312 ca suy tim do thấp khớp cấp và các bệnh van tim;bình quân mỗi năm khoảng 70 bệnh nhân
Khoa tim mạch Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội 1998 : Bệnh nhân suy tim
độ 2 trở lên là 98 trên tổng số 526 bệnh nhân tim mạch nhập khoa, chiếm18,63%
Theo Kannel W.B., công trình Framingham theo dõi 20 năm, tỷ lệ bệnhnhân nam suy tim ở lứa tuổi : 45 - 54 là 1,8/1000; 55 - 64 là 4/1000; 65 - 74 là8,2/1000; trung bình cứ sau 10 năm tỷ lệ suy tim tăng gần gấp đôi; 80% ngườisuy tim ở lứa tuổi trên 60
Mỹ có 2,5 triệu bệnh nhân suy tim, mỗi năm có thêm 400.000 bệnhnhân suy tim mới và 240.000 bệnh nhân suy tim tử vong, trong đó: 40% chếtđột ngột, 40% chết do tim không bơm được máu, 20% chết do biến chứngkhác
Trang 9Toàn thế giới có 15 triệu người suy tim, mỗi năm xuất hiện thêm500.000 ca suy tim mới, 15 - 35% người suy tim chết hàng năm [10].
1.3.4 Tâm phế mãn:
Tâm phế mãn (TPM) là một thuật ngữ ít BN biết đến và cũng ít ngườihiểu biết rõ về chứng bệnh này Người ta xếp nó vào nhóm bệnh lý tim mạchnhưng đôi khi cũng xem nó là bệnh lý của hô hấp Về chuyên môn thì TPM làmột tình trạng gây ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của tim phải, mà hậuquả là do biến đổi cấu trúc và chức năng của phổi Tâm là tim và phế là phổi,tức bệnh tim nhưng nguyên nhân là do phổi Bệnh này không phải là hiếmgặp mà ngược lại rất hay gặp sau khi bị bệnh phổi mãn tính, nhưng khi chẩnđoán thì được ghi sang thuật ngữ “suy tim” Chính vì lẽ đó mà ít BN biết rõđược
Cách đây hơn 30 năm, TCYTTG đã đưa ra định nghĩa về bệnh TPM,
đó là sự phì đại của thất phải do các bệnh lý thay đổi cấu trúc và chức năngcủa phổi (trừ những bệnh lý phổi ảnh hưởng đầu tiên đến tim trái, chẳng hạnbệnh tim bẩm sinh) Nhưng sau đó thì TCYTTG đã chỉnh sửa lại: thay thế
“phì đại thất phải” bằng “thay đổi cấu trúc và chức năng thất phải” Vì bệnhphổi tắc nghẽn mãn tính là nguyên nhân thường gặp nhất của TPM, cho nênkhi nói đến TPM người ta hay đề cập đến bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính Sựtiến triển của tăng áp động mạch phổi ở BN bệnh phổi giảm oxy máu là quantrọng nhất, nó không chỉ liên quan đến phì đại thất phải mà còn là yếu tố tiênlượng bệnh Ở Hoa Kỳ và châu Âu, ước tính có khoảng 10 - 30% BN nhậpviện vì suy tim sung huyết là TPM TPM đứng hàng thứ 3 trong các bệnh timthường gặp nhất ở người trên 50 tuổi sau THA và bệnh tim do xơ vữa mạchmáu Hàng năm, ở Hoa Kỳ có đến 80.000 người TV vì bệnh phổi tắc nghẽnmãn tính và con số này ở Vương quốc Anh là 30.000 [15]
Trang 10lệ mắc bệnh vẫn còn khá cao Tại Ấn Độ (1990) là 0,2% - 0,4%, Philippin(1986 - 1990) là 0,06% và Trung Quốc (1986 - 1990) là 0,07%.
Việt Nam nằm trong số những nước có tỷ lệ mắc cao Điều tra của việnNhi quốc gia vào những năm 1978- 1981 tại một số vùng, tỷ lệ mắc thấp tim
là 0,72% đến 0,94% và tỷ lệ này khác nhau tùy theo vùng địa lý và dân cư.Chương trình phòng thấp cấp 2 đã được ngành Nhi triển khai từ năm 1976,nhờ đó có tỷ lệ mắc bệnh, mức độ nặng của bệnh, tỷ lệ tử vong do thấp tim ởtrẻ em ngày càng có chiều hướng giảm Thống kê năm 1993 - 1996 tại miềnBắc Việt Nam tỷ lệ lưu hành thấp tim ở trẻ em nói chung là 0,45% Tại HàNội, theo nghiên cứu của Viện Tim mạch năm 1998, tỷ lệ lưu hành bệnh là0,17% (trong đó nội thành 0,06%, còn ngoại thành 0,65%), tỷ lệ mới mắc là3,1/100.000 người và chủ yếu là ở ngoại thành Tại thành phố Hồ Chí Minh,năm 2001, tần suất thấp tim ở trẻ em từ 6 đến 15 tuổi là 0,24% (Hoàng TrọngKim và cs) Bệnh có yếu tố xã hội: bệnh thường gặp ở những gia đình đôngcon, mức sống thấp, nhà ở chật, ẩm thấp Những địa phương triển khai tốtchương trình phòng chống bệnh thấp tim và chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp,
Trang 11tỷ lệ mắc bệnh giảm rõ Tỷ lệ mắc ở nông thôn cao hơn là 0,62%, trong khi ởthành phố là 0,41%; miền núi 0,2%.
Theo TCYTTG (1996), ước tính có 12 triệu người mắc bệnh, trên 2triệu người cần tái nhập viện và trong vòng 20 năm tới có đến 1 triệu ngườicần phẫu thuật tim với hàng ngàn người tàn phế Theo thống kê năm
1993 - 1996 ở miền Bắc Việt Nam, tại cộng đồng, tỷ lệ trẻ có di chứng vantim cao (0,28%), trong đó hở van hai lá: 73%, hở hẹp van hai lá: 10%, hẹpvan hai lá: 11%, hở hai lá và hở động mạch chủ: 6% [2]
Tóm lại, các tiến bộ về y học nói chung và thuộc lĩnh vực tim mạch
học nói riêng ngày càng phát triển mạnh song vấn đề TV tim mạch không vìthế mà có thể giải quyết tức thời được Mắc bệnh và TV tim mạch không chỉ
là vấn đề được quan tâm trong nhiều thập kỷ qua mà trở thành vấn đề rất đượcquan tâm trong cả hiện tại và tương lai không chỉ ở phạm vi một quốc gia màtrên phạm vi toàn thế giới Mặc dù ở các nhóm nước khác nhau mắc bệnh và
TV tim mạch không giống nhau nhưng tựu chung lại nó đã, đang và sẽ còngiữ vị trí số 1 trong các bệnh tật gây TV cho con người Nghiên cứu về bệnhtật và TV do bệnh tim mạch nhằm mục đích khống chế tỷ lệ TV ở mức thấpnhất có thể được trở thành vấn đề mang tính chiến lược lâu dài của cả nhânloại
Trang 12Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu được tiến hành tại tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh của Việt Nam thuộc khu vực phía Bắc của vùngđồng bằng Sông Hồng và tiếp giáp với vùng trung du Bắc bộ tại tỉnh BắcGiang Bắc Ninh là cửa ngõ phía đông bắc của thủ đô, cách trung tâm Hà Nội31km về phía Đông Bắc Phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Bắcgiáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Hải Dương, phíaNam giáp tỉnh Hưng Yên Diện tích tự nhiên: 804 km2, là tỉnh có diện tíchnhỏ nhất cả nước [4]
Theo điều tra dân số 01/04/2009, Bắc Ninh có 1.024.151 người, trong
đó nông thôn 76,5% và thành thị là 23,4% [4]
Bắc Ninh bao gồm 01 thành phố và 07 huyện:
+ Thành phố Bắc Ninh với 13 phường và 6 xã
+ Huyện Từ Sơn với 7 phường và 5 xã
+ Huyện Gia Bình với 1 thị trấn và 13 xã
+ Huyện Lương Tài với 1 thị trấn và 13 xã
+ Huyện Quế Võ với 1 thị trấn và 20 xã
+ Huyện Thuận Thành với 1 thị trấn và 18 xã
+ Huyện Tiên Du với 1 thị trấn và 13 xã
+ Huyện Yên Phong với 1 thị trấn và 13 xã
Tổng cộng Bắc Ninh có 127 xã, phường và thị trấn
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
- Toàn bộ các trường hợp TV do bệnh tim mạch thuộc diện quản lý hộ
khẩu của tỉnh Bắc Ninh từ ngày 01/01/2005 đến ngày 31/12/2008 là đối tượngnghiên cứu
Trang 13- Tiêu chuẩn lựa chọn: Các trường hợp TV do bệnh tim mạch từ ngày
01 tháng 01 năm 2005 đến ngày 31 tháng 12 năm 2008 không phân biệt tuổi,giới, dân tộc, có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Ninh, dù TV ở bất kỳ đâu
- Tiêu chuẩn loại trừ: Những trường hợp TV do bệnh tim mạch trên địabàn tỉnh Bắc Ninh nhưng không thuộc tỉnh Bắc Ninh quản lý hộ khẩu
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu chung:
Dịch tễ học mô tả
2.3.2 Cỡ mẫu:
Toàn bộ các trường hợp TV do bệnh tim mạch được ghi chép trong sổA6/YTCS tại tất cả các xã của tỉnh Bắc Ninh trong 4 năm 2005 - 2008:16.806 trường hợp
2.3.3 Chỉ số nghiên cứu và công cụ, kỹ thuật thu thập thông tin:
Giới
Ngày, tháng, năm TV: tính theo dương lịch
Nguyên nhân TV
- Thông tin về quần thể nghiên cứu:
Tổng số dân trong 4 năm 2005 - 2008
Cấu trúc dân số theo giới và theo nhóm tuổi của cả tỉnh trong 4năm 2005 - 2008
Trang 14 Tên, số điện thoại liên hệ của trạm trưởng y tế xã/phường để tiệncho việc kiểm tra số liệu khi cần thiết.
Các thông tin về các trường hợp TV và quần thể nghiên cứu được thuthập dựa vào số liệu có sẵn sử dụng biểu mẫu báo cáo nguyên nhân TV
2.3.3.2 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin:
a Công cụ thu thập thông tin: Sử dụng phiếu báo cáo nguyên nhân TV
(phụ lục 1) gồm:
- Thông tin chung:
+ Dân số xã trung bình cho từng năm theo giới
+ Dự tính số TV năm 2005, 2006, 2007, 2008 (từ ngày 01/01 đếnngày 31/12 của từng năm)
+ Họ tên trưởng trạm y tế, số điện thoại
- Hướng dẫn cách ghi chép nguyên nhân tử vong
+ Đối với người TV do tai nạn thương tích (cột 5) ghi rõ các tên sau:Tai nạn giao thông, tai nạn lao động, trong nhà hay nơi công cộng, đuốinước, tự tử, phản ứng thuốc chữa bệnh, chích thuốc phiện bị sốc, bỏng,điện giật, ngộ độc, bị hành hung, sét đánh hoặc nguyên nhân cụ thểkhác
+ Đối với TV do ung thư (cột 5) ghi rõ ung thư gì
+ Đối với người bị TV do các bệnh cụ thể khác (cột 5) ghi rõ tên bệnh
cụ thể
+ Không ghi nguyên nhân TV không rõ ràng như: già yếu, già, bệnh,chết già
- Danh sách các trường hợp TV
b Kỹ thuật thu thập thông tin:
Hệ thống tổ chức thu thập thông tin dựa vào chức năng quản lý Nhànước của cục y tế dự phòng Việt Nam Cục y tế dự phòng đã gửi công văn
Trang 15cùng công cụ và hướng dẫn thu thập thông tin về tình hình TV- YTCS cho sở
y tế của 64 tỉnh/thành phố Sở y tế đã tiếp tục hướng dẫn và chỉ đạo Trungtâm y tế các huyện và Trạm y tế các xã thu thập thông tin theo hướng dẫn củaCục y tế dự phòng Việt Nam Số liệu thu thập được tại các Trạm y tế xã đãđược gửi về Trung tâm y tế các huyện, các huyện đã gửi về cho Sở y tế cáctỉnh và các tỉnh đã gửi về cho Cục y tế dự phòng Việt Nam
- Đối chiếu số liệu với các nguồn thông tin khác nhau: Dân số, Tưpháp, Y tế… về danh sách TV và số liệu dân số
2.4 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu:
- Số liệu được ghi nhận, làm sạch số liệu rồi nhập vào máy tính bằngphần mềm Excel, mã hóa nguyên nhân tử vong theo ICD - 10, sau đó phântích số liệu bằng phần mềm Stata 8.0
- Cách mã hóa, xử lý số liệu:
+ Tuổi:
Chết sơ sinh, 0 tuổi, dưới 365 ngày cho là 1 tuổi
Không biết tuổi mã là 999
Trang 16 Huyện Yên Phong: 25.
Huyện Lương Tài: 31
+ Tháng: nếu không biết tháng thì mã là 13.
+ Năm: nếu không biết năm thì mã là 9, những trường hợp không biết
năm chỉ có thể là năm 2005 hoặc năm 2006 vì 2 năm này chúng tôi tiến hànhthu thập số liệu chung
+ Nguyên nhân:
* Những trường hợp TV chỉ ghi 1 nguyên nhân TV đơn thuần thì dễdàng mã theo ICD – 10 Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, 2 hoặc 3 tìnhtrạng bệnh tạo nên cái chết, do đó phải chọn 1 nguyên nhân TV để mã theoICD - 10 Chúng tôi chọn nguyên nhân TV theo định nghĩa phân nhómnguyên nhân TV của WHO như sau:
- Bệnh hoặc chấn thương mở đầu chuỗi nguyên nhân TV, trực tiếpdẫn đến TV
- Trường hợp, tình huống tai nạn hoặc bạo lực gây ra chấn thương TV…
- Những trường hợp không ghi nguyên nhân TV hoặc những nguyên nhân
TV không thể mã theo ICD – 10, chúng tôi xếp vào nhóm không xác định (88)
* Ngoài ra, có một số trường hợp ghi không rõ ràng chúng tôi sẽ mã hóanhư sau:
Có 28 trường hợp ghi nguyên nhân TV là bệnh tim - phổi, chúng ta
sẽ mã hóa nguyên nhân TV theo bệnh tim (I00 - I99) vì trên thế giới cũng như
ở Việt Nam thì bệnh tim mạch vẫn là nguyên nhân gây TV hàng đầu
Trang 17 Di chứng TBMMN, di chứng não, sốt huyết não, não cấp: I60 - I69.
Bệnh não: nếu tuổi cao mã là TBMMN (I60 - I69), nếu người trẻtuổi mã là bệnh thần kinh (G00 - G99)
Tâm thần kinh: F00 - F79
Những trường hợp chỉ ghi Khớp mã là M00 - M94
Di chứng viêm màng não, di chứng não, chết não: G00 - G99
Những trường hợp chỉ ghi Đại tràng mã là K00 - K93
+ Ta chia các nguyên nhân TV thành 22 nhóm như sau [3]:
1 Bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng: A00 - B99.
2 Khối u, ung thư: C00 - D48.
3 Bệnh về máu: D50 - D89.
4 Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa: E00 - E90.
5 Rối loạn tâm thần và hành vi: F00 - F79.
14 Bệnh hệ sinh dục và tiết niệu: N00 - N08.
15 Thai nghén, sinh đẻ và hậu sản: O00 - O99.
16 Một số bệnh lý xuất phát trong thời kỳ chu sinh: P00 - P96.
17 Dị tật bẩm sinh: Q00 - Q99.
18 Các triệu chứng, dấu hiệu và biểu hiện lâm sàng bất thường: R00 - R99.
19 Vết thương ngộ độc và hậu quả của một số nguyên nhân bên ngoài:
S00 - T98
Trang 1820 Tai nạn thương tích: V01 - Y98.
21 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tiếp xúc dịch vụ y
tế: Z00 - Z99
22 Không xác định: 88.
+ Phân loại bệnh tim mạch theo ICD - 10 như sau [3]:
I00 - I02: Thấp khớp cấp.
I05 - I09: Bệnh tim mạn tính do thấp (hẹp, hở van 2 lá, 3 lá).
I10 - I15: Bệnh THA.
I20 - I25: BTTMCB (NMCT, thiếu máu cơ tim,suy mạch vành…) I26 - I28: Bệnh tim do phổi và bệnh tuần hoàn phổi (tâm phế mãn,
nghẽn mạch phổi, bệnh tim phổi mạn)
I30 - I52: Thể bệnh tim khác (Suy tim, hen tim, viêm cơ tim, viêm ngoại
I00 - I99: Bệnh tim mạch không xác định nhóm nào.
- Kiểm tra tính logic của số liệu:
+ Loại trừ các trường hợp TV báo cáo lặp lại
+ Các trường hợp TV không có giới, ngày tháng năm TV, không cótuổi lúc TV
+ Chỉ các trường hợp TV trong 4 năm từ ngày 01/01/2005 đến ngày31/12/2008 mới được đưa vào nghiên cứu
Trang 192.5 Thời gian nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu: 4 năm từ 01/01/2005 đến 31/12/2008
- Thời gian thu thập thông tin: từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 4 năm 2010
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu:
- Việc thu thập số liệu này không gây hại cho cộng đồng và cá nhân
- Số liệu thu được sẽ giữ bí mật và chỉ dùng cho mục đích khoa học
- Kết quả thu được báo cáo cho Sở Y tế và chính quyền địa phương đểphục vụ công tác phòng bệnh
Trang 20Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Tình hình TV do bệnh tim mạch tại tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 –
2008 so với các nguyên nhân khác:
Bảng 3.1:Tỷ lệ TV do bệnh tim mạch/100.000 dân tại tỉnh Bắc Ninh
so với các nguyên nhân khác.
Nhóm nguyên nhân ICD - 10 Số TV Tỷ lệ TV/100.000 dân Tỷ lệ %
chung Nam Nữ Tổng Nam Nữ Tổng
1 Bệnh truyền nhiễm và
2 Khối u, ung thư C00 - D48 2.625 1.207 3.832 129,88 57,38 92,91 22,80
4 Bệnh nội tiết, dinh
dưỡng và chuyển hóa E00 - E90 23 31 54 1,14 1,47 1,31 0,32
5 Rối loạn tâm thần và
và hậu quả của 1 số
nguyên nhân bên ngoài S00 - T98 3 7 10 0,15 0,33 0,24 0,06
19 Tai nạn thương tích V01 - Y98 1.399 498 1.897 69,22 23,67 45,99 11,29
Tổng 9.434 7.372 16.806 466,79 350,46 407,46 100,00
Trang 21Nhận xét:
- Tỷ lệ TV do bệnh tim mạch đứng thứ 3 (89,46/100.000 dân) trong cácnhóm nguyên nhân gây TV, chiếm 21,96% tỷ lệ TV của cả tỉnh, đứng saunhóm TV do các triệu chứng, dấu hiệu và biểu hiện lâm sàng bất thường(101,56/100.000 dân) và sau nhóm TV do khối u, ung thư (92,91/100.000dân) Nhóm bệnh gây TV thấp nhất là bệnh về tai (0,05/100.000 dân)
- Tỷ lệ nam TV do bệnh tim mạch đứng thứ 2 (95,2/100.000 dân) trongcác nhóm nguyên nhân gây TV, đứng sau nhóm TV do khối u, ung thư(129,88/100.000 dân) 2 nhóm bệnh gây TV thấp nhất là bệnh về tai , bệnh da
và mô dưới da (0,1/100.000 dân)
- Tỷ lệ nữ TV do bệnh tim mạch đứng thứ 2 (83,95/100.000 dân), đứngtrên nhóm nguyên nhân TV do khối u , ung thư (57,38/100.000 dân) nhưngsau nhóm các triệu chứng, dấu hiệu và biểu hiện lâm sàng bất thường(119,61/100.000 dân)
Trang 223.2 Tình hình TV tim mạch tại từng huyện/thị/thành phố của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2008:
Bảng 3.2: Tỷ lệ TV do bệnh tim mạch/100.000 dân tại thành phố Bắc Ninh.
Nhóm nguyên nhân ICD - 10 Số TV
Tỷ lệ TV/100.000
dân Tỷ lệ %
chung Nam Nữ Tổng Nam Nữ Tổng
Thấp khớp cấp I00 - I02 0 2 2 0,00 0,80 0,41 0,48 Bệnh tim mạn tính do
Nhận xét: - Tỷ lệ TV do bệnh tim mạch của thành phố là 85,89/100.000 dân.
- Tỷ lệ TV do bệnh mạch não là cao nhất (63,6/100.000 dân), thứ 2 làcác thể bệnh tim khác (9,82/100.000 dân) và đứng thứ 3 là BTTMCB(4,29/100.000 dân) Bệnh tim mạn tính do thấp; bệnh ĐM, tiểu ĐM vàmao mạch; bệnh TM, mạch bạch huyết và hạch bạch huyết có tỷ lệ TVthấp nhất (0,00/100.000 dân)
- Nhìn chung thì tỷ lệ TV do bệnh tim mạch ở nam (104,34/100.000 dân)
lớn hơn nhiều so với ở nữ (68,17/100.000 dân).
Trang 23Bảng 3.3: Tỷ lệ TV do bệnh tim mạch/100.000 dân tại huyện Yên Phong
Nhóm nguyên nhân ICD - 10 Số TV
Tỷ lệ TV/100.000
dân Tỷ lệ %
chung Nam Nữ Tổng Nam Nữ Tổng
Thấp khớp cấp I00 - I02 0 0 0 0,00 0,00 0,00 0,00 Bệnh tim mạn tính do
- Tỷ lệ TV do bệnh mạch não cao nhất (40,58/100.000 dân), thứ 2 là TV
do các thể bệnh tim khác (4,83/100.000 dân), tiếp đến là bệnh tim dophổi và bệnh tuần hoàn phổi (4,65/100.000 dân) Thấp nhất là TV dobệnh thấp khớp cấp, bệnh tim mạn tính do thấp và bệnh TM, mạch bạchhuyết và hạch bạch huyết (0,00/100.000 dân)
- Tỷ lệ nam TV do bệnh tim mạch lớn hơn tỷ lệ nữ TV do bệnh tim mạch
(nam: 67,13/100.000 dân, nữ: 46,27/100.000 dân).
Trang 24Bảng 3.4: Tỷ lệ TV do bệnh tim mạch/100.000 dân tại huyện Quế Võ.
Nhóm nguyên nhân ICD - 10 Số TV Tỷ lệ TV/100.000 dân Tỷ lệ %
chung Nam Nữ Tổng Nam Nữ Tổng
Thấp khớp cấp I00 - I02 0 0 0 0,00 0,00 0,00 0,00 Bệnh tim mạn tính do
- Tỷ lệ nam TV do bệnh tim mạch lớn hơn tỷ lệ nữ TV do bệnh tim mạch(nam: 115,05/100.000 dân, nữ: 89,94/100.000 dân)
- Tỷ lệ TV do bệnh tim mạch của huyện Quế Võ là 102,24/100.000 dân
Trang 25Bảng 3.5: Tỷ lệ TV do bệnh tim mạch/100.000 dân tại huyện Tiên Du.
Nhóm nguyên nhân ICD - 10 Số TV
Tỷ lệ TV/100.000
dân Tỷ lệ %
chung Nam Nữ Tổng Nam Nữ Tổng
Thấp khớp cấp I00 - I02 2 1 3 0,80 0,38 0,58 0,75 Bệnh tim mạn tính do
- Tỷ lệ nữ TV do bệnh tim mạch nhiều hơn ở nam (nữ: 80,64/100.000
dân, nam: 75,98/100.000 dân).
- Tỷ lệ TV do bệnh tim mạch của huyện Tiên Du là 78,35/100.000 dân.