Quá trình đó diễn ra cùng với sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các mốigiao lưu thương mại giưã Việt Nam với các nước trên thế giới, để ổn định và phát triển kinh tếViệt Nam theo hướn
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta đang tiến những bước vững chắc với việc cải cách kinh tế theo hướng
mở cửa Điều đó được thực hiện trên tinh thần “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” vàtrên nguyên tắc “ bình đẳng cùng có lợi” Chủ trương đó sẽ giúp chóng ta nhanh chóng hoà nhậpvới nền kinh tế thế giới, tham gia một cách ngày càng có hiệu quả vào quá trình hợp tác và phâncông lao động quốc tế Quá trình đó diễn ra cùng với sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các mốigiao lưu thương mại giưã Việt Nam với các nước trên thế giới, để ổn định và phát triển kinh tếViệt Nam theo hướng có lợi thì chúng ta không thể không đề cập đến vai trò điều tiết nền kinh tếcủa chính phủ, một trong những công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô mà ta quan tâm ở đây là chÝnhsách tiền tệ
Sức mạnh của nền kinh tế được thể hiện như thế nào trên thị trường cũng như trên mặt khác,một nền kinh tế mạnh phải là một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định và để đạt đượcđiều đó thì chính sách tiền tệ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ổn định đồng tiền trongnứơc, ổn định tỷ giá hối đoái, ổn định sức mua, giảm lạm phát và thúc đẩy nền kinh tế đi lên.Giai đoạn trước đây, chính sách tiền tệ của chính phủ chỉ đơn thuần là hoạt động phát hànhtiền của NHTƯ, hiện nay cùng với sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng thì các công cụ của chínhsách tiền tệ được tăng cường nhiều hơn, có tác động lớn hơn tới nền kinh tế và vai trò của nó ngàycàng quan trọng hơn Từ thực tế đó, việc ngiên cứu chính sách tiền tệ đó có thể hiểu rõ hơn về vaitrò mà em đã chọn đề tài “Vai trò của chính sách tiền tệ trong việc điều tiết hoạt động kinh tế vĩ môcủa Việt Nam giai đoạn 1996-2000” để thông qua đó em có thể đưa ra một số giải pháp nhằm hoànthiện chính sách tiền tệ hiện nay của ta còn nhiÒu bất cập, không phù hợp với nền kinh tế tiền tệtheo định hướng XHCN
Việc viết bài này nhằm mục đích nghiên cứu về chính sách tiền tệ trong giai đoạn
1996-2000 Đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của chính sách tiền tệ dựa trên cơ sởđường lối phát triển kinh tế Việt Nam
Bài viết được dựa trên phương pháp biện chứng, logic có tính kế thừa và phát huy, có cânnhắc và phê phán
Bài viết giúp chúng ta hiểu rõ các vấn đề lý thuyết và thực tiễn về chính sách tiền tệ của đấtnước ta kể từ khi chính phủ ta áp dụng vào điều tiết kinh tế vĩ mô nhất là giai đoạn 1996-2000 đểhiểu toàn cảnh về nó, về các công cụ của chính sách tiền tệ mà ta đã và đang áp dụng, từ đó phântích đánh giá những thành công và những bất cập của chúng ta còn cần phải xử lý trong thời giantới
PHẦN I
Trang 2LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CÁC
CÔNG CỤ CỦA NÓ
1 Tổng quan về chính sách tiền tệ
1.1 Vai trò của ngân hàng trung ương đối với chính sách tiền tệ
Lịch sử ra đời của NHTƯ ở các nước trên thế giới không hoàn toàn giống nhau Điều đó tuỳthuộc vào tình hình kinh tế, chíng trị và hoàn cảnh lịch sử mỗi nước, song lý do tương đối phổ biến
là xuất phát từ yêu cầu can thiệp của Nhà Nước vào lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng Dù vớitên gọi khác nhau (NHTƯ, NHNN, Hệ thống dự trữ liên bang ), nhưng tất cả chúng đều có chungmột tính chất là cơ quan trong bộ máy quản lý Nhà Nước, độc quyền phát hành tiền, thực hiệnnhiệm vụ cơ bản là ổn điịnh giá trị tiền tệ, thiết lập trật tự, bảo đảm sự hoạt động an toàn và ổn định
và hiệu quả của toàn bộ hệ thống ngân hàng nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của mỗi đấtnước
Hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là nhiệm vụ trung tâm, là “linh hồn” của NHTƯtrong lĩnh vực tiền tệ Điều hành chính sách tiền tệ của NHTƯ trong nền kinh tế thị trường mangtính chất điều tiết vĩ mô, hướng các tổ chức tín dụng vào thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền
tệ, đồng thời vẫn đảm bảo tính chủ động tronh hoạt động kinh doanh tổ chức tín dụng NHTƯthường không can thiệp và không ra lệnh trực tiếp vào các quyết định tác nghiệp của các tổ chức tíndụng mà chủ yếu sử dụng các biện pháp tác động gián tiếp để điều chỉnh môi trường và các điềukiện kinh doanh của các tổ chức tín dụng như: khả năng thanh toán, mặt bằng lãi suất, khối lượngtiền cung ứng, tỷ giá để thông qua đó đạt tối đa hiệu quả mục tiêu của chính sách tiền tệ
Để điều hành chính sách tiền tệ, NHTƯ phải hình thành và sử dụng hệ thống công cụ của
nó Đặc điểm của các công cụ chính sách tiền tệ là tạo cho NHTƯ khả năng tác động có hiệu lựcđến các yếu tố tiền đề bắt buộc các tổ chức tín dụng phải tự điều chỉnh hoạt của mình theo hướngchỉ đạo của NHTƯ nhưng vẫn phải đảm bảo quyền tự chủ trong kinh doanh cũng như sự bình đẳngtrong môi trường cạnh tranh giữa các ngân hàng
1.2 Đặc điểm của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế –tài chính của quốc gia ở mỗi quốc gia, chính sách tiền tệ do NHTƯ vạch ra và NHTƯ sẽ đưa nóvào hệ thống thực tế nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô Trên cơ sở đó, tuỳthuộc vào từng thời kỳ hình thành của mỗi quốc gia mà xác định đâu là mục tiêu chính
Một chính sách tiền tệ hoàn hảo sẽ xây dựng một “tứ giác thần kỳ” ứng với một tốc độ lạmphát 1% - 3%, thất nghiệp vào khoảng 4% trên tổng số lao động, tăng trưởng kinh tế phải đạt từ 3%
- 5% và làm sao cho số dư trong cán cân thanh toán quốc tế chiếm từ 2% - 3% trên GNP Một quốcgia sẽ cực kỳ ổn định nếu nó đạt đựoc “ tứ giác thần kỳ” này
Trang 3Vì chính sách tiền tệ là một bộ phận cấu thành trong hệ thống các chính sách kinh tế – tàichính của quốc gia và trong hệ thống đó, các bộ phận cấu thành có mối quan hệ tác động hữu cơvới nhau Do vậy, một chính sách tiền tệ hữu hiệu đòi phải được thiết lập và vận hành trong mốiquan hệ hữu cơ với chính sách khác đứng trên góc độ toàn cục, chứ không nên tồn tại với tư cách làmột yếu tố độc lập mặc dù nó cực kỳ quan trọng.
Tuy nhiên, chính sách tiền tệ có vai trò quan trọng tương đối độc lập với các chính sáchkhác xuất phát từ ba luận điểm sau:
- Một là, sẽ không có tăng trưởng kinh tế nếu không có đầu tư
- Hai là, không thể có đầu tư mà không có tiết kiệm
- Ba là, không thể có tiết kiệm nếu thiếu sự ổn định giá cả và tiền tệ
Chính vì vậy, chính sách tiền tệ có nhiệm vụ tác động vào nhiều hướng tạo ra đầu tư, tạo ratiết kiệm và tạo ra sự ổn định về giá cả và tiền tệ
Như vậy, chính sách tiền góp phần quan trọng vào sự thành công hay thất bại của nền kinh
tế Một chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ dẫn tới sự khan hiếm về tiền tệ và đắt đỏ về chi phí Ngượclại, một chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ làm cho tiền tệ trở nên thừa thãi, kích thích tiêu dùng và tăngtrưởng kinh tế
2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Mỗi một quốc gia đều có chính sách tiền tệ riêng phù hợp với nền kinh tế đặc thù của mỗinước Tuy nhiên, mỗi chính sách tiền tệ đều hướng vào những mục tiêu chủ yếu sau:
- Ổn định tiền tệ , bảo vệ giá trị đối nội của đồng tiền trên cơ sở kiểm soát được lạm phát.-Ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền trên cơ sở cân bằng cán cân thanh toán quốc tế và
ổn định tỷ giá hoái đối
-Tạo sự tăng trưởng kinh tế trong sự ổn định
-Tạo công ăn việc làm và giảm bớt thất nghiệp
2.1 Kiểm soát lạm phát
Khi nền kinh tế thế giới sử dụng tiền lưu thông thoát ly chế độ kim bảng vị và thay bằngtiền không đủ giá thì chứa đựng bên trong nó khả năng tiềm tàng của lạm phát Vì lẽ đó mà conngười cho rằng lạm phát gần như căn bệnh kinh niên trong nền kinh tế hàng hoá, đặc biệt là nềnsản xuất hàng hoá phát triển ở mức độ cao
Mỗi nhà kinh tế đều đưa ra những khái niệm về lạm phát theo quan điểm riêng của mìnhđứng ở những góc độ khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung lạm phát là sự tăng giá trung bình củahàng hoá theo thời gian
Nói đến lạm phát, chúng ta, thậm chí nhiều nhà lãnh đạo của các quốc gia coi như là kể thù
số một Như vậy hẳn là lạm phát đã gây ra những tác động rất xấu Thực chất câu trả lời hoàn toànkhông phải là như vậy
Nếu lạm phát bất thường sẽ phân phối lại thu nhập và của cải giữa các giai cấp khác nhau.Khi giá tăng một cách bất thường thì người mất là những người đang nắm các tài sản danh nghĩacòn người được là những người có khoản nợ tính theo các giá trị danh nghĩa Các điều khoản của
Trang 4hợp đồng danh nghĩa ban đầu trong việc mua hoặc bán, cho vay hoặc đi vay, đều có thể được viết
ra có tính tới yếu tố lạm phát thông thường nhưng không thể tính tới yếu tố lạm phát bất thường.Khi đó mọi người nhất là các chủ đầu tư không quan tâm, tin tưởng trong việc tính toán công việcđầu tư nên không khuyến khích đầu tư
Nếu lạm phát cân bằng có dự tính trước thì sẽ không ảnh hưởng gì đến sản lượng thực tế,hiệu quả hoặc phân phối thu nhập Giả sử một nền kinh tế trong đó lạm phát hàng năm 10% mãimãi Mọi người đều biết trước được điều đó, thấy trước được sự vận động của nó và có thể tính tớiđiều đó khi thực hiện hành vi của mình
Như vậy lạm phát tồn tại rất lâu dài trong nền kinh tế hàng hoá Bên cạnh tác hại của nó màngười ta dễ dàng nhận thấy, thì lạm phát trong chừng mực nào đó lại là một yếu tố kích thích kinh
tế tăng trưởng Các nhà kinh tế học còn gọi đó là liều thuốc bổ tăng trưởng kinh tế Bởi lẽ, lạm phátchính là việc đưa một khối lượng tiền ra lưu thông.Trong nền kinh tế thị trường, công việc đưa tiền
ra lưu thông thường thông qua con đường tín dụng Khi bơm vốn vào nền kinh tế bằng con đườngtín dụng thì sẽ mở mang các doanh nghiệp tạo điều kiện đầu tư chiều rộng và chiều sâu và dẫn tới :
I AD Y, U
Như vậy, nhiệm vụ của NHTƯ là kiểm soát lạm phát, ổ định tiền tệ, tạo tiền đề cho nềnkinh tế phát triển bình thường, đảm bảo đời sống cho người dân lao động Tuy nhiên, thực chất củaviệc kiểm soát lạm phát là chấp nhận sự biến động với biên độ cho phép
2.2 Ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền
Trong nền kinh tế mở, xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế – tài chính thế giới diễn ra rấtnhanh và sâu sắc Trước tình hình đó, các nước trên thế giới đều hướng về các thị trường tài chínhquốc tế để theo dõi sự biến động cuả các đồng tiền chủ chốt nhằm tránh các tác dụng tiêu cực củacác biến động trên thị trường tài chính thông qua hệ thống tỷ giá hối đoái Một sự biến động của tỷgiá hối đoái Ýt hay nhiều đều ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế trong nước tuỳ theo mức độ hướngngoại của nền kinh tế
Tỷ giá hối đoái chịu sự tác động mạnh của khối lượng dự trữ ngoại hối, thị trường hối đoái
và các chính sách hối đoái, tình hình giá cả trong nước Do đó, một chính sách tiền tệ nhằm ổn địnhkinh tế trong nước cần phải đi đôi với những biện pháp nhằm ổn định tỷ giá hối đoái Do tính chấttổng hợp, tỷ giá hối đoái ảnh hưởng sâu sắc đến các hoạt động kinh tế của một đất nước, đặc biệt làhoạt động xuất nhập khẩu
Chính vì vậy mà hiện nay hầu hết các quốc gia đều thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái thảnổi có sự can thiệp của Nhà nước Cùng với lãi suất, nó được coi là mòi neo quan trọng của nềnkinh tế, là tín hiệu hết sức nhạy cảm
Một tỷ giá hối đoái thấp ( đồng bản tệ có giá trị tăng so với ngoại tệ ) nhập khẩu , xuấtkhẩu khối lượng dự trữ ngoại hối dễ bị xói mòn Ngựoc lại, một tỷ giá hối đoái cao (nghĩa làđồng bản tệ có giá trị thấp so với ngoại tệ ) nhập khẩu , xuất khẩu những sản xuất cónguyên liệu nhập khẩu hay thay thế hàng nhập khẩu gặp trở ngại nhưng khối lượng dự trữ ngoại
tệ có cơ hội gia tăng
Như phân tích trên, một tỷ giá hối đoái cao hay thấp đều xuất hiện tác động kép – tích cực
và tiêu cực Do đó nhiệm vụ của NHTƯ là sử dụng những công cụ, chính sách của mình can thiệp,
Trang 5giữ cho tỷ giá hối đoái không thăng trầm quá đáng, làm dịu bớt những tình trạng bất ổn định củanền kinh tế trong nước.
2.3 Tăng trưởng kinh tế
Với bất kỳ một chính sách tiền tệ nào, mục đích cao nhất là làm thế nào để phát triển kinh
tế, gia tăng sản lượng của nền kinh tế Tuy nhiên, trước khi đề cập đến vấn đề tăng trưởng, mỗiquốc gia phải nhấn mạnh ba điểm sau:
Thứ nhất: Tăng trưởng chính là sự tăng sản lượng tính trên đầu người, chứ không phải là
sự gia tăng tổng sản lượng Các nước tìm kiếm sức mạnh kinh tế và quân sự trong nền kinh tế thếgiới có thể quan tâm đến tổng sản lượng Nhưng ở hầu hết các nước, mục tiêu đều là tăng sảnlượng theo đầu người và tăng mức sống cá nhân tiêu biểu
Thứ hai: Sự cải tiến năng suất lao động một lần duy nhất chỉ tạo ra sự tăng trưởng kinh tếtạm thời Tăng trưởng ổn định đòi hỏi năng suất lao động phải ổn định
Thứ ba: Mặc dù sự tăng trưởng mang lại lợi Ých có mức sản lượng và tiêu cao hơn trongtương lai Tuy nhiên, nó có thể sinh ra mét chi phí ngắn hạn Ví dụ nếu nền kinh tế ở mức sảnlượng tiềm năng, việc giảm bớt tiêu dùng hiện thời sẽ là cần thiết để dùng một phần lớn hơn cácnguồn lực hiện có vào việc sản xuất những tư liệu sản xuất mới nhằm tạo ra mức sản lượng và tiêudùng cao hơn trong tương lai
Về phương tiện cơ sở tiền tệ, để tăng trưởng kinh tế, NHTƯ thực hiện chính sách tiền tệ nớirộng Tác động đó thông qua hai chiều
Khi khối lượng tiền tệ tăng, tác động nền kinh tế diễn ra dưới dạng sơ đồ:
Việc gia tăng khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế trong thời kỳ đầu các quốc gia thường sửdụng hạn mức tín dụng Khi nền kinh tế thị trường vận động một cách thuần thục thì việc cung ứngtiền chủ yếu được thực hiện thông qua các công cụ gián tiếp: dữ trữ bắt buộc, tái chiết khấu, lãisuất tín dụng và thị trường mở Bốn công cụ đó cùng tác động vào mức cung tiền tệ cho nền kinhtế
2.4 Tạo việc làm, giảm bớt thất nghiệp
Như ta biết trong nền kinh tế thị trường giữa tăng trưởng và suy thoái được diễn ra theo chu
kỳ Việc toàn dụng nhân công và thất nghiệp luôn đan xen nhau
Trang 6Thật vậy, trong nền kinh tế sự tác động của tổng cung và tổng cầu sẽ ảnh hưởng đến sự tăngtrưởng kinh tế:
AD = C+ I + G + ( X- M)
AS = f ( T, R, K, L )
Trong thực tế, sự tăng trưởng kinh tế bất cứ nước nào cũng không thể kéo dài mãi với thờigian, lÝ do sơ bản là số cầu dù tiếp tục gia tăng liên tục, đến một lúc nào đó nhân công khan hiếmhạn chế mức gia tăng sản xuất Đó là chưa kể nguyên liệu cũng khan hiếm Sự khan hiếm của yếu
tố nhân công, nguyên liệu làm tăng phí tổn sản xuất, nâng cao giá thành và giá bán trên thị trường
Vào thời điểm này, nếu khối lượng tiền tệ tiếp tục gia tăng mà không kiềm chế dẫn tới:
Để chặn đứng tình trạng suy thoái của nền kinh tế, NHTƯ sẽ phải thi hành chính sách bànhtrướng khối tiền tệ sẽ tác động đến nền kinh tế như sau:
MS i, kết hợp giá lao động rẻ sau thời gian thất nghiệp I AD Y,U
Như vậy, giải quyết vấn đề công ăn việc làm hiện nay là một yêu cầu bức thiết của mọiquốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển Tuy nhiên, lao động là một hàng hoá trên thị trườngnên thất nghiệp luôn tồn tại một cách khách quan Bởi lẽ, khi sức lao động trở thành hàng hoá thìcầu về sức lao động luôn có xu hướng thấp hơn khả năng cung do những biến đổi chu kỳ về cơ cấusản xuất, sự đổi mới công nghệ và kỹ thuật Bởi vậy, ngay cả khi sản xuất phát triển, kinh tế tăngtrưởng vẫn luôn có một bộ phận lao động bị thất nghiệp Thất nghiệp sẽ càng tăng khi sản xuất bịđình trệ và chỉ giảm khi sản xuất phục hồi, kinh tế tăng trưởng
Do đó, nhiệm vụ của chính sách tiền tệ là hạn chế tối đa mức thất nghiệp chứ không cónghĩa là triệt tiêu để tạo nÒn kinh tế phát triển cao
Nhìn chung, giữa các mục tiêu tăng trưởng, lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ chế ướclẫn nhau Khi kiềm chế được lạm phát thì tăng trưởng chậm lại dẫn đến sự suy thoái, thất nghiệpcao Và khi mở rộng đầu tư khắc phục suy thoái thì công việc làm được tốt hơn nhưng rất khókiềm chế lạm phát Chính vì vậy, sự can thiệp của Nhà nước để chủ động điều chỉnh mối quan hệgiữa tăng trưởng kinh tế, lạm phát và thất nghiệp ngày càng trở nên quan trọng trong việc điều tiết
vĩ mô nền kinh tế theo cơ chế thị trường.Để làm được điều đó, Nhà nước đã sử dụng các công cụcủa chính sách tiền tệ
tiÒn tÖd÷ tr÷
3
Trang 7
Nhỡn khỏi quỏt về vấn đề tiền tệ ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng và lạm phỏt nền kinh tế
3 Cỏc cụng cụ chớnh sỏch và ưu nhược điểm của nú
3.1 Chớnh sỏch lói suất cho vay và lói suất tiền gửi
Lói suất ngõn hàng về thực chất là giỏ về quyền sử dụng vốn bằng tiền Nú là tiờu chuẩncho việc thực hiện cỏc giao dịch về quyền sử dụng vốn bằng tiền giữa người đi vay và người chovay Về nguyờn tắc mức lói suất phụ thuộc vào tương quan cung cầu về vốn Tuy nhiờn, do tớnh đặcthự của kinh doanh ngõn hàng nờn mức lói suất huy động lại bị chặn dưới bởi chỉ số lạm phỏt và bịchặn trờn mức lói suất cho vay Đến lược lói suất cho vay lại phụ thuộc vào hiệu quả chung củaviệc sử dụng tiền vốn của cỏc doanh nghiệp và chỉ số giỏ cả Hiện nay lói suất do Nhà nước khốngchế Trờn bỡnh diện vĩ mụ chớnh sỏch lói suất cú ảnh hưởng rất lớn đến dũng lưu chuyển tiền tệ và
do đoa ảnh hưởng trực tiếp đến kinh doanh của cỏc Doanh nghiệp Vỡ vậy, trong việc quy định vàkhống chế lói suất nếu vi phạm nguyờn tắc nờu trờn tất yếu sẽ ảnh hưởng đến một trong hai phớa vàcuối cựng đến cả hai phớa trong quan hệ tớn dụng và sự tăng trưởng nền kinh tế quốc dõn
Thụng thường chớnh sỏch lói suất đi vay hay lói suất tiền gửi và lói suất cho vay biến đổicựng chiều, nghĩa là, cả hai mức lói suất đều tăng hay giảm xuống đồng thời Khi lói suất tiền gửiđược nõng lờn thỡ lói suất cho vay cũng nõng lờn và ngược lại, tuỳ theo chớnh sỏch của NHTƯ Tuynhiờn,nú vận động ngược chiều với giỏ cả của chứng khoỏn
Để lói suất cú thể đúng vai trũ như một cụng cụ hữu hiệu thỡ việc hỡnh thành lói suất phảituõn theo cỏc nguyờn tắc sau:
-Lói suất tớn dụng danh nghĩa bỡnh quõn bao giờ cũng bộ hơn lợi nhuận danh nghĩa bỡnhquõn
-Lói suất tớn dụng danh nghĩa phải bằng lói suất thực tế cộng với một tỷ lệ lạm phỏt
-Lói suất tiền gửi cú kỳ hạn bao giờ cũng phải bằng lói suất tiết kiệm cú kỳ hạn
-Lói suất đồng ngoại tệ bằng lói suất đồng nội tệ
-Lói suất dài hạn bao giờ cũng lớn hơn lói suất ngắn hạn
-Lói suất giữa cỏc thành phần kinh tế khỏc nhau phải giống nhau
Tổng mức cầu
Tổng mức cung
Tác
động qua lại của ASvàAD
sản l ợng thật
công
ăn việc làmlạm phát
Trang 8-Lãi suất cho vay bình quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình quân
Hiện nay, trên thế giới có hai quan điểm về cơ chế hình thành lãi suất
-Quan điểm thứ nhất: Ên định lãi suất, tức là NHTƯ phải quy định lãi suất đối với các ngânhàng trung gian
-Quan điểm thứ hai: thả nổi lãi suất, tức là lãi suất do thị trường quyết định
Tuy nhiên tuỳ thuộc vào hoàn cảnh khách quan cũng như chủ quan của từng quốc gia mà cónhững chính sách lãi suất phù hợp
Tóm lại, công cụ lãi suất trong chính sách tiền tệ là một công cụ cực kỳ lợi hại, có sức phảncông rất ghê gớm, một nhà kinh tế người Mỹ đã nói, nó là một công cụ để kích thích sản xuất đồngthời là một công cụ để làm hạn chế sản xuất, tuỳ thuộc vào sự khôn ngoan hay khờ dại của nhữngngười sử dụng công cụ này
Mục đích của việc thực hiện dữ trữ bắt buộc là nhằm:
-Giới hạn khả năng cho vay của ngân hàng trung gian và đảm bảo an toàn tiền gửi chokhách hàng
-Việc tập trung dữ trữ của ngân hàng trung gian ở NHTƯ còn là phương tiện để NHTƯ cóthêm quyền lực điều khiển hệ thống ngân hàng, tạo ra sự lệ thuộc của ngân hàng trung gian đối vớiNHTƯ
-Duy trì khả năng thanh toán của các ngân hàng trung gian trong nhiều trường hợp khẩncấp như trường hợp xẩy ra đồng loạt rút tiền gửi của công chúng, tránh được cuộc khủng hoảngngân hàng
Về nguyên tắc, khi Ên định mức dữ trữ bắt buộc thấp, NHTƯ muốn khuyến khích ngânhàng trung gian mở rộng mức cho vay của họ tức là muốn gia tăng khối tiền tệ Điều này sẽ kíchthích được các hoạt động kinh tế, tăng khả năng giao lưu các nguồn vốn tài chính giữa các doanhnghiệp, thể hiện một chính sách tiền tệ “nới lỏng” Ngược lại, khi nâng cao mức dữ trữ bắt buộc,NHTƯ muốn giới hạn khả năng cho vay của ngân hàng trung gian, báo hiệu một chính sách tiền tệ
“thắt chặt” hay giảm thiểu khối tiền tệ Điều này tác động tới khả năng doanh thu lợi của ngân hàngtrung gian Chính vì thế, khi tiến hành gia tăng dữ trữ bắt buộc đòi hỏi phải nghiên cứu trước sứcchịu đựng của ngân hàng trung gian đối với mức dữ trữ mới sẽ ban hành
Tóm lại, biện pháp thay đổi dữ trữ bắt buộc cần thực hiện một cách thận trọng và muốn cóhiệu quả, cần phải đi kèm với các biện pháp khác Thời hạn điều chỉnh tỷ lệ dữ trữ bắt buộc thayđổi tuỳ theo mỗi nước, mỗi thời kỳ khác nhau và đặc biệt là tuỳ thuộc vào trạng thái tiền tệ lạmphát, giảm phát hoặc không có lạm phát
Trang 93.3 Chiết khấu và tái chiết khấu
Nghiệp vụ của NHTM là kinh doanh tiền tệ, tức là nhận tiền gửi của mọi thành phần và chovay phần lớn tiền gửi đó Nhưng không phải lúc nào hoạt động ngân hàng cũng đều thuận lợi Cónhững lúc người gửi tiền đến rút tiền quá nhiều, ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng kẹt vốn Nhữngtrường hợp ào ạt rút tiền thường xẩy ra theo những chu kỳ kinh tế Do đó ngân hàng khó tránhkhỏi tình trạng thiếu khả năng chi trả Chính vào những lúc khó khăn đó, NHTM tìm đến sự giúp
đỡ của NHTƯ, người cho vay cuối cùng
NHTƯ sẽ cấp tín dụng cho NHTM qua nhiều hình thức, thông dụng nhất là tái cấp dướihình thức chiết khấu và tái chiết khấu các thương phiếu Khi chấp nhận chiết khấu hay tái chiếtkhấu là NHTƯ đã làm tăng khối tiền tệ Đây là hình thức phát hành tiền được xem là lành mạnh dođược đảm bảo bằng các giấy tờ có giá và khi các chứng khoán đáo hạn NHTƯ sẽ đòi được các món
nợ đã cho vay Bên cạnh đó, việc cho vay này luôn gán với yêu cầu của nền kinh tế do sự tác độngtrực tiếp của quy luật cung cầu
Thông qua lãi suất tái chiết khấu, NHTƯ có thể khuyến khích giảm hoặc tăng mức cungứng tín dụng của NHTM đối với nền kinh tế,đồng thời giảm hoặc tăng mức cung ứng tiền Khi thựchiện chính sách “ thắt chặt tiền tệ”, NHTƯ sẽ nâng lãi suất chiết khấu lên Khi đó, các NHTM sẽnâng lãi suất cho vay hoặc hạn chế bớt những co hội cho vay Và ngược lại, nếu thực hiện chínhsách tiền tệ “ nới lỏng”, NHTƯ hạ thấp lãi suất chiết khấu, NHTM trong trường hợp này, đi vay rẻhơn nên có khuynh hướng giảm lãi suất cho vay dẫn đến nhu cầu cho vay gia tăng
Ngoài ra, chính sách chiết khấu, tái chiết khấu còn là một công cụ đắc lực trong định hướngphát triển kinh tế Đối với chính sách kích thích xuất khẩu, NHTƯ sẽ ưu tiên mức tái chiết khấucác thương phiếu xuất khẩu hoặc nâng hạn mức tái chiết khấu đối với thương phiếu đó
Như vậy, chiết khấu và tái chiết khấu là hành động mua bán các thương phiếu của NHTƯnhằm điều chỉnh mức cung ứng tín dụng của NHTM đối với nền kinh tế, đồng thời qua đó điềuchỉnh cung ứng tiền tệ
Tuy nhiên, mỗi một công cụ đều có ưu nhược điểm riêng của nó Cũng vậy tái chiết khấu có
ưu nhược điểm sau:
Trang 10Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động NHTƯ mua bán giấy tờ có giá với mục đích tác độngđến thị trường tiền tệ, điều hoà cung và cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối dữ trữ củacác NHTM tại NHTƯ, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các ngân hàng này
Trên thị trường mở NHTƯ chủ yếu mua bán trái phiếu của chính phủ.Bằng cách mua bántrái phiếu NHTƯ làm tăng khối lượng dữ trữ của NHTM Khi đó, NHTM có thể mở rộng khả năngvay gấp bội lần tuỳ theo mức dữ trữ bắt buộc Hơn nữa việc NHTƯ mua trái phiếu với lãi suất thấpgóp phần tăng cung tín dụng từ đó làm lãi suất tín dụng hạ thấp, kích thích các doanh nghiệp đivay Đây cũng là một cách gia tăng khối tiền tệ
Ngược lại, bằng cách bán trái phiếu trên thị trường mở cho bất cứ đối tượng nào, NHTƯthu hút tiền vào làm giảm bớt khối tiền tệ Kết quả làm cho dữ trữ của NHTM tại NHTƯ bị giảm,
từ đó hạn chế khối lượng cấp phát tín dụng của NHTM Nếu không có sự mua bán trái phiếu không
có NHTƯ tham gia mà chỉ giữa các NHTM với nhau thì khối lượng tiền tệ không thay đổi
Tuy nhiên, hạn chế của nó là chỉ có thể áp dụng trong điều kiện mà hầu hết tiền trong lưuthông đều nằm ở tài khoản tại ngân hàng Do đó, ở Việt Nam công cụ thị trường mở chưa đượcthực hiện mà chỉ mới có việc phát hành tín phiếu ngân hàng nhà nước và tổ chức đấu thầu tráiphiếu kho bạc
Thị trường mở được xem là một trong những cửa ngõ để NHTƯ phát hành tiền vào guồngmáy kinh tế hoặc rút bớt khối lượng tiền tệ lưu thông Nếu như chính sách chiết khấu, tái chiếtkhấu có tác động tổng hợp và có những hạn chế tạm thời thì nghiệp vụ thị trường mở là công cụ tácđộng nhanh và linh hoạt
3.5. Cung ứng tiền mặt pháp định
NHTƯ có thể trực tiếp làm tăng, giảm dữ trữ và cung ứng tiền, bằng các nghiệp vụ trên thịtrường hối đoái và nghiệp vụ cho vay với chính phủ, ngoài nghiệp vụ thị trường mở và cho vaychiết khấu, tái chiết khấu
Khi NHTƯ đưa tiền mặt ra mua ngoại tệ, lập tức sẽ làm gia tăng lượng tiền trong lưu thông,dẫn đến tỷ giá ngoại tệ lên cao, nghĩa là phá giá đồng bản tệ Ngược lại, khi NHTƯ đem ngoại tệ rabán, làm giảm nhanh cung ứng tiền,lượng tiền trong lưu thông giảm đi, tỷ giá ngoại tệ hạ thấpxuống, tức là nâng giá đồng bản tệ
Khi ngân sách chính phủ thâm hụt, nhu cầu vay mượn của chính phủ sẽ phát sinh, NHTƯthường phải cho chính phủ vay tiền Lượng tiền cho vay này sẽ làm tăng cung ứng tiền trong nềnkinh tế thông qua việc chi tiêu của chính phủ Ngược lại, đến khi ngân sách thặng dư, NHTƯ đòi
nợ và chính phủ trả nợ, lượng tiền mặt của chính phủ bị NHTƯ rút về, làm cho cung ứng tiền tronglưu thông giảm theo
3.6 Kiểm soát tín dụng chọn lọc
Chính sách kiểm soát tín dụng chọn lọc được áp dụng ở rất NHTƯ, chẳng hạn ở Nhật,Pháp, Đức,
Trang 11Chính sách kiểm soát tín dụng chọn lọc sẽ giới hạn mức tín dụng tối đa cấp cho các ngành
mà nhà nước không muốn phát triển nữa, ngược lại, ưu đãi những ngành hoạt động được coi như
ưu tiên,cần yểm trợ tín dụng mạnh hơn Nếu không có chính sách kiểm soát tín dụng chọn lọc,ngân hàng trung gian sẽ chỉ hướng tín dụng vào những ngành kinh doanh lớn, xí nghiệp nướcngoài, mua bán chứng khoán, Ýt chú trọng tới những ngành hoạt động có lợi Ých xã hội
Để chính sách này thật sự mang tính hữu hiệu, cần phải thường xuyên nâng cao chất lượngkiểm soát và thanh tra ngân hàng trung gian
3.7 Ấn định hạn mức tín dụng
Ên định hạn mức tín dụng là việc NHTƯ quy định, một khối lượng tín dụng phải cung cấpcho nền kinh tế trong một thời gian nhất định và sau đó tìm cách để đưa nó vào nền kinh tế Biệnpháp này được áp dụng rất lâu và khá phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa theo cơ chế kế hoạchhoá tập trung trước đây
Khi NHTƯ muốn bành trướng khối tiền tệ, khối lượng cho vay ở các ngân hàng trung gian
mở rộng hạn mức tín dụng Ngược lại, nếu muốn hạn chế tín dụng ở ngân hàng trung gian, giảmthiểu khối tiền tệ thì NHTƯ sẽ thu hẹp hạn mức tín dụng
Ngoài những công cụ được trình bày trên đây, còn có các công cụ khác cũng được áp dụng trongviệc thực thi chính sách tiền tệ như : chính sách tỷ giá, Ên định một biên vực bắt buộc trong việccho vay, chính sách ngoại hối, dữ trữ ngoại hối
4 Kinh nghiệm thực hiện chính sách tiền tệ ở một số nước trong những năm 1996 2000
4.1 Tổng quan về nền kinh tế vĩ mô
Trong gần hai thập kỷ 80 và 90, nền kinh tế toàn cầu đã chứng kiến được sự phát triển thần
kỳ của những con hổ và những con rồng Châu Á Đây là những quốc gi đạt được tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao liên tục trong nhiều năm, một tốc độ phát triÓn mà nhiều nhà kinh tế gọi là tốc
độ mơ ước Nhưng đồng thời vào tháng 7 – 1997 cả thé giới đã chứng kiến một cuộc khủng hoảngtài chính tiền tệ mới, bắt nguồn từ cũng những chính con hổ, con rồng này Có thể nói rằng, nhữngnăm đầu thập kỷ 80 là giai đoạn đặc trưng của nó là các chảy tài chính khổng lồ vào các nước đangphát triển, mà trong đó chủ yếu là các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Theo số liệuQuỹ tiền tệ Quốc tế, đến cuối năm 1993, dòng chảy tài chính quốc tế vào các nước trong khu vựcnày chiếm đến 85% tổng lượng tài chính đầu tư vào các nước đang phát triển trên toàn thế giới;trong giai đoạn 1993 – 1996 này thì con số này giản xuống, nhưng vẫn còn ở mức 50% Thậm chí
có một vài trường hợp như Malaysia và Thailan,nguồn vốn chiếm đÕn 15% GDP Sù gia tăngmạnh mẽ này là do một số nguyên nhân, cả những nguyên nhân bên trong và bên ngoài:
Thứ nhất: Do các quốc gia khá thành công trong việc quản lý kinh tế vĩ mô nhờ theo đuổichương trình ổn định hoá nền kinh tế khiến cho các nhà đầu tư không ngừng đổ vốn vào
Thứ hai: Do quá trình tự do hoá tài chính tài chính diễn ra quá nhanh đặc biệt là việc chophép người nước ngoài mua cổ phiếu và thương phiếu
Trang 12Thứ ba: Do lãi suất được duy trì ở mức cao trong khi lãi suất ở Mỹ và các nước côngnghiệp khác giảm làm cho môi trường đầu tư ở các nước này trở nên hấp dẫn hơn
Mặc dù phát triển nhanh một cách kỳ diệu, Đông Nam Á đã lé ra một số điểm dễ bị tổnthương Trong số những điểm quan trọng nhất có luồng vốn chảy vào tăng nhanh chóng,các khoảnđầu tư mỗi ngày một thiếu hiệu quả và các chính sách tuy có duy trì được mức độ tăng trưởngnhưng lại làm tăng khả năng bị tổn thương Tất cả những vấn đề đó đã được đánh dấu bởi một cuộckhủng hoảng tiền tệ Cuộc khủng hoảng đó đã nói lên : Các nước bị khủng hoảng ở Đông Nam Á
đã không chuẩn bị để quản lý quá trình hội nhạp tài chính ngày càng tăng vào giữa những năm
1990 Bị thu hút bởi các thành công trong quá khứ của khu vực, các dòng vốn chảy vào tăng vọtlàm tràn ngập khả năng cho vay một cách có hiệu quả của tổ chức tài chính Các chính sách kinh tế
vĩ mô đã không điều chỉnh được quá trình bùng nổ và bị ru ngủ bởi bản chất tư nhân của dòng vốn
Sự hội nhập và toàn cầu hoá đã khiến cho mỗi nước trở thành một “mắt xích” trong guồngmáy hoạt động kinh tế thế giới Chính vì vậy, sự khủng hoảng tiền tệ năm 1997 đã ảnh hưởng rấtlớn đến nền kinh tế của nhiều nước trong đó có Việt Nam Đồng thời chính trong giai đoạn 1996 –
2000, sau cuộc khủng hoảng, các nước Đông Nam Á đã từ từ khôi phục lại nền kinh tế của mình
Từ cuộc khủng hoảng đó, đã đặt ra cho Việt Nam những vấn đề gì ? trong khi: xu thế toàn cầu hoá,khu vực hoá và quốc tế hoá thị trường nói chung Việt Nam nên nhìn nhận những bài học kinhnghiệm của các nước đi trước để tránh đi những bước sai lầm, đặc biệt là trong vấn đề thực thichính sách tiền tệ
4.2 Những bài học kinh nghiệm.
Về cơ cấu vĩ mô : Trong suốt gần hai thập kỷ, du các quốc gia này đến chú trọng đến việcnâng cao tỷ lệ tiết kiệm nội địa.nhưng nếu so sánh với tốc độ tăng trưởng của các ngừn vốn nướcngoài thì vẫn có sự tương thích đối với tài chính ngân hàng.Bản thân hệ thống tài chính ngân hàngvẫn còn một số nhược điểm nhất định, vẫn còn yếu kém như cho vay còn phụ thuộc rất nhiều quan
hệ cá nhân, nạm tham nhũng vẫn còn hoành hành, thì việc đầu tư các ngân hàng không đảm bảohiệu quả kinh tế Trong khi đó các quan hệ tài chính chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng, mà Ýtdựa vào hệ thống thị trường chứng khoán, hệ thống NHTM được xem như là một cong cụ để thựchiện các chính sách của Chính phủ, chứ không phải một định chế kinh doanh độc lập trong cơ chếthị trường
Trên thực tế, các quốc gia này đã thực hiện một số chính sách tự do hoá tài chính trên cơ sở
hệ thống tài chính yếu kém, các nguồn vốn chu cấp đến mức không thể kiểm soát được, dẫn đếntình trạng khi các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn thì khủng hoảng phải là điều tất yếu
Mô hình phát triển kinh tế của các nước chủ yếu dựa vào xuất khẩu (do chiếm được ưu thế
về sức lao động rẻ), trong đó xuất khẩu vào thị trường như Mỹ, Nhật chiếm tỷ trọng rất lớn Nhữngđánh giá lạc quan về triển vọng phát triển theo mô hình này trong một thời gian dài đã làm chochính sách của các quốc gia này thiếu hẳn nét linh hoạt Do vậy, một khi có những biến động bấtlợi từ phía các thị trường lớn thì ngay lập tức sẽ dẫn tới phản ứng dây chuyền đối với ngành sảnxuất công nghiệp
Tỷ giá hối đoái cũng là một vấn đề rất nhạy cảm đối với sự tràn ngập của nguồn vốn đầu tưnước ngoài Các nguồn tín dụng vay nước ngoài đôi khi được xem là đòn bẩy tích cực cho nền kinh
Trang 13tế, nhưng bên cạnh đó, nó đòi hỏi phải có một chính sách điều hành tỷ giá thật linh hoạt, thật mềmdẻo.
Trong một thời gian dài, Chính phủ các quốc gia này đã áp dụng một chính sách làm chođồng tiền của mình gắn chặt với đồng USD, việc này đã làm cho nhiều nhà đầu tư ảo tưởng vàomột tỷ giá cố định và bền vững Các nguồn vốn quốc tế tràn ngập đã làm cho chi phí của cáckhoản vay nước ngoài xuống đến mức thấp nhất Do đó, đến khoảng cuối năm 1996 đầu 1997, vớinhững thông tin về việc ra đời của đồng EURO đã làm cho nhiều nhà đầu tư bỏ DM và các ngoại tệmạnh khác và chuyển sang sử dụng USD Và tình hình đó đã làm cho các nước Đông Nam Á mấtkhả năng thanh toán, các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút các nguồn vốn ngắn hạn của mình về.Điều tất yếu đã xẩy ra: khủng hoảng tài chính tiền tệ , vì không một khu vực, một quốc gia nào cókhả năng chống đỡ được với chu chuyển ngược dòng của các nguồn tín dụng quốc tế trong mộtthời gian ngắn như vậy
Mô hình tăng trưởng kinh tế lấy xuất khẩu làm động lực chính là một hướng đi đúng,nhưng các nước Đông Nam Á chỉ chủ yếu đén lợi thế về sức lao động mà đã quên đi công tác hiệnđại hoá công nghệ sản xuất Cho đến khi nền kinh tế tăng trưởng đến một mức độ nhất định, thì lợithế này sẽ không còn nữa, hàng hoá xuất khẩu do vậy sẽ mất đi tính cạnh tranh và dẫn đến suythoái
Thiết nghĩ, những kinh nghiệm thất bại của các quốc gia Đông Nam Á qua cuộc khủnghoảng tài chính tiền tệ vừa qua là những bài học quý giá đối với Việt Nam trong buổi sơ khai củathị trường chứng khoán và trong xu hướng hội nhập như ngày nay Qua những bài học kinh nghiệmnày cùng với những khó khăn vướng mắc hiện nay, hy vọng trong thời gian tới, chúng ta sẽ cónhững giải pháp thiết thực, những bước đi phù hợp để đưa thị trường chứng khoán Việt Nam ngàycàng phát triển, đưa nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng cao và ổn định
Trang 14PHẦN II
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ 1996 - 2000
I THỰC TRẠNG
1 Bối cảnh chung của nÒn kinh tế vĩ mô
Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam thời gian qua, chóng ta đã thu được nhữngkết quả bước đầu rất khả quan, tạo được niềm tin trong dân chúng cũng như các nhà đầu tư trong
và ngoài nước Nền kinh tế đạt được nhịp độ tăng trưởng tương đối khá và bắt đầu có tích luỹ, đầu
tư được mở rộng,sản xuất lưu thông phát triển Tuy nhiên, kể từ tháng 9 năm 1997, do sự tác độngcủa cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính trong khu vực,nên từ chỗ có mức tăng trưởng liên tụctrong nhiều năm (8% - 9%), nên kinh tế nước ta bắt đầu có dấu hiệu chững lại, mức tăng trưởngnăm 1998 chỉ còn 5,8% và năm 1999 là 4,8%, năm 2000 là 6,75% Tác động của khủng hoảng tàichính khu vực đã đưa đến những tổn thất cho nền kinh tế trên các mặt:
-Nguồn vốn đầu tư nước ngoài giảm sút gây ra sự hẫng hụtlớn trong đầu tư phát triển Một
số ngành kinh tế vốn rất sôi động trước đây như: xây dựng, du lịch cũng gặp những khó khăn nhấtđịnh
-Thu nhập, sức mua của người dân giảm dẫn đến sức tiêu thụ hàng hoá trên thị trường giảmsút làm cho các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ sảnphẩm của mình
-Nền kinh tế từ chỗ luôn đối phó với tình trạng lạm phát, thì nay phải đề phòng với nạngiảm phát
- Chỉ số giá tiêu dùng và dịch vụ liên tục giảm từ tháng 3 đến tháng 10, qua tháng 11 cótăng chút đỉnh nhưng nhìn chung, chỉ số trượt giá và lạm phát 11 tháng đầu năm 1999 vẫn tiệp tụcgiảm 0,4% và năm2000 vẫn ở mức thấp , giảm 0,6% so với 31/12/1999, một hiện tượng chưa từng
Trang 15thấy trong những năm đổi mới, mở cửa ở nước ta.Trong cơ cấu chỉ số giá tiêu dùng, thì tỷ trọngnhóm hàng lươnh thực,thực phẩm chiếm 61%, tỷ trọng của 9 nhóm hang khác (công nghiệp, dịchvụ…) chiếm 31%, nên khi giá lương thực, thực phẩm giảm 10,5%(1999), giảm 2,3%(2000); giácác mặt hàng khác tăng 2,3%(1999) GIá thóc giảm trong khi chi phí xăng dầu, điện vẫn tăng khiếncho thu nhập của người nông dân ngày càng thấp Sức mua của khu vực nông thôn quá yếu đã cảntrở lớn đến chủ trương kích cầu của Nhà nước
- Thu nhập của đại bộ phận dân cư trong năm không tăng,nhiều người không có việc làm.Một bộ phận lớn dân cư, nhất là người làm công ăn lương bị giảm thu nhập do đồng tiền mất giá
- Sức sản xuất trong nước vốn đã yếu kém lại càng đình trệ thêm dưói sức Ðp cạnh tranhcủa các mặt hàng buôn lậu, hàng giả tràn lan, đặc biệt tác động của ảnh hưởng bão lụt, thiên tai liêntục trong các năm qua khiến cho sản xuất nước càng thêm khó khăn
- Một sè Doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả, thua lỗ nhưng vẫn được Nhà nướccho giảm thuế, khoang nợ, xoá nợ Lượng hàng hoá của các Doanh nghiệp này làm ra tung vào thịtrường càng góp phần làm cho tổng cung tăng lên Trong khi đó, thu nhập của người lao động giảm
đã khiến khoảng chênh lệch giữa khối lượng hàng hoá và nhu cầu có khả năng thanh toán ngàycàng lớn
Tình hình nêu trên ngoài tác động khủng hoảng tài chính khu vực, còn bị nền hành chínhmang nặng tính quan liêu với các thủ tục phiền hà trong nước Đặc biệt, do chóng ta chưa tạo rađược một hành lang pháp lý, đảm bảo an toàn cho các nhà doanh nghiệp trong kinh doanh
Bên cạnh những khó khăn, nhưng nền kinh tế trong giai đoạn 1996 – 2000 cũng đã thuđược những kết quả tích cực: kinh tế tăng trưởng khá; văn hoá, xã hội có những tiến bộ; đời sốngnhân dân tiếp tục được cải thiện Tình hình chính trị – xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng và anninh được tăng cường Quan hệ đối ngoại không ngừng mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế đượctiến hành chủ động và đạt nhiều kết quả tốt
Trước những vấn đề kinh tế vĩ mô nêu trên, vai trò của chính sách tiền tệ đã thể hiện nhưthế nào ? hoạt động như thế nào ? đã đem lại những kết quả gì ?
2 Chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 2000
Chính sách tiền tệ luôn là công cụ để đạt được các mục tiêu kinh tế Dó đó, trong mỗi mộtthời kỳ, tuỳ thuộc vào điều kiện khách quan cũng như chủ quan của nền kinh tế mà chính sách tiền
tệ có những bước đi thích hợp để phát triển kinh tế
Chóng ta sẽ xem xét sự hoạt động của chính sách tiền tệ trong giai đoạn 1996 – 2000 thôngqua các công cụ sau
2.1 Công cụ lãi suất
Trong những năm qua chính sách và mức lãi suất đã được thay đổi ngayg càng phù hợp hơnvới tình trạng tương quan cung cầu trên thị trường vốn, với điều kiện giao dịch của hệ thống ngânhàng và Doanh nghiệp và những diễn biễn của kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, lãi suất tín dụng ngânhàng ở Việt Nam hiện nay đang còn bộc lộ nhiều yếu điểm ảnh hưởng xấu tới sự vận động bình
Trang 16thường của dòng lưu thông tiền tệ trong điều kiện của cơ chế kinh tế thị trường và tới môi trườngkinh doanh của các Doanh nghiệp Cụ thể:
Từ cuối năm 1995 có sự thay đổi trong chính sách lãi suất và để phù hợp quá trình thay đổi
đó trong năm 1996, NHNN ban hành 4 quyết định điều chỉnh lãi suất, các NHTM cảm thấy hết sứclúng túng vì phải liên tục điều chỉnh mà trên thực tế tác dụng không có là bao vì biên độ của mỗilần điều chỉnh từ 0,1% - 0,2%
Năm 1998 chính sách lãi suất được thực hiện trong mối quan hệ hài hoà voí tỷ giá nhằmhạn chế những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đến Việt Nam NHNN tiếp tụcthực hiện việc kiểm soát lãi suất trên thị trường tiền tệ bằng chính sách quy định trần lãi suất chovay đối VNĐ và ngoại tệ; xoá bỏ quy định chênh lệch lãi suất cho vay với lãi suất huy động bìnhquân 0,35%/ tháng như năm 1996, 1997; đã xoá bỏ sự phân biệt mức lãi suất cho vay trên địa bànnông thôn và thành thị, tự do hoá lãi suất tiền gửi Trong năm có 2 lần điều chỉnh lãi suất như sau:
-Lần thứ nhất: (ngày 20/1/1998) cho vay ngắn hạn điều chỉnh từ 1%/tháng tăng1,2%/tháng; cho vay trung hạn điều chỉnh từ 1,1%/tháng tăng 1,25%/tháng; trần lãi suất cho vayQTDND cở sở cho vay thành vien là 1,5%/ tháng; trần lãi suất cho vay bằng USD vẫn giữ nguyên8,5%/năm như trước đây
-Lần thứ hai: (11/9/1998) Trần lãi suất cho vay bằng USD được điều chỉnh từ 8,5%/nămxuống 7,5%/năm để phù hợp mặt bằng lãi suất LIBOR, SIBOR hiện hành Cụ thể lãi suất các loạitiền gửi bằng USD của pháp nhân được quy định :
+ Tiền gửi không kỳ hạn tối đa: 0,5%/năm (giảm 1%/năm)
+Tiền gửi có kỳ hạn đến 6 tháng tối đa :3%/năm (giảm 1%/năm)
+Tiền gửi có kỳ hạn trên 6 tháng : 3,5%/năm(giảm 1%/năm)
Trong năm 1999, trước tình hình thiểu phát, tốc đọ tăng trưởng kinh tế có xu hướng chậmlại, NHNN đã điều hành lãi suất theo cơ chế lãi suất trần và được điều chỉnh linh hoạt trên cơ sởbám sát các diễn biến vĩ mô, cung cầu vốn trên thị trương tiền tệ và theo xu hướng nới lỏng tiền tệ,giảm trần lãi suất cho vay đối với nền kinh tế nhằm thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về các giảipháp kích cầu: NHNN đã 5 lần điều chỉnh giảm trần lãi suất cho vay VNĐ từ mức 1,25%/ thángđối với trung, dài hạn và 1,2%/tháng đối với cho vay ngắn hạn xuống mức thống nhất một mức là0,85%/tháng đối với khu vực thành thị; trần lãi suất cho vay khu vực nông thôn 1%/tháng; trần lãisuất cho vay của NHTMCP nông thôn mức 1,15%/tháng;Quý tín dụng nhân dân cơ sở cho vaythành viên 1,5%/tháng; lãi suất cho vay của Ngân hàng phục vụ người nghèo đối với hộ nghèo là0,7%/tháng
Lãi suất huy động ngoại tệ của các pháp nhân cũng được điều chỉnh giảm từ 3%-3,5%/nămxuống còn 2,5% - 3%/năm
Từ đầu năm đến cuối tháng 7/2000, NHNN tiếp tục điều hành lãi suất thông qua cơ chếtrần lãi suất cho vay bằng VNĐ, bằng ngoại tệ và lãi suất tiền gửi tối đa bằng Đôla Mỹ đối vớipháp nhân tại tổ chức tín dụng
Đặc biệt đến ngày 2/8/2000, NHNN đã quyết định thay đổi cơ chế điều hành lãi suất: chuyển
từ cơ chế điều hành lãi suất sang cơ chế điều hành theo lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng VNĐ
và cơ chế lãi suất thị trường có quản lý đối với cho vay bằng ngoại tệ
Trang 17-Đối với lãi suất VNĐ: lãi suất cho vay không quá lãi suất cơ bản và biên độ do thống đốcNHNN quy định Đến cuối năm 2000, lãi suất cơ bản là 0,75%/tháng, biên độ cho vay ngắn hạn là0,3%/tháng, biên độ cho vay trung,dài hạn là 0,5%/tháng.
-Đ i v i lãi su t cho vay USD, lãi su t cho vay không vượt quá lãi suất USD trênt quá lãi su t USD trên
th trư ng liên ngân hàng Xingapore k h n 3 tháng ỳ hạn 3 tháng đối với cho vay ngắn hạn, kỳ hạn ạn 3 tháng đối với cho vay ngắn hạn, kỳ hạn đ i v i cho vay ng n h n, k h nắn hạn, kỳ hạn ạn 3 tháng đối với cho vay ngắn hạn, kỳ hạn ỳ hạn 3 tháng đối với cho vay ngắn hạn, kỳ hạn ạn 3 tháng đối với cho vay ngắn hạn, kỳ hạn
6 tháng đ i v i cho vay trung h n t i th i i m cho vay c ng v i biên ạn 3 tháng đối với cho vay ngắn hạn, kỳ hạn ạn 3 tháng đối với cho vay ngắn hạn, kỳ hạn đ ểm cho vay cộng với biên độ do Thống đốc ộng với biên độ do Thống đốc động với biên độ do Thống đốc do Th ng đ cNHNN quy nh Trong n m 2000, biên đ ăm 2000, biên độ cho vay ngắn hạn là 1%/năm, biên độ cho động với biên độ do Thống đốc cho vay ng n h n là 1%/n m, biên ắn hạn, kỳ hạn ạn 3 tháng đối với cho vay ngắn hạn, kỳ hạn ăm 2000, biên độ cho vay ngắn hạn là 1%/năm, biên độ cho động với biên độ do Thống đốc chovay trung và dài h n là 2,5%/n m.ạn 3 tháng đối với cho vay ngắn hạn, kỳ hạn ăm 2000, biên độ cho vay ngắn hạn là 1%/năm, biên độ cho
lãi suất thực dương
Xoá bỏ lãi suất cho vay
thoả thuận, đưa thêm lãi
suất tín dụng khu vực nông
thôn và khu vực QTD vào
hệ thống lãi suất cho vay.
Xoá bỏ việc quy định cụ thể
lãi suất tiền gửi
áp dụng chênh lệch lãi suất
đầu vào đầu ra
Thống nhất lãi suất tín dụng giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn.
Tù do hoá hoàn toàn lãi suất đầu vào
Hợp nhất lãi suất cho vay ngắn hạn, dài hạn
Xoá bỏ kiểm soát lãi suất tiết kiệm ngoại tệ ChuyÓn từ cơ chế lãi suất trần sang cơ chế lãi suất cơ bản để điều tiết
lãi suất tín dụng dài hạn cao hơn lãi suất tín dụng ngắn hạn
2.2 Công cụ dữ trữ
Ngày 1/12/1997 DTBB được thực hiện theo quy chế mới Quy chế dữ trữ bắt buộc lần này
đã quy điịnh cụ thể hơn, linh hoạt hơn thể hiện ở quy định tiền gửi, dữ trữ bắt buộc tại NHNN đượctính bình quân trong cả kỳ duy trì Tỷ lệ dữ trữ bắt buộc được áp dụng chung cho các TCTD và cácloại tiền gửi huy động có lỳ hạn dưới 12 tháng là 10%, đối với ngân hàng cổ phần nông thôn vàQTDND tạm thời chưa phải thực hiện dữ trữ bắt buộc NHNN không trả lãi cho tiền gửi dữ trữ bắtbuộc, đối với tiền dữ trữ bắt buộc gửi vượt được hưởng lãi suất 0,2%/tháng(VNĐ) và hưởng lãisuất 4,86%/năm(ngoại tệ USD) Đồng thời, những TCTD thiếu tiền dữ trữ bắt buộc trong kỳ duy trìthì bị phạt theo mức 200% lãi suất cho vay tái cấp vốn của NHNN(đối với dữ trữ bắt buộc bằngVNĐ), 200% trần lãi suất cho vay bằng USD
Trong năm 1999, để thực hiện mục tiêu nới lỏng tiền tệ nhằm kích cầu, tạo đà phát triểnkinh tế, NHNN đã hai lần điều chỉnh giảm tỷ lệ dữ trữ bắt buộc đối với các TCTD từ mức 7%xuống còn 5% trên tổng số dư của tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng đối với các NHTM quốcdoanh, NHTM cổ phần đô thị, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh và công tytài chính(riêng ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là 3%); từ 5% xuống 1%đói với NHTM cổ phần nông thôn, ngân hàng hợp tác, QTDNDTƯ và QTDNN khu vực
Trong năm 2000, việc thực nhiện dữ trữ bắt buộc tiếp tục áp dông quy chế ban hành theoquyết định số 51/99/QĐ-NHNN ngày 10/2/1999
Trang 18-Tỷ lệ dữ trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng VNĐ: tiếp tục áp dụng như năm 1999 và 5%đối với các NHTMQD,NHTMCP đô thị, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ngân hàng liên doanh vàcônh ty tài chính; 1% đối với NHTMCP nông thôn, ngân hàng hợp tác, QTDNDTƯ và QTDNDkhu vực;0% đối với QTDNN cơ sở,HTX tín dụng, ngân hàng phục vụ người nghèo.
-Tỷ lệ dữ trữ bắt buộc đối với tiền fửi bằng ngoại tệ:để tạo tín hiệu hạn chế của cá TCTDhuy động tiền gửi bằng ngoại tệ ra nước ngoài Ngày 10/10/2000, điều chỉnh tỷ lệ dữ trữ bắt buộcđối với tiền gửi bằng ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng của NHTMQD, NHTMCP
đô thị, NHTMCP nông thôn, ngân hàng HTX, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liêndoanh, công ty tài chính, QTDNDTƯ và QTDNN đo thị từ 5% lên 8% Ngày 1/12/2000, NHNNmột lần nữa nâng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc đối vơí tiền gửi bằng ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạndưới 12 tháng lên 12%
2.3 Công cụ tái cấp vốn và tái chiết khấu
Trong năm 1998 NHNN thực hiện tái cấp vốn ngắn hạn nhằm bù đắp khó khăn tạm thời vềthanh toán cho các NHTM theo các hình thức:
- Cho vay thế chấp chứng từ
- Cho vay thế cháp bằng tiền gửi ngoại tệ của các NHTM tại NHNN
Lãi suất tái khấu được điều chỉnh từ mức 1%/tháng lên 1,1%/tháng, thấp hơn trần lãi suấtcho vay ngắn hạn là 0,1%/tháng
Năm 1999 NHNN đã 4 lần giảm lãi suất cho vay tái cấp vốn từ mức 1,1%/tháng đầ nămxuống còn 0,5%/tháng.Đông thời NHNN đã ban hành quy chế về nghiệp vụ chiết khấu của NHNNđối với các ngân hàng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ và tạo khả năng cân đối vốn hoạt độngcho vay của các ngân hàng Các giấy tờ có giá ngắn hạn được chiết khấu tại NHNN là tín phiếu khobạc thông qua đấu thầu tại NHNN, tín phiếu NHNN và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác được quyđịnh trong từng thời kỳ Lãi suất chiết khấu được công bố là 0,45%/tháng
2.4 Tỷ giá
Trong thời gian 1996 – 1997, chính sách điều hành tỷ giá được linh hoạt hơn theo cơ chếthị trường, nhằm khuyến khích hoạt động xuất khẩu, bảo đảm hạn chế nhập khẩu Quý 1/1997NHNN đã chủ động điều chỉnh tỷ giá mở rộng biên độ so với tỷ giá chính thức từ 1% lên 5%
Tỷ giá USD/VNĐ có xu hwongs nhích lên, hầu hết các NHTM niêm yết sát trần tỷ giá
Năm 1998, trước những tác động bất lợi từ cuộc khủng hoảng khu vực đến Việt Nam,NHNN đã thực hiện biện pháp điều hành tỷ giá linh hoạt và kịp thời đạt được những mục tiêu đề rađồng thời không gây sốc lớn trong nền kinh tế Trong năm 1998, tỷ giá chính thức đã được điềuchỉnh 2 lần: Lần thứ nhất vaod ngày 16/2/1998, tỷ giá chính thức tăng từ mức 11.175 VND/USDlên 11.800 VND/USD với biên độ giao động 10%( tăng 5,6 % so với đầu năm) Đến ngày7/8/1998 NHNN điều chỉnh tăng lần thứ hai đưa tỷ giá chính thức lên 12.998 VND/USD(tăng16,3% so với đầu năm ), đồng thời biên độ giao dịch được điều chỉnh giảm từ 10% xuống 7% đểthu hẹp dần khoảng cách giữa tỷ giá chính thức với tỷ giá trên thị trương ngoại tệ liên ngân hàng.Sau hai lần điều chỉnh tỷ giá phản ánh sát hơn tương quan cung cầu ngoại tệ trên thị trường, góp
Trang 19phần hạn chế việc đầu cơ ngoại tệ làm tăng doanh sè giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên ngânhàng giảm bớt sức Ðp đối với dữ trữ ngoại tệ của Nhà nước
Năm 1999, NHNN thực hiện một bước đổi mới cơ bản về điều hành tỷ giá từ quản lý cótính chất hành chính sang điều hành theo hướng thị trường có sự quản lý của Nhà nước Ngày26/2/1999, thay bằng việc công bố tỷ giá chính thức, NHNN công bố tỷ giá giao dịch bình quântrên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Tỷ giá hàng được áp dụng làm cơ sở để các TCTD đượcphép kinh doanh ngoại tệ, xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ; áp dụng để tính thuế XNK Trên cơ sở
tỷ giá giao dịch thực tế bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của ngày giao dịch gầnnhất trước đó do NHNN công bố, các TCTD được quy định tỷ giá giao dịch không vượt quá 0,1%
so với tỷ giá này Việc thay đổi về cơ chế quản lý, điều hành tỷ giá đã tạo quyền chủ động cho cácNHTM trong việc tự quy định tỷ giá giữa VND với các ngoại tệ khác Với cơ chế điều hành mới, tỷgiá của Việt Nam được hình thành trên cơ sở giao dịch trên thị trường và phản tương đối kháchquan sức mua của ĐViệt Nam so với ngoại tệ, tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp chủ động hơntrong kinh doanh đồng thời vẫn đảm bảo được vai trò kiểm soát của Nhà nước
Trong năm 2000, NHNN tiếp tục thực hiện điều hành tỷ giá dưới hình thức hàng ngàyNHNN công bố tỷ giá chính thức là tỷ giá giao dịch bình quân giữa VND với USD trên thị trươngngoại tệ liên ngân hàng của ngày làm việc trước đó Các NHTM được xác định tỷ giá giao dịchkhông vượt quá 0,1% tỷ giá do NHNN công bố: Tỷ giá bình quân do NHNN công bố hàng ngàytăng đều đặn( từ khoảng 1 – 5 VND/USD) và tăng mạnh vào những tháng cuối năm( 7 – 12 VND/USD) Đến ngày 29/12/2000, tỷ giá được công bố là 14.501 VND/USD, tỷ giá trên thị trường ngoại
tệ liên ngân hàng là 14.515 VND/USD, tăng 3,45% so với đầu năm Đối với tỷ giá kỳ hạn, từ tháng9/2000, mức chênh lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và hoán đổi với tỷ giá giao ngay đã được điều chỉnhgiảm ở tất cả các kỳ hạn với mức giảm từ 0,38% đến 1,83% Viêc điều chỉnh tỷ giá nêu trên đượcthực hiện để phù hợp với xu hướng giảm lãi suất trên thị trường
2.5 Chính sách quản lý ngoại hối
Trước diễn biến phức tạp của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực,NHNN đã kịpthời có những giải pháp về tiền tệ và tỷ giá nhằm giảm thiểu tác động của cuộckhủng hoảng tàichính toứi sự ổn định kinh tế vĩ mô và hoạt động của hệ thống Ngân hàng, đồng thời tạo môitrường kinh tế đối ngoại thuận lợi, bên cạnh đó cơ chế quản lý ngoại hối cũng có những thay đổiđáng kể, cụ thể trong năm 1998 đã tăng cường khả năng kiểm soát luồng ngoại tệ của NHNN, ThủTướng Chính Phủ đã ban hành quyết định về nghĩa vụ bán và quyền mua ngoại tệ của người cư trú
là tổ chức Đây là một giải pháp tình thế để giảm bớt căng thẳng giữa cung và cầu ngoại tệ Mặtkhác, để tăng cường khả năng hoà hợp quốc tế, Chính Phủ đã ban hành cơ chế quản lý ngoại hốimới thay thế cơ chế quản lý ngoại hối cũ, thể hiện ở Nghị định 63/NĐ-CP ngày 17/8/1998 Việcban hành nghị định 63 nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế,từng bước thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng Việt Nam trong các hoạt động ngoại hối vàhoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối của Việt Nam, tăng cường giám sát và quản lý ngoại hối củaNhà nước.Công tác quản lý nợ nước ngoài cũng từng bước hoàn thiện.Ngày 7/11/1998, CP đã banhành Nghị định số 90/NĐ-CP thay thế nghị định số 58/CP về quản lý vay trả nợ nước ngoài Kếtquả dư nợ ngắn hạn vay nước ngoài của năm 1998 chỉ bằng 46% năm 1997
Trang 20Trong năm 1999, trọng tâm của công tác quản lý ngoại hối là tiếp tục thực hiện chủ trươngcải cách các thủ tục hành chính, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước nhưng vẫn đảm bảo tínhchủ động, linh hoạt cho các Doanh nghiệp Để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân thựchiện các quy định của Nhà nước về quản lý ngoại hối, NHNN đã tiến hành hệ thống hoá lại các vănbản về quản lý ngoại hối, thay thế một số văn bản cũ, ban hành các văn bản mới mang tính chấthướng dẫn Cùng với việc hướng dẫn các quy định, NHNN tiếp tục tăng cường kiểm soát vay, trả
nợ nước ngoài, quản lý kinh doanh vàng…Trong năm 1999, NHNN cũng đã thực hiện điều chỉnh
tỷ lệ kết hối ngoại tệ từ 80% các nguồn thu vãng lai của doanh nghiệp xuoóng 50% để tăng cườngtính chủ động trong việc sửdụng ngoại tệ của các doanh nghiệp, từng bước tiến tới tự do hoá cácgiao dịch ngoại tệ
Năm 2000, chính sách quản lý ngoại hối tiếp tục đổi mới theo hướng nới lỏng các giao dịchvãng lai, khuyến khích thu hút nguồn vốn ngoại tệ vào Việt Nam thông qua việc cho phép đượcnhận tiền chuyển từ nước ngoài về bằng ngoại tệ hoặc VND,không phải đóng thuế, cho phép người
cư trú là cá nhân được gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ không kể nguồn gốc tại các TCTD được phép,được hưởng lãi suất bằng ngoại tệ, được rót ra cả gốc và lãi bằng ngoại tệ, bán ngoại tệ cho cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…Trong năm 2000, NHNN đã phối hợp với Bộ Tài Chínthực hiện mua bán ngoại tệ từ NSNN nhằm bổ sung nguồn ngoại tệ để điều tiết thị trường, đáp ứngcho nhu cầu nhập khẩu
Vay và trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp được kiểm soát theo hạn mức vay nướcngoài của doanh nghiệp đã được TTCP phê duyệt nhằm hỗ trợ nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế
và đảm bảo các chỉ tiêu an toàn về nợ nước ngoài NHNN đã phối hợp với các ngành liên quan tậptrung giải quyết nợ cũ với nước ngoài Bên cạnh việc tiếp tục thực hiện biện pháp kết hối từ năm
1997, NHNN đã thực hiện linh hoạt nhiều biện pháp khác thông qua điều hành tỷ giá linh hoạt đãtăng cường tính minh bạch trong hoạt động quản lý ngoại hối của NHNN, tác động tích cực đến sựphát triển của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Điều này góp phần giảm sự mất cân đối cung cầungoại tệ trên thị truờng, giải quyết khó khăn về cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp, giảm sức Ðp lên
tỷ giá hối đoái, từ đó đẩy mạnh XNK, tăng nguồn thu ngoại tệ từ kiều hối
2.6 Chính sách tín dụng
Mét trong những chức năng cơ bản của chính sách tiền tệ và hệ thống NHTM là đảm bảovốn kinh doanh cho các doanh nghiệp Muốn vậy, chính sách tiền tệ và kinh doanh của hệ thốngNHTM phải hướng vào việc thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi khơi thông cho dòng chảy của vốnđến với các doanh nghiệp phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh Song trong thời gian 1997, dòngvốn Êy bị tức nghẽn mà biểu hiện nổi bật là: Ngân hàng ứ tiền còn doanh nghiệp thì thiếu vốn.Trong bối cảnh trên Nhà nước cho phép HTNH chuyển 20% vốn huy động ngắn hạn sang dài hạn
Năm1998, chính sách tín dụng của NHNN nhằm hướng các TCTD thực hiện theo luật cácTCTD Về huy động vốn, các TCTD căn cứ vào trần lãi suất cho vay đÓ Ên định các mức lãi suấthuy động phù hợp với tình hình cung cầu vốn tín dụng Về nghiệp vụ cho vay,Thống Đốc NHNN
ra quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN ngày 30/9/1998 đã ban hành quy chế cho vay của TCTD đốivới khác hàng, quy định cho vay bằng VND và ngoại tệ và thay thế thể lệ tín dụng quy định tại cácvăn bản ban hành trong thời gian thực hiện Pháp lênhj Ngân hàng, HTX tín dụng và công ty tài