EBV có mặt trong 100% các khối u vòm mũi họng thể ung thư biểu môkhông biệt hóa và duy trì các thể nhiễm tiềm ẩn I và II, trong đó EBV biểu lộcác gen quan trọng là EBNA1, LMP1 và LMP2..
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỷ lệ ung thư vòm mũi họng (UTVMH) thay đổi rất khác nhau ở cácquần thể dân cư và các vùng địa lý khác nhau trên thế giới Nơi có tỷ lệ ungthư vòm cao nhất là miền Nam Trung Quốc và Grơnlen, trong khi ở châu Âulại có tỷ lệ rất thấp Các nước đông nam Á, trong đó có Việt nam có tỷ lệUTVMH trung bình Virut Epstein-Barr (EBV), các yếu tố môi trường khác
và sự nhạy cảm di truyền đều cho là liên quan đến nguyên nhân ung thư vòmmũi họng và EBV là yếu tố được nghiên cứu nhiều nhất
EBV có mặt trong 100% các khối u vòm mũi họng thể ung thư biểu môkhông biệt hóa và duy trì các thể nhiễm tiềm ẩn I và II, trong đó EBV biểu lộcác gen quan trọng là EBNA1, LMP1 và LMP2 EBNA1 giúp duy trì bộ genEBV trong tế bào chủ, trong khi LMP1 lại là một gen có chức năng quantrọng liên quan đến dẫn truyền tín hiệu, chống lại sự chết theo chương trìnhcủa tế bào và có khả năng sinh ung thư cho các tế bào bị nhiễm Các gen nàynằm cách xa nhau trong bộ gen EBV và được biểu lộ bởi sự hoạt hóa cácpromoter khác nhau EBNA1 được biểu lộ ở các thể nhiễm tiềm ẩn nhờ sựhoạt hóa các promoter: Cp, Wp và Qp Tuy nhiên, trong ung thư vòm mũihọng hai promoter Cp và Wp không hoạt động mà chỉ có Qp điều hòa biểu lộgen EBNA1
Methyl hóa ADN vùng promoter là một trong các yếu tố ngoại di truyền
có vai trò rất quan trọng trong điều hòa biểu lộ gen Mức độ methyl hóa diễn
ra ở các vị trí của đảo CpG tại vùng promoter và exon1 có vai trò trong điềuhòa biểu lộ gen, có thể làm giảm biểu lộ hoặc không biểu lộ hoàn toàn mộtgen mà bình thường vẫn được biểu lộ Việc xác định mức độ methyl hóa vùngpromoter của một gen có ý nghĩa quan trọng trong tìm hiểu cơ chế bệnh sinhcủa bệnh liên quan đến chức năng gen đó trong nhiều quá trình bệnh lý ác
Trang 2tính, đồng thời dấu ấn này cũng có thể góp phần trong chẩn đoán sớm cácbệnh ung thư Ngoài ra, khi dùng các chất hóa học để làm mất methyl hóa thì
có tác dụng làm gen hoạt động trở lại và thực hiện chức năng của chúng, giúpcho việc điều trị những rối loạn hay các bệnh lý khác nhau
Hiện nay, nhờ những tiến bộ của sinh học phân tử người ta có thể xácđịnh được mức độ methyl hóa của một gen đặc hiệu hay toàn bộ bộ gen Các
kỹ thuật này dựa vào những nguyên lý khác nhau, có những kỹ thuật rất phứctạp, nhưng có những kỹ thuật đơn giản và thông dụng Chúng tôi sử dụng kỹthuật PCR đặc hiệu methyl hóa sau khi xử lýADN bằng phương phápbisulfite để xác định mức độ methyl hóa các promoter Wp, Cp và Qp liênquan đến biểu lộ gen EBNA1, đồng thời phát triển PCR đa mồi đối với cácpromoter đó Việc phát triển PCR đa mồi đặc hiệu methyl hóa không chỉ giúpích cho nghiên cứu ngoại di truyền ở mức độ ADN của EBV mà còn rất nhiềugen khác liên quan đến ung thư, đặc biệt là các gen ức chế ung thư
Đề tài này nhằm mục đích sau:
1 Phát triển phản ứng PCR đa mồi đặc hiệu methyl hóa xác định mức độ methyl hóa ở các promoter Wp, Cp và Qp của EBV ở các tế bào dòng B95-8, Namalwa và Raji.
2 Ứng dụng PCR đa mồi đặc hiệu này xác định mức độ methyl hóa 3 promoter điều hòa biểu lộ gen EBNA1 của EBV trong các mẫu sinh thiết bệnh nhân ung thư vòm mũi họng.
Trang 3CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1.Tình hình ung thư vòm mũi họng trên thế giới và Việt Nam.
Ung thư vòm mũi họng (UTVMH), một khối u phát triển từ các tế bàobiểu mô nằm ở vị trí cửa mũi sau và vòm họng, là loại bệnh đứng hàng đầutrong số các ung thư vùng đầu mặt cổ với tính chất dịch tễ học khá đặc biệt làliên quan tới địa lý[3] Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi trên thế giới có thể xếpthành 3 vùng rất khác nhau: Khu vực có tỷ lệ mắc cao nhất là miền NamTrung Quốc và Grơnlen với tỷ lệ mới mắc từ 30 - 40/100.000 dân/năm Ngược lại, vùng có tỷ lệ mắc thấp, gồm châu Âu, Mỹ chỉ từ 0,7 -1/100.000 dân/ năm [4] Còn lại là vùng có tỷ lệ mắc trung bình nhưng ngàycàng có xu hướng tăng lên, đó là vùng Bắc Phi, vùng biển Caribee và đôngnam Á với tỷ lệ từ 8 - 12/100.000 dân Ở Việt nam UTVMH đứng hàng thứ 5trong các ung thư nói chung và đứng hàng đầu trong các ung thư ở vùng đầumặt cổ [1]
1.2 Những yếu tố nguy cơ liên quan đến UTVMH
1.2.1 Vai trò của virut Epstein-Barr
Virut Epstein-Barr (EBV), là một trong các yếu tố môi trường và được
nghiên cứu nhiều nhất cho thấy có liên quan chặt chẽ của nó với UTVMH.Người ta phát hiện thấy EBV có mặt trong 100% các khối u vòm mũi họngthể ung thư biểu mô không biệt hóa (UCNT) Ngoài ra, các sản phẩm gen củaEBV là EBER, EBNA1 và LMP-1,-2 đã được xác định ở hầu hết các mẫusinh thiết UTVMH hoặc ở tổn thương quá sản tại biểu mô vòm họng gồmnhững dòng tế bào tiền ác tính nhiễm EBV Điều này phù hợp với giả thuyết
Trang 4cho rằng EBV là một trong những yếu tố khởi phát trong cả quá trình nhiềubước dẫn đến sự phát triển của UTVMH [5]
Ngoài việc phát hiện EBV và sản phẩm của nó trong khối u vòm họng,người ta cũng xác định được các kháng thể chống EBV trong huyết thanhbệnh nhân Lượng kháng thể IgG và IgA trong huyết thanh bệnh nhân lần sovới những bệnh nhân ung thư đầu mặt cổ khác hoặc người khỏe về lâm sàng.Đặc biệt IgA/VCA (kháng nguyên vỏ của EBV), một xét nghiệm sử dụngrộng rãi, thường qui ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam có giátrị để theo dõi và phát hiện nguy cơ mắc UTVMH, đồng thời cũng có giá trị làmột dấu ấn quan trọng theo dõi tái phát sau điều trị bệnh [6,7] Người ta chorằng sự tái hoạt hóa, sao chép và nhân lên của EBV là hiện tượng xảy ra trongsuốt quá trình phát triển của UTVMH và nó tương quan với nồng độ IgA/VCA.UTVMH cao hơn 8 - 10 lần so với những bệnh nhân ung thư đầu mặt cổ kháchoặc người khỏe về lâm sàng Đặc biệt IgA/VCA (kháng nguyên vỏ củaEBV), một xét nghiệm sử dụng rộng rãi, thường qui ở nhiều nước trên thếgiới, trong đó có Việt Nam có giá trị để theo dõi và phát hiện nguy cơ mắcUTVMH, đồng thời cũng có giá trị là một dấu ấn quan trọng theo dõi tái phátsau điều trị bệnh khi nó tăng cao [6,7] Người ta cho rằng sự tái hoạt hóa, saochép và nhân lên của EBV là hiện tượng xảy ra trong suốt quá trình phát triểncủa UTVMH và nó tương quan với nồng độ IgA/VCA
1.2.2 Môi trường sống và thói quen sinh hoạt
Nhiều tác giả đã đề cập đến môi trường sống như khí hậu, bụi, khói ônhiễm liên quan đến UTVMH, nhưng được nói đến nhiều nhất là tập quán ănuống Nhiều nghiên cứu bệnh - chứng được tiến hành đã thu được những kếtquả phù hợp với ý kiến cho rằng, tập quán ăn cá mối của người Trung Quốc(vùng Quảng Đông) là nguyên nhân quan trọng gây UTVMH, mối liên quannày lớn hơn nếu ăn cá muối ngay từ nhỏ Dùng cá muối hàng ngày có thể làm
Trang 5tăng tỷ lệ UTVMH lên 1.8 đến 7.5 lần [8] Sử dụng thuốc là cây cỏ cũng liênquan đến UTVMH thông qua hoạt hóa EBV hoặc trực tiếp thông qua ảnhhưởng đến tăng trưởng đến các tế bào chuyển dạng do EBV [9] Các bằngchứng khác như hút thuốc lá hoặc dùng formadehyde có giá trị thấp trongbệnh sinh ung thư vòm họng
1.2.3 Yếu tố di truyền
Người ta thấy rằng người Trung Quốc sinh ra ở Bắc Mỹ có một tỷ lệmắc thấp hơn so với những người sinh ra ở đất nước Trung Quốc, nhưng tỷ lệmắc chuẩn vẫn cao hơn dân số nói chung Điều đó cho thấy rằng yếu tố ditruyền có vai trò trong bệnh sinh của UTVMH Nghiên cứu ở Trung quốc chỉ
ra rằng UTVMH có mối liên quan đến HLA-A2, B14 và B46 [10] Ở ViệtNam, các kháng nguyên A11, A2, B17 và liên kết mất cân bằng A2-B17,A11- B17 có liên quan đến UTVMH [2] Việc xác định các gen khác liênquan với tính cảm thụ bệnh lý cũng đã được nghiên cứu: CYP 2E1 (chuyểnhóa nitrosamine), glutathion transferase M1 Cơ chế tác động của chúng chođến nay vẫn chưa được rõ ràng, song điều hiện nay đã và đang được khẳngđịnh là sự phát triển UTVMH là do sự phối hợp tác động của 3 yếu tố là môitrường sống, EBV và HLA
1.3 Virut Epstein-Barr
1.3.1 Sinh học của EBV
Trên thực tế, hơn 90 % người trưởng thành trên thế giới nhiễm EBV và
nó tồn tại lâu dài trong cơ thể nhiễm Việc lây nhiễm EBV chủ yếu thông quanước bọt và ở lứa tuổi rất sớm của đời sống con người mà thường không cótriệu chứng Ngoài ra, EBV có thể được lây nhiễm qua máu, tổ chức và cũng
có thể qua sữa của mẹ truyền sang con, thậm chí là thông qua quan hệ tìnhdục EBV nhân lên trong tế bào biểu mô tuyến nước bọt, sau đó qua biểu môvòm họng rồi xâp nhập vào tế bào lympho B qua thụ thể CD21 trên bề mặt tế
Trang 6bào Sau khi đi vào nhân tế bào, EBV tồn tại ở dạng vòng là chủ yếu và tựnhân lên nhờ nguyên liệu của tế bào Tuy nhiên, EBV cũng tích hợp vào ADNcủa nhiễm sắc thể tế bào chủ, ví dụ ở tế bào dòng Namalwa, nó tích hợp vàonhiễm sắc thể ở vị trí 1p35 Ở thể nhiễm tiềm ẩn trong lympho B, EBV biểu
lộ rất ít kháng nguyên, hơn nữa với số lượng tế bào nhiễm quá thấp (1 tế bàolympho B/1ml máu) do đó EBV khó bị tiêu diệt bởi hệ miễn dịch Khi ở thểdung giải, EBV nhân lên nhiều và giải phóng ra ngoài rồi lại nhiễm vào các tếbào lympho khác, chúng đến tuyến nước bọt và hình thành chu kỳ nhân lênEBV trong cơ thể
Với những tế bào biểu mô không biểu lộ rexeptơ CD21, người ta chorằng virut có thể vào bằng những cách sau: Khả năng thứ nhất: có thể xảy ra
là sự tiếp cận giữa tế bào biểu mô vòm họng và tế bào nhiễm EBV Tế bào B
đi vào chu trình dung giải, bung ra các bản sao của virus, cung cấp một sốlượng lớn các hạt virus mới cho các tế bào khác trên một diện rộng Và khảnăng thứ hai: virus vào tế bào biểu mô bởi hiện tượng thực bào qua trunggian rexeptơ với IgA Sixbey and Yao Ngoài ra, phân tử MHC lớp II cũng cóthể là con đường chính virus xâm nhập vào tế bào biểu mô Ngoài các tế bàolympho B và tế bào biểu mô, đôi khi EBV còn bị tấn công bởi các tế bàomáu khác như đai thực bào, lympho T hoặc tế bào diệt tự nhiên (NaturalKiller cell)
1.3.2 Cấu trúc của EBV
EBV thuộc loại virut herpes, gamma-1, chiều dài bộ gen của nókhoảng 172-kb và ADN là chuỗi đôi, GC chiếm 60% tổng số nucleotid EBVhình thành phân tử DNA dạng vòng ở tế bào bị nhiễm (hình 1A) Khi xử lýEBV của dòng tế bào B95-8 bằng emzym cắt giới hạn BamHI, các đoạn gentạo ra được ký hiệu theo bảng chữ cái và theo thứ tự kích thước giảm dần(hình 1B) Thuật ngữ sử dụng cho từng đoạn như sau: Mỗi chữ cái là ký hiệu
Trang 7cho từng đoạn (A, B …), khung đọc mở trái hoặc phải và tiếp theo là thứ tự(0,1,2,3…) ví dụ như BARF0 và BARF1 Toàn bộ bộ gen EBV của dòng tếbào B95-8 được giải trình tự gen đầu tiên, và có mã số tại ngân hàng gen làV01555.
Các EBV sản xuất khoảng 100 kháng nguyên khác nhau (các phân tửprotein lớn) trong thể dung giải của nó, ngược lại, chỉ có khoảng 10 khángnguyên được sản xuất trong các thể nhiễm tiềm ẩn [12]
Hình 1 Sơ đồ cấu trúc của EBV: A) Cấu trúc EBV dạng vòng biểu thị các vùng promoter
và các gen thể nhiễm tiềm ẩn: EBER1 và 2: EBV Early RNA, EBNA1-6: EBV Nuclear
Antigen, LMP1 và 2: Latent Membrane Protein B) EBV ở dạng thẳng gồm các đoạn gen
được tạo ra sau khi xử lý với enzym giới hạn BamH1 và vị trí các gen của thể tiềm ẩn
1.3.3 Thể tiềm ẩn của EBV
Giống như tất cả các virut herpes, EBV có thể tồn tại dạng không hoạtđộng trong tế bào bị nhiễm Ở thể này, EBV biểu lộ 12 gen, nhưng chỉ có 10gen trong số này được dịch mã để tổng hợp protein, bao gồm 6 loại protein làkháng nguyên nhân (EBV Nuclear Antigen ): EBNA1, 2,3A,3B,3C, -LP; 3 loạiprotenin màng tiềm ẩn (Latent Membrane Protein): LMP1, LMP2A và 2B; 2 loại
BamHI
B
A
A
Trang 8RNA không mã hóa protein (EBV Early RNA): EBER1 và2 Có bốn thể tiềm ẩnđược phân loại dựa trên sự biểu lộ gen của virut,được liệt kê ở bảng dướiđây
Bảng 1: Các thể tiềm ẩn của EBV
Thể tiềm ẩn Biểu lộ gen EBV Người thường và các bệnh liên quan
UTVMH, U lympho Hodgkin,
U lympho tế bào T, ung thư tuyến nước bọt
III EBER1&2
EBNA1- 6LMP1LMP2A & B
U lympho sau ghép tạng U lympho ở bệnh nhân AIDS, bạch cầu đơn nhân nhiễn khuẩn,LCL
1.3.4 Các gen EBV của thể tiềm ẩn
1.3.4.1 EBNA1
Protein EBNA1 của EBV thuộc dòng tế bào B95-8 có trọng lượngkhoảng 66-95 kDa và chiều dài là 641 axit amin Kích thước này được thayđổi ở các chủng khác nhau do sự khác nhau ở đoạn lặp lại glycin- alanin (Gly-Ala) [13] Các cấu trúc cơ bản của EBNA1 được chia thành bốn vùng rõ ràng:một vùng cơ bản nằm ở đầu N gồm 89 acid amin, vùng lặp lại Gly-Ala gồm
239 acid amin, vùng cơ bản ngắn và một vùng gắn DNA ở đầu C có chiều dài
từ axit amin 459-641 Ambinder, Mullen, Chang, Hayward and Hayward(Hình 2)
Trang 9Hình 2 Cấu trúc của EBNA1
EBNA1 là protein biểu lộ hầu như tất cả các tế bào nhiễm EBV [15] và
nó đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì episom của EBV (dạngvòng) trong nhân tế bào chủ, cũng như chức năng phiên mã của virut[16].Vùng gắn ADN của protein EBNA1 tương tác với hai khu vực nằm ở vùngoriP của promoter Cp, bao gồm gia đình lặp đi lặp lại FR (Family of Repeat)
có chứa 20 đoạn nucleotid có trình tự lặp, đoạn DS (Dyad Symmetry) có 4 vịtrí gắn, và một vùng có hai vị trí gắn sau promoter của Qp
Liên kết EBNA1 với vùng FR có ái tính cao nhất so với DS và Qp vàkhi gắn với FR thì nó điều hòa phiên mã các gen EBNA Các gen này đượcbiểu lộ dưới sự kiểm soát của promoter Cp hay Wp EBNA1 cũng có thể liênkết với các intron đầu tiên xuôi chiều của promoter Qp làm tự điều hòa biểu
lộ protein EBNA1 Ở các thể nhiễm tiềm ẩn I và II, các promoter Cp và Wpkhông hoạt động và biểu lộ của EBNA1 được thực hiện bởi Qp Cp và Wpkhông hoạt động do các yếu tố phiên mã và methyl hóa ADN [17]
1.3.4.2 EBNA2
Protein EBNA2 có trọng lượng phân tử từ 75-105 kDa Do có trình tựgen khác nhau ở các chủng EBV mà người ta xếp thành EBNA2A vàEBNA2B, cũng là dấu ấn quan trọng để xếp loại EBV typ I và typ II [18] Cácprotein EBNA2A và EBNA2B chứa 484 và 443 axit amin một cách tươngứng và giống nhau về trình tự khoảng 57% EBNA2 là một trong nhữngprotein virut đầu tiên được biểu lộ ở các tế bào lympho B bị nhiễm EBV, nó
xuất hiện khoảng 24-48 giờ sau khi nhiễm EBV trong nuôi cấy tế bào in
Trang 10vitro[19] Protein này là một chất kích hoạt phiên mã một số gen của virut và
tế bào bao gồm cả những gen như CD21, CD23, Bcl-2 và c-myc, và là cần
thiết cho sự bất tử của tế bào B trong in vitro EBNA2 không gắn trực tiếp
với ADN, nhưng tác động thông qua các protein in khác như RBP-JK), PU1các protein khác của tế bào
1.3.4.3 Gia đình EBNA3 ( EBNA3A, 3B và 3C)
Các gen trong gia đình EBNA3 bao gồm EBNA3A, 3B và 3C nằm ởgiữa bộ gen EBV, có cấu trúc exon-intron tương tự và có trọng lượng phân tử
từ 140-180 kDa Các chuỗi acid amin EBNA3A, 3B và 3C giữa EBV typ I và
II có giống nhau ở 84%, 80% và 72% một cách tương ứng Các protein nàyhoạt động có chức năng phiên mã và cũng có thể tương tác với các proteinRBP-JK[20]
1.3.4.4 EBNA-LP
Các protein EBNA dẫn đầu EBNA-LP có kích thước khác nhau từ
20-130 kDa, là kết quả của hoạt động promoter Wp Cùng với EBNA2,
EBNA-LP là một trong những protein đầu tiên biểu lộ sau nhiễm EBV vào tế bàolympho B in vitro
Protein LMP1 được phiên mã từ vùng BNLF1 nằm ở gần cuối đầu 3'của bộ gen EBV và có trọng lượng khoảng 60-66kD, tùy thuộc vào chủngvirus Ở chủng EBV của tế bào dòng B95-8, protein này có 386 axit amin vàchia thành ba vùng,(i) một vùng đầu N gồm 24 axit amin, (ii) sáu vùngxuyên màng kỵ nước được kết nối bởi ba vòng bên ngoài và hai vòng nội bào,(iii) một vùng đầu C có 200 axít amin bao gồm hai lĩnh vực chức năng quantrọng [21]được gọi là vùng hoạt hóa CTAR1 (C-Terminal Activation Region1: aa194-232) và CTAR2 ( aa 351-386)
Trang 11LMP1 tham gia ba chức năng chính là chuyển dạng, di căn và chống lạichết theo chương trình LMP1 được coi là sản phẩm của một gen sinh ung thư
vì nó có thể làm chuyển dạng các nguyên bào sợi động vật gặm nhấm Biểuhiện của LMP1 cũng tác động ảnh hưởng đáng kể đến sự tăng trưởng của tếbào biểu mô, ức chế sự biệt hóa của chúng, gây biến đổi hình thái của một sốdòng tế bào biểu mô , và làm tăng biểu hiện của các yếu tố tăng trưởng biểu
bì EGFR[22]
1.3.4 6 LMP2A/2B
LMP2 được mã hóa bởi chỗ ghép nối hình thành dạng vòng của EBV LMP2 có hai loại là LMP2A và LMP2B, và chỉ khác nhau là LMP2A có thêmđoạn 119 acid amin ở đầu N tận còn LMP2 thì không có Mặc dù chưa biếtđược chức năng cụ thể của LMP2B, nhưng việc biểu lộ nhiều của nó chothấy rằng nó đóng vai trò quan trọng trong sinh học của EBV Trong khi chứcnăng của LMP2A đã được xác định trong các tế bào B Tuy nhiên, proteinnày biểu lộ ở một tỷ lệ thấp trong các khối u vòm họng
1.4 Yếu tố ngoại di truyền
Ngoại di truyền là nghiên cứu các cơ chế làm không biểu lộ gen màkhông liên quan đến sự thay đổi trình tự nucleotid của gen Những biến đổingoại di truyền có thể di truyền được từ thế hệ tế bào này sang tế bào khác.Khi nói đến ngoại di truyền người ta thường nhấn mạnh 3 yếu tố là: methylhóa ADN, sửa chữa histon và nucleosom Các thay đổi này là độc lập vớinhau và methyl hóa xảy ra ở mức độ ADN trong khi 2 yếu tố còn lại diễn ra ởmức độ protein
1.4.1 Methyl hóa ADN và điều hòa biểu lộ gen
Methyl hóa ADN là sự kiện diễn ra do một gốc CH3 liên kết đồng hóatrị với vị trí cacbon số 5 của Cytosin nằm ở vị trí hai nucleotid Cytosin-
Trang 12Guanin viết tắt là CpG (p là liên kết phosphodieste) Khi CpG tập hợp nhiềutrong khoảng 200bp tại một ví trí nào đó trong gen có GC chiếm hơn 50% thìngười ta gọi là đảo CpG Khoảng 10-15% CpG ở động vật có vú nằm ở vùngđảo CpG và nó thường xuất hiện ở vị trí vùng promoter và exon1của khoảng40% các gen của động vật có vú Cơ chế gắn gốc CH3 vào ADN trong quátrình phân bào nhờ các enzym methyltransferase (DNMT) Có 4 loại DNMTđược xác định ở động vật có vú và cả 4 enzym đều chuyển nhóm CH3 từ S-adenosyl methionin sang ADN Trong các mô bình thường các đảo CpGthường không bị methyl hóa Khi chúng bị methyl hóa ở vùng promoter dẫnđến hai cơ chế điều hòa biểu lộ gen: Một là, ức chế các yếu tố điều hòa biểu
lộ gen gắn vào vùng khởi động do gốc CH3 gắn vào Cytosin, cơ chế này đượcminh họa trong Hình 3 Hai là, có các protein gắn đặc hiệu với CpG methylhóa dẫn đến cơ chế làm mất axetyl của histon và làm cấu trúc sợi chromatin
co lại, cuối cùng dẫn đến các yếu tố phiên mã không gắn được vào vùng đócủa DNA
Hình 3: Một cơ chế không biểu lộ gen bởi methyl hóa ADN.Hai nucleotid CpG ở vùng
promoter không methyl hóa, cho phép thực hiện phiên mã trong các tế bào bình thường B) Phiên mã bị chặn bởi tăng methyl hóa trong vùng promoter
Trang 131.4.2 Methyl hóa ADN các promotor của EBNA1
EBNA1 được biểu lộ trong tế bào nhiễm nhờ sự hoạt hóa của cácpromoter khác nhau ở những thể tiềm ẩn khác nhau (Wp, Cp và Qp) và chu
kỳ dung giải (Fp) Ở chu kỳ dung giải, EBNA1 biểu lộ do promoter Fp hoạthóa, trong khi các promoter khác không hoạt động Ngược lại, trong thểnhiễm tiềm ẩn Wp, Cp và Qp được hoạt hóa, tuy nhiên phụ thuộc vào từngthể nhiễm tiềm ẩn I, II hay III Ở thể nhiễm tiềm ẩn I và II chỉ có Qp hoạtđộng, còn thể nhiễm tiềm ẩn III, cả hai promoter Wp và Cp hoạt động Haipromoter này hoạt động luân phiên và Wp được hoạt động trước ở một thờigian ngắn, sau đó mới chuyển sang Cp hoạt động lâu dài hơn
Hình 4 Các promotor của EBV điểu khiển phiên mã EBNA1.
Việc các promoter đóng hoặc mở được thực hiện bởi các yếu tố khácnhau, trong đó có methyl hóa các CpG vùng promoter Ở thể nhiễm tiềm ẩn I
và II, các promoter Wp và Cp bị đóng lại, do đó EBV chỉ biểu lộ EBNA1 do
Trang 14Qp như trong trường hợp UTVMH Nghiên cứu về methyl hóa giúp tìm hiều
cơ chế biểu lộ gen, đồng thời nó cũng là những dấu ấn giúp cho chẩn đoáncũng như điều trị liên quan đến ngoại di truyền vì rối loạn này có thể đượcsửa chữa nhờ những chất hóa học được bổ sung vào tế bào [23] Chúng tôiphát triển kỹ thuật PCR đa mồi đặc hiệu methyl hóa trên mô hình của EBVtrong ung thư vòm mũi họng, đồng thời nó cũng có thể ứng dụng cho nhiềucác gen khác của các bệnh lý khác nhau