Tính ngụy tạo của khái niệm phương pháp sáng tác trong lí luận phê bình văn học Trong hệ thống lí luận văn học mác xít lưu truyền từ những năm 30 thế kỉ trước đến nay có một khái niệm q
Trang 1Tính ngụy tạo của khái niệm phương pháp sáng tác trong lí luận phê bình văn học
Trong hệ thống lí luận văn học mác xít lưu truyền từ những năm 30 thế kỉ trước đến nay có một khái niệm quyền
uy ngự trị trong lí luận văn học các nước xã hội chủ nghĩa
Đó là khái niệm phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa Nó không chỉ là phương pháp sáng tác mà còn là phương pháp phê bình văn học Nhà văn thì phải nắm vững phương pháp sáng để sáng tác, còn nhà phê bình văn học thì phải vận dụng phương pháp ấy để phê bình, đánh giá xem tác phẩm nào đó hay cả nền văn học có đi theo định hướng của phương pháp ấy không Nếu có thì biểu dương, nếu
không thì phê phán, trường hợp nặng thì có thể đi đến chấm dứt cuộc đời sáng tác của nhà văn Từ khi kết thúc cách
mạng văn hoá, bước sang hiện đại hoá, Trung Quốc dần dần
đã từ bỏ khái niệm phương pháp sáng tác Các giáo trình lí luận văn học Trung Quốc từ năm 1995 đã lần lượt không dùng khái niệm ấy nữa[1] Từ những năm 70 ở Liên Xô cũ, khi D Markov nêu ra phương pháp chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa như là hệ thống mở, thì khái niệm phương
pháp chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã có thay đổi lớn, nó không còn là phương pháp mà đã là hệ thống sáng tác, trong đó tính đảng không còn là yếu tố của phương
pháp sáng tác nữa Từ sau năm 1991 khi Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa về cơ bản cũng bị phế
bỏ luôn Các giáo trình Đại học như của V E Khalizev
không có khái niệm ấy nữa, mà chỉ gọi là trào lưu hay “cộng đồng văn học có tính thế giới”[2] Giáo trình Lí luận văn học
do H D Tamarchenco chủ biên đã loại bỏ khái niệm phương pháp sáng tác[3] Chỉ còn một số rất ít người chủ yếu là tác giả của khái niệm này từ đầu những năm 60 thế kỉ trước là còn nhắc đến trên bình diện lịch sử, ví dụ như nhà lí luận Iu Borev[4] Trên thế giới, hiện nay hầu duy nhất chỉ có nước
Trang 2Việt Nam ta trong giáo trình lí luận văn học là vẫn còn mục phương pháp sáng tác, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa Gần đây nhà nghiên cứu Phương Lựu trong một bài báo viết tháng 6 – 2008, đã phê phán rất sâu sắc những “sai lầm cơ bản của lí luận hiện thực xã hội chủ nghĩa”, nhưng đối với vấn
đề có tiếp tục sử dụng khái niệm phương pháp sáng tác nữa không, thì ý kiến của ông là tiếp tục, và ông còn “bước đầu hình dung phương pháp sáng tác thay thế”chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa bằng phương pháp mà ông gọi là “chủ nghĩa chân thực, dân bản”[5] Theo quan điểm đó thì
Phương Lựu cũng đặt dấu chấm hết cho phương pháp ấy rồi
Dĩ nhiên chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là một trào lưu văn học lớn, đã có lịch sử tồn tại gần một trăm năm, hiện diện trong văn học sử, vậy không có lí do gì để phủ nhận nó
Để học tập, nghiên cứu nó, người ta chỉ cần lí thuyết về chủ
nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là đủ, không cần có lí
thuyết về phương pháp sáng tác Lẫn lộn lí thuyết về sáng
tác, một chủ thuyết mà người ta gọi là “ism” của một trào lưu
và lí thuyết về phương pháp sáng tác trong nghệ thuật là một nhầm lẫn về lí luận cần được xoá bỏ
Lần về lịch sử khái niệm phương pháp sáng tác, trong
lí luận văn học mác xít người ta thường viện dẫn ý kiến của nhà văn Đức vĩ đại W.Goethe Đúng là Goethe trong một cuộc nói chuyện với Wenkerman từ năm 1829 đến 1830 có nhắc đến trong đoạn văn sau: “Khái niệm thơ cổ điển và thơ lãng mạn nay đã lan truyền khắp thế giới, dẫn đến nhiều
tranh cãi và bất đồng Khái niệm này bắt nguồn từ hai người
là tôi và Schiller Tôi chủ trương thơ nên theo nguyên
tắc xuất phát từ khách quan, cho rằng chỉ có một phương pháp sáng tác như thế thì mới tốt Nhưng Schiller lại
dùng phương pháp sáng tác hoàn toàn chủ quan để viết, cho rằng chỉ có phương pháp sáng tác của ông ấy thì mới đúng.”
(Theo bản dịch của Chu Quang Tiềm năm 1978, người trích nhấn mạnh.) Trong câu này Goethe đã dùng ba lần “phương pháp sáng tác”, lại hiểu đó là “nguyên tắc”, có thể coi như định nghĩa đầy đủ về khái niệm ấy Tuy vậy nội dung đó đã
Trang 3phải là “phương pháp sáng tác” chưa, cần có sự phân tích Xét theo cách dịch, thì Chu Quang Tiềm, vào năm 1964,
trong sách Lịch sử mĩ học phương Tây tập 2 đã dịch là
“phương thức”, sau lại dịch lại là “phương pháp”; xét theo các đặc điểm đem ra phân biệt văn học cổ điển và văn học lãng mạn mà họ nêu ra thì: “văn học cổ điển” gồm các tính chất như, chất phác, dị giáo, anh hùng, hiện thực, tất yếu, chức năng xã hội; còn “văn học lãng mạn” thì có các nội dung như cảm thương, cơ đốc giáo, lãng mạn, lí tưởng, tự do, theo ý muốn Dựa vào các tính chất đó thì có thể xem là hai loại hình, hai quan niệm về sáng tác, không phải là phương pháp sáng tác Ông Chu Quang Tiềm làm tiến sĩ mĩ học ở Đức, nhà mĩ học hiện đại Trung Quốc trứ danh, rất được
trọng vọng, song trong suốt mấy chục năm sống dưới thời đại Mao Trạch Đông ông có nhược điểm mà các học giả thường chê là ông luôn luôn tự kiểm điểm và viết lại tư tưởng mĩ học của mình Rất có thể cách dịch của ông bị chi phối bởi hoàn cảnh Ở đây mong các vị sành tiếng Đức tra cứu lại Nhưng
dù là phương pháp hay phương thức, người ta vẫn có thể hiểu
đó là bình diện phong cách, không nhất thiết là phương
pháp sáng tác, vì Goethe chỉ nói hai chữ “phương pháp” thôi, không kèm định ngữ “sáng tác”
Tiếp theo, người nói đến “chủ nghĩa tả thực” là
Champfleury Ngày 21 tháng 9 năm 1850 khi Champfleury
nêu ra thuật ngữ “chủ nghĩa tả thực” trên báo Trật tự, ông
nhằm chỉ một trào lưu, khuynh hướng, phong cách sáng tác Duranty lập tờ báo “Chủ nghĩa tả thực”, chỉ ra được 6 số, nhưng thể hiện một chủ trương sáng tác Ông nói: “Cái chủ nghĩa tả thực đáng sợ này là kẻ lật đổ cái trường phái mà nó đại diện Bảo trường phái tả thực là phi lí là bởi vì nó biểu thị một lối biểu đạt thẳng thắn mà hoàn mĩ mang tính cá nhân; quy phạm, mô phỏng và bất cứ trào lưu nào đều là cái mà nó phản đối.”[6] Các vị này nêu ra chủ trương “một lối biểu đạt”, các nguyên tắc về phong cách, cho nên lúc đầu mọi người dịch là “chủ nghĩa tả thực” “Chủ nghĩa tả thực” nói rõ tính chất phong cách của nó, nghĩa là miêu tarnhuwngx gì
Trang 4trực tiếp nhìn thấy Đương thời nhiều nghệ sĩ lớn dều hoài nghi chủ nghĩa tả thực về mặt phong cách Baudelaire viết
lời bình cho tác phẩm Bà Bovary có nói: “Chủ nghĩa tả thực
là cái từ thô lỗ, buồn nôn mà người ta ném vào mặt những người sáng suốt Đó là một thuật ngữ mơ hồ, trôi trượt, để chỉ cách viết những sự vụn vặt mà chẳng mới mẻ gì của bọn
phàm phu tục tử.”[7] Bản thân tác giả Bà Bovary cũng viết:
“Tôi chúa ghét cái mà người thời nay gọi là chủ nghĩa tả
thực, ngay cả khi người ta tôn tôi là quyền uy của chủ nghĩa
tả thực.” Bảy mươi năm sau, những năm 20, nhóm RAPP (viết tắt của Hiệp hội nhà văn vô sản Nga, vốn phần lớn xuất thân từ phái vị lai) mới suy từ “phương pháp duy vật biện chứng” trong quan điểm triết học mác xít mà đề ra khái
niệm “phương pháp sáng tác”, gọi là “phương pháp sáng tác duy vật biện chứng”, đồng nhất phương pháp nghệ thuật với thế giới quan triết học Hai chữ phương pháp của họ có cội nguồn trực tiếp từ Phương pháp duy vật biện chứng chứ chưa chắc đã có cội nguồn từ Goethe Từ năm 30 phái RAPP bị giải tán do tính bè phái, không phải vì quan điểm chính trị
và học thuật Khi thành lập Hội nhà văn Liên Xô năm 1934, nhiều nhà văn thuộc RAPP chuyển sang hội này, mang theo
cả phương pháp của họ Do đó, “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” lại được coi là phương pháp sáng tác và phương pháp phê bình của nền văn học Xô viết Định nghĩa kinh điển trong điều lệ của Hội nhà văn Liên Xô ghi: “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là phương pháp cơ bản của văn học Liên Xô và phê bình văn học Liên Xô yêu cầu các nghệ sĩ phải miêu tả đời sống hiện thực một cách chân thực, lịch sử,
cụ thể trong quá trình phát triển cách mạng, tính cụ thể và tính lịch sử phải kết hợp với nhiệm vụ giáo dục và cải tạo
nhân dân lao động theo tinh thần và tư tưởng xã hội chủ
nghĩa” Thực chất nội dung đó là cương lĩnh chính trị của sáng tác, chứ không phải phương pháp sáng tác Linh hồn của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa đó vẫn
là “phương pháp sáng tác duy vật biện chứng” mà phái các nhà văn vô sản Nga đã nêu ra từ giữa những năm 20 Phép
Trang 5biện chứng duy vật có ba quy luật cơ bản Một là mâu thuẫn
là tồn tại phổ biến, trong xã hội đó là mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn mới – cũ, tiến bộ – lạc hậu Hai là quy luật lượng đổi chất đổi Cái mới ban đầu bao giờ cũng nhỏ yếu, song nó
sẽ lớn mạnh và chiến thắng cái cũ Ba là quy luật phủ định của phủ định, tức là khẳng định cái mới xã hội chủ nghĩa Theo phương pháp đó, nhà văn sẽ tìm trong cuộc sống các biểu hiện của xung đột giai cấp vô sản và tư sản, đứng hẳn về phía giai cấp vô sản tiến bộ và cách mạng, miêu tả sự lớn mạnh của cái mới đi đến khẳng định sự chiến thắng tất yếu của chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Phương
pháp biện chứng duy vật còn đặc trưng bởi các cặp đối lập nhị nguyên như cái chung/cá biệt, nội dung/hình thức, tất yếu/ngẫu nhiên, bản chất/hiện tượng mà trong các cặp đó yếu
tố đầu của mỗi cặp là quan trọng, giữ vai trò chi phối, còn các yếu tố sau đều không quan trọng, bị phụ thuộc Kết quả
là theo quan hệ đó các yếu tố cá biệt, ngẫu nhiên, hiện
tượng… vốn có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhận thức thẩm
mĩ đều bị coi nhẹ, và do đó các tác phẩm sáng tạo theo
phương pháp biện chứng đó phần lớn là xơ cứng, công thức,
sơ lược, thiếu sức hấp dẫn và thiếu sức sống Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam khi đánh giá văn học cách mạng đều phê bình tính chất sơ lược, thiếu phong phú của nó và thường giải thích bằng nguyên nhân nhà văn thiếu vốn sống, thế giới quan chưa vững vàng, mà không thấy nguyên nhân sâu xa là ở phương pháp sáng tác này Đây cũng là phương pháp, nhưng là phương pháp triết học, phương pháp tư duy chính trị, dùng để xác định đề tài, chủ đề, không có phương diện thẩm mĩ Logic của vấn đề rất rõ ràng Theo phương pháp sáng tác đó đã sản sinh ra hàng loạt tác phẩm giả tạo,
tô hồng hiện thực Tác phẩm hay như Sông Đông êm
đềm của M Solokhov có phải là chủ nghĩa hiện thực xã hội
chủ nghĩa như thế không, lại là chuyện khác Tiểu thuyết đó
đã nói lên sự tàn khốc của cuộc nội chiến cách mạng, chứ không thấy rõ việc đem tư tưởng và tinh thần xã hội chủ
nghĩa để giáo dục nhân dân lao động Đương thời, nhiều bạn
Trang 6đọc trên báo Sự thật của Đảng Cộng sản Bônsêvích yêu cầu
tác giả để cho Grigori Mêlêkhôv gia nhập Đảng CS, trở
thành chiến sĩ Hồng quân, chiến đấu chống lại quân Bạch vệ, nhưng tác giả không làm theo yêu cầu đó nên đã cứu tác phẩm khỏi sự sơ lược[8] Trái lại tác phẩm Đội thanh niên
cận vệ của A Phadeev vốn là cuốn tiểu thuyết hay về thế hệ
thanh niên yêu nước xô viết, song do yêu cầu cần thể hiện vai trò lãnh đạo của đảng đối với họ, nên ông đã sửa lại, bổ sung thêm tuyến người lãnh đạo vào, thế là tiểu thuyết trở thành minh hoạ chính trị giả tạo[9] Ở Trung Quốc tác
phẩm Sáng nghiệp sửcủa nhà văn Liễu Thanh viết về phong
trào hợp tác hoá nông nghiệp Trung Quốc, một thời được coi
là tác phẩm tiêu biểu, kinh điển của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, thì gần đây, nhìn lại người ta khẳng định nó là một tác phẩm hiện thực nguỵ tạo, bởi vì nó đã chính trị hoá các mâu thuẫn ở nông thôn, lãng mạn hóa công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp, hư huyễn hoá cuộc sinh tồn của người nông dân và cuối cùng nó chỉ là minh hoạ chính sách của đảng[10] Tiểu thuyết Cái sân gạch của Đào Vũ ở ta cũng thuộc vào loại này Các trường hợp này cho thấy phương
pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa đã làm hỏng tác phẩm
Chính sự nhầm lẫn chủ trương, lí thuyết sáng tác, phương pháp triết học với phương pháp nghệ thuật đã đưa người ta vào chỗ sai lầm về lí luận và phê bình Nhiều người muốn chứng minh nguyên tắc tính Đảng mà Lê nin nêu ra không chỉ là nguyên tắc chính trị, mà còn là nguyên tắc thẩm mĩ, nhưng đều khó tránh gượng gạo Ở Việt Nam, ví dụ tác
phẩm Hãy đi xa hơn nữa của Nguyễn Khải là tác phẩm hoàn toàn giả tạo Bài phê bình Trách nhiệm của người viết trong tiểu thuyết Sắp cưới của Vũ Bão của Nguyễn Khải cũng thể
hiện một phương pháp phê bình giả tạo 40 năm sau Nguyễn Khải đã phải xin lỗi nhà văn Vũ Bão, và tự nhận mình là
ngu[11] Đó là những sự thật không thể bỏ qua
Do coi đối tượng của văn học là hiện thực, người ta đổi cách dịch chữ “realism” vốn là “chủ nghĩa tả thực” thành
“chủ nghĩa hiện thực” Việc coi phương pháp sáng tác và
Trang 7phương pháp phê bình như nhau cũng chứng tỏ một khái niệm thiếu khoa học, đồng nhất sáng tác và phê bình, hai lĩnh vực khác nhau Sự phát triển của lí luận phê bình văn học thế kỉ XX cho thấy rõ, đó là hai lĩnh vực khác nhau hẳn Một đặc điểm của phương pháp phê bình văn học hiện thực
xã hội chủ nghĩa là phát động quần chúng phê bình văn học Quần chúng có quyền phê bình nghệ thuật Ai cũng trở
thành nhà phê bình văn học, một khi phát hiện thấy sáng tác xa rời phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa Các báo rất coi trọng “ý kiến độc giả”, nhiều khi lấy đó làm cơ sở để tổ chức phê bình Cái tệ đó đã đẻ ra hàng loạt nhà phê bình nghiệp dư mà ngày nay văn học Việt Nam đang gánh chịu
Xét về sự truyền bá, năm 1933 Chu Dương đưa khái niệm phương pháp sáng tác đó vào Trung Quốc Năm 1942 Mao Trạch Đông nhắc lại trong bài nói chuyện Diên An Năm
1943, Trường Chinh đưa nó vào Đề cương văn hoá Việt
Nam [12] , rồi sau đó coi là phương pháp sáng tác tốt nhất
Tính chất ý thức hệ của khái niệm là rõ ràng, song tính khoa học của nó ngay từ thời Goethe đã gây tranh cãi Sau lần đề xuất của Goethe, các nhà văn khác như V Hugo, G
Maupassant, G Sand, các nhà thơ tượng trưng Nga như Briusov, Belyi… và nhà lí luận người Mĩ gốc Séc R Wellek cũng có lúc nói đến thuật ngữ “phương pháp sáng tác”,
nhưng toàn bộ lí luận văn học phương Tây người ta chỉ dùng khái niệm chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn như Geothe
và Schiller đề xuất, mà không hề tiếp nhận khái niệm phương pháp sáng tác Đó là điều rất đáng suy nghĩ Trong một số bức thư từ bàn về văn học của Marx và Engels hai ông có bàn về chủ nghĩa hiện thực, về chủ nghĩa lãng mạn, nhưng không hề gọi đó là phương pháp sáng tác! Marx đã yêu cầu văn học nên Shakespeare hoá, không nên Schiller hoá,
nghĩa là ông có thể đã đọc ý kiến của Goethe về phương thức sáng tác, nhưng lại không dùng khái niệm mà Goethe đã nêu ra đó Đó cũng là một vấn đề cần suy nghĩ Hồ Chí Minh lúc sinh thời trong nhiều lần nói chuyện với văn nghệ sĩ cũng
Trang 8không một lần nói đến phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa
Ở Liên Xô, do khái niệm phương pháp sáng tác có tính chung, làm việc gì đó cũng ít nhiều mang tính sáng tạo (hay sáng tác), cho nên có người gọi là “phương pháp nghệ thuật” cho cụ thể Có người thì thấy đó chỉ là “nguyên tắc phản ánh”, không coi là phương pháp sáng tác Thuật ngữ này đã được dùng với rất nhiều định ngữ khác nhau: “vô
sản”, “biện chứng”, “hùng vĩ”, “xã hội chủ nghĩa”, “cách mạng”, “vĩ đại”… Khái niệm này khi thì hiểu rất hẹp, như là một phong cách trong hội hoạ của Courbet (“chủ nghĩa tả thực”) hoặc chỉ một trường phái cụ thể, mà M Gorki gọi là
“chủ nghĩa hiện thực phê phán”, khi lại hiểu rất rộng như
“chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến” với R Garaudy, khi lại xem
là “hệ thống mở” như viện sĩ D Markov Tất cả điều đó chứng
tỏ khái niệm này thiếu một hạt nhân khoa học vững chắc Cả nội hàm, lẫn ngoại diên đều đều mơ hồ Ở Liên Xô và Trung Quốc một thời nó được coi là phương pháp sáng tác (dù là hệ thống mở) của nhà nước, có tính quan phương Do đó một thời gian dài, tuy luôn có nhiều ý kiến không tán thành,
song là vấn đề rất khó bàn, nếu bàn mà không muốn đụng chạm thì cũng luẩn quẩn và nhàm chán
Xét về cấu trúc nội dung khái niệm phương pháp sáng tác thiếu tính khoa học Nhìn chung dù ở Liên Xô hay ở Trung Quốc, Việt Nam khái niệm phương pháp được hiểu đại đồng, tiểu dị Đại đa số nhà nghiên cứu cho rằng, phương pháp sáng tác = nguyên tắc sáng tác (nhận thức, tư tưởng) +
phương thức (mô hình tư duy nghệ thuật) + thủ pháp (các biện pháp miêu tả, biểu hiện), trong đó yếu tố thứ nhất được coi là hạt nhân và có tác dụng quy định đối với hai yếu tố sau Mô hình lí luận về phương pháp này (có người gọi là cấu trúc phương pháp) có nhiều điều bất ổn Một là từ mô hình
đó ai cũng thấy rõ là quan niệm, nguyên tắc thẩm mĩ không phải là hạt nhân của phương pháp nghệ thuật, mà ở vào địa
vị phụ thuộc Một số tác giả khác coi yếu tố thứ hai (tư duy
Trang 9nghệ thuật) mới là hạt nhân, mà như thế là phá vỡ cấu trúc phương pháp, vì nguyên tắc nhận thức, tư tưởng lại là phụ thuộc Thứ hai, hai yếu tố sau của phương pháp thực chất là thuộc phạm trù phong cách Nếu để chúng vào nội dung của phương pháp thì khái niệm phương pháp sáng tác sẽ là:
phương pháp sáng tác = nguyên tắc nhận thức + phong
cách, như thế phong cách không có giá trị riêng mà phương pháp là khái niệm nửa dơi nửa chuột
Tính chất pha tạp của khái niệm được thể hiện trong
định nghĩa của từ điển bách khoa Từ điển Bách khoa văn học Liên Xô năm 1987 nêu định nghĩa: “Cần phải nhấn mạnh
rằng phương pháp sáng tác không phải là “phương thức” hay
“nguyên tắc” logic – trừu tượng Phương pháp là nguyên tắc chung trong thái độ sáng tạo của nghệ sĩ đối với hiện thực được nhận thức, tức là nguyên tăc tái tạo (peresozdanie), và
do đó mà không tồn tại bên ngoài sự thể hiện cụ thể, có tính
cá nhân Với nội dung như thế, phạm trù này đã chín muồi từ lâu, và thường được gọi bằng tên gọi là “phong cách” hay tên gọi khác.”[13] Ở đây người viết cho thấy phương pháp sáng tác gốc của nó là phong cách, người ta đã lấy nội dung của phong cách mà làm phương pháp L.I Timofeev chủ trương gọi phương pháp sáng tác là phương pháp nghệ thuật thể hiện một cách hiểu khác, đó là nguyên tắc thiết kế mĩ học của sáng tác Anh là nhà nghệ sĩ, khi sáng tác một tác phẩm anh phải xử lí chất liệu đời sống, anh phải xây dựng thể loại, thực hiện tự sự hay trữ tình theo một cách nào đó, tức là thực hiện nguyên tắc thiết kế mĩ học đối với tác phẩm sao cho tác động đến người đọc tốt nhất Phương pháp sáng tác như thế là việc của nghệ sĩ, thể hiện trong sáng tác của họ, người ta có thể miêu tả nó, khái quát nó sau khi tác phẩm đã hoàn thành Hiểu như thế phương pháp sáng tác là một
phạm trù có tính chất cá nhân, tồn tại bên trong hoạt động sáng tác của nghệ sĩ Mỗi người có phương pháp riêng, người này không thể sử dụng phương pháp của người khác Từ
logic ấy, một thời gian M B Khrapchenco đã nêu lên vấn đề
Trang 10“phương pháp sáng tác cá nhân”, mà vào đầu những năm
60, trong giáo trình lí luận văn học ở Việt Nam, Nguyễn Văn Hạnh đã nhạy bén tiếp nhận và thể hiện Khái niệm ấy chỉ lưu hành một thời gian ngắn rồi thôi Vì sao? Vấn đề mà lí thuyết chủ đạo quan tâm là phương pháp chung có tính ràng buộc đối với mọi người, còn phương pháp riêng thì quan tâm làm gì? Mà phương pháp chung là cái chung của mọi phương pháp cá nhân, thì nó phải có sau phương pháp riêng, như thế thì không phát huy được vai trò chỉ đạo Từ đó sự phân biệt phương pháp chung, riêng bị thủ tiêu
Vấn đề là “nguyên tắc mĩ học” trong sáng tác của nhà văn như Timofeev nói là phong cách hay phương pháp?
Trong sách Thi pháp văn học Nga cổ, nhà nghiên cứu
Likhachev định nghĩa “Phong cách không chỉ là hình thức ngôn ngữ, mà còn là nguyên tắc mĩ học của cấu trúc, thống nhất toàn bộ nội dung và toàn bộ hình thức của tác phẩm Hệ thồng tạo hình thức có thể được khám phá trong tất cả mọi yếu tố của tác phẩm Phong cách nghệ thuật thống nhất
trong nó toàn bộ sự cảm thụ hiện thực vốn có của nhà văn,
và phương pháp nghệ thuật của nhà văn, do các nhiệm vụ
mà anh đặt ra cho mình quy định.”[14] Nếu phương pháp nghệ thuật là nguyên tắc mĩ học thì ở đây nó là yếu tố của phong cách, không phải nguyên tắc phản ánh Cái chung trong phong cách sáng tác của các nhà văn, nghệ sĩ cùng thời đại, đó là phong cách chung trong thời đại Đem nội dung của phong cách chung gọi bằng phương pháp, rồi xoá
bỏ khái niệm phong cách chung, một khái niệm đã có từ lâu trước khái niệm phương pháp (như phong cách gothic,
phong cách roman, phong cách baroc,…) là không hợp lí Mặt khác, khái niệm phương pháp sáng tác thực chất chỉ là
“nguyên tắc phản ánh” tức là nguyên tắc nhận thức, mà chỉ
là nguyên tắc phản ánh thì nó còn rất trừu tượng, chưa thể là phương pháp sáng tác nghệ thuật Một số người gọi phương pháp sáng tác là “nguyên tắc phản ánh” như ông G N
Pospelov chính là cách bày tỏ thái độ không đồng tình với khái niệm phương pháp sáng tác, không sử dụng nó mà đặt