1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tài nguyên tre và tình hình xuất khẩu sản phẩm mây tre đan trong quá trình hội nhập hiện nay

50 683 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 3,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với cây đa, bến nước, sân đình - một hình ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự cộng sinh, cộng cảm đối với người Việ

Trang 1

KHOA CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH

MÔN HỌC: KINH TẾ NÔNG NGHIỆPGVHD: TRẦN THÁI HÒA

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU 5

I CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1 Đặc điểm và đặc tính của Tre: 7

a Đặc điểm của Tre: 7

b Đặc tính sinh học: 9

2 Nhân giống: 10

a Hom gốc: 10

b Thân ngầm: 10

c Hom cành 10

3 Kỹ thuật trồng: 11

a Chọn đất và địa hình: 11

b Xử lý thực bì: 11

c Mật độ trồng: 11

d Kỹ thuật trồng: 11

4 Phòng trừ sâu bệnh: 12

a Chăm sóc : 12

b Sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ 12

5 Hiện tượng Tre trổ hoa: 13

6 Khai thác măng và thân Tre: 13

a Khai thác măng: 13

b Khai thác tre: 13

c Chế biến măng: 14

7 Năng suất và hiệu quả: 14

8 Các ứng dụng quan trọng của Tre trong đời sống: 14

9 Giá trị kinh tế của Tre trong quá trình hội nhập ở nước ta hiện nay & Các sản phẩm độc đáo từ Tre: 16

a Giá trị kinh tế của Tre trong quá trình hội nhập: 16

b Độc đáo với sản phẩm từ cây tre: 17

II TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU MÂY TRE LÁ TRONG CÁC NĂM GẦN ĐÂY 25

1 Tìm hiểu về các sản phẩm thủ công mỹ nghệ (TCMN): 25

2 Các hình thức xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ: 25

3 Tình hình xuất khẩu Mây Tre Lá trong các năm gần đây: 25

a Năm 2007 26

b Năm 2008 27

c Năm 2009: 28

d Năm 2010 32

e Năm 2011 33

III XU THẾ PHÁT TRIỂN HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VÀ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI 33

1 Xu thế phát triển hàng thủ công mỹ nghệ 33

2 Các hạn chế và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng TCMN vào thị trường thế giới 34

Trang 4

a Các hạn chế của hàng TCMN Việt Nam: 34

b Các giải pháp thúc đẩy hàng TCMN vào thị trường thế giới 35

3 Xuất khẩu mặt hàng mây tre đan trong bối cảnh hiện nay: 36

KẾT LUẬN 38

DANH SÁCH CÁC LOÀI TRE TRÚC Ở VIỆT NAM 40

Trang 5

LỜI GIỚI THIỆU

Lâm sản ngoài gỗ bao gồm nhiều thành phần trong đó có cây tre, nó gắn liền với cuộc sống của gần 2 triệu đồng bào dân tộc miền núi, trong đó có hơn một triệu người có thu nhập từ tre.

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn xác định tre là một trong nhưng loài cây trồng chủ lực trong xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ, góp phần giảm nghèo và phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến 2020.

Cây tre (với nhiều loại khác nhau: trúc, mai, vầu, nứạ ) có ở nhiều nước trên thế giới Nhưng

có lẽ khu vực Đông Nam Á nhiệt đới gió mùa mới chính là quê hương, xứ sở của tre và các sảnphẩm văn hoá từ tre

Tại Việt Nam, có nhiều tộc người sống gần

gũi cùng cây tre, bảo lưu nhiều giá trị văn hoá

từ cây tre Tuy nhiên, trong văn hoá của người

Việt (tộc đa số của Việt Nam), cây tre chiếm

một vị trí sâu sắc và lâu bền hơn cả Cùng với

cây đa, bến nước, sân đình - một hình ảnh quen

thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì

những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự

cộng sinh, cộng cảm đối với người Việt Tre

hiến dâng bóng mát cho đời và sẵn sàng hy sinh

tất cả Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón,

từ thân tre, cành lá đến gốc tre đều góp phần

xây dựng cuộc sống

Không phải ngẫu nhiên mà sự tích của loại

tre thân vàng đã được người Việt gắn với truyền thuyết về Thánh Gióng, một trong bốn vị thánhbất tử của họ Các nhà nghiên cứu cho rằng: Thánh Gióng chính là hoá thân của Thần Thợ Rèn -Thần Trống - Thần Chiến Tranh của người Việt cổ Mặt khác, Thánh Gióng cùng với vũ khí làcây tre biểu bượng cho sức mạnh chiến thắng thần kì, đột biến của nước Việt Nam đối với những

kẻ thù xâm lược lớn, mạnh, phát triển hơn mình gấp bội Rất có thể, hình tượng vươn vai lớn dậyhoá thành người khổng lồ của cậu bé làng Gióng có liên quan đến khả năng sinh trưởng rấtnhanh của cây tre (theo các nhà thực vật học, trong điều kiện lý tưởng, cây tre có thể cao thêm15-20 cm mỗi ngày)

Trang 6

Với các lũy tre xanh ấy, trong nhiều thời kỳ lịch sử, làng Việt đã trở thành những "pháo đàixanh" chống xâm lược, chống thiên tai, chống đồng hoá Lũy tre đã trở thành chiến lũy và lànguồn vật liệu vô tận để chế tạo vũ khí tấn công và hầm trú ẩn cho các cuộc chiến tranh nhân dân

và du kích lâu dài cũng như cho công cuộc trị thuỷ của người Việt

Trên thế giới ngày nay, có lẽ chỉ giữa phố phường Hà Nội, người ta mới thấy nhiều đến thếnhững người nông dân kiêm tiểu thương Việt với chiếc đòn gánh tre hay chiếc xe đạp thồ mangđôi sáo hay sọt tre đi bán hàng rong ngay bên những ngôi nhà cao tầng hiện đại, giữa dòng xemáy, ô tô ồ ạt Người ta chợt hiểu vì sao Hà Nội xưa được gọi là "Kẻ Chợ" (tức một cái làng -chợ lớn) Trên tivi và sách báo nước ngoài, những hình ảnh đó đã trở thành một mô típ đặc trưng

cho Việt Nam đang đổ i mới và phát triển từ những truyền thống của riêng mình.

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hoá Nhiều làng Việt giờ đây đãkhông còn những lũy tre xanh bao quanh Nhiều người Việt đã quen dùng đũa nhựa, đũa gỗ thaycho đũa tre, rổ rá nhựa thay rổ rá tre Nhưng, cùng lúc đó, một số người nước ngoài sống ở ViệtNam lại thích dùng những chiếc chụp đèn bằng tre, những chiếc chiếu tạo từ tre Nội thất củanhiều khách sạn, quán ăn đắt tiền được làm hay tô điểm bằng đồ tre, trúc Sản xuất đồ (mây) tređan vẫn là một mặt hàng xuất khẩu, góp phần đáng kể vào công cuộc xoá đói giảm nghèo củaViệt Nam Một lần nữa, cây tre lại cùng với người Việt Nam vươn lên, vượt qua những thử tháchcủa thời đại

Trang 7

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Đặc điểm và đặc tính của Tre:

a Đặc điểm của Tre:

Tre là một nhóm thực vật thường, đa niên, thân gỗ, thuộc Bộ Hòa thảo, Phân họ Tre, Tông Tre (Bambuseae), một số loài của nhóm này rất lớn, và được coi là lớn nhất trong Bộ Hòa thảo.

Tre cũng là một loại thực vật có hoa, nhưng chỉ nở hoa một lần duy nhất vào lúc cuối đời.Thường thì tre có thời gian nở hoa trong khoảng 5 - 60 năm một lần Hoa tre có mùi hương hơinồng và có màu vàng nhạt như màu đất

Loài tre với hệ thống thân ngầm đan chen nhau dày đặc và lan rộng trong đất nên có tác dụnghạn chế dòng chảy, chống xói mòn đất trong mùa mưa, chắn sóng bảo vệ đê chống sạt lở

Măng tre làm thực phẩm ở dạng tươi sống hoặc qua chế biến với kỹ thuật khác nhau đều cógiá trị thương phẩm rất cao cả ở thị trường trong nước cũng như xuất khẩu Bởi, ngoài hương vịđặc trưng, nó còn có thành phần dinh dưỡng phong phú Ở 100g măng khô phân tích thấy có tới5,62g các loại acid amin Ðặc biệt măng tre Lục Trúc có vị ngọt dịu, không cần ngâm nước cũng

có thể luộc, sào ăn ngay, là thực phẩm thượng hạng cho ăn tươi

Thân tre có thể dùng làm nhà cửa, nông cụ, làm giấy, sản xuất các mặt hàng thủ công mỹnghệ, dụng cụ thể dục thể thao, nhạc cụ, bàn ghế, tủ giường từ thô sơ đến cao cấp và các đồ giadụng khác

Trồng tre Tàu hay tre Lục Trúc mau cho thu hoạch Sau khi trồng một năm đã bắt đầu thuhoạch măng và cây làm giống Sau ba năm, thu hoạch măng ổn định với năng suất từ 6-30 tấn/ha(tùy thuộc vào việc đầu tư chăm sóc)

Do hàng năm tre, trúc sinh sản vô tính theo cấp số, nên trong bụi tre có nhiều thế hệ tuổi cây.Nếu được chăm sóc tốt và đúng kỹ thuật thì năm nào người trồng cũng được thu hoạch cả măng,thân và giống mà không phải trồng lại trong một chu kỳ lâu dài rất nhiều năm

Ở Việt Nam hiện có một số giống tre chủ yếu nhập từ Trung Quốc và Ðài Loan: Tre tầu, trelục trúc, tre mạnh tông, tre điền trúc, tre mao trúc, luồng Thanh Hoá Ở Lâm Ðồng, ngoài giốngtre Mạnh tông đã có từ trước, Trung tâm khuyến nông tỉnh trong năm 2001 đã tiến hành trồngthử nghiệm các giống tre tầu, tre mạnh tông; luồng Thanh Hóa tại Bảo Lộc, Ðạ Huoai, Ðạ Tẻh(Lâm trường Ðạ Tẻh có trồng 20ha luồng Thanh Hóa), Cát Tiên

Các giống tre trên đều có kỹ thuật trồng và chăm sóc tương tự nhau, chúng tôi xin giới thiệu

kỹ thuật trồng, chăm sóc tre tầu (Sinocalamus Latiflorus McClure) và cây tre lục trúc (BambusaOlđhamii Munro) hiện đang được trồng nhiều tại Việt Nam

Hiện nay cây tre Tàu đã và đang được người dân ở các tỉnh miền Ðông Nam Bộ trồng rấtnhiều, có nơi như Phú Thành (Bình Phước) đã trồng trên 300ha Tre Lục Trúc mới được du nhập

từ Ðài Loan vào nước ta hơn 3 năm nay, đã được trồng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc (Hà Bắc,Lạng Sơn, Hà Tây?), bắt đầu năm 2000 mới được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn chophép đưa vào trồng thử nghiệm ở các tỉnh phía Nam, do vậy kỹ thuật trồng và chăm sóc đưa rachỉ là tài liệu tham khảo từ kỹ thuật trồng thực tế của các giống tre lấy măng khác

 Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về diện tích tre nứa, với 194 loài tre trúc thuộc 26 chi được các nhà khoa học phát hiện ở Việt Nam đã phần nào đánh giá được tính đa dạng về

Trang 8

thành phần loài tre trúc ở nước ta Tuy nhiên, mới chỉ có 80 loài đã tạm thời được định danh, còn lại là các loài chưa có tên.

Trong nhiều năm trở lại đây, rất nhiều chi, loài mới được các nhà khoa học Việt Nam nghiêncứu và bổ sung vào danh lục tre nứa của nước nhà Công trình đầu tiên nghiên cứu về tre nứa ởViệt Nam là Camus and Camus (1923) đã thống kê có 73 loài tre trúc của Việt Nam Năm 1978

Vũ Văn Dũng công bố Việt Nam có khoảng 50 loài Năm 1999 Phạm Hoàng Hộ đã thống kêđược 123 loài, số lượng các loài tre trúc của Việt Nam đã tăng lên đáng kể Không dừng lại ở đóvào giai đoạn 2001-2003, Nguyễn Tử Ưởng, Lê Viết Lâm (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt

Nam) cùng với GS Xia Nianhe, chuyên gia phân loại tre (chi Bambusa) của Viện thực vật học

Quảng Châu, Trung Quốc đã xác định ở Việt Nam có 113 loài của 22 chi, kiểm tra và cập nhật

11 tên khoa học mới, đặc biệt đưa ra được 6 chi và 22 loài tre lần đầu đầu được định tên khoahọc ở Việt Nam bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam; đưa ra 22 loài cần được xem xét để xác nhậnloài mới

LuồngDendrocalamus barbatus Ảnh: Phạm Thành Trang

Trong 2 năm 2004 – 2005, PGS.TS Nguyễn Hoàng Nghĩa cùng hai chuyên gia phân loại treTrung Quốc là GS Li Dezhu, Phó Viện trưởng Viện thực vật học Côn Minh, Vân Nam (chuyên

gia chi Dendrocalamus) và GS Xia Nianhe (chuyên gia chi Bambusa) tiếp tục cộng tác nghiên

cứu với các nhà nghiên cứu tre trúc ở nước ta tiếp tục nghiên cứu định danh các loài tre nứa hiện

có của Việt Nam ban đầu đã đưa ra danh sách gồm 194 loài của 26 chi tre trúc Việt Nam Phần

lớn trong số đó là chưa có tên Một số chi có nhiều loài là chi Tre gai (Bambusa) có 55 loài thì có tới 31 loài chưa có tên, chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài với 5 loài chưa định tên, chi Le (Gigantochloa) có 16 loài với 14 loài chưa có tên, chi Vầu đắng (Indosasa) có 11 loài với 8 loài chưa có tên và chi Nứa (Schizostachyum) có 14 loài thì có tới 11 loài chưa có tên.

Bên cạnh đó, các nhà khoa học Việt Nam đã tìm ra được nhiều chi, loài mới cho nước nhà.Năm 2005, Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự đã công bố 7 loài nứa mới thuộc chi Nứa

(Schizostachyum) như: Khốp Cà Ná (Cà Ná, Ninh Thuận), Nứa Núi Dinh (Bà Rịa - Vũng Tàu),

Nứa đèo Lò Xo (Đắc Glei, Kon Tum), Nứa lá to Saloong (Ngọc Hồi, Kon Tum), Nứa không taiCôn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), Nứa có tai Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), Nứa Bảo Lộc (Bảo

Trang 9

Lộc, Lâm Đồng – mô tả để so sánh) Các tác giả đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái, sinh tháicủa từng loài cụ thể.

Đồng thời nhóm nghiên cứu phát hiện ra 6 loài tre quả thịt dựa trên cơ sở cấu tạo hình thái vàgiải phẫu hoa quả, sáu loài tre quả thịt đã được mô tả và định danh để tạo nên một chi tre mới

cho Việt Nam, đó là chi Tre quả thịt (Melocalamus) Các loài đã được nhận biết là Dẹ Yên Bái (Melocalamus yenbaiensis), Tre quả thịt Cúc Phương (M cucphuongensis), Tre quả thịt Kon Hà Nừng (M kbangensis), Tre quả thịt Lộc Bắc (M blaoensis), Tre quả thịt Pà Cò (M pacoensis) và Tre quả thịt Trường Sơn (M truongsonensis).

Cũng trong đợt khảo sát này, Nguyễn Hoàng Nghĩa và nhóm nghiên cứu đã phát hiện thêm

một loài nứa mới cho Việt Nam có tên là Nứa Sapa (Schizostachyum chinense Rendle) được tìm

thấy trong rừng lá rộng thường xanh của Vườn Quốc gia Hoàng Liên (tỉnh Lào Cai), tác giả đã

mô tả về đặc điểm hình thái, sinh học của loài

Tre vàng sọc Bambusa vulgaris Ảnh: Phạm Thành Trang

Từ những phân tích trên có thể thấy rằng tre nứa ở Việt Nam còn nhiều điều bí ẩn ngay đằng saucác con số Rất có thể những bí ẩn này sẽ được giải đáp vào một tương lai không xa Và chắcchắn rằng sẽ còn có nhiều loài tiếp tục được định tên, nhiều loài được phát hiện đóng góp thêmvào sự phong phú về tre nứa sẵn có của Việt Nam Chúng ta có quyền hy vọng rằng, một hoặcnhiều loài trong số đó sẽ là những loài mới được bổ sung cho khoa học Việt Nam và thế giới

b Đặc tính sinh học:

Cây tre Tàu có tên khoa học là Dendrocalamus latiflorus Munro thuộc Họ phụBambusoideae, Họ Poaceae, lớp Một lá mầm, cây có một thân chính hình tròn rỗng, màu xanhthẫm, khi non có phấn trắng, khi già có màu xanh vàng Cây cao trung bình 13-15m, thân thẳngthuôn đều, hơi cong ở phần ngọn

Tre Tàu được nhập vào Việt Nam chuyên để kinh doanh măng, năng suất cao (20 tấn/ha/năm),chất lượng cao, có giá trị xuất khẩu

Cây thuộc loại ưa sáng, dễ tính, thích hợp với khí hậu nóng ẩm, phân bố ở độ cao từ 2m đến850m so với mặt biển, ở vùng có nhiệt độ bình quân năm từ 21-27oC, lượng mưa trung bình

Trang 10

trong năm từ 15002500 mm/năm, như Bảo Lộc (Lâm Ðồng), Tây Ninh, Bình Phước, Bà Rịa Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh? Ðây là loại tre được nông dân các tỉnh miền Ðông Nam Bộtrồng rất phổ biến ở quanh nhà để lấy măng và thân tre làm đồ gia dụng Tre Tàu trồng được trên nhiều loại đất khác nhau có thành phần cơ giới nhẹ và thoát nước, mọcthích hợp nơi có tầng đất canh tác sâu trên 50cm Cây có thân ngầm, mọc cụm theo kiểu hợptrục, có khả năng tái sinh vô tính rất mạnh Trồng tre một lần có thể cho thu hoạch 40-50 nămsau

Nên chọn những bụi (khóm) tre phát triển tốt, không sâu bệnh, chưa ra hoa để lấy giống

Có thể trồng bằng giống gốc (hom gốc, thân mềm) hoặc bằng giống hom cành (qua thử nghiệmtrồng ở Phân viện nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ và đã được trồng tại Nông trườngPhú Thành - Bình Phước), nhìn chung mỗi phương thức trồng có những ưu nhược điểm khácnhau nhưng về năng suất không sai khác nhau là mấy kể từ năm thứ ba trở đi Tuy nhiên việcnhân giống tre bằng hom cành cần có sự chuẩn bị trước ít nhất là 3 tháng ươm, cây mới đủ tiêuchuẩn và khả năng sống cao khi đem ra trồng rừng

a Hom gốc:

Nhiều nơi trồng tre Tàu bằng hom gốc Hom bao gồm một phần thân khí sinh (thân tre) có 3lóng dài 80-100cm, có đường kính từ 6cm trở lên, mang một thân ngầm 8-10 tháng tuổi được cắttách từ cây mẹ đem ươm Vườn ươm nên có địa hình tương đối bằng phẳng và thoát nước Ðấtphải cày bừa kỹ sau đó rạch hàng và bón lót phân chuồng hoai từ 2-3kg/m2 Các hom nên đặtnghiêng 45o so với mặt đất theo cự ly 0,8m x 0,8m, lấp đất kín phần thân ngầm và nén chặt Lóng trên cùng của hom gốc được đổ đầy nước và dùng cỏ tranh hoặc rơm rạ che bọc xungquanh, tưới giữ ẩm đều cho hom Vườn ươm nên che phủ 60% ánh sáng, sau 2-4 tuần lễ, hom tre

sẽ ra rễ và chồi, lúc đó nên dỡ bỏ dần dàn che, tiếp tục nuôi hom 2,5-3 tháng tuổi, khi hom ra rễ

và có cành lá phát triển, lúc đó hãy bứng đem trồng

c Thân ngầm:

Loại này khác với hom gốc ở chỗ không có đoạn thân khí sinh mà chỉ có đoạn thân ngầm đãkhai thác lấy măng trong mùa mưa năm trước, khi thân ngầm được 8-10 tháng tuổi, chọn và cắttách khỏi cây mẹ đem ươm cũng từ 2,5-3 tháng tuổi, bứng đem trồng Chú ý bứng đến đâu đemtrồng đến đó

Cả hai phương pháp trồng tre bằng hom gốc hay thân ngầm đều có hiệu quả, nhưng khôngthể đáp ứng nhu cầu về giống để trồng trên quy mô lớn

d Hom cành

Thời vụ lấy hom là tháng 3 và 4 (mùa khô) Chọn những cây tre dưới một năm tuổi để lấycành, nên chọn những cành đã phát triển lá hoàn toàn (cành bánh tẻ) có màu xanh thẫm, phầngốc của cành có đường kính 0,8-1,5cm, cưa sát gốc cành, phần tiếp giáp với thân cây tre, chặt bỏphần ngọn, chỉ để lại 3-4 lóng (dài 30-40cm)

Ngâm cành vào dung dịch IAA 100ppm hay Atonic 1/6 dung dịch chuẩn là tốt nhất Hom ngâmtrong dung dịch kích thích ra rễ thời gian 24 giờ Sau đó đem giâm trực tiếp vào bầu đất (bầu đất

Trang 11

bao gồm có các thành phần: đất tro phân chuồng ủ hoai)

Các líp ươm tre phải được che phủ 70-80% ánh sáng, sau khi hom ra chồi tiến hành dỡ bỏ dànche, kỹ thuật chăm sóc chủ yếu là tưới nước duy trì được độ ẩm ở mức 75-85%, mùa mưa tưới 2lần trong ngày, mùa khô tưới 3-4 lần Sau 2,5-3 tháng cành giâm ra rễ, lá phát triển, ta có thểxuất vườn đem trồng

Phương pháp giâm hom bằng cành đáp ứng được nhu cầu về giống để trồng trên quy mô lớn, vì

có hệ số nhân gấp nhiều lần (ít nhất là 5 lần) so với phương pháp trồng bằng hom gốc hay bằnghom thân ngầm

3 Kỹ thuật trồng:

a Chọn đất và địa hình:

Khi chọn đất trồng tre nên chọn những nơi địa hình tương đối bằng phẳng, có độ dốc nhỏ hơn10o là tốt hơn cả Tre Tàu có thể trồng được trên nhiều nhóm đất khác nhau, như đất xám(Acrisols), đất đen (Luvisols), đất đỏ (Ferrasols), có thành phần cơ giới nhẹ và thoát nước Ðất

có tầng canh tác mỏng, kết von chặt, ngập nước đều không thích hợp Do vậy khi trồng tre nênchọn những nơi có tầng đất mặt dày, ít nhất 50cm trở lên và có mực nước ngầm không sâu lắm,

có thể xấp xỉ trên dưới 10m là tốt nhất

e Xử lý thực bì:

Vào mùa khô, xử lý thực bì bằng phương pháp thủ công, hạn chế dùng máy ủi Trươ(c đầumùa mưa chừng 1 tháng (10/5) cho cày đất lần thứ nhất với dàn cày 3 chảo và lần thứ hai với dàncày 7 chảo

Khi mùa mưa đến, đất đủ ẩm thì đào hố trồng rừng, thời điểm thích hợp là tháng 6, tháng 7

Hố được đào thủ công hoặc được khoan bằng máy theo quy cách 50 x 50 x 50cm, hoặc 60 x 60 x50cm, trước lúc trồng từ 10-15ngày Trước khi trồng được bón lót phân hữu cơ như phân bò,phân heo, phân xanh hoặc phân hữu cơ vi sinh (khoảng 2-5 kg/hố), hoặc phân hỗn hợp NPK 150-

200 g/hố, trộn lẫn với phần đất mặt rồi cào xuống hố

và phòng chống cháy rừng

g Kỹ thuật trồng:

Dùng cuốc moi đất trong hố sao cho vừa đủ đặt hom trồng vào giữa hố (nếu trồng bằng homcành ươm trong bịch nilon phải xé bỏ bịch trước khi lấp đất) Ðặt miệng bầu hoặc phần gốc chồingang mặt hố, nén chặt đất xung quanh, rồi vun đất bằng mặt đất, trên hố phủ rơm rạ hoặc câyphân xanh để giữ ẩm

Trang 12

4 Phịng trừ sâu bệnh:

a Chăm sĩc :

 Mỗi năm rừng trồng được chăm sĩc 3 lần vào đầu, giữa và cuối mùa mưa bằng phươngtiện cơ giới như máy cày, máy kéo cĩ gắn dàn phát cỏ Khi tre trồng được hai năm trở đi phảichặt tỉa bỏ những cành ở tầm cao 2,5 m trở xuống và chặt bỏ những chồi khí sinh, sinh ra sau khikhai thác măng, dọn vệ sinh bụi tre chống sâu bệnh

 Chú ý: Tuyệt đối khơng được làm tổn thương đến cây măng hiện cĩ dù là vết nhỏ, nếu

khơng sẽ làm cho măng bị hư và thối

+ Hàng năm, vào trước mùa mưa nên làm cỏ và xới đất xung quanh bụi tre cho tơi xốp vàbĩn phân, nhằm giúp cho cây sinh trưởng được thuận lợi hơn

+ Bĩn phân: Đối với rừng tre sau hai tháng trồng nên bĩn phân tổng hợp NPK, với số lượng

200 kg/ha, tổng số lượng phân trên được chia bĩn làm nhiều đợt, mỗi lần bĩn từ 100-200 g/hố,bĩn cách xa gốc trồng từ 15-20 cm, đào rãnh xung quanh gốc, rải phân xuống rồi lấp đất lại + Rừng tre từ năm thứ hai trở đi, lượng phân bĩn cần từ 200-300 kg/ha Nên bắt đầu bĩnphân trước mùa mưa 1 tháng (khoảng tháng tư) Mỗi gốc bĩn từ 300-500 g/gốc/lần/tháng Nếu

cĩ phân hữu cơ thì bổ sung cùng với NPK và giảm lượng bĩn phân NPK đi, phân NPK dùng bĩncho rừng tre cĩ tỷ lệ 2/1/1 là thích hợp

+ Ngồi ra mỗi năm cần phải bổ sung một lượng phân bĩn cĩ nguồn gốc hữu cơ khác như:phân chuồng, phân rác, số lượng 5-7 tấn/ha/năm hoặc phân hữu cơ vi sinh như phân Komix,Sơng Gianh, Bình Điền nhằm tăng độ xốp và độ phì cho đất, dùng bẹ măng sau khi đã lấy thânmăng rải vào giữa những hàng tre sau một thời gian phân hủy tạo mùn cho đất, năng suất măng

sẽ cao hơn

+ Vun gốc - tủ cỏ: Sau khi trồng 2 năm, mỗi năm cần vun gốc - tủ cỏ (đào đất xung quanhhoặc vun rồi dùng rơm rạ, lá mía hoặc cỏ khơ tủ trên gốc của bụi tre để giữ ẩm, tủ dày từ 5-8cm) Với kỹ thuật vun gốc làm đất tơi xốp, tủ cỏ tốt măng sẽ cho màu trắng, ít xơ, vị ngọt Saukhi thu hoạch măng, vào thời kỳ bĩn phân lại cào đất ra tránh tình trạng nâng bụi, sẽ ảnh hưởngđến chất lượng rừng cây

h Sâu bệnh hại và biện pháp phịng trừ

Cây tre Tàu cĩ thể bị một số sâu bệnh hại, chính vì thế các vườn trồng tre kinh doanh măngphải được chăm sĩc tốt, vệ sinh vườn cây thường xuyên là kỹ thuật căn bản để phịng ngừa sâubệnh Nĩi chung, các lồi tre ít khi bị bệnh tấn cơng và thiệt hại khơng đáng kể, tuy nhiên vườntre cĩ thể bị một số sâu bệnh hại sau:

Bệnh khơ héo do vi khuẩn: Măng bị nhiễm bệnh cĩ những lá vẩy bên ngồi mang những

vịng đồng tâm, làm cho cây héo từ đọt trở xuống rồi chết, những vi khuẩn này hoạt động giảmdần từ độ sâu 10 cm trở xuống Do vậy khi cây bị bệnh ta vun đất cao hơn rồi kết hợp xịt thuốc

Bệnh vàng sọc: Phiến lá bị bệnh cĩ những sọc vàng xanh xen kẽ nhau, trên lá vẩy và thịt

măng cĩ hiện ra những sọc màu nâu đen, măng hĩa gỗ khơng sử dụng được, cây mẹ ốm yếu Cách phịng trị: Đào bỏ và thiêu hủy những cây bị bệnh, rắc vơi bợt, khử trùng dụng cụ sạch sẽtrước khi tiến hành làm cây khác

Bệnh rỉ sắt: Xuất hiện ở lá, làm lá cây rụng sớm, bệnh thường xảy ra khi trời nắng nĩng

kéo dài rồi ẩm ướt, cây trồng quá yếu

Cách phịng trừ: Cắt bỏ cây bị bệnh, thốt nước tạo điều kiện cho cây phát triển tốt, vun

gốc làm xốp đất kết hợp bĩn phân mạnh để tre phát triển

Sâu hại:

Trang 13

Bọ hung: Sâu non xuất hiện vào tháng 4-10 (con mẹ dùng miệng đục lỗ qua lá vẩy của

măng và đẻ trứng, sau 4-5 ngày ấu trùng đục vào thịt măng làm măng héo và chết) Phòng trịbằng cách tìm giết sâu non, chặt bỏ và thiêu hủy mụn măng bị hại

Sâu cuốn lá: tháng 5-10 bướm đẻ trứng, sâu con nở, nhả tơ cuốn lá và ăn lá rồi hóa thành

nhộng ngay trong phiến lá Cách phòng trừ, cắt bỏ và thiêu hủy lá bị cuốn, dùng đèn để bẫy bắtbướm

Ruồi xanh: Đẻ trứng ở mặt dưới lá non, thành trùng hút diệp lục tố của lá làm lá có

những ổ trắng, ảnh hưởng đến sự quang hợp của lá, đồng thời dẫn đến bệnh rỉ sắt

5 Hiện tượng Tre trổ hoa:

 Tuy là cây sống nhiều năm, sinh sản theo cách vô tính, tre trúc nói chung thỉnh thoảng cóhiện tượng ra hoa lẻ tẻ hoặc đồng loạt, thường những cây mọc từ thân ngầm của những cây nàycũng ra hoa, những cây này sẽ chết đi trong vòng vài ba năm, đặc biệt có những cây không chết.Hiện nay còn có nhiều thuyết khác nhau được đưa ra để nói về hiện tượng tre trúc ra hoa và chết:

Thuyết về tính chu kỳ: Có những loài cứ 60-100 năm lại ra hoa một lần, thường những

loài có hạt thì phát triển tốt ra hoa nhiều hơn loài có hạt xấu kém

Thuyết sinh trưởng: Quan sát thấy tỷ số cacbon/nitơ ở những cây ít ra hoa cao hơn ở

những cây ra hoa

Thuyết dòng giống cá thể: Khi một hệ thống thân ngầm bước vào thời kỳ ra hoa thì tất

cả những cây phát triển từ thân ngầm thuộc hệ thống đó cũng ra hoa và cùng một thời kỳ

Phương pháp xử lý khi rừng tre ra hoa:

 Phải chặt bỏ những cây đã ra hoa (chừa lại những cây không ra hoa)

Diệt trừ những cây xâm lấn và rải mùn phủ đều

Tăng lượng phân bón

Luôn để lại những cây khỏe mạnh, chặt bỏ những cây yếu, bệnh

 Trồng dặm những cây tre tốt vào những chỗ đã loại bỏ những cây ra hoa sau khi đã xử lýtốt (nên bứng bỏ cả thân ngầm những cây đã ra hoa)

6 Khai thác măng và thân Tre:

a Khai thác măng:

Trong một năm có 2 đợt (2 vụ) khai thác măng bằng phương pháp chặt trắng, có chừa câygiống (vụ 1: vào tháng 8, 9) và không để chừa cây giống (vụ 2: vào tháng 10, 11) Chọn câymăng tốt sinh ra trong vụ 1 để nuôi dưỡng thành cây tre thay thế những cây già phải chặt đi hàngnăm, chọn những cây to khỏe mọc ở ngoài, có thân ngầm mọc dưới mặt đất Khi khai thác măng,nhất là măng tre Lục Trúc thì chỉ khai thác lúc măng vừa nhú lên ngang mặt đất, dùng dụng cụmoi đất xung quanh tới tận gốc măng, dùng thuổng xắn ngay nơi mập nhất, rồi lấp đất lại, chú ýkhông được cắt phạm vào thân ngầm Nếu thân ngầm mọc chồi lên mặt đất thì phải đào bỏ đi đểtránh hiện tượng nâng bụi tre, nếu cần để lại ta phải vun đất kín 2/3 thân ngầm, không vun cao Còn khai thác măng tre Tàu thì tùy từng yêu cầu mà khai thác măng củ hoặc măng ống, cóqua chế biến hoặc để cả bẹ mo

Tùy theo thị hiếu của người tiêu dùng mà măng sẽ được khai thác ở các chiều cao khác nhau,nhưng thường có 3 loại: Măng nanh có chiều cao khai thác thấp hơn 25 cm, măng củ có chiềucao khai thác từ 25-50 cm, măng ống cao khai thác từ 50-100 cm

i Khai thác tre:

Trồng tre Tàu kinh doanh măng, thông thường mỗi bụi tre chỉ duy trì từ 6-7 cây tre và số trenày luôn luôn có cây 2 năm tuổi, cây 1 năm tuổi và cây mới sinh ra trong đầu vụ (vụ 1) Mỗi loạinhư vậy chiếm 33,33%, hay nói cách khác là mỗi loại 2 cây, trong đó 2 cây tre thuộc thế hệ ông

Trang 14

bà, 2 cây thuộc thế hệ cha mẹ, 2 cây thuộc thế hệ con cháu Mỗi khi ông bà qua đời (khai thác)tất nhiên phải có 2 tre cháu để thay thế

Mỗi năm vào mùa khô (tháng 2) tiến hành khai thác tre, tỷ lệ lấy ra là 33,33% tương ứng với 2cây tre già nhất trong bụi Sau khi khai thác tre phải đào hay đục bỏ luôn gốc của cây đã chặt kể

cả những gốc cũ không còn khả năng sinh măng

j Chế biến măng:

Có thể bán măng củ tươi ngoài chợ hoặc bán cho các nhà máy chế biến thực phẩm, phơi khôhay thu hoạch măng ống, măng chồi, luộc, muối, đóng vào bịch ny lông chịu nhiệt bán tại cácsiêu thị hoặc xuất khẩu

Cách muối măng để đóng hộp: Măng thu hoạch về cắt phần non Hoặc măng ống thì cắtkhoanh ở các đoạn non gần các mắt dài khoảng 3-5 cm từ mắt, cho vào nồi luộc sôi khoảng 10-

20 phút, vớt ra nhúng vào nước lạnh rồi cho vào nước muối hoặc rắc muối Tùy từng yêu cầu củaxuất khẩu để xử lý Mỗi 1kg măng cần khoảng 300 g muối (muốn giữ màu cho măng thì thêmaxit citric)

7 Năng suất và hiệu quả:

Ngày nay cây tre Tàu được chọn trồng trong các trang trại hay ở vườn hộ gia đình, để kinhdoanh măng với mục đích sản xuất hàng hóa cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu.Nếu trồng rừng theo phương thức thâm canh, áp dụng các yêu cầu kỹ thuật đã được hướng dẫn,rừng sẽ cho năng suất măng cao và ổn định, tùy theo đất tốt hay xấu rừng tre sẽ cho từ 10-15 tấn/măng/ha/năm, nếu được đầu tư thỏa đáng rừng tre năng suất còn cao hơn nữa và chất lượngmăng tốt

Tre Tàu là cây dễ trồng, mau thu sản phẩm, trồng một lần cho thu hoạch nhiều lần, cây cókhả năng tạo ra sinh khối nhanh, giữ được đất chống xói mòn, thích hợp cho đa số nông dânnghèo, cần được khuyến khích trồng

8 Các ứng dụng quan trọng của Tre trong đời sống:

Tre có nguồn gốc từ rừng tự nhiên, tre được con người sử dụng với nhiều mục đích như làmthực phẩm, dược phẩm, làm đồ gia dụng mỹ nghệ, cây cảnh,…

Tre còn được người dân dùng trồng để làm cây cảnh, tạo ra bóng mát cho ngôi nhà của họ,phần đẹp nhất của cây tre đó là thân cong Bên cạnh nét độc đáo của nó là việc cây tre rất dểchăm sóc, nó có thể trồng ở bất cứ nơi đâu

 Tre được sử dụng làm nhà, (cột, kèo), làm đũa, làm máng nước, làm rổ rá, vật dụng nôngnghiệp (gầu, cán cuốc, cán xẻng) Tre non làm thức ăn (măng) Tre khô kể cả rễ làm củi đun Tretrồng dày đặc làm rào tự nhiên cho các làng ở đồng bằng miền Bắc Trong chiến tranh, tre được

sử dụng làm vũ khí rất lợi hại (chông tre, gậy, cung tên) Lịch sử có kể về cuộc khởi nghĩa BaĐình, hai người lãnh đạo Phạm Bành và Đinh Công Tráng đã dựa vào hàng rào cây tre dày đặc

mà đạn của Pháp không bắn xuyên qua được

 Giá trị kinh tế của tre đã được biết đến nhiều trong chế biến thực phẩm, xây dựng, làm

hàng nội thất, thủ công mỹ nghệ Nhưng giá trị về mặt môi trường còn lớn hơn nhiều, nhất

là trong việc giáo dục ý thức bảo vệ sinh thái ở người dân Trồng tre thành rừng trên đất đồi trọc

sẽ giúp chống xói mòn, đồng thời bán được chỉ số carbon cho thế giới

 Tre trồng khai thác lần đầu tiên sau ba năm, các năm sau đó cứ liên tục khai thác Mộthecta trồng 400 bụi tre đến tuổi khai thác, theo tính toán của bà Hạnh, mỗi năm có thể thu hoạch

Trang 15

4-5 cây/bụi Nhưng thuyết phục được người dân về lợi nhuận của tre so với các cây trồng khác,như cao su chẳng hạn (từ 6-7 năm đã khai thác mủ), là chuyện không đơn giản

 Trong dân gian người ta nói trồng tre làm hư đất vì không trồng được thứ gì khác Sở dĩ

có chuyện này là vì tre mọc quá mạnh, tán lá che hết ánh sáng không cho cây khác phát triển.Khi phân tích so sánh dinh dưỡng của đất trong vườn cao su, điều, tre và đất không trồng loạicây nào thì cây tre là loài thực vật lấy dinh dưỡng của đất ít nhất Bởi vậy người trồng cao suphải bón phân nhiều, trong khi trồng tre thì không cần Trong vườn tre có rất nhiều trùn đùn đấtlên Khi phân tích đất trồng tre sau năm năm, kết quả cho thấy hàm lượng hữu cơ tăng lên rất cao

so với ban đầu” Tác dụng của tre đối với chất đất đang được nghiên cứu với quan sát rõ nhất làtre mọc rất mạnh tại những vùng bị rải chất độc màu da cam trong Chiến tranh Việt Nam

Các mẫu anagyre làm từ tre - Ảnh: Q.Thái

Tre chữa bệnh và xử lý nước thải

 Theo Từ điển bách khoa dược thảo Larousse của Pháp (Larousse Encyclopédie desPlantes médicinales), gần như tất cả bộ phận của tre gai, từ rễ, lá đến măng đều được sử dụngtrong y học cổ truyền Ấn Độ Nước ép từ thân tre gai chứa rất nhiều silice, có tác dụng tốt trong

việc làm tăng sức chịu đựng của các mô xương và sụn Ngoài ra Tre còn có tính năng xử lý nước thải Công ty Sài Gòn Tantec do Đức đầu tư ở Khu công nghiệp Việt Hương, chuyên sản

xuất và cung cấp da thuộc cho các hãng thời trang thế giới đã đặt hàng đề tài này của tiến sĩ DiệpThị Mỹ Hạnh Bà nói: “Tôi cho xây cái hồ, đổ đất vào và áp dụng nguyên tắc lọc gồm có đá lớn,

đá nhỏ, cát rồi trồng tre ở bên trên Nước thải từ nhà máy sẽ thẩm thấu qua bãi trồng tre, rễ tre sẽhút và cho ra nước xử lý rất tốt Tôi đã thử làm với lục bình và vetiver, nhưng hai loại cây nàychịu không nổi với nước thải Chỉ có tre là tốt nhất” Thử nghiệm thành công này đã được công

ty đưa vào ứng dụng

Phát minh mới nhất

Kết quả nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu vật liệu polyme, ĐH Bách khoa Hà Nội chothấy, có thể đưa tre vào nhựa polyme hoặc compozit tạo nên vật liệu thân thiện với môi trường.Các nhà khoa học của Trung tâm nghiên cứu trên đã tiến hành nghiên cứu chế tạo sợi gia cường

từ tre nứa để sản xuất vật liệu thân thiện môi trường

Trang 16

 Lâu nay, chúng ta quá coi thường cây tre trong khi tre là nguồn tài nguyên quý như châu báu Mấy chục năm qua, các lũy tre, các vườn tre ở miền Trung dần dần mất đi, không mấy ai có ý định khôi phục Sự đối xử phũ phàng đối với cây tre gần như là một sự phản bội Nhưng rất may mắn là khác với trầm hương, cây tre chưa đến mức đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.

Ở nông thôn, cần khôi phục lại các lũy tre trong phạm vi làng xã, còn trong vườn của mỗi gia đình, cần trồng nhiều bụi tre, kết hợp với chuối, mít, ổi và các loại cây ăn trái khác

Như đã nói, rễ tre không hề làm xấu đất Vấn đề là biết cách trồng xen, sao cho tre và các thứ cây khác, cây nào cũng có phần đất dinh dưỡng.

9 Giá trị kinh tế của Tre trong quá trình hội nhập ở nước ta hiện nay & Các sản phẩm độc đáo từ Tre:

a Giá trị kinh tế của Tre trong quá trình hội nhập:

Trong thời đại hội nhập, cây tre Việt Nam lại được rất nhiều du khách quan tâm vì giá trị lịch

sử văn hoá và các sản phẩm độc đáo đa dạng từ bàn tay cần cù khéo léo sáng tạo của nông dânViệt Nam và tính ổn định không làm ảnh hưởng môi trường của cây tre

Tre còn dùng để tạo ra các sản phẩm mỹ nghệ như những chiếc chuông gió, những chiếc bìnhcắm hoa bằng tre được những người thợ thủ công tạo ra một cách khéo léo Ngày nay tre đượcdùng để làm nhiều thứ thay cho gỗ vì tre cứng hơn gỗ, trọng lượng nhẹ hơn 1/3 so với gỗ Tretạo ra sản phẩm bền đẹp mà không làm suy yếu nguồn tài nguyên nhanh như một số loại gỗkhác Tre được dùng làm tủ, kệ bếp, làm đẹp cho không gian bếp,…Gần đây tre còn được dùng

để làm sàn nhà, làm chiếu,…Và đặc biệt tre có thể được sử dụng để làm bồn tắm tạo nên nétthẩm mỹ cho căn nhà

Để nội thất tre hoàn hảo cho các gia đình ta có thể chọn mua đèn, ghế, giường và nhiều vậtdụng khác bằng tre ở những cửa hàng nội thất

Tre còn đem lại một nguồn thu lớn cho đất nước Ở Việt Nam, tre là một trong những sảnphẩm lâm sản ngoài gỗ có giá trị thương mại cao Tổng kim ngạch xuất khẩu tre đan Việt Nam

đã tăng từ 48 triệu USD (1999) lên 224,7 triệu USD (2008) Sản phẩm tre đan Việt Nam đã cómặt tại 120 thị trường trên thế giới Tre đan cũng là ngành có số lượng làng nghề lớn nhất vớihơn 720 làng chiếm 24% trong tổng số 2000 làng nghề ở Việt Nam thu hút hơn 340000 lao động.Không còn nghi ngờ gì nữa,các sản phẩm từ tre đan đang dần chứng minh được giá trị kinh tế

và có thị phần không hề thua kém các loại gỗ kinh tế khác

Ở Việt Nam hiện nay có 1,4 triệu Ha rừng tre chiếm 15% diện tích rừng tự nhiên với trữ lượngkhoảng 8,4 tỉ cây, trong số này có khoảng 800 nghìn Ha là tre thuần, khoảng 600 nghìn Ha hỗngiao với gỗ Như thế mới thấy tiềm năng của cây tre trong tương lai là rất lớn

Tuy nhiên hiện nay công nghệ của ta chưa đáp ứng được,cộng với quỹ đất dành cho cây trecòn quá nhỏ nên hệ số sử dụng tre còn rất thấp chưa mang lại nguồn lợi về kinh tế như mong đợi.Như vậy để phát triển bền vững ngành này,bên cạnh việc bảo vệ khoảng 1,4 triệu Ha tre tựnhiên đến năm 2020 sẽ phải trồng mới khoảng 165000 Ha

Việc khai thác và phát triển tre cũng sẽ được gắn liền với công tác bảo tồn đa dạng sinhhhọc,phát triển khoa học,công nghệ sinh học và công nghệ chế biến lâm sản, đồng thời sức thunhập từ trồng tre chiêm 20% đến 30% trong kinh tế hộ gia đình ở nông thôn miền núi

Trang 17

k Độc đáo với sản phẩm từ cây tre:

Ngày nay, loại vật liệu từ thiên nhiên với những đặc tính nổi trội này trở nên hết sức quen thuộc với mỗi gia đình Mời bạn chiêm ngưỡng một số sản phẩm ấn tượng từ cây tre dưới đây

Trang 23

Nội thất mây tre: sang trọng mà dân dã:

Sofa với màu vàng cánh gián thanh nhã và những đường cong uốn lượn tinh tế sẽ tạo ra khônggian lãng mạn không kém phần hiện đại cho phòng khách của bạn Đồng thời, chiếc giường ngủbằng mây tre phủ tấm chăn với màu sắc nhẹ nhàng cũng đủ mang lại sự ấm cúng cho chủ nhântrong những ngày đông lạnh lẽo

Trang 24

Bộ bàn ghế từ chất liệu mây tre không những đem lại cảm giác êm ái dễ chịu mà còn làm tăngthêm phần sang trọng cho không gian nội thất của bạn.

Trang 25

II TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU MÂY TRE LÁ TRONG CÁC NĂM GẦN ĐÂY

1 Tìm hiểu về các sản phẩm thủ công mỹ nghệ (TCMN):

 Sản phẩm TCMN là những sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo của từng vùng,

có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hoá, vừa là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậmchí có thể trở thành di sản văn hoá của dân tộc, mang bản sắc văn hoá của vùng lãnh thổ hayquốc gia sản xuất ra chúng

Hàng thủ công mỹ nghệ bao gồm các nhóm hàng sau:

10 Các hình thức xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ:

Sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác hàng hoá khác ở chỗ nó vừa có thể sử dụng vừa có thể làvật trang trí, làm đẹp cho nhà cửa, văn phòng hay cũng có thể là đồ lưu niệm hấp dẫn trong mỗichuyến du lịch của khách quốc tế Chính vì vậy, hàng thủ công mỹ nghệ có thể được xuất khẩu

ra nước ngoài theo 2 phương thức sau:

- Xuất khẩu tại chỗ: khi khách du lịch đến từ nước ngoài vào Việt Nam và mua hàng thủ

công mỹ nghệ sản xuất tại Việt Nam Với xu hướng phát triển của du lịch như hiện nay, hìnhthức xuất khẩu này sẽ góp phần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ củaViệt Nam hàng năm

- Xuất khẩu ra nước ngoài: là hình thức các doanh nghiệp bán hàng thủ công mỹ nghệ cho

các đối tác nước ngoài bằng cách mang hàng sang tận nơi bằng các phương tiện vận tải khácnhau và phải chịu sự ràng buộc của một số thủ tục xuất khẩu nhất định

11 Tình hình xuất khẩu Mây Tre Lá trong các năm gần đây:

Với đặc điểm gọn nhẹ, xinh xắn, dễ thay đổi kiểu, khá bền và giá tương đối rẻ so với đồ

gỗ, hàng mây tre lá ,nguồn nguyên liệu làm hàng này rất phong phú: từ mây tre, trúc, lá buôngđến xơ dừa, lục bình, dứa dại dưới bàn tay khéo léo của những người thợ cũng có thể trở thànhđôla xuất khẩu Mặt hàng này không đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, lao động tương đối đơn giản

Có nhiều cơ sở đã dùng mây tre lá kết hợp với thủy tinh, gốm, gỗ, kim loại để tạo ra nhiều sảnphẩm có kiểu dáng đặc biệt

Ngày đăng: 13/11/2014, 21:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w