1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng thị trường trái phiếu tại Việt Nam

18 368 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 379 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng thị trường trái phiếu tại Việt Nam Trái phiếu là giấy chứng nhận nợ, xác nhận quyền chủ nợ của người sở hữu đối với tổ chức phát hành ra nó. trái phiếu có lãi suất hoặc chiết khấu cố định của Chính phủ, công ty phải trả cho người nắm giữ. Theo Luật Chứng Khoán VN, trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành Trái phiếu có những đặc điểm riêng: Trái phiếu là chứng khoán nợ dài hạn, có kỳ hạn, được hoàn vốn; Lãi của trái phiếu được xác định trước; Trái phiếu có ít rủi ro hơn cổ phiếu.

Trang 1

I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Khái niệm trái phiếu.

Trái phiếu là giấy chứng nhận nợ, xác nhận quyền chủ nợ của người sở hữu đối với

tổ chức phát hành ra nó trái phiếu có lãi suất hoặc chiết khấu cố định của Chính phủ, công ty phải trả cho người nắm giữ

Theo Luật Chứng Khoán VN, trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành Trái phiếu có những đặc điểm riêng:

- Trái phiếu là chứng khoán nợ dài hạn, có kỳ hạn, được hoàn vốn;

- Lãi của trái phiếu được xác định trước;

- Trái phiếu có ít rủi ro hơn cổ phiếu

2 Đặc trưng của trái phiếu

Mệnh giá (Par value) là giá trị danh nghĩa của trái phiếu được in ngay trên tờ phiếu, đại diện cho số vốn gốc được hoàn trả cho trái chủ tại thời điểm đáo hạn

Tỷ suất lãi trái phiếu (coupon interest Rates) là lãi suất danh nghĩa của trái phiếu quy định mức lãi mà NĐT được hưởng hàng năm

Giá mua trái phiếu là khoản tiền thực tế mà người mua đã bỏ ra để có được quyền sở hữu trái phiếu

Kỳ hạn của trái phiếu là số năm mà theo đó tổ chức phát hành hứa hẹn đáp ứng những điều kiện của nghĩa vụ

Quyền mua lại (đối với loại trái phiếu có điều khoản chuộc lại) cho phép tổ chức phát hành trái phiếu thu hồi trái phiếu và hoàn lại vốn gốc với mức giá dự kiến trước thời hạn thanh toán

3 Các loại trái phiếu

Căn cứ vào phương thức tổ chức phát hành có hai loại trái phiếu :

Trái phiếu Chính phủ & Chính quyền ĐP

Trái phiếu doanh nghiệp

a/ Trái phiếu Chính phủ (government bonds ): Là những trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích, hoặc làm công cụ điều tiết tiền tệ

Trái phiếu CP do Chính phủ phát hành bao gồm: Tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình Trung ương, trái phiếu đầu tư, trái phiếu ngoại

tệ và công trái xây dựng Tổ quốc

b/ Trái phiếu doanh nghiệp (corporate bonds):

Là trái phiếu do các DN phát hành với mục đích huy động vốn cho đầu tư phát triển Công ty có thể phát hành các loại trái phiếu

- Trái phiếu thế chấp (mortgage bonds): Là trái phiếu bảo đảm, thể hiện quyền

đối với những tài sản cụ thể do một công ty làm chủ

Các DN muốn phát hành trái phiếu này phải có thế chấp bằng tài sản hay

Trang 2

- Trái phiếu tín chấp (depentures ): Là trái phiếu chỉ dựa vào uy tín của công ty

để phát hành

Nếu Cty bị phá sản, sẽ được trả nợ sau các trái chủ có bảo đảm bằng tài sản thế chấp, nhưng trước các cổ đông

- Trái phiếu thu nhập (income bonds): Là trái phiếu mà việc thanh toán lãi phụ

thuộc vào mức thu lợi hàng năm của Cty, thường được phát hành khi tổ chức lại công ty hoặc trong các tình huống khác khi công ty bị suy thoái về tài chính Tuỳ theo lợi nhuận Cty thu được sẽ trả lãi cho trái chủ, tuy nhiên tỷ lệ lãi này không lớn hơn lãi suất quy định trên trái phiếu

- Trái phiếu chuyển đổi (convertible bonds): Là loại trái phiếu mà khi phát

hành có kèm điều khoản cho phép người chủ sở hữu trái phiếu đặc quyền, được chuyển đổi trái phiếu của mình thành một số lượng nhất định những cổ phiếu thường với giá của CP được ấn định trước và gọi là giá chuyển đổi

4 Lợi tức và rủi ro của trái phiếu

Lợi tức của trái phiếu :

Từ các nguồn:

* Tiền lãi định kỳ = lãi suất coupon X mệnh giá trái phiếu

* Chênh lệch giá

* Lãi của lãi (gọi là lãi tái ĐT)

Rủi ro của trái phiếu

* Rủi ro lãi suất

Giá của trái phiếu sẽ thay đổi ngược chiều với sự thay đổi của lãi suất

* Rủi ro tái đầu tư

Tùy thuộc vào chiến lược tái đầu tư

* Rủi ro thanh toán

Là rủi ro mà người phát hành trái phiếu có thể vỡ nợ

* Rủi ro lạm phát

Là rủi ro sức mua

* Rủi ro tỷ giá hối đoái

Trái phiếu mua bằng ngoại tệ, thời điểm đáo hạn thanh toán bằng VNĐ, mà VNĐ giảm giá so với ngoại tệ, NĐT sẽ nhận được ít ngoại tệ hơn

* Rủi ro thanh khoản

Tuỳ thụôc vào trái phiếu có dễ dàng được bán theo giá trị hay gần với giá trị không

5 Các nhân tố ảnh hưởng giá trái phiếu

Khả năng tài chính của người cung cấp trái phiếu

Thời gian đáo hạn

Trang 3

6 Hạn mức tín nhiệm của trái phiếu:

a Khái niệm:Hạn mức tín nhiệm là sự đánh sự đánh giá hiện thời về mức độ

sẵn sàng và khả năng trả gốc và lãi đối với chứng khoán nợ của một nhà phát hành trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó

Sự cần thiết: việc đánh giá hạn mức tín nhiệm nhằm mục đích chủ yếu bảo vệ lợi ích cho người đầu tư

b Các nhân tố ảnh hưởng tới hạn mức tín nhiệm:

- Tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần

- Những hoạt động sinh lời

- Sự biến thiên ở mức thấp trong thu nhập quá khứ

- Quy mô công ty

- Việc ít sử dung nợ thứ cấp

c Căn cứ đánh giá hạn mức tín nhiệm:

- Đối với doanh nghiệp:

+ Yếu tố về kinh doanh

+ Yếu tố về quản lí

+ Yếu tố về tài chính: tính ổn định của doanh thu, lợi nhuận, kết cấu vốn, tỷ lệ nợ, khả năng thanh toán hiện thời, khả năng sinh lời

- Đối với quốc gia:

+ Yếu tố rủi ro về chính trị

+ Yếu tố rủi ro về kinh tế

d Tác dụng của xếp hạng tín nhiệm:

- Đối với nhà đầu tư:

+ Hạn mức tín nhiệm là một chỉ tiêu rõ ràng, đơn giản và dễ hiểu để xem xét quyết định đầu tư

+ Là nhân tố quan trọng trong việc đánh giá mối quan hệ rủi ro và lợi nhuận thu được

+ Là công cụ quản lí danh mục đầu tư

+ Là công cụ để đánh giá một số rủi ro có liên quan

- Đối với nhà phát hành:

+ Giúp người phát hành mở rộng thị trường trên hai khía cạnh: có thể tham gia vào nhiều thi trường vốn khác nhau và mở rộng các nhà đầu tư tiềm năng

+ Duy trì sự ổn định của thị trường, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của thị trường, tăng tính thanh khoản của trái phiếu

+ Giảm chi phí vay thông qua việc tạo cơ hội cho những nhà phát hành tham gia vào thi trường vốn

- Đối với các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán:

Trang 4

+ Hạn mức tín nhiệm cung cấp những thông tin về nguyên tắc thị trường cho quá trình ra quyết định của Chính phủ và cung cấp các thông tin

về Chính phủ cho cộng đồng quốc tế

II/ MỘT SỐ MỐC THỜI GIAN CẦN LƯU Ý CỦA THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM

1 Trái phiếu Chính phủ

Trên thực tế thị trường trái phiếu chính phủ (Trái phiếu CP) đã hình thành và phát triển trong suốt 10 năm qua song song với sự phát triển của thị trường cổ phiếu niêm yết, với các mốc thời gian đáng lưu ý:

• Tháng 8/2000: Trái phiếu CP lần đầu tiên được đưa vào giao dịch trên

Trung tâm giao dịch CK trái phiếu HCM (HOSE)

• Tháng 8/2005: Trái phiếu CP được đưa vào giao dịch trên Trung tâm

GDCK Hà Nội

• Tháng 1/2008: Quyết định 86/2008/QĐ-BTC phê duyệt đề án xây dựng thị

trường trái phiếu CP chuyên biệt

• Tháng 5/2008: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quyết định chuyển trái phiếu

chính phủ từ sàn trái phiếu HCM sang niêm yết tại sàn Hà Nội

• Tháng 9/2009: Hệ thống giao dịch trái phiếu Chính phủ chuyên biệt chính

thức được Sở GDCK Hà Nội (HNX) đưa vào vận hành và ra mắt vào ngày 24/09/2009 tới với mục tiêu phát huy tối đa tầm quan trọng của kênh huy động vốn này đối với nền kinh tế Hệ thống giao dịch trái phiếu CP chuyên biệt trong năm đầu hoạt động đã phát huy hiệu quả, tạo điều kiện cho thị trường được vận hành thuận lợi hơn:

- Công bố thông tin công khai về giao dịch trên thị trường thứ cấp đã tạo sân chơi bình đẳng, minh bạch cho các nhà đầu tư, đồng thời là kênh thông tin định hướng cho các chủ thể phát hành trên thị trường sơ cấp

- Nâng cao tính thanh khoản của các trái phiếu niêm yết, khơi thông các nguồn vốn trung và dài hạn trong nền kinh tế, tác động tích cực trở lại đối với thị trường sơ cấp

• Tháng 1/2011: Chính phủ đã ban hành Nghị định 01/2011/NĐ-CP ngày

5/1/2011 về “Phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương”; quy định thêm về hoán đổi trái phiếu, đưa ra khái niệm về nhà tạo lập thị trường;

Trang 5

2 Trái phiếu doanh nghiệp

a/ Trước khi có Nghị định 52/2006/NĐ-CP

Cuối năm 1994, thị trường trái phiếu bắt đầu manh nha hình thành - sau khi Chính phủ ban hành nghị định 120/CP ngày 17/9/1994 về phát hành cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp nhà nước Nhiều doanh nghiệp nhà nước có nhu cầu đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành điện và xi măng, đã trình Bộ Tài chính phương án phát hành và đã được chấp nhận triển khai thực hiện

Từ tháng 9/1994 đến tháng 6/1995, nhà máy xi măng Anh Sơn đã phát hành trái phiếu thông qua hệ thống kho bạc trên địa bàn tỉnh Nghệ Đợt phát hành này dự kiến huy động 52 tỷ đồng trái phiếu có thời hạn 3-5 năm với lãi suất 15% Tuy nhiên, sau gần 10 tháng phát hành, nhà máy chỉ huy động được 7,7 tỷ đồng, trong đó trái phiếu thời hạn 3 năm chiếm đến 79%

Đến năm 1996, thị trường trái phiếu doanh nghiệp mới có những bước đột phá mới, khởi đầu bằng việc Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh (REE) huy động được 5 triệu USD

Năm 1998, Công ty Cổ phần Công nghệ thông tin EIS huy động được 10 tỷ

Năm 2003, Tổng công ty Dầu khí huy động được 300 tỷ; Tổng công ty Xi măng được 200 tỷ đồng; EVN được 300 tỷ

Việc huy động vốn trên thị trường trái phiếu trong giai đoạn này hầu như chưa phát triển Các tổ chức phát hành chủ yếu là các tổ chức tín dụng và rất ít các doanh nghiệp phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Đến thời điểm năm 2006 với những cuộc đấu thầu thất bại mà nguyên nhân chủ yếu do lãi suất, tính rủi ro do hoạt động của doanh nghiệp và ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác, như thông tin doanh nghiệp không minh bạch …

b/ Sau khi có Nghị định 52/2006/NĐ-CP

Năm 2006 đánh dấu một bước ngoặt mới cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam khi Nghị định 52/2006/NĐ-CP chính thức được ban hành thay thế cho Nghị định 120-CP của Chính phủ ban hành ngày 01/10/1994 Nghị định 52 quy định chặt chẽ các điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp và điều kiện phát hành trái phiếu của doanh nghiệp

Theo đó, chủ thể phát hành trái phiếu không chỉ là các doanh nghiệp Nhà nước như trước đây mà còn có các công ty TNHH, công ty cổ phần và doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài với một nguyên tắc chung là các doanh nghiệp phải tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm và công khai minh bạch thông tin

Trong năm 2006, Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin) huy động được 800 tỷ đồng, Tập đoàn EVN: 5.000 tỷ đồng Đến tháng 7/2007, Vinashin phát hành thêm được 3.000 tỷ đồng, Vilexim được 5 tỷ, Tổng công ty thép được 400

tỷ đồng, Vinaconex huy động được 1.000 tỷ đồng

Trang 6

Tuy nhiên giai đoạn này thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn được đánh giá là hầu như chưa phát triển Các nhà đầu tư chủ yếu “mua” và “giữ” trái phiếu tới khi đáo hạn Các dịch vụ liên quan nhằm hỗ trợ thị trường hầu như chưa có Một số chuẩn mực kế toán quốc tế quan trọng chưa được ban hành

c/ Nghị định 90/2011/NĐ-CP

Nhằm tạo hành lang pháp lý cho thị trường trái phiếu, trong năm 2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2011/NĐ-CP ngày 14/10/2011 về phát hành trái phiếu doanh nghiệp (trái phiếu DN); quy định DN nhà nước không phải xin phép Bộ Tài chính mà thực hiện xin phép đơn vị chủ quản trực tiếp phê duyệt đối với phương

án phát hành trái phiếu DN

Ngân hàng Nhà nước cũng ban hành Thông tư 28/2011/TT-NHNN ngày 1/9/2011 quy định trường hợp các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu DN; quy định về tính dư nợ mua trái phiếu DN vào dư nợ cấp tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ

Qua đó, hoạt động phát hành trái phiếu trong năm 2011 đã có sự tăng trưởng khá ấn tượng so với các năm trước

Năm lệnh gọi thầuGiá trị khớp

trái phiếu

Giá trị khớp lệnh trúng thầu

Tỷ lệ trúng thầu

Tổng giá trị giao dịch

Bình quân mỗi phiên giao dịch

2009 36.800 tỷ đồng 2.385 tỷ đồng 6,50%

2010 87.900 tỷ đồng 28.317 tỷđồng 32,20% Trên 81.000 tỷđồng đồng/phiên340 tỷ

2011 199.460 tỷ đồng 93.998 tỷđồng 47% 73.000 tỷ đồng đồng/phiên280 tỷ

Trang 7

III/ THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM

1 Tổng quan về thị trường trái phiếu Việt Nam

Cơ cấu thị trường trái phiếu Việt Nam:

Cơ cấu thị trường vốn Việt Nam

Cơ cấu phát hành trái phiếu

Trái phiếu chính phủ 74.45%

Trái phiếu địa phương 8.54%

Trái phiếu quốc tế 14.56%

Trái phiếu công ty 2.44%

Thị trường trái phiếu 26.56%

Thị trường cổ phiếu 73.44%

Trang 9

Thị trường trái phiếu Việt Nam còn rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng 16% GDP (trong đó, trái phiếu chính phủ chiếm 13%GDP và trái phiếu DN chiếm 3%GDP); trong khi thị trường trái phiếu quốc tế, Mỹ, Nhật Bản và EU chiếm đến 80%, thị trường trái phiếu ở Singapore, Malaysia và Thái Lan chiếm khoảng 30-40% GDP

Gần đây, thị trường trái phiếu doanh nghiệp sơ cấp tăng mạnh cả về giá trị và quy mô, năm 2010 tăng 49% so với năm 2009 và đạt quy mô trên 50.000 tỷ đồng

Về công ty phát hành, nếu như những năm trước, các nhà phát hành chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước lớn như Vinashin, Vinaconex, EVN, Petro Việt Nam, Lilama, Tổng công ty thép Việt Nam , thì những năm gần đây nhà phát hành đã là các công ty cổ phần như STB, SHB, Liên Việt Bank, HBB, SSI, VinCom, T&T Hà Nội

Có thể nói, thị trường trái phiếu VN được cho là vẫn còn trong giai đoạn đầu của sự phát triển, trong đó trái phiếu CP là một tiềm năng lớn, hấp dẫn các nhà đầu

tư trong nước và quốc tế cả về lãi suất và độ an toàn

Bên cạnh đó, thị trường trái phiếu DN là một nguồn cung cấp vốn đầy tiềm năng của các DN Mối quan tâm lớn nhất hiện nay là làm thế nào để khuyến khích các DN sử dụng thị trường này một cách có hiệu quả trong kế hoạch huy động vốn của DN

2 Đánh giá của các hãng xếp hạng tín dụng quốc tế đối với tín nhiệm của Việt Nam so sánh với một số nước trong khu vực

Trang 10

Đầu năm 2010, hãng xếp hạng tín dụng Moody’s đã đặt xếp hạng của Việt Nam dưới triển vọng tiêu cực

Sau đó, ngày 15/12/2010 - Moody’s quyết định hạ một bậc tín nhiệm của trái phiếu Chính phủ Việt Nam từ Ba3 xuống B1 (giữ ở mức Ba3 trong vòng hơn 2 năm)

(Ghi chú: Với quan điểm đánh giá của mình, Moody's thường chia trái phiếu thành hai nhóm chính: Nên đầu tư và không nên đầu tư Hạng trái phiếu không nên đầu tư gồm:

- Hạng Ba1, Ba2, Ba3: Các trái phiếu có chất lượng tín dụng không rõ ràng.

- Hạng B1, B2, B3: Các trái phiếu có độ rủi ro tín dụng cao và chất lượng tín dụng khá thấp)

Đến tháng 7/2010, một hãng xếp hạng tín dụng khác là Fitch cũng đã hạ mức đánh giá tín nhiệm đối với nợ dài hạn của Việt Nam từ BB- xuống B+

Nguyên nhân do những quan ngại liên quan đến cán cân thanh toán, lạm phát trong năm 2010 Bên cạnh đó “nỗi đau” Vinashin cũng góp phần không nhỏ khiến Việt Nam bị liệt vào nhóm các nền kinh tế “có rủi ro tín dụng cao”

3 Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam giai đoạn gần đây

a/ Năm 2010

a1/ Thị trường trái phiếu Chính phủ

Trang 11

Diễn biến lãi suất trái phiếu CP năm 2010

Giai đoạn Diễn biến lãi suất trái phiếu CP Nguyên nhân

2 tháng

đầu 2010

Tiếp tục xu hướng tăng từ cuối năm

2009 Tới cuối tháng 2, lãi suất trái phiếu CP xoay quanh mức 12% cho các kỳ hạn dưới 5 năm

Do các quan ngại về lạm phát tăng cao và dư âm của cuộc khủng khoảng kinh tế 2008-2009

Giữa

tháng 3 –

giữa

tháng 10

2010

Lãi suất trái phiếu CP giảm khá nhanh

và mạnh; lãi suất trần sơ cấp dần lấy lại được vai trò định hướng cho thị trường thứ cấp Lãi suất trái phiếu CP xoay quanh mức 10% cho các kỳ hạn dưới 5 năm

- Chính phủ chủ trương ưu tiên kích thích tăng trưởng kinh tế

- Nhu cầu mua tăng cao đặc biệt

từ khối các NHTM nhằm đáp ứng các quy định mới (TT15, TT13 & 19)

Tháng 10

- 12/2010

Lãi suất thứ cấp tăng 130-150 điểm ở các kỳ hạn khác nhau, xoay quanh mức 11% cho các kỳ hạn dưới 3 năm, đặc biệt thanh khoản của thị trường có

xu hướng giảm Trên thị trường sơ cấp khối lượng đăng ký và trúng thầu giảm mạnh

- Một số NĐT lớn, tập trung là các NHTM lớn do đã mua vào một lượng khá nhiều trái phiếu CP trong thời gian trước, nên nhu cầu

đã giảm bớt

- Thanh khoản cuối năm trên thị trường tiền tệ tương đối khó khăn đẩy lãi suất LNH lên cao, ảnh hưởng đến lãi suất trái phiếu CP Năm 2010, Thị trường trái phiếu CP thứ cấp có sự tham gia tích cực của các nhà

đầu tư trong nước, đặc biệt là các NHTM

Ngày đăng: 13/11/2014, 21:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w