MỞ ĐẦU: CHƯƠNG I 1/ LỜI MỞ ĐẦU: Sáng kiến kinh nghiệm đề tài: “ Một số biện pháp rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng trong chương trình Toán lớp 5” được nghiên cứu trìn
Trang 1MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG GIẢI CÁC DẠNG TOÁN VỀ PHÉP
ĐO ĐẠI LƯỢNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH TOÁN LỚP 5.
I MỞ ĐẦU:
CHƯƠNG I
1/ LỜI MỞ ĐẦU:
Sáng kiến kinh nghiệm đề tài: “ Một số biện pháp rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng trong chương trình Toán lớp 5” được nghiên cứu trình
bày và thực hiện nhằm giúp bản thân và đồng nghiệp tìm ra những biện pháp rèn luyện kỹ năng giải các dạng toán về phép đại lượng cho học sinh Đồng thời giúp các em học sinh khắc phục được những sai lầm khi giải dạng toán này
Đề tài gồm có 2 chương:
- Chương I: 1 Lời mở đầu.
2 Lý do chọn đề tài
3 Mục đích nghiên cứu
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
7 Giả thiết khoa học
Nội dung nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến đề tài:
1 Khái niệm liên quan
2 Cơ sở lí luận
3 Cơ sở thực tiễn
-Chương II.
I Nguyên nhân, thực trạng và giải pháp
II Kết luận:
Những vấn đề được đặt ra trong đề tài là những vấn đề tôi đã suy nghĩ, học hỏi và thể hiện trong quá trình giảng dạy môn Toán lớp 5 ở Trường Tiểu học Bình
Trang 2Thuận- Bình Sơn – Quảng Ngãi Rất mong nhận được sự nhận xét, góp ý chân thành của đồng nghiệp để tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ của người giáo viên
2 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
- Nội dung chương trình môn Toán lớp 5 có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình toán ở Tiểu học Nội dung toán 5 chia thành 175 bài học, hoặc bài thực hành, luyện tập, ôn tập, kiểm tra Đặc biệt Toán 5 giúp học sinh có cơ hội hình thành và phát triển các năng lực tư duy, trí tưởng tượng không gian, khả năng diễn đạt ( bằng ngôn ngữ nói và viết ở dạng khái quát và trừu tượng) sẽ nhiều hơn Môn Toán 5 rất quan tâm đến ôn tập, củng cố, hệ thống hóa các kiến thức và kỹ năng cơ bản của chương trình môn Toán ở Tiểu học Do đó, Toán 5 sẽ giúp học sinh đạt được những mục tiêu dạy học toán không chỉ ở Toán 5 mà toàn cấp Tiểu học
- Hình thành các kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải các bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống
- Trong chương trình của môn Toán 5 thì “ Đại lượng và đo đại lượng” là tuyến kiến thức khó dạy vì học sinh dễ nhầm lẫn trong quá trình luyện tập nên hiệu quả học tập chưa cao
Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp 5 tại trường Tiểu học Bình Thuận huyện Bình Sơn, trước thực tế đó tôi mạnh dạn nghiên cứu, tìm giải pháp rèn luyện kỹ năng giải các dạng toán về đại lượng và đo đại lượng đồng thời khắc phục những sai lầm khi giải dạng toán này bởi đây là việc cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay để nâng cao chất lượng giáo dục
3/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Tìm hiểu phương pháp và nội dung dạy học rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng lớp 5 Những khó khăn khi triển khai nội dung dạy học: Rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng đối với đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu
- Tìm hiểu nguyên tắc dạy - học rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng và đề ra biện pháp để quan tâm tới các trình độ học sinh đặc biệt là học sinh trung bình, yếu giúp các em học tập tích cực, chủ động, phát huy được năng lực và kỹ năng giải toán về đại lượng
4/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Trang 3a Đối tượng nghiên cứu:
- Sách giáo viên, sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo về dạy đại lượng và đo đại lượng cho học sinh lớp 5
- Thực trạng dạy rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng ở địa phương ( lớp 5 Trường Tiểu học Bình Thuận - Bình Sơn - Quảng Ngãi)
b Phạm vi nghiên cứu:
Phương pháp và nội dung dạy rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng lớp 5 trong việc dạy - học của giáo viên và học sinh lớp 5 thuộc tổ Năm trường Tiểu học Bình Thuận - Bình Sơn - Quảng Ngãi
5/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Đề tài luôn tìm ra, chỉ ra cách thức tổ chức các hoạt động cho học sinh, đó là định hướng đổi mới phương pháp dạy học sâu sắc nhất ở tiểu học Bên cạnh đó cũng định hướng cho giáo viên sao cho mọi học sinh đều tham gia hoạt động học, sao cho học sinh thấy mình tự phát hiện, tìm ra kiến thức mới Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng vốn hiểu biết của mình để hình thành kiến thức mới và bổ sung, hoàn thiện, khái quát và hệ thống các kiến thức về đại lượng và đo đại lượng đã học ở các lớp trước
Trong chương trình Toán ở Tiểu học, các kiến thức về phép đo đại lượng gắn bó chặt chẽ với các kiến thức số học và hình học Khi dạy học hệ thống đơn vị đo của mỗi đại lượng đều phải nhằm củng cố các kiến thức về hệ ghi số Vì thế tôi đã xác định được nhiệm vụ đặt ra cho mình khi nghiên cứu đề tài này là phải đưa ra một số biện pháp để giúp các em hiểu được bản chất của phép đo đại lượng, tìm cách để khắc phục những sai lầm mà các em thường mắc phải; giúp giáo viên phân tích, tìm nguyên nhân của những sai lầm của học sinh từ đó tìm ra các giải pháp và thao tác để hướng dẫn học sinh
6/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Điều tra tình hình dạy và học của giáo viên và học sinh ở địa phương
- Phương pháp phân tích - Tổng hợp: Phân tích những vấn đề ( hiệu quả giảng dạy của từng giáo viên trong tổ, tình hình học tập của học sinh trong tổ, tổng hợp những
ưu, nhược điểm)
Trang 4- Phương pháp thực nghiệm:n Thực hiện kiểm tra, tính khả thi ở việc áp dụng dạy học rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng lớp 5 phù hợp với trình độ học sinh giúp giáo viên và học sinh dạy - học có hiệu quả
7/ GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
- Quá trình thực hiện đề tài sẽ giúp cho các em nắm được các kỹ năng thực hành về đo đại lượng; Biết sử dụng các dụng cụ đo thích hợp, biết tiến hành các phép đo thực hành, các kỹ năng ước lượng số đo; nắm chắc đơn vị đo, hệ thống đơn vị đo; Biết biểu diễn số đo, thực hiện phép tính trên các số đo
- Hỗ trợ và củng cố các kiến thức liên quan trong môn toán, phát triển năng lực thực hành, năng lực tư duy của học sinh
- Các em có kỹ năng giải các dạng toán về đại lượng một cách thành thạo
- Đề tài này có thể vận dụng dạy tuyến kiến thức về đại lượng ở các khối lớp khác
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI: 1/ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN:
Có thể hiểu: Một số biện pháp rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng trong chương trình toán lớp 5 như sau:
- Hình thành kỹ năng giải các dạng về phép đo đại lượng cho học sinh lớp 5
- Dạy - học đại lượng và đo đại lượng cho học sing lớp 5 phù hợp với trình độ học sinh
- Kích thích sự hứng thú và niềm say mê học về đại lượng và đo đại lượng cho học sinh lớp 5
2 CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Các kiến thức về đại lượng được sắp xếp đan xen với các mạch kiến thức khác,
làm nổi rõ “ hạt nhân” số học phù hợp với sự phát triển theo từng giai đoạn học tập của học sinh
Bổ sung, hoàn thiện, khái quát và hệ thống các kiến thức về đại lượng và đo đại lượng đã học ở các lớp trước Điều đó phù hợp với đặc điểm năm học cuối cấp tiểu học, năm kết thúc các kiến thức của cả cấp tiểu học
Bộ chính trị đã đưa ra nghị quyết về cải cách giáo dục đã nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển trí thông minh cho học sinh tiểu học Nghị quyết đã chỉ rõ yêu cầu “
Trang 5phát triển tư duy khoa học” và “ tăng cường ở các em ý thức, năng lực một cách thông minh những điều đã học.”
Từ cơ sở đó giáo viên vận dụng những phương pháp dạy học mới ( coi trọng việc lấy học sinh làm trung tâm) trong quá trình giảng dạy nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Khi dạy các dạng toán này, giáo viên cần xác định rõ bài toán yêu cầu chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng hay thực hiện phép tính với số đo đại lượng … Từ đó giúp học sinh tìm ra cách giải tương ứng với mỗi dạng bài
3/ CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Từ cơ sở lí luận trên, trong quá trình rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng tôi có phương pháp giải quyết vấn đề như sau:
- Phải giúp học sinh hiểu được bản chất của phép đo đại lượng Giáo viên cần thực hiện theo các quy trình sau:
+ Lựa chọn phép đo thích hợp: Phép đo trực tiếp ( khi có thể dùng trực tiếp dụng cụ để đo) và phép đo gián tiếp ( khi phép đo trực tiếp khó hoặc không thể thực hiện được trong thực tế)
+ Giới thiệu công cụ đo và hình thành khái niệm đơn vị đo
Trong phép đo trực tiếp, việc giới thiệu công cụ đo thích hợp với nhiệm vụ đo tạo điều kiện cho học sinh thao tác với đồ vật cụ thể Hơn nữa trên công cụ đo, đơn vị
đo được cụ thể hóa, giúp học sinh có biểu tượng chính xác bước đầu về đơn vị đo Thông qua việc giới thiệu đơn vị đo giúp học sinh tái tạo đơn vị đo và nhận ra đơn
vị đo trong quan hệ với giá trị của cả đại lượng được đo
+ Thực hiện thao tác đo và biểu diễn kết quả đo
Việc sử dụng mỗi công cụ đo, giáo viên hướng dẫn tỉ mỉ để học sinh biết thực hiện đúng thao tác, tránh được các sai sót Chẳng hạn: Hướng dẫn cách đặt thước, chuyển thước, đọc kết quả khi đo độ dài đoạn thẳng; hướng dẫn cách cân, sử dụng quả cân khi đo khối lượng
Cần hướng dẫn học sinh cách đọc và biểu diễn kết quả đo kèm theo tên đơn vị đo
+ Dạy hệ thống đơn vị đo, cách chuyển đổi đơn vị đo Giáo viên cần làm cho học sinh thấy được sự cần thiết của việc xây dựng hệ thống đơn vị đo, mối quan hệ giữa các đơn vị đo
Trang 6+ Dạy tính toán trên số đo và rèn luyện khả năng ước lượng số đo: Giáo viên cần cho học sinh thấy mỗi cách chọn đơn vị đo nhận được số đo khác nhau trên cùng một giá trị đại lượng Do đó, trước khi thực hiện các phép tính học sinh phải kiểm tra các số đo có đơn vị đo có phù hợp hay không
- Cần dành thời gian để nghiên cứu bài dạy, lập kế hoạch và dự kiến những sai lầm học sinh thường mắc trong từng bài dạy Phân tích, tìm nguyên nhân của những sai lầm đó để đề ra những biện pháp khắc phục kịp thời
CHƯƠNG II.
NGUYÊN NHÂN, THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP.
1/ NGUYÊN NHÂN:
Qua thực tế giảng dạy lớp 5 tại trường Tiểu học Bình Thuận – Bình Sơn tôi nhận thấy học sinh thường mắc phải sai lầm trong giải toán phép đo đại lượng là: Sử dụng thuật ngữ, suy luận, thực hành đo, so sánh, chuyển đổi đơn vị đo … Từ đó tôi xác định được một số nguyên nhân sau:
* Đối với giáo viên:
- Là tuyến kiến thức khó dạy nên không được một số giáo viên quan tâm
- Một số giáo viên chưa nắm bắt được nội dung và phương pháp dạy học mới, chưa đổi mới phương pháp dạy học
- Khi dạy các dạng toán này, giáo viên chưa xác định rõ cần rèn cho học sinh kĩ năng đo lường, kĩ năng chuyển đổi đơn vị đo
- Khi lập kế hoạch dạy học chưa dự kiến những sai lầm mà học sinh thường gặp
* Đối với học sinh:
- Tiếp thu bài thụ động lười suy nghĩ, nắm bắt kiến thức hình thành kỹ năng chậm
- Học sinh còn những hạn chế trong việc nhận thức: Tri giác còn gắn với thực hành trên đồ vật, khó nhận biết được các hình khi chúng thay đổi vị trí, kích thước, khó phân biệt những đối tượng gần giống nhau Chú ý của học sinh chủ yếu là chú ý không có chủ định nên hay để ý đến cái mới lạ, cái đập vào trước mắt hơn cái cần quan sát Tư duy chủ yếu là tư duy cụ thể còn tư duy từu tượng dần dần hình thành nên học sinh rất khó hiểu được bản chất của phép đo đại lượng
Trang 7- Một số đại lượng khó mô tả bằng trực quan nên học sinh khó nhận thức được Phần lớn học sinh không thích học tuyến kiến thức này
- Trong thực hành còn hay nhầm lẫn do không nắm vững kiến thức mới
- Việc thực hiện các phép tính với đại lượng là số đo thời gian cần theo các “ quy tắc riêng” của các phép tính đó nên thường học sinh hay lúng túng
2/ THỰC TRẠNG:
- a Thuận lợi:
- Giáo viên được tập huấn chương trình thay sách giáo khoa đầy đủ
- Lớp học luôn nhận được nhận được sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường; giáo viên nhiệt tình trong công tác; học sinh chăm ngoan, ham thích học môn toán
- Nội dung, phương pháp dạy học có tính khả thi, phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh
- Kiến thức , kỹ năng cơ bản, thiết thực phù hợp với trình độ và điều kiện học tập cho học sinh, quán triệtđược quan điểm phổ cập giáo dục tiểu học
- Thiết bị dạy học tương đối đầy đủ
b Khó khăn:
- Việc nắm bắt phương pháp dạy học mới của giáo viên còn khó khăn, còn phụ thuộc vào tài liệu hướng dẫn
- Khi hình thành biểu tượng về “ vận tốc”, “ quãng đường” cần dựa vào bài toán thực tế Phần này giáo viên chưa suy luận đầy đủ, cụ thể khiến học sinh khó hình dung ra biểu tượng
- Thực hiện chuyển đổi đơn vị đo đại lượng, giáo vfiên chưa hướng dẫn các em nắm các kĩ năng khi thực hiện chuyển đổi đơn vị đo
- Trong dạy học một số giáo viên chưa chú ý, tập trung vào rèn kỹ năng cho học sinh
- Giáo viên không có hứng thú dạy tuyến kiến thức này
- Học sinh tiếp thu bài còn chậm hiệu quả chưa cao
- Đa số học sinh là con em nông dân nên việc nhắc nhở các em tự học còn nhiều hạn chế
3/ GIẢI PHÁP:
- Để hỗ trợ cho công tác giảng dạy, tìm hiểu học sinh là một cơ sở quan trọng nhằm giúp giáo viên thực hiện việc cá thể hóa việc dạy học, đáp ứng kịp thời với những tình huống xảy ra trong lớp
Trang 8- Giáo viên yêu cầu học sinh phải nắm chắc ( thuộc) bảng hệ thống đơn vị đo, hiểu được mối quan hệ giữa các đơn vị đo Quan tâm rèn kỹ năng thực hiện phép tính trên số tự nhiên và số đo đại lượng
- Phải nắm được các giải pháp và thao tác thường dùng trong chuyển đổi số đo
- Thực hiện các phép tính, sử dụng các hệ thống đơn vị đo
+ Thao tác: Viết thêm hoặc xóa bớt chữ số 0
Chuyển dịch dấu phẩy sang trái hoặc sang phải 1,2,3, … chữ số
Có 2 dạng bài tập thường gặp về chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng:
Dạng 1: ĐỔI SỐ ĐO ĐẠI LƯỢNG CÓ MỘT TÊN ĐƠN VỊ ĐO
+ Đổi từ đơn vị lớn ra đơn vị bé
Ví dụ 1: Viết số thích hợp vào chỗ chấm:
1,7 m = ……… cm
0,5 m = ……… cm
Khi chuyển đổi từ đơn vị mét sang đơn vị cm thì số đo theo đơn vị mới phải gấp lên 100 lần so với số đo theo đơn vị cũ Ta có:
1,7 x 100 = 170 Vậy: 1,7 m = 170 cm
+ Đổi từ đơn vị bé ra đơn vị lớn:
Ví dụ 2: Viết số thích hợp vào chỗ chấm:
2435 m = ……… km 62 cm = ………… m 9765 kg = ………… tấn
Khi chuyển đổi từ đơn vị cm thì số đo theo đơn vị mới phải giảm đi 100 lần so với số đo theo đơn vị cũ Ta có:
62 : 100 = 0,62 Vậy 62 cm = 0,62 m
Trong thực tế khi chuyển đổi số đo đại lượng ( trừ số đo thời gian) học sinh có thể dùng cách chuyển dịch dấu phẩy: Cứ mỗi lần chuyển sang hàng đơn vị liền sau ( liền trước) thì ta dời dấu phẩy sang phải ( sang trái):
1 chữ số đối với số đo độ dài và khối lượng
2 chữ số đối với số đo diện tích
3 chữ số đối với số đo thể tích
Ví dụ: a/ 13,4684 km = ………… m
Từ km đến m phải qua 3 lần chuyển sang đơn vị ( độ dài) liền sau (km – hm – dam – m ) nên ta dời dấu phẩy sang phải 3 chữ số
b 2487 mm2 = 0,2487 dm2
Khi thực hành học sinh viết và nhẩm như sau: 87 mm2 ( chấm nhẹ đầu bút bên trái chữ số 8 tượng trưng cho dấu phẩy) 24 cm2 – chấm nhẹ đầu bút bên trái chữ số
Trang 92) 0 dm2 ( đánh dấu phẩy trước chữ số 0 viết thêm một chữ số 0 nữa trước dấu phẩy)
c 6793 dm3 = ………… m3 Từ dm3 đổi ra m3 Học sinh nhẩm: Xuất phát từ chữ số ở hàng đơn vị và dùng 3 chữ số để biểu thị một đơn vị đo
Ta có: 793 ( dm3) , 006 (m3) Vậy: 6793 dm3 = 6,793 m3
Dạng 2: ĐỔI SỐ ĐO ĐẠI LƯỢNG CÓ TÊN 2 ĐƠN VỊ ĐO
- Đổi từ số đo có 2 tên đơn vị sang số đo có 1 tên đơn vị đo
Ví dụ: Viết số thích hợp vào chỗ chấm:
6 kg 9 g = ………… g; 24 m2 63 dm2 = ……… m2
Học sinh có thể suy luận và tính toán: 6kg 9g = 6kg + 9g = 6000g + 9g = 6009g Hoặc có thể nhẩm: 6 (kg) 0 (hg) 0 (dag) 9 ( g) Vậy 6 kg 9g = 6009 g
Tương tự học sinh có thể suy luận:
2 cm2 5 mm2 = 2 5 cm2 = 2,05cm2
100 Riêng với số đo thời gian thường chỉ dùng cách tính toán:
Ví dụ: Viết số thích hợp vào chỗ chấm: 2 ngày 26 giờ = …… giờ.
Ta có: 2 ngày 26 giờ = 2 ngày + 26 giờ = 24 giờ x 2 + 26 giờ = 74 giờ
- Đổi tư ø số đo có một tên đơn vị đo sang số đo có 2 tên đơn vị đo
Ví dụ: Viết số thích hợp vào chỗ trống:
a 6453 m = …… Km … m
Phân tích: 1m = 1 km
1000
6453m = 6453 km = 6 453 km = 6 km 453 m
1000 1000
Hoặc có thể nhẩm: Xuất phát từ chữ số ở hàng đơn vị Ta có: 3 ( m) 5 (dam), 4 (hm) 6 (km) hay 6 km 453 m
Cách ghi: 6453 m = 6 km 453 m
b 3,4 giờ = …… giờ …… phút
Phân tích ( cách làm): 1 giờ = 60 phút
5,2 giờ = 5,2 x 60 phút = 312 phút
Cách ghi: 5,2 giờ = 5 giờ 12 phút
Hoặc: 5,2 giờ = 5 2 giờ = 5 giờ + 2 giờ
10 10
2 giờ = 60 phút x 2 = 12 phút
Trang 1010 10
Cách ghi: 5,2 giờ = 5 giờ 12 phút
Lưu ý học sinh: Cần chú ý đến quan hệ đến giữa các đơn vị đo của từng loại
đại lượng để có thể chuyển đổi đúng các số đo đại lượng theo những đơn vị xác định, đặc biệt là trong những trường hợp phải thêm hay bớt chữ số 0 Đối với việc chuyển đổi số đo thời gian cần lưu ý học sinh nắm vững quan hệ giữa các đơn vị đo thời gian và kỹ năng thực hiện các phép tính với các số tự nhiên hoặc số thập phân trong việc giải các bài tập Đối với học sinh đại trà không nên ra những bài tập về chuyển đổi đơn vị đo liên quan đến những đơn vị đo cách xa nhau hoặc xuất hiện tới 3 đơn vị đo cùng một lúc
Ví dụ: 5 ngày 8 giờ = …… phút
* Dạng toán so sánh hai số đo:
Giải pháp:
Để giải bài toán so sánh hai số đo giáo viên cần hướng dẫn học sinh tiến hành các bước sau:
Bước 1: Chuyển đổi hai số đo cần so sánh về cùng một đơn vị đo
Bước 2: Tiến hành so sánh 2 số như so sánh hai số tự nhiên hoặc phân số hoặc số thập phân
Bước 3 Kết luận.
Thay cho bước 1 và bước 2 đã nêu, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh lập công thức tính các giá trị cần so sánh rồi so sánh các yếu tố trong công thức vừa lập
Trong bài toán tính tuổi lưu ý học sinh đôi khi cần chọn 1 thời điểm chung thì mới so sánh được
Ví dụ: Điều dấu thích hợp vào ô trống
a 9 m2 5 dm2 □905 dm2
b 9 km 15 dam □ 920 dam 2m
c 6 kg 9 hg □ 9600 g
Hướng dẫn giải:
Bước 1: Chuyển đổi 2 số đo so sánh về cùng một đơn vị đo:
a 9 m2 5 dm2 = 905 dm2
b 9 km 15 dam = 9150 m
>
<
=