Như vậy phân tích tình hình tài chính không những cung cấp thông tin quan trọng nhất cho chủ doanh nghiệp trong việc đánh giá những tiềm lực vốn có của doanh nghiệp, xem xét khả năng và
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-o0o -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI
VÀ VẬN TẢI THẮNG HOA
SINH VIÊN THỰC HIỆN : VŨ VIỆT LINH
MÃ SINH VIÊN : A15209 CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
HÀ NỘI – 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-o0o -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH
THƯƠNG MẠI VÀ VẬN TẢI THẮNG HOA
Giáo viên hướng dẫn : Ths Nguyễn Thị Vân Nga Sinh viên thực hiện : Vũ Việt Linh
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này em đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhà trường các thầy cô và đơn vị thực tập
Em xin cảm ơn Ban Giám Hiệu trường ĐH Thăng Long Khoa Kinh Tế-Quản lý
và các Thầy Cô đã dạy em trong suốt những năm học qua Đặc biệt là Cô Ths.Nguyễn Thị Vân Nga đã hướng dẫn em làm khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc Công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa, các cô chú ở phòng Kế toán-Tài vụ đã tạo điều kiện cho em thực tập và tìm hiểu về tình hình tài chính của công ty đã cung cấp tài liệu giải thích những vấn đề
có liên quan để em hoàn thành khóa luận đúng thời gian và thời hạn quy định
Do thời gian thực tập tại Công ty có hạn và kinh nghiệm về thực tế của em còn hạn chế nên khóa luận này không thể tránh khỏi những sai sót Vì vậy em rất mong được sự góp ý và chỉ bảo của quý thầy cô để khóa luận này được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên
Vũ Việt Linh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Sinh viên
Vũ Việt Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH 1
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1
1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp 1
1.1.1.Khái niệm tài chính doanh nghiệp 1
1.1.2 Chức năng và vai trò của tài chính doanh nghiệp 1
1.1.3 Khái niệm về phân tích tài chính 4
1.1.4 Ý nghĩa của phân tích tài chính 5
1.2 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.2.1 Tài liệu phân tích 6
1.2.2 Quy trình thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp 10
1.3 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 11
1.3.1 Phương pháp so sánh 11
1.2.3 Phương pháp tỷ lệ 12
1.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 12
1.4.1 Phân tích tình hình tài sản – nguồn vốn của doanh nghiệp 12
1.4.2 Phân tích tính hình tạo vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp 16
1.4.3 Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 16
1.4.4 Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán 18
1.4.5 Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản 19
1.4.6Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý nợ 21
1.4.7Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời 22
1.5Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 24 1.5.1 Các nhân tố chủ quan 24
1.5.2 Các nhân tố khách quan 24
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ VẬN TẢI THẮNG HOA 26
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa 26
2.1.1 Giới thiệu chung về công ty 26
Trang 62.1.2 Đặc điểm của công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa 26
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 27
2.2 Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa 31
2.2.1 Phân tích tình hình tài sản – nguồn vốn 31
2.2.2 Phân tích kết quả họat động sản xuất kinh doanh của Công ty 38
2.2.3 Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán 41
2.2.4 Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư 43
2.2.5 Nhóm chỉ tiêu hoạt động 45
2.2.6 Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời 47
Phân tích phương trình Dupont 49
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH 53
TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ VẬN TẢI THẮNG HOA 53
3.1 Mục tiêu và định hướng phát triển của Công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa 53
3.1.1 Mục tiêu phát triển của Công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa 53
3.1.2 Định hướng phát triển của Công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa 53
3.2 Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa 53
3.2.1 Giải pháp đẩy mạnh công tác thu hồi công nợ 54
3.2.3 Các giải pháp đồng bộ khác 58
KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Bảng cân đối kế toán của công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa
năm 2011 – 2013 34
Bảng 2.2 Bảng báo cáo kết quả kinh doanh của công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa năm 2011 – 2013 41
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp nhóm chỉ tiêu thanh toán 45
Bảng 2.4 Bảng tổng hợp nhóm chỉ tiêu về cơ cấu TC và tình hình đầu tư 43
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp các chỉ tiêu hoạt động 45
Bảng 2.6 Bảng tổng hợp nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời 47
Bảng 3.1 Bảng lãi suất chiết khấu dự tính 51
Bảng 3.2 Kết quả dự tính đạt được trên số dư phải thu khách hàng năm 2013 52
Bảng 3.3 Bảng đánh giá kết quả đạt được 53
Bảng 3.4 Bảng tài sản cố định hữu hình 54
Bảng 3.5 Bảng thanh lý khấu hao tài sản cố định năm 2013 55
Bảng 3.6 Bảng đánh giá kết quả đạt được khi thanh lý TSCĐ cũ năm 2013 56
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Các chính sách quản lý Tài sản – Nguồn vốn 16
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu bộ máy tổ chức của công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa 20
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp cần chủ động về hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động tài chính nói riêng Điều này đã đặt ra cho các doanh nghiệp những yêu cầu và đòi hỏi đáp ứng kịp thời với những thay đổi của nền kinh tế và tận dụng những cơ hội để phát triển doanh nghiệp Bởi vậy chủ doanh nghiệp phải có những đối sách thích hợp, nhằm tạo ra nguồn tài chính đáp ứng cho yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu việc cung ứng sản xuất và tiêu thụ được tiến hành bình thường, đúng tiến độ sẽ là tiền đề đảm bảo cho hoạt động tài chính
có hiệu quả và ngược lại Việc tổ chức huy động nguồn vốn kịp thời, việc quản lý phân phối và sử dụng các nguồn vốn hợp lý sẽ tạo điều kiện tối đa cho hoạt động SXKD được tiến hành liên tục và có lợi nhuận cao Do đó, để đáp ứng một phần yêu cầu mang tính chiến lược của mình các doanh nghiệp cần tiến hành định kỳ phân tích, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính Từ đó, phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt hạn chế trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp, tìm ra những nguyên nhân cơ bản đã ảnh hưởng đến các mặt này và đề xuất được các biện pháp cần thiết để cải tiến hoạt động tài chính tăng hiệu quả SXKD
Như vậy phân tích tình hình tài chính không những cung cấp thông tin quan trọng nhất cho chủ doanh nghiệp trong việc đánh giá những tiềm lực vốn có của doanh nghiệp, xem xét khả năng và thế mạnh trong sản xuất kinh doanh mà còn thông qua đó xác định được xu hướng phát triển của doanh nghiệp, tìm ra những bước đi vững chắc, hiệu quả trong một tương lai gần Việc phân tích tài chính là một công cụ quan trọng cho công tác quản lý của chủ doanh nghiệp nói riêng và hoạt động sản xuất kinh doanh
nói chung Vì vậy,em lựa chọn đề tài: “Phân tích tình hình tài chính và một số giải
pháp cải thiện tình hình tài chính của Công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa” để hiểu hơn về việc phân tích cũng như tầm quan trọng của việc quản trị
tài chính
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về tình hình tài chính của Công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa giai đoạn 2011-2013 rồi từ đó đề ra các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu đề tài : hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích tình hình
tài chính doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu đề tài : các báo cáo tài chính của công ty : Bảng cân đối
kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2011 – 2013 của
công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập số liệu, phương pháp xử lý số
liệu, phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ …
5 Bố cục khóa luận
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận thì khóa luận gồm 3 chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích tình hình tài chính tại Công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa
Chương 3: Những giải pháp cải thiện tình hình tài chính của Công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa
Trang 11CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1.Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính, được thể hiện thông qua quá trình huy động và sử dụng các loại vốn, quỹ tiền tệ nhằm phục vụ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.[1, tr8]
1.1.2 Chức năng và vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp bao gồm 3 chức năng chính sau:
- Xác định và huy động các nguồn vốn nhằm bảo đảm nhu cầu sử dụng vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để thực hiện sản xuất kinh doanh trong điều kiện của cơ chế thị trường có hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp phải có vốn và có phương án tạo lập, huy động vốn cụ thể
Thứ nhất, phải xác định nhu cầu vốn (vốn cố định và vốn lưu động) cần thiết cho
quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty
Thứ hai, phải xem xét khả năng đáp ứng nhu cầu vốn và các giải pháp huy động
vốn:
+ Nếu nhu cầu lớn hơn khả năng thì doanh nghiệp phải huy động thêm vốn, tìm kiếm mọi nguồn tài trợ với chi phí sử dụng vốn thấp nhưng vẫn bảo đảm có hiệu quả + Nếu khả năng lớn hơn nhu cầu thì doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường hoặc có thể tham gia vào thị trường tài chính như đầu tư chứng khoán, cho thuê tài sản, góp vốn liên doanh
Thứ ba, phải lựa chọn nguồn vốn và phương thức thanh toán các nguồn vốn sao
cho chi phí doanh nghiệp phải trả là thấp nhất trong khoảng thời gian hợp lý
- Chức năng phân phối thu nhập của doanh nghiệp:
Chức năng phân phối biểu hiện ở việc phân phối thu nhập của doanh nghiệp từ doanh thu bán hàng và thu nhập từ các hoạt động khác Nhìn chung, các doanh nghiệp phân phối như sau:
Trang 12Bù đắp các yếu tố đầu vào đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh như chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí vật tư, chi phí cho lao động và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (nếu có lãi)
Phần lợi nhuận còn lại sẽ phân phối như sau:
+ Bù đắp các chi phí không được trừ
+ Chia lãi cho đối tác góp vốn, chi trả cổ tức cho các cổ đông
+ Phân phối lợi nhuận sau thuế vào các quỹ của doanh nghiệp
- Chức năng giám đốc đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
Giám đốc tài chính là việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Việc thực hiện chức năng này thông qua các chỉ tiêu tài chính để kiểm soát tình hình đảm bảo vốn cho sản xuất - kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn cho sản xuất - kinh doanh Cụ thể qua tỷ trọng, cơ cấu nguồn huy động, việc sử dụng nguồn vốn huy động, việc tính toán các yếu tố chi phí vào giá thành và chi phí lưu thông, việc thanh toán các khoản công nợ với ngân sách, với người bán, với tín dụng ngân hàng, với công nhân viên và kiểm tra việc chấp hành kỷ luật tài chính, kỷ luật thanh toán, kỷ luật tín dụng của doanh nghiệp Trên cơ sở đó giúp cho chủ thể quản lý phát hiện những khâu mất cân đối, những sơ hở trong công tác điều hành, quản lý kinh doanh để có quyết định ngăn chặn kịp thời các khả năng tổn thất có thể xảy ra, nhằm duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Đặc điểm của chức năng giám đốc tài chính là toàn diện và thường xuyên trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp và được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
- Tài chính doanh nghiệp huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục
Vốn tiền tệ là tiền đề cho các hoạt động của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên cũng như cho đầu tư phát triển của doanh nghiệp Việc thiếu vốn sẽ khiến cho các hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không triển khai được Do vậy, việc đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức huy động vốn của tài chính doanh nghiệp Sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một phần lướn được quyết định bởi chính sách tài trợ hay huy động vốn của doanh nghiệp
Trang 13- Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Vai trò này của tài chính doanh nghiệp được thể hiện ở chỗ:
Việc đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn phụ thuộc rất lớn vào việc đánh giá, lựa chọn đầu tư từ góc độ tài chính
Việc huy động vốn kịp thời, đầy đủ giúp cho doanh nghiệp chớp được cơ hội kinh doanh
Lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp có thể giảm bớt được chi phí sử dụng vốn góp phần rất lớn tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
Sử dụng đòn bẩy kinh doanh và đặc biệt là sử dụng đòn bẩy tài chính hợp lý là yếu tố gia tăng đáng kể tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
Huy động tối đa vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể tránh được thiệt hại do ứ đọng vốn, tăng vòng quay tài sản, giảm được số vốn vay từ đó giảm được tiền trả lãi vay góp phần rất lớn tăng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
- Tài chính doanh nghiệp là công cụ rất hữu ích để kiểm soát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình vận động, chuyển hóa hình thái của vốn tiền tệ Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính và đặc biệt là các báo cáo tài chính có thể kiếm soát kịp thời, tổng quát các mặt hoạt động của doanh nghiệp, từ đó phát hiện nhanh chóng những tồn tại về những tiềm năng chưa được khai thác để đưa ra các quyết định thích hợp điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của tài chính doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với hoạt động của doanh nghiệp Bởi những lẽ sau:
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp liên quan và ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động của doanh nghiệp
Quy mô kinh doanh và nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp ngày càng lớn Mặt khác, thị trường tài chính càng phát triển nhanh chóng, các công cụ tài chính
để huy động vốn ngày càng phong phú và đa dạng Chính vì vậy quyết định huy động vốn, quyết định đầu tư v.v… ảnh hưởng ngày càng lớn đến tình hình và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Các thông tin về tình hình tài chính là căn cứ quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp để kiểm soát và chỉ đạo các hoạt động của doanh nghiệp
Trang 141.1.3 Khái niệm về phân tích tài chính
Phân tích tình hình tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra đối chiếu và so sánh
số liệu về tình hình tài chính hiện hành và quá khứ Thông qua đó giúp người sử dụng thông tin đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như nhưng rủi ro trong tương lai để ra các quyết định kinh tế [2, tr80]
Việc phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho doanh nghiệp đưa ra những quyết định sang suốt để giải quyết những vấn đề sau đây:
Thứ nhất : Doanh nghiệp nên đầu tư vào đâu cho phù hợp với loại hình sản xuất
kinh doanh lựa chọn Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạn của doanh nghiệp
Thứ hai : Nguồn vốn tài trợ là nguồn nào?
Để đầu tư vào các tài sản, doanh nghiệp phải có nguồn tài trợ, nghĩa là phải có tiền để đầu tư Các nguồn tài trợ đối với một doanh nghiệp được phản ánh bên phải của bảng cân đối kế toán Một doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặc vay nợ dài hạn, ngắn hạn Nợ ngắn hạn có thời hạn dưới một năm còn nợ dài hạn có thời hạn trên một năm Vốn chủ sở hữu là khoản chênh lệch giữa giá trị của tổng tài sản và nợ của doanh nghiệp Vấn đề đặt ra ở đây là doanh nghiệp sẽ huy động nguồn tài trợ với cơ cấu như thế nào cho phù hợp và mang lại lợi nhuận cao nhất Liệu doanh nghiệp có nên sử dụng toàn bộ vốn chủ sở hữu để đầu tư hay kết hợp với cả các hình thức đi vay
và đi thuê? Điều này liên quan đến vấn đề cơ cấu vốn và chi phí vốn của doanh nghiệp
Thứ ba : Nhà doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như thế
nào?
Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt chẽ đến vấn đề quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp Hoạt động tài chính ngắn hạn gắn liền với các dòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ Nhà quản lý tài chính cần xử lý sự lệch pha của các dòng tiền
Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi khía cạnh về tài chính doanh nghiệp, nhưng đó là những vấn đề quan trọng nhất Phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở
Trang 15phần và lập kế hoạch dự báo tài chính Cuối cùng phân tích tài chính còn là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý
1.1.4 Ý nghĩa của phân tích tài chính
Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như : chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng kể cả các cơ quan Nhà nước và người làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau
- Đối với người quản lý doanh nghiệp
Đối với người quản lý doanh nghiệp mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Ngoài ra, các nhà quản trị doanh nghiệp còn quan tâm đến mục tiêu khác như tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí… Tuy nhiên doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện mục tiêu nếu
họ kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động
- Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi và sự rủi ro Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của các doanh nghiệp
- Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ chú ý đặc biệt đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới số vốn của chủ
sở hữu, bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của các khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay Đối với các nhà cung ứng vật tư hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp, họ phải quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng hay không, họ
Trang 16cần phải biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và trong thời gian sắp tới
- Đối với người lao động trong doanh nghiệp
Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, người được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính của doanh nghiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp có tác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động Ngoài ra trong một số doanh nghiệp, người lao động được tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất định Như vậy, họ cũng là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi
và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp
- Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước
Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà nước thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và luật pháp quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách hàng
Tóm lại, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ các góc
độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp
1.2 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Tài liệu phân tích
Phân tích tình hình tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có để giúp người sử dụng thông tin có thể đánh giá được thực trạng tài chính và tiềm năng của doanh nghiệp Trên cơ sở đó sẽ đưa ra những phương án kinh tế tối ưu nhất Việc phân tích tình hình tài chính chủ yếu sử dụng thông tin từ các báo cáo tài chính
Việc phân tích tình tài chính sử dụng hai nguồn thông tin là thông tin bên trong
và thông tin bên ngoài
Thông tin bên trong là những thông tin nội bộ từ bên trong doanh nghiệp như: bộ máy quản lý, tổ chức quản trị, bộ phân kế hoạch, bộ phận kiểm soát …
Trang 17Thông tin bên ngoài là những thông tin mang tầm vĩ mô như: nền kinh tế thế giới, nên kinh tế Việt Nam, các thông tin chính trị, pháp luật, thông tin về chủ nợ, các nhà đầu tư, Nhà nước và các cơ quan chính quyền khác…Ngoài ra tỷ lệ làm phát và tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người GDP cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc phân tich tình hình tài chính doanh nghiệp
Tài liệu phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Bảng lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh tài chính
1.2.1.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, theo 2 cách phân loại là kết cấu vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh
Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản, và nguồn hình thành tài sản đó Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp, đánh giá được quy mô và khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp
- Phần tài sản: Bao gồm có tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn
Về mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích trong tương lai
Về mặt kinh tế, các chỉ tiêu của phần tài sản cho phép đánh giá tổng quát về quy
mô vốn, cơ cấu vốn, quan hệ giữa năng lực sản xuất và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp
Phần nguồn vốn: Bao gồm nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu, phản ánh các nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp
Về mặt pháp lý, phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn (Nhà nước, ngân hàng, cổ đông, các bên liên doanh ) Hay nói cách khác thì các chỉ tiêu bên phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh, về số tài sản hình thành và trách nhiệm phải thanh toán các khoản nợ( với người lao động, với nhà cung cấp, với Nhà nước )
Về mặt kinh tế, phần nguồn vốn thể hiện các nguồn hình thành tài sản hiện có, căn cứ vào đó có thể biết tỷ lệ, kết cấu của từng loại nguồn vốn đồng thời phần nguồn vốn cũng phản ánh được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.2.1.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 18Là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và hiệu quả kinh doanh trong một kì kế toán của doanh nghiệp, chi tiết theo hoạt động kinh doanh chính
và các hoạt động khác, tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước về thuế và các khoản phải nộp.Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm 3 phần:
Phần I: thể hiện hình tình kinh doanh lãi-lỗ của doanh nghiệp: phản ánh các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận Do đó, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng cho ta đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp, biết được trong kỳ doanh nghiệp kinh doanh có lãi hay bị lỗ, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vốn là bao nhiêu Từ đó tính được tốc độ tăng trưởng của kỳ này so với kỳ trước và dự đoán tốc độ tăng trong tương lai
Phần II: cho biết tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước: phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước, thuế, các khoản phải nộp khác Tất cả các chỉ tiêu trong phần này đều được trình bày số còn phải nộp kì trước chuyển sang, số còn phải nộp phát sinh trong kì báo cáo, số còn phải nộp đến cuối kì báo cáo.Ngoài ra, qua việc phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, ta biết được doanh nghiệp có nộp thuế đủ và đúng thời hạn không Nếu số thuế còn phải nộp lớn chứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là không khả quan
Phần III: Thuế giá trị gia tăng (GTGT) được khấu trừ, được miễn giảm,được hoàn lại: phản ánh số thuế GTGT được khấu trừ, đã khấu trừ và còn được khấu trừ cuối kì, số thuế GTGT được miễn giảm và còn được miễn giảm cuối kì
Như vậy, việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta có
những nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.2.1.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh đầy đủ các dòng thu và chi tiền và tương đương tiền của doanh nghiệp trong một niên độ kế toán Nó cung cấp thông tin về những dòng tiền vào, ra của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ còn gọi là báo cáo ngân lưu, được tổng hợp bởi ba dòng ngân lưu, từ ba hoạt động của doanh nghiệp:
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Phần này phản ánh những dòng tiền thu được trong quá trình tiêu thụ sản phẩm cũng như quá trình cung cấp lao vụ, dịch vụ cho khách hàng và những dòng tiền chi ra
để trả cho người bán, người cung cấp dịch vụ, chi trả lương, bảo hiểm, nộp thuế, trả lãi
Trang 19tiền vay Đó là những khoản tiền có liên quan đến quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Ngoài ra, nó còn phản ánh những khoản thu, chi bất thường không thuộc hoạt động đầu tư hoặc tài chính, chẳng hạn như số tiền thu được do doanh nghiệp thắng kiện
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư
Khi doanh nghiệp chi tiền ra để đầu tư vào các phương tiện sản xuất như nhà xưởng, máy móc thì sự chênh lệch trong thời gian lại càng lớn hơn Tài sản cố định khấu hao trong suốt thời hạn sử dụng nghĩa là đối với một dây chuyền sản xuất sử dụng trong mười năm thì trong mười năm đó, doanh nghiệp sẽ dần dần thu hồi được số tiền đã bỏ ra lúc đầu để mua nó Về phương diện quản lý ngân quỹ, đầu tư có nghĩa là chi một khoản tiền lớn ngay, và thu dần dần lại trong một khoảng thời gian dài
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính tạo ra những dòng tiền ra, tiền vào mà doanh nghiệp sử dụng để giải quyết những chênh lệch về ngân quỹ phát sinh ra do những hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư Thí dụ, đi vay vốn (dòng tiền vào) thì trả nợ (dòng tiền ra) Hay khi doanh nghiệp vay vốn dài hạn, sẽ thu ngay một lượng tiền lớn và sẽ trả dần trong một khoản thời gian dài Các dòng tiền xuất phát từ các nghiệp vụ này đặc biệt phù hợp với những doanh nghiệp có chương trình đầu tư Ngược lại, khi doanh nghiệp có vốn nhàn rỗi, có thể cho vay ngắn hạn hay dài hạn, trong thời gian chưa cần số tiền đó
Việc phát triển lâu dài của doanh nghiệp thường được tài trợ từ ba nguồn chính trên Các nguồn lực tài chính được sử dụng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến
độ rủi ro và khả năng trả nợ của doanh nghiệp Các thông tin trên có thể giúp đánh giá cấu trúc vốn và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp.Như vậy việc phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ giúp kiểm tra tính trung thực của tất cả các thông tin rút ra từ việc đánh giá các tỷ suất và vốn lưu động, về tình trạng tiền mặt, khả năng thanh toán của công ty
1.2.1.4 Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích bổ sung thông tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong kì báo cáo mà các báo cáo tài chính không thể trình bày
rõ ràng và chi tiết
Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp lựa chọn để áp dụng, tình hình và lý do biến động của một số đối tượng sản xuất và nguồn vốn quan trọng,
Trang 20phân tích một số chỉ tiêu tài sản chủ yếu và các kiến nghị của doanh nghiệp Cơ sở số liệu lập thuyết minh báo cáo tài chính là các số kế toán kì báo cáo, bảng cân đối kế toán kì báo cáo, thuyết minh báo cáo tài chính kì trước, năm trước
Như vậy, việc phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp không chỉ cung cấp những thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp nhằm giúp họ đánh giá khách quan
về sức mạnh tài chính của doanh nghiệp, khả năng sinh lời và triển vọng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin ngoài doanh nghiệp như: các nhà đầu tư, các nhà cho vay, các nhà cung cấp, các chủ nợ, các cổ đông hiện tại và tương lai, các khách hàng, các nhà quản lý cấp trên, các nhà bảo hiểm, người lao động và cả các nhà nghiên cứu, các sinh viên kinh tế Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp đã niêm yết trên thị trường chứng khoán thì việc cung cấp những thông tin về tình hình tài chính một cách chính xác và đầy đủ cho các nhà đầu tư là một vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, giúp họ lựa chọn và ra các quyết định đầu tư có hiệu quả nhất
1.2.2 Quy trình thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1 Thu nhập thông tin
Phân tích hoạt động tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch Nó bao gồm với những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị Trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, đó là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích hoạt động tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.2.2.2 Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích hoạt động tài chính là quá trình xử lý thông tin
đã thu thập Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được nhằm phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
1.2.2.3 Dự đoán và đưa ra quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết
để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra các quyết định hoạt động kinh doanh Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích hoạt động tài chính nhằm đưa ra các quyết
Trang 21định liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối
đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu Đối với cho vay và đầu tư vào doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định về tài trợ đầu tư, đối với cấp trên của doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định quản lý doanh nghiệp
1.3 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Để nắm được một cách đầy đủ thực trạng tài chính cũng như tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp, cần thiết phải đi sâu xem xét các mối quan hệ và tình hình biến động của các khoản mục trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tài chính với nhau
Việc phân tích báo cáo tài chính thường được tiến hành bằng hai phương pháp: phương pháp phân tích ngang và phương pháp phân tích dọc báo cáo tài chính
Phân tích ngang báo cáo tài chính là việc so sánh đối chiếu tình hình biến động
cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính: phân tích dọc là việc sử dụng các quan hệ tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tài chính với nhau để rút ra kết luận
Cụ thể, trong thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
1.3.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được sử dụng phổ biến nhất và là phương pháp chủ yếu trong phân tích tài chính để đánh kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến đổi của chỉ tiêu phân tích Có nhiều phương thức so sánh và sử dụng phương thức nào là tuỳ thuộc vào mục đích và yêu cầu của việc phân tích
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy tình hình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được so với doanh nghiệp cùng ngành
- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng tổng số ở mỗi bản báo cáo
và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại các mục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh
- So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
Trang 22Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ 2 điều kiện sau:
- Điều kiện một: Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”
Gốc so sánh : được chọn là gốc thời gian hoặc không gian
Kỳ phân tích được chọn là kỳ báo cáo, kỳ kế hoạch
Gọi gốc so sánh là Yo, kỳ phân tích là Y1 ta có công thức so sánh sau :
1.2.3 Phương pháp tỷ lệ
Trong phân tích tài chính, các tỷ lệ tài chính chủ yếu thường được phân thành 4 nhóm chính Đó là: nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về khả năng cân đối vốn, nhóm tỷ lệ về khả năng hoạt động, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lãi Nhìn chung, mối quan tâm trước hết của các nhà phân tích tài chính là tình hình tài chính của doanh nghiệp có lành mạnh không? Liệu doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được những khoản nợ đến hạn không? Nhưng tuỳ theo mục đích phân tích tài chính mà nhà phân tích tài chính chú trọng nhiều hơn đến nhóm tỷ lệ này hay nhóm tỷ lệ khác Chẳng hạn, các chủ nợ ngắn hạn đặc biệt quan tâm đến tình hình khả năng thanh toán của người vay Trong khi đó, các nhà đầu tư dài hạn quan tâm nhiều hơn đến khả năng hoạt động
có lãi và hiệu quả sản xuất kinh doanh Họ cũng cần nghiên cứu tình hình về khả năng thanh toán để đánh giá khả năng của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu chi trả hiện tại và xem xét lợi nhuận để dự tính khả năng trả nợ cuối cùng của doanh nghiệp Bên cạnh
đó, họ cũng chú trọng tới tỷ lệ cân đối vốn vì sự thay đổi tỷ lệ này sẽ ảnh hưởng đáng
kể tới lợi ích của họ
1.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.4.1 Phân tích tình hình tài sản – nguồn vốn của doanh nghiệp
1.4.1.1 Phân tích khái quát tình hình biến động tài sản
Phân tích khái quát tình hình tài sản là đánh giá tình hình tăng, giảm và biến động kết cấu của tài sản của doanh nghiệp Qua phân tích tình hình tài sản sẽ cho thấy tài sản của doanh nghiệp nói chung, của từng khoản mục tài sản thay đổi như thế nào giữa các năm? Doanh nghiệp có đang đầu tư mở rộng sản xuất hay không? Tình trạng
Trang 23thiết bị của doanh nghiệp như thế nào? Doanh nghiệp có ứ đọng tiền, hàng tồn kho hay không
- Phân tích tài sản ngắn hạn :
Sự biến động của giá trị cũng như kết cấu các khoản mục trong tài sản ngắn hạn Ở những doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu tài sản ngắn hạn cũng khác nhau Việc nghiên cứu kết cấu tài sản ngắn hạn giúp xác định trọng điểm quản lý tài sản ngắn hạn từ đó tìm ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong từng điều kiện
cụ thể
- Phân tích tài sản dài hạn :
Khi đánh giá sự phân bổ của TSDH ta dựa vào tỷ trọng TSDH so với tổng tài sản để phân tích
Tỷ suất này phản ảnh tình trạng cơ sở vật chất kỹ thuật nói chung và máy móc thiết bị nói riêng của doanh nghiệp Tỷ trọng càng cao càng tốt, nó cho biết năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp Tuy nhiên tỷ trọng này phụ thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh cụ thể
Khi phân tích cơ cấu tài sản , cần xem xét sự biến động của từng khoản mục cụ thể, xem xét tỷ trọng mỗi loại là cao hay thấp trong tổng số tài sản Qua đó đánh giá tính hợp lý của sự biến đổi để từ đó có giải pháp cụ thể
1.4.1.2 Phân tích khái quát tình hình biến động nguồn vốn
Phân tích khái tình hình nguồn vốn là đánh giá tình hình tăng, giảm, kết cấu và biến động kết cấu của nguồn vốn của doanh nghiệp Qua phân tích tình hình nguồn vốn sẽ cho thấy nguồn vốn của doanh nghiệp nói chung, của từng khoản mục nguồn vốn thay đổi như thế nào giữa các năm? Công nợ của doanh nghiệp tăng /giảm thay đổi như thế nào? Cơ cấu vốn chủ sở hữu biến động như thế nào?
- Tỷ trọng nợ
Tỷ trọng nợ=
Tổng nợ phải trả Tổng nguồn vốn
Tỷ suất này cho biết số nợ mà doanh nghiệp phải trả cho các doanh nghiệp khác hoặc cá nhân có liên quan đến hoạt động kinh doanh Tỷ suất này càng nhỏ càng tốt,
nó thể hiện khả năng tự chủ về vốn của doanh nghiệp
- Tỷ trọng vốn chủ sở hữu
(%)
Trang 24Tỷ trọng vốn chủ sở hữu =
Tổng nguồn vốn chủ sở hữu Tổng nguồn vốn
Hệ số này phản ánh vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn Chi tiêu này càng cao càng thể hiện khả năng độc lập cao về mặt tài chính hay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp càng tốt bởi hầu hết tài sản mà doanh nghiệp hiện
có không phải đi vay mƣợn mà đầu tƣ bằng số vốn của mình
1.4.1.3 Chính sách quản lý tài sản – nguồn vốn của doanh nghiệp
Việc đƣa ra các chính sách quản lý tài sản – nguồn vốn cho doanh nghiệp nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến việc tìm nguồn vốn cần thiết cho mua sắm tài sản
và hoạt động của doanh nghiệp, phân bổ có giới hạn các nguồn vốn cho những mục đích sử dụng khác nhau đồng thời đảm bảo cho các nguồn vốn đƣợc sử dụng một cách hữu hiệu và hiệu quả để đạt mục tiêu đề ra
Có 3 chính sách quản lý tài sản – nguồn vốn: thận trọng, mạo hiểm, dung hòa
Sơ đồ 1.1 Các chính sách quản lý Tài sản – Nguồn vốn
Chính sách thận trọng Chính sách mạo hiểm Chính sách dung hòa
nợ ngắn hạn tăng lên
- Chính sách mạo hiểm: duy trì TSNH ở mức thấp và nợ ngắn hạn ở mức cao
(%)
Trang 25Công ty chỉ giữ một mức tối thiểu tiền và chứng khoán khả thị và dựa vào sự quản lý hiệu quả và khả năng vay ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu bất thường Lập luận tương tự như vậy thì khoản hàng lưu kho và phải thu khách hàng của công ty cũng mang giá trị thấp hơn
Thời gian quay vòng tiền ngắn: Do phải thu khách hàng và hàng tồn kho giảm nên vòng quay của chúng tăng và thời gian quay vòng giảm Do đó, chính sách quản lý mạo hiểm rút ngắn chu kỳ kinh doanh và dẫn tới rút ngắn thời gian quay vòng của tiền Chi phí thấp hơn dẫn tới EBIT cao hơn: Do khoản phải thu khách hàng ở mức thấp nên chi phí quản lý dành cho công nợ cũng tổng giá trị của những khoản nợ không thể thu hồi được sẽ giảm đi Thêm vào đó, việc doanh nghiệp dự trữ ít hàng tồn kho hơn cũng giúp tiết kiệm chi phí lưu kho Nhờ tiết kiệm được chi phí nên EBIT của doanh nghiệp sẽ tăng
Vì rủi ro cao hơn nên thu nhập theo yêu cầu cũng cao hơn: Theo đuổi chiến lược quản lý TSNH mạo hiểm, doanh nghiệp có thể gặp phải những rủi ro: Cạn kiệt tiền hay không có đủ tiền có được chính sách quản lý hiệu quả; mất doanh thu khi dự trữ thiếu hụt hàng lưu kho; mất doanh thu khi sử dụng chính sách tín dụng chặt để duy trì khoản phải thu khách hàng thấp Những rủi ro này đánh đổi bởi chi phí thấp hơn nên lợi nhuận kỳ vọng tăng lên
Theo đuổi việc duy trì tỷ trọng nợ ngắn hạn cao có thể khiến các doanh nghiệp gặp rủi ro trong thanh toán do phải đáo hạn khi các khoản nợ ngắn hạn đến hạn mà doanh nghiệp vẫn muốn có vốn Và điều này đòi hỏi phải được đánh đổi bằng thu nhập cao hơn
Chính sách dung hòa: sử dụng nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn và nên sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn Mục đích của chính sách này là cân bằng luồng tiền tạo ra từ tài sản với kỳ hạn của nguồn tài trợ Tăng tạm thời vào tài sản lưu động nên được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn mà có thể được thanh toán khi tài sản lưu động giảm Sở dĩ có điều này là vì tài sản lưu động có khả năng quay vòng nhanh, nên được tài trợ bằng vốn ngắn hạn để tiết kiệm chi phí lãi Tăng tài sản lưu động thường xuyên hay tài sản dài hạn mà cần nhiều thời gian để quy đổi ra thành tiền thì nên được tài trợ bằng vốn dài hạn để đảm bảo khả năng tự chủ tài chính, khả năng thanh toán
Đa số các doanh nghiệp đều sử dụng chiến lược quản lý vốn thận trọng Tuy nhiên còn phải tùy vào giai đoạn phát triển, những thông tin kinh tế trong và ngoài nước doanh nghiệp mới có thể quyết định sử dụng chính sách nào cho hợp lý nhằm tối
đa hóa lợi nhuận
Trang 261.4.2 Phân tích tính hình tạo vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá sự thay đổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên BCĐKT về nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của doanh nghiệp vào công việc cụ thể Sự thay đổi của các tài khoản trên BCĐKT từ kỳ trước tới kỳ này cho ta biết nguồn vốn và sử dụng vốn Để tiến hành phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn,trước tiên người ta trình bày BCĐKT dưới dạng bảng cân đối báo cáo (Trình bày một phía) từ tài sản đến nguồn vốn, sau đó,
so sánh số liệu cuối kỳ với đầu kỳ trong từng chỉ tiêu của bảng cân đối để xác định tình hình tăng giảm vốn trong doanh nghiệp theo nguyên tắc
- Nếu tăng phần tài sản và giảm phần nguồn vốn thì được xếp vào cột sử dụng vốn
- Nếu giảm phần tài sản và tăng phần nguồn vốn thì được xếp vào cột tạo vốn
- Hai phần tạo vốn và sử dụng vốn phải cân đối với nhau
Việc phân tích tình hình tạo vốn và sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp nhìn ra những lĩnh vực đầu tư chưa hiệu quả dẫn đến tình trạng thiếu hụt vốn, gây ứ đọng, mất mát và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, từ đó doanh nghiệp sẽ đưa ra những phương
án giải quyết nhằm đem lại lợi nhuận lớn nhất cho doanh nghiệp
1.4.3 Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Để tiến hành phân tích các khoản mục trong trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, ta phải nghiên cứu từng khoản mục để theo dõi sự biến động của nó Các khoản mục chủ yếu gồm:
1.4.3.1 Phân tích doanh thu:
Đó là thu nhập mà doanh nghiệp nhận được qua hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh thu thuần là doanh thu đã trừ các khoản giảm trừ Đây là một trong những chỉ tiêu có ý nghĩa nhất đối với tình trạng của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là doanh thu về bán sản phẩm, hàng hóa thuộc những hoạt động sản xuất kinh doanh chính và doanh thu về cung cấp dịch
vụ cho khách hàng theo chức năng hoạt động và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ doanh thu của doanh nghiệp Nó phản ánh quy mô của quá trình tái sản xuất, phản ánh trình độ tổ chức chỉ đạo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh thu bán hàng còn là nguồn vốn quan trọng để doanh nghiệp trang trải các khoản chi phí về tư liệu lao động, đối tượng lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất kinh doanh, để trả lương, thưởng cho người lao động, trích Bảo hiểm xã hội, nộp thuế theo luật định…
Trang 27Doanh thu phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau, do đó để có thể khai thác tiềm năng nhằm tăng doanh thu, cần tiến hành phân tích thường xuyên đều đặn Phân tích tình hình doanh thu giúp cho nhà quản lý thấy được ưu, khuyết điểm trong quá trình thực hiện doanh thu để có thể thấy được nhân tố làm tăng và những nhân tố làm giảm doanh thu Từ đó, hạn chế, loại bỏ những nhân tố tiêu cực, đẩy nhanh hơn những nhân
tố tích cực, phát huy thế mạnh của doanh nghiệp nhằm tăng doanh thu, nâng cao lợi nhuận
1.4.3.2 Phân tích chi phí:
Chi phí là dòng tiền ra, dòng tiền ra trong tương lai hoặc phân bổ dòng tiền ra trong quá khứ xuất phát từ các hoạt động kinh doanh đang diễn ra trong doanh nghiệp Giá vốn hàng bán: là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị mua hàng hóa, giá thành sản xuất sản phẩm, dịch vụ đã bán Giá vốn hàng bán là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Trong trường hợp doanh nghiệp có vấn đề với giá vốn hàng bán thì phải theo dõi và phân tích từng
bộ phận cấu phần của nó: nhân công trực tiếp, nguyên vật liệu trực tiếp, …
Doanh nghiệp muốn tăng lợi nhuận thì vấn đề trước tiên cần phải quan tâm đến là doanh thu Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp chỉ quan tâm đến doanh thu mà bỏ qua chi phí thì sẽ là một thiếu sót lớn Yếu tố chi phí thể hiện sự hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Nếu chi phí bỏ ra quá lớn hoặc tốc độ chi phí lớn hơn tốc độ doanh thu, chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng nguồn lực không hiệu quả
1.4.3.3 Phân tích lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh Nó phản ánh đầy đủ các mặt số lượng, chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản sản xuất như lao động, vật tư, …
Để thấy được thực chất của kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là cao hay thấp, đòi hỏi sau một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích mối quan hệ giữa tổng doanh thu và tổng chi phí và mức lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp
Lợi nhuận là cơ sở để tính ra các chỉ tiêu chất lượng khác, nhằm đánh giá hiệu quả của các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Mục đích cuối cùng của tất cả các doanh nghiệp là tạo ra sản phẩm với giá thành thấp nhất và mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp, tăng tích lũy mở rộng sản xuất, nâng cao đơì sống cho người lao động Ngược lại, doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ sẽ dẫn đến tình
Trang 28hình tài chính của doanh nghiệp khó khăn, thiếu khả năng thanh toán, tình hình này kéo dài doanh nghiệp sẽ bị phá sản
1.4.4 Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
Việc đánh giá rủi ro ở đây là về mặt tài chính và chủ yếu đánh giá khả năng thanh khoản của doanh nghiệp vì lí do người cho vay vốn và các nhà đầu tư đều có thể
bị mất vốn nếu doanh nghiệp bị vỡ nợ do đó các nhà đầu tư chủ yếu đánh giá xem các doanh nghiệp có khả năng vỡ nợ không
1.4.4.1 Khả năng thanh toán ngắn hạn
Chỉ tiêu này là thước đo khả năng có thể trả nợ của doanh nghiệp khi các khoản
nợ đến hạn
Hệ số này có giá trị càng cao chứng tỏ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn Tuy nhiên, nếu giá trị của hệ số này quá cao thì điều này lại không tốt vì nó phản ánh doanh nghiệp đã đầu tư quá mức vào tài sản lưu động so với nhu cầu của doanh nghiệp Tài sản lưu động dư thừa thường không tạo thêm doanh thu
1.4.4.2 Khả năng thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh thể hiện quan hệ giữa các loại tài sản lưu động có khả năng chuyển nhanh thành tiền để thanh toán các khoản nợ cần chi trả nhanh trong cùng thời điểm Hàng tồn kho là tài sản khó hoán chuyển thành tiền nên hàng tồn kho không được xếp vào loại tài sản lưu động có khả năng chuyển nhanh thành tiền
Tỉ lệ này thông thường nếu lớn hơn 1 thì tình hình thanh toán của doanh nghiệp tương đối khả quan, doanh nghiệp có thể đáp ứng được yêu cầu thanh toán nhanh Tuy nhiên, hệ số này quá lớn lại gây tình trạng mất cân đối của vốn lưu động
1.4.4.3 Khả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán ngắn hạn =
Hệ số khả năng thanh toán tức thời =
Tiền và các khoản tương đương tiền
(lần)
Nợ ngắn hạn
Trang 29Tỉ số này phản ánh 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu tiền
Tỉ số này thường biến động từ 0,5 đến 1 Tuy nhiên, cũng giống như trương hợp của hệ số thanh toán ngắn hạn để kết luận giá trị của hệ số thanh toán tức thời là tốt hay xấu cần xét đến đặc điểm và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp Nếu hệ số này nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ
1.4.5 Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản
Các chỉ số này đo lường khả năng tổ chức và điều hành Công ty đồng thời cho thấy tình hình sử dụng tài sản của Công ty tốt hay xấu
1.4.5.1 Vòng quay các khoản phải thu
Số vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu thuần Phải thu khách hàng bình quân
Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lí của số dư các khoản phải thu và hiệu quả của việc đi thu hồi nợ Nếu các khoản phải thu được phục hồi nhanh thì số vòng luân chuyển các khoản phải thu sẽ cao và doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên, số vòng luân chuyển các khoản phải thu quá cao sẽ không tốt vì có thể ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu dùng do phương thức thanh toàn quá chặt chẽ
1.4.5.2 Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình quân là chỉ tiêu ngược của vòng quay các khoản phải thu, phản ánh số ngày của một vòng quay Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá việc quản lý các khoản phải thu của doanh nghiệp, số ngày của kỳ thu tiền càng ngắn thì doanh nghiệp càng không bị chiếm dụng vốn lâu và sử dụng khoản phải thu của doanh nghiệp là có hiệu quả
Kỳ thu tiền bình quân = 360 (ngày)
Số vòng quay các khoản phải thu bình quân
Trong phân tích tài chính, chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng thu hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp Các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào nhiều yếu tố :
Tính chất của việc doanh nghiệp chấp nhận bán hàng chịu: Một số doanh nghiệp
có chính sách mở rộng bán chịu và chấp nhận kéo dài thời hạn thanh toán hơn các đối thủ cạnh tranh để phát triển thị trường
Tình trạng của nền kinh tế: Khi tình hình thuận lợi các doanh nghiệp có khuynh hướng dễ dàng chấp nhận bán chịu và ngược lại Nếu chấp nhận tăng thời gian bán chịu cho khách hàng mà không tăng được mức tiêu thụ thì đó là dấu hiệu xấu về tình
(vòng)
Trang 30hình kinh doanh Doanh nghiệp cần phải thay đổi chính sách tiêu thụ để giữ khách hàng hoặc nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm Nhưng tình trạng đó cũng có thể là do khách hàng gặp khó khăn trong chi trả nhất là ở vào thời kỳ kinh tế suy thoái Tình huống đó gây khó khăn dây chuyền cho các doanh nghiệp bán chịu
Chính sách tín dụng và chi phí bán hàng chịu: khi lãi suất tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để tài trợ cho kinh doanh tăng, các doanh nghiệp có xu hướng giảm thời gian bán chịu vì nếu tiếp tục kéo dài thời hạn sẽ rất tốn kém về chi phí tài chính
Ngoài ra độ lớn của các khoản phải thu còn phụ thuộc vào các khoản trả trước của doanh nghiệp
1.4.5.3 Vòng quay hàng tồn kho
Dự trữ và tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản lưu động của doanh nghiệp Vì vậy, một mặt ta phải giới hạn mức dự trữ này ở mức tối ưu, mặt khác tăng vòng quay của chúng Dự trữ là một khoản đầu tư cần thiết để đảm bảo tính liên tục của sản xuất và không bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh Khoản đầu tư này được giải phóng sau khi sản phẩm được tiêu thụ
Vòng quay hàng tồn kho là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó được xác định bằng công thức dưới đây
Vòng quay hàng tồn kho = = Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
Hệ số này thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại Cần lưu ý, hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu
Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều, có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng DN bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng nhu cầu của khách hàng
(Vòng)
Trang 31Để có thể đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, việc xem xét chỉ tiêu hàng tồn kho cần được đánh giá bên cạnh các chỉ tiêu khác như lợi nhuận, doanh thu, thời gian quay vòng vốn bằng tiền trung bình…, cũng như nên được đặt trong điều kiện kinh tế vĩ mô và điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp
1.4.5.4 Thời gian quay vòng hàng tồn kho
Thời gian quay vòng hàng tồn kho =
360 Vòng quay hàng tồn kho
Chi tiêu này cho ta biết trung bình kể từ khi doanh nghiệp mua hàng đến khi bán được hàng mất bao nhiêu ngày Thời gian luân chuyển hàng tồn kho càng ngắn càng tốt, điều này chứng tỏ doanh nghiệp không bị tồn đọng hàng dẫn đến thu hồi vốn nhanh và không mất nhiều chi phí
1.4.5.5 Thời gian quay vòng vốn bằng tiền trung bình
Thời gian quay vòng
vốn bằng tiền trung bình =
= Thời gian quay vòng các khoản phải thu + Thời gian quay vòng hàng tồn kho – Thời gian quay vòng các khoản phải trả
Thời gian quay vòng vốn bằng tiền trung bình là một thước đo được sử dụng trong phân tích tài chính của doanh nghiệp, để đánh giá khả năng quản lý dòng tiền của doanh nghiệp
1.4.6 Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý nợ
Hầu hết các tỉ số tài chính đều có những cái tên mô tả cho người sử dụng biết được làm thế nào để tính toán các tỉ số ấy hoặc làm thế nào để có thể hiểu được lượng giá trị của nó Dưới đây sẽ giới thiệu các tỉ số tài chính quan trọng nhất trong việc thể hiện và đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trong thời điểm hiện tại
(ngày)
Trang 321.4.6.1 Tỉ số nợ
Tỉ số nợ dung để đo lường sự góp vốn của chủ doanh nghiệp so với số nợ vay Các chủ nợ rất ưa thích hệ số nợ vừa phải, hệ số nợ càng thấp món nợ của họ càng được đảm bảo thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản Khi hệ số nợ cao
có nghĩa là chủ doanh nghiệp chỉ góp một phần vốn nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong kinh doanh chủ yếu do chủ nợgánh chịu
Tỉ số nợ =
Tổng nợ Tổng Tài sản 1.4.6.2 Tỉ số đảm bảo nợ
Tỉ số đảm bảo nợ là tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu là chỉ số phản ánh quy mô tài chính của công ty Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu được tính bằng cách chia tổng
nợ cho vốn chủ sở hữu:
Tỉ số đảm bảo nợ =Tổng nợ (%)
VCSH
Trong đó nợ của doanh nghiệp bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Vốn chủ
sở hữu hay vốn cổ phần của cổ đông gồm cổ phần thông thường, cổ phần ưu đãi, các khoản lãi phải trả và nợ ròng
1.4.6.3 Khả năng thanh toán lãi vay
Chỉ số này cho thấy khả năng thanh toán lãi vay từ thu nhập, nó còn đo lường rủi
ro mất khả năng thanh toán nợ dài hạn
Khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)
Lãi vay
Chỉ số này đo lường khả năng trả lãi của Công ty Khả năng trả lãi của Công ty cao hay thấp phụ thuộc vào khả năng sinh lợi và mức độ sử dụng nợ của Công ty Nếu khả năng sinh lợi của Công ty chỉ có giới hạn trong khi Công ty sử dụng quá nhiều nợ thì chỉ số khả năng trả lãi giảm
1.4.7 Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời
Chỉ tiêu về khả năng sinh lời là chỉ tiêu về tỉ suất lợi nhuận phản ánh kết quả của hàng loạt chính sách và quyết định của Công ty
1.4.7.1 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu phản ánh số lợi nhuận sau thuế có trong một trăm đồng doanh thu
Trang 33ROS = Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh thu tăng, chi phí giảm làm cho hiệu quả sử dụng chi phí càng tốt Đó là nguyên nhân giúp nhà quản trị mở rộng thị trường, tăng doanh thu Nếu doanh thu thuần giảm hoặc tăng không đáng kể trong khi đó chi phí tăng lên với tốc độ lớn hơn sẽ dẫn đến lợi nhuận sau thuế giảm và kết quả là doanh thu
từ tiêu thụ sản phẩm thấp Khi đó, doanh nghiệp vẫn cần xác định rõ nguyên nhân của tình hình để có giải pháp khắc phục
1.4.7.2 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ( ROA)
Chi tiêu này cho biết trong 1 kỳ phân tích doanh nghiệp bỏ ra 100 đồng tài sản thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Theo mô hình Dupont:
là nhân tố giúp nhà quản trị đầu tư theo chiều rộng như xây nhà xưởng, mua thêm máy móc thiết bị, mở rộng thị trường…
1.4.7.3 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ( ROE)
Chỉ tiêu này cho ta biết 100 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng, được xác định bằng cách chia lợi nhuận sau thuế cho vốn chủ sở hữu
Theo mô hình Dupont:
ROE = Lợi nhuận sau thuế x Doanh thu thuần x Tổng tài sản
Doanh thu thuần Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu bình quân
ROE phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu cũng là mục tiêu của hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp Chi tiêu này càng cao càng biểu hiện xu hướng tích cực Chỉ tiêu này cao thường giúp cho các nhà quản trị có thể đi huy động VCSH trên thị trường tài chính để tài trợ cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp Ngược lại, nếu chỉ tiêu này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc huy động VCSH Tuy nhiên sức sinh lời của vốn chủ sở hữu cao không phải lúc nào cũng là tốt vì có thể là do ảnh hưởng của đòn bấy tài chính
Trang 34khi đó mức độ mạo hiểm càng lớn Do vậy khi phân tích chỉ tiêu này cần kết hợp với
cơ cấu vốn chủ sở hữu trong từng doanh nghiệp cụ thể
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Việc hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều nhân tố, có thể khái quát lại qua các nhân tố chủ quan và khách quan sau:
có sự đầu tư thỏa đáng cũng như sự vận dụng triệt để kết quả của phân tích tài chính,
từ đó mới có quá trình điều hành doanh nghiệp Việc hoàn thiện công tác tài chính cũng chịu ảnh hưởng bởi tâm lý người sử dụng thông tin Đó không chỉ là đội ngũ lãnh đạo mà còn có các nhà đầu tư, các nhà cho vay Khi các đối tượng này đặc biệt quan tâm tới công tác phân tích tài chính cũng kích thích sự phát triển hiện thiện của công tác này
Nhân tố thứ hai là công tác kế toán, kiểm toán, thống kê Công tác kế toán, thống
kê mang lại những số liệu, thông tinh thiết yếu nhất phục vụ cho quá trình phân tích tài chính ( các báo cáo tài chính, chính sách kế toán, các số liệu liên quan về kế hoạch sản xuất kinh doanh ) Bên cạnh đó, công tác kiểm toán sẽ đảm bảo tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên để việc phân tích tài chính trở nên chính xác, khách quan, tránh định hướng sai lệch cho công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Vì vậy, sự hoàn thiện của công tác kế toán, kiểm toán thống kê cũng là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới công tác phân tích tài chính
1.5.2 Các nhân tố khách quan
- Nhân tố thứ nhất trong các nhân tố khách quan chính là hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan tới tài chính doanh nghiệp Đó là các chính sách về thuế, về kế toán, thống kê ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động tài chính doanh nghiệp Với tư cách là đối tượng chịu sự quản lý của nhà nước, trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động tài chính nói riêng, các doanh nghiệp đều phải có nghĩa vụ tuân thủ chính sách, pháp luật Các chính sách này được
Trang 35các nhà phân tích tài chính vận dụng trong quá trình phân tích để đảm bảo tính phù hợp, tính sát thực của công tác phân tích đối với pháp luật của nhà nước
- Nhân tố khách quan thứ hai là hệ thống thông tin của nền kinh tế và của ngành Công tác phân tích tài chính chỉ thực sự có hiệu quả khi có hệ thống chỉ tiêu trung bình chuẩn của toàn ngành, trên cơ sở đó các doanh nghiệp có thể đánh giá, xem xét tình trạng chính để nhận thức vị trí của mình nhằm đưa ra những chính sách đúng đắn, phù hợp, cũng như có hướng phấn đấu, khắc phục Hay nói cách khác, đây có thể được xem như số liệu tham chiếu của doanh nghiệp Tuy nhiên, điều này cũng phụ thuộc vào tính trung thực của các thông tin Nếu thông tin do các doanh nghiệp trong ngành mang lại không chính xác có thể còn có tác dụng ngược lại Vì vậy, trách nhiệm của cơ quan thống kê cũng như các doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin cũng ảnh hưởng không nhỏ
Nhân tố ảnh hưởng thứ ba chính là kỹ thuật, công nghệ Nếu ứng dụng tốt kỹ thuật, công nghệ vào quá trình phân tích tài chính sẽ đem lại kết quả chính xác, khoa học, tiết kiệm được thời gian, công sức ( ví dụ ứng dụng các phần mềm phân tích tài chính, tra cứu thông tin qua internet, liên kết thông tin giữa các phòng ban thông qua
hệ thống mạng ) Việc ứng dụng này không những đảm bảo tính chính xác, khoa học, tiết kiệm mà còn đảm bảo tính toàn diện, phong phú, phù hợp với xu hướng phát triển của công tác phân tích tài chính
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
TNHH THƯƠNG MẠI VÀ VẬN TẢI THẮNG HOA 2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa
2.1.1 Giới thiệu chung về công ty
- Tên giao dịch: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ VẬN TẢI THẮNG HOA
- Địa chỉ : Số 06 – A1 Tập thể Z117 Xã Đông Xuân – Huyện Sóc Sơn – Hà Nội
- Điện thoại: 0904510959
- Mã số thuế : 0104968236
Nền kinh tế Việt Nam sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, đối ngoại, an ninh quốc phòng đặc biệt là đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Từ chỗ các doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí độc tôn trong sản xuất kinh doanh, theo mệnh lệnh hành chính, không có cạnh tranh và hạch toán kinh tế chỉ là hình thức, sang phát triển mọi loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường các doanh nghiệp phải tự hạch toán, phải tự lo mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường
Nhưng nhắc đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa chúng ta không thể không nói đến dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa vì đây là hai hoạt động không thể tách rời nhau, chúng có tác động qua lại thống nhất với nhau Qui mô của hoạt động xuất nhập khẩu tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây là nguyên nhân trực tiếp khiến cho giao nhận vận tải phát triển mạnh mẽ về cả chiều rộng lẫn chiều sâu Điều này co
ý nghĩa rất lớn, nó nối liền sản xuất với tiêu thụ, giúp đưa hàng hóa được luân chuyển
dễ dàng trên thị trường
Trước xu thế phát triển chung của đất nước và nhu cầu về vận tải hàng hoá thì Công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa đã được thành lập
2.1.2 Đặc điểm của công ty TNHH thương mại và vận tải Thắng Hoa
Chức năng của công ty
- Nhận ủy thác dịch vụ về giao nhận, kho vận, các phương tiện vận tải ( ô tô, container ) bằng các hợp đồng trọn gói và thực hiện các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa nói trên như việc thu gom, chia lẻ hàng hóa và giao hàng đó cho người chuyên chở để chuyển tiếp tới nơi quy định
Trang 37- Dịch vụ bốc xếp hàng hoá (Chuyên làm các hàng: Hàng bao, hàng rời, hàng thiết bị và một số loại hàng khác…)
- Kinh doanh kho bến bãi
- Dịch vụ đại lý vận tải và giao nhận hàng hoá
- Vận tải đa phương thức
- Vận tải hàng hoá đường bộ bằng ô tô
- Cho thuê xe ôtô ngắn hạn
-
Nhiệm vụ của công ty :
- Thực hiện các thủ tục cần thiết nhằm giải phóng hàng hóa một cách nhanh nhất
- Đảm bảo phương tiện vận chuyển hàng hóa an toàn đến nơi sản xuất hoặc theo yêu cầu của khách hàng
- Dịch vụ giao nhận hàng hóa bao gồm hàng container, hàng rời
- Xây dựng kế hoạch và thực hiện các dịch vụ kinh doanh của công ty theo quy chế hiện hành nhằm thực hiện mục đích và chức năng đã nêu
- Đảm bảo việc bảo toàn và bổ sung vốn trên cơ sở tự tạo nguồn vốn, đảm bảo trang trải về tài chính, sử dụng hợp lý, theo đúng chế độ, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước
- Mua sắm, xây dựng, bổ sung và thường xuyên cải tiến, hoàn thiện, nâng cấp các phương tiện vật chất kỹ thuật của công ty
- Thông qua các liên doanh, liên kết trong và ngoài nước để thực hiện việc giao nhận, chuyên chở hàng hóa bằng các phương thức tiên tiến, hợp lý an toàn trên các tuyến vận tải, cải tiến việc chuyên trở, chuyển tải, lưu kho, lưu bãi , giao nhận hàng hóa và đảm bảo bảo quản hàng hóa an toàn trong phạm vi trách nhiệm của công ty
- Nghiên cứu tình hình thị trường dịch vụ giao nhận, kho vận , kiến nghị cải tiến biểu cước, giá cước của các tổ chức vận tải có liên quan theo quy chế hiện hành đề ra các biện pháp thích hợp để bảo đảm quyền lợi giữa các bên khi ký kết hợp đồng nhằm thu hút khách hàng để củng cố và nâng cao uy tín của công ty trên thị trường trong nước và quốc tế
2.1.3 Cơ cấu tổ chức
Công ty áp dụng cơ cấu tổ chức trực tuyến chức năng, và chế độ một thủ trưởng: