Vấn đề quản lý tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng chỉ thực sự khiến các ngân hàng quan tâm khi tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tăng cao tới mức báo động, hàng chục ngàn doanh ngh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
SINH VIÊN THỰC HIỆN : TĂNG VĂN MẠNH
MÃ SINH VIÊN : A15363
HÀ NỘI – 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Thăng Long là những người truyền đạt cho em những kiến thức, phương pháp luận cơ bản và chuyên sâu trong quá trình em học tập tại trường Đặc biệt em xin cảm ơn cô giáo TS Nguyễn Thị Thúy, người đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này Mặc dù bận rộn với rất nhiều công việc, nhưng cô vẫn dành thời gian, nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận Nhờ đó em đã có được những kiến thức quý báu về cách thức nghiên cứu vấn đề cũng như nội dung của đề tài, để em có thể hoàn thành tốt khóa luận của mình Một lần nữa em xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất tới cô
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám đốc cùng các cùng cán bộ ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam – Phòng giao dịch Thụy Khuê đã tạo điều kiện tốt cho em trong quá trình thực tập
Khi thực hiện khóa luận, em đã cố gắng vận dụng những kiến thức đã học được tại trường, kết hợp với những kiến thức tìm hiểu được trong quá trình thực tập và ngoài thực tế
Do giới hạn về mặt thời gian cũng như trình độ nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý của Quí thầy cô cùng các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên
Tăng Văn Mạnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự
hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Tăng Văn Mạnh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1 Khái quát về rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại 1
1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng 1
1.1.2.Phân loại rủi ro tín dụng 2
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 3
1.1.3.1 Nguyên nhân từ phía ngân hàng 3
1.1.3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng 6
1.1.3.3 Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài 7
1.1.3.4 Nguyên nhân từ phía tài sản đảm bảo 8
1.1.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng 9
1.1.4.1 Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận ngân hàng 9
1.1.4.2 Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng 10
1.1.4.3 Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của Ngân hàng 10
1.1.4.4 Rủi ro tín dụng là nguy cơ dẫn đến phá sản ngân hàng 11
1.1.4.5 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với khách hàng 11
1.1.4.6 Trong quan hệ kinh tế đối ngoại 12
1.1.5 Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng 12
1.1.5.1 Dấu hiệu tài chính 12
1.1.5.2 Dấu hiệu phi tài chính 14
1.1.6 Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng 15
1.1.6.1 Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu 15
1.1.6.2 Vấn đề trích lập và sử dụng dự phòng 17
1.1.6.3 Mức độ tập trung tín dụng 18
1.2 Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 18
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết của công tác quản trị rủi ro tín dụng 18
1.2.2 Nội dung quản công tác trị rủi ro tín dụng 20
1.2.2.1 Xây dựng chính sách quản trị rủi ro tín dụng 20
1.2.2.2 Các mô hình quản trị rủi ro tín dụng 21
1.2.2.3 Tổ chức thực hiện quản trị rủi ro tín dụng 22
1.2.2.4 Kiểm soát rủi ro tín dụng 26
Trang 61.2.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng
thương mại 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ 30
2.1 Tổng quan về ngân hàng thương tại cổ phần Quốc tế 30
2.1.1 Giới thiệu về ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế 30
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động 31
2.2 Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế 33
2.2.1 Thực trạng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế 33
2.2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế 37
2.2.2.1 Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu 37
2.2.2.2 Tình hình trích lập và dự phòng rủi ro 40
2.2.2.3 Mức độ tập trung tín dụng 41
2.3.3 Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế 47
2.2.3.1 Xây dựng chính sách quản trị rủi ro tín dụng 47
2.2.3.2 Tổ chức thực hiện quản trị rủi ro tín dụng 49
2.2.3.3 Kiểm soát rủi ro tín dụng 52
2.2.3.4 Quy định về những đảm bảo an toàn trong cho vay 53
2.2.3.5 Xử lý và thu hồi nợ 54
2.3 Đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế 55
2.3.1 Kết quả đạt được 55
2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại 56
2.3.3 Nguyên nhân 57
2.3.3.1 Nguyên nhân từ phía ngân hàng 57
2.3.3.2 Nguyên nhân khách quan 60
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ 62
3.1 Định hướng phát triển chung của ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế 62
3.1.1 Định hướng phát triển chung của ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế 62
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế 62
Trang 73.1.3 Định hướng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ
phần Quốc tế 63
3.2 Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế 64
3.2.1 Nâng cao hiệu quả mô hình tổ chức quản trị rủi ro tín dụng 64
3.2.2 Hoàn thiện hệ thống đo lường rủi ro tín dụng 64
3.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị danh mục cho vay 66
3.2.4 Hoàn thiện quy trình cho vay của ngân hàng 68
3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ 69
3.2.6 Nâng cao trình độ cán bộ và hạn chế rủi ro đạo đức cán bộ 70
3.3 Kiến nghị 71
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các bộ ngành liên quan 71
3.2.2 Kiến nghị đối với ngân hàng Nhà nước 73
3.3.2 Kiến nghị với ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế 74
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
ALCO Ủy ban quản lý tài sản nợ có CIC Trung tâm thông tin tín dụng
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng 1.1 : Phân biệt các mô hình quản lý rủi ro tín dụng 22
Bảng 1.2 Ma trận chuyển hạng khoản vay 27
Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh năm 2011, 2012, 2013 34
Bảng 2.2 Bảng dư nợ cho vay theo thời gian đáo hạn của VIB 35
Bảng 2.3 Cơ cấu nhóm nợ của ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế 37
Bảng 2.4 Trích lập dự phòng rủi ro các khoản cho vay khách hàng 40
Bảng 2.5 Tỷ lệ khả năng bù đắp rủi ro 40
Bảng 2.6 Bảng dư nợ theo kỳ hạn 42
Bảng 2.7 Bảng dư nợ theo ngành nghề kinh doanh 43
Bảng 2.8 Dư nợ cho vay theo đối tượng khách hàng và loai hình doanh nghiệp 45
Bảng 2.9 Hạng mức hệ số tín nhiệm và nguy cơ doanh nghiệp 48
Bảng 2.10 tổng hợp điểm cho khách hàng 51
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn 38
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn 42
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu dư nợ theo ngành nghề kinh doanh 44
Biểu đồ 2.4 Dư nợ cho vay theo đối tượng khách hàng và theo loại hình doanh nghiệp 46
Sơ đồ 1.1: Các loại rủi ro tín dụng 2
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức của ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế 32
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hiện đại, ngành ngân hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế mỗi quốc gia, đó là chiếc cầu nối điều hòa lưu chuyển những nguồn vốn trong nước và cả quốc tế Do vậy, có thể đánh giá sự phát triển của một quốc gia thông qua việc xem xét hiệu quả của hoạt động ngân hàng ở nước đó Một khi ngân hàng gặp phải khủng hoảng, nó sẽ để lại những hậu quả hết sức nặng nề đối với hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung Thực tế các cuộc khủng hoảng ở những quốc gia trong khu vực và trên thế giới đã chứng minh điều đó
Có thể thấy, khủng hoảng hệ thống ngân hàng bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong
đó có nguyên nhân phát sinh từ rủi ro gặp phải trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đặc biệt là RRTD Vì vậy, việc tăng cường QLRRTD tại các NHTM thực sự cần thiết đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của các ngân hàng
Hiện nay, ngành ngân hàng Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực mang tính hội nhập, tuy nhiên chưa ổn định và còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất ổn Đặc biệt bộc lộ rõ sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 là ngòi nổ thổi bùng lên ngọn lửa đã cháy âm ỉ từ lâu Tăng trưởng tín dụng nóng trong một thời gian khá dài cùng với chất lượng quản lý tín dụng không tốt tại các NHTM Việt Nam là nguyên nhân chính dẫn tới tỷ lệ nợ xấu tăng cao trong hệ thống ngân hàng Vấn đề quản lý tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng chỉ thực sự khiến các ngân hàng quan tâm khi tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tăng cao tới mức báo động, hàng chục ngàn doanh nghiệp phá sản, giải thể hoặc tàm ngừng sản xuất kinh doanh dẫn đến không thể thanh toán tín dụng đối với ngân hàng Hệ quả của vấn đề này trong thời gian dài sẽ gây ra nguy cơ mất khả năng thanh khoản trong ngân hàng, ảnh hưởng đến sự tồn tại của toàn
bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam Vì vậy, việc thực hiện công tác quản lý tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng như thế nào để phù hợp với tình hình thực tế, phát huy tác dụng
và từng bước tiếp cận với quốc tế đang là vấn đề cấp thiết của bất kỳ ngân hàng nào Xuất phát từ thực tiễn đó cũng như nhận biết được tầm quan trọng của vấn đề nên qua quá trình học tập nghiên cứu và thực tập tại ngân hàng cơ sở, em xin chọn đề tài nghiên cứu: “ Nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Thương mại
cổ phần Quốc tế ” để làm đề tài khóa luận của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là đưa ra nghiên cứu và giải quyết các vấn đề sau:
Đề tài đưa ra những vấn đề lý thuyết cơ bản về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng và định hướng áp dụng mô hình quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 11Giới thiệu, đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng đang áp dụng tại ngân hàng thương mại cổ phẩn Quốc tế Việt Nam VIB) Từ kết quả hoạt động của VIB
từ năm 2011 đến năm 2013, sau đó đưa ra những đánh giá mô hình quản trị và công tác quản trị rủi ro tín dụng đang áp dụng
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB) và góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh và hạn chế rủi ro tín dụng
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nghiên cứu về công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt nam (VIB)
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào công tác quản trị rủi ro tín dụng và hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt nam trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích… đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tiễn nhằm giải quyết vấn đề và làm sáng tỏ mục đích nghiên cứu đặt ra
5 Nội dung nghiên cứu
Bài viết gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ
Trang 121
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI
RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Thuật ngữ tín dụng trong tiếng Anh gọi là “Credit”, xuất phát từ chữ Latin là
“Credo”, có nghĩa là “tin tưởng và tín nhiệm” Tùy theo góc độ nghiên cứu mà chúng
ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này Còn rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực
tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành một nghiệp vụ tài chính nhất định
Trong nền kinh tế thị trường, cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản và mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng thương mại Rủi ro trong ngân hàng thường có xu hướng tập trung vào danh mục tín dụng Đây là rủi ro lớn nhất và xảy ra thường xuyên nhất Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm xuống và dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm từ 1/2 tới 2/3 thu nhập của ngân hàng1
Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất của ngân hàng Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng Một số định nghĩa về rủi ro tín dụng được đưa ra:
Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A modern Perpective”, A Saunder và H Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là “khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn”
Theo Thomas P.Fitch: “RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ Cùng với rủi ro lãi suất, RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng” (Dictionary of banking terms, Barron’s Educational Series Ine, 1997)
Còn theo Henie Van Greuing và Sonja Brajovic Bratanovic2: “Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả chậm hoặc tồi tệ hơn là
Trang 13Tuy nhiên, các định nghĩa đều có một số điểm chung cơ bản như sau: RRTD là rủi ro xảy ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, là khả năng xảy ra tổn thất, thiệt hại của ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ (Vốn gốc và/hoặc lãi) theo thỏa thuẩn trong hợp đồng tín dụng đưa ra Vì vậy, cần chú ý RRTD là khả năng xảy
ra tổn thất, tức là có hoặc không xảy ra tổn thất Điều này có nghĩa là một khoản vay
dù chưa quá hạn, vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất; một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ RRTD vẫn cao nếu tập trung đầu tư cho một nhóm khách hàng hay một ngành nghề Cách hiểu này sẽ giúp các ngân hàng chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo bù đắp tổn thất khi xảy ra rủi ro
1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau đây:
Sơ đồ 1.1: Các loại rủi ro tín dụng
Rủi ro nội tại
Rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro đảm bảo Rủi ro lựa
chọn
Trang 143
Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro hệ thống, trong đó:
Rủi ro giao dịch xảy ra ở mức độ riêng lẻ, cá thể thường là ở một chi nhánh,
một phòng giao dịch, một bộ phận mà nguyên nhân do những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt khoản vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo, rủi ro nghiệp vụ
+ Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro xảy ra trong quá trình tìm kiếm khách hàng, thu thập hồ sơ, rủi ro trong công tác thẩm định khách hàng, kết quả thẩm định không đúng năng lực dẫn đến lựa chọn sai khách hàng, bỏ mất cơ hội cho vay với những khách hàng tốt hơn;
+ Rủi ro đảm bảo: Liên quan trực tiếp đến tài sản đảm bảo do sơ suất trong quá trình thẩm định tài sản đảm bảo, tài sản đảm bảo bị hư hỏng, hoặc tranh chấp kiện tụng gây tổn thất chi phí thiệt hại cho ngân hàng trong quá trình thanh lý
+ Rủi ro nghiệp vụ: Liên quan đến sau khi cho vay giám sát và thu nợ, không giám sát việc sử dụng vốn của khách hàng, đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn
Rủi ro hệ thống xảy ra ở tất cả các chi nhánh, phòng giao dịch,…do việc xây
dựng, đưa ra chiến lược của hệ thống quản trị cấp cao chưa phù hợp gây ra những tổn thất lớn cho ngân hàng Rủi ro hệ thống bao gồm hai rủi ro: Rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
+ Rủi ro nội tại: Do chiến lược kinh doanh của ngân hàng chưa phù hợp, ví dụ: Việc xác định khẩu vị rủi ro dựa trên cảm tính dẫn đến phát triển tín dụng theo hướng sai lệch
+ Rủi ro tập trung: Do việc tập trung cho vay vào một số ngành nghề lĩnh vực, nếu thị trường biến động bất lợi thì tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng tăng cao
Như vậy, các loại rủi ro này sẽ gây ảnh hưởng tới kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, tăng chi phí cho ngân hàng do vốn bị ứ đọng trong khi ngân hàng vẫn phải trả chi phí huy động số vốn đó, nếu sự khan hiếm của ngân hàng kéo dài sẽ làm cho ngân hàng mất thanh khoản có thể dẫn đến rủi ro phá sản
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
1.1.3.1 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Có rất nhiều yếu tố gây ra rủi ro tín dụng mà nguyên nhân thuộc về ngân hàng,
có thể liệt kê ở đây một số nguyên nhân chính như sau:
Chưa có định hướng phát triển tín dụng đúng đắn
Ngân hàng dù lớn hay nhỏ đều là những cỗ máy được vận hành bởi bàn tay con người do đó con người là nhân tố quyết định đến sự thành bại của một ngân hàng Giống như một con thuyền vươn mình ra biển, muốn đi dúng hướng phải có một thuyền trưởng giỏi và một đội ngũ thuyền viên tốt Một ngân hàng muốn phát triển bền
Trang 154
vững người lãnh đạo phải có định hướng phát triển đúng đắn, mà ở đây là định hướng phát triển tín dụng đúng đắn Nếu phát triển tín dụng lệch, tập trung vào những lĩnh vực đang nóng trên thị trường, lợi nhuận cao nhưng dễ tổn thương sẽ gây ra cho ngân hàng những rủi ro lớn mang tính hệ thống khôn lường Luôn có sự đánh đổi ở đây, rủi
ro càng lớn lợi nhuận càng cao và ngược lại, quyết định là ở nhà quản trị, đó cũng là nguyên nhân từ các nhà quản trị cấp cao
Quy trình tín dụng chưa thực hiện nghiêm túc
Để đảm bảo tính an toàn và hiệu quả của một khoản tín dụng ngân hàng còn cần thực hiện đầy đủ nghiêm túc một quy trình tín dụng gồm 6 bước quan trọng, đó là:
Bước 1: Lập hồ sơ tín dụng Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau
khi tiếp xúc khách hàng Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như: năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng, khả năng sử dụng vốn vay, khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)
Bước 2: Phân tích tín dụng Xác định khả năng hiện tại và tương lai của khách
hàng trong việc sử dụng vốn vay và hoàn trả nợ vạy Mục tiêu, tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự đoán khả năng phục hồi những rủi ro đó, dưn kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng; Phân tích tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ sở cho việc
ra quyết định cho vay
Bước 3: Ra quyết định tín dụng Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định
đồng ý hoặc từ chối cho vay đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng
Bước 4: Giải ngân Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành giải ngân tiền cho
khách hàng theo hạn mức tín dụng đã ký kết trong hợp đồng tín dụng Nguyên tắc giải ngân, phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng và đảm bảo khả năng thu nợ Nhưng đồng thời cũng phải tạo sự thuận lợi, tránh gây phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng
Bước 5: Giám sát tín dụng Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử
dụng vốn vay thực tế của khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng,…để đảm bảo khả năng thu nợ
Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng
Việc thực hiện nghiêm ngặt một quy trình như vậy có thể hạn chế rủi ro cho ngân hàng ở mức thấp nhất có thể, tuy nhiên đó thực sự không phải là công việc đơn giản Ở từng bước của quy trình có thể gặp vô số rủi ro, ngay tại bước đầu tiên – lập hồ
sơ tín dụng, ngân hàng phải đối mặt với rủi ro hồ sơ giả mạo, các giấy tờ chứng minh
Trang 165
năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự bị làm giả không chỉ gây ra những phân tích, quyết định sai lầm mà còn gây khó khăn về pháp lý cho ngân hàng khi mà quan
hệ tín dụng được thiết lập một cách không lành mạnh Một bước quan trọng không thể
bỏ qua là phân tích tín dụng, với giả thiết hồ sơ tín dụng lành mạnh, mục đích của việc phân tích tín dụng là nhằm hạn chế tình trạng thông tin không đối xứng, từ đó đánh giá chính xác nhu cầu vay của khách hàng và mức độ rủi ro của khách hàng, tạo cơ sở cho việc định giá tín dụng và trích lập dự phòng rủi ro Tuy nhiên có quá nhiều nhân tố ảnh hưởng tới sự chính xác của việc phân tích, đó là nguồn thông tin, trình độ cán bộ tín dụng và đạo đức của cán bộ tín dụng Ngành nghề của các doanh nghiệp đến vay ngân hàng rất đa dạng nên cán bộ tín dụng không thể có hiểu biết sâu sắc tất cả các lĩnh vực
do đó khó khăn trong việc xác minh tính chân thực của số liệu tài chính Kỹ thuật cấp tín dụng chưa hiện đại, chưa đa dạng như việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp, chủ yếu là tín dụng trực tiếp
(Nguồn: http://www.saga.vn và PGS.TS Mai Văn Bạn (2011), “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại trường Đại học Thăng Long”, NXB Tài Chính)
Chưa có hệ thống dữ liệu thông tin hiện đại, cập nhật giữa các ngân hàng
Thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời, chính xác để xem xét, phân tích trước
khi cấp tín dụng hay nói cách khác là thiếu sự hợp tác giữa các NHTM, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu quả Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay, vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý Đáng tiếc là hiện nay ngân hàng dữ liệu của CIC chưa đầy đủ và thông tin còn quá đơn điệu, chưa được
cập nhật và xử lý kịp thời
Xuất phát từ đạo đức cán bộ tín dụng
Đạo đức của cán bộ tín dụng: Thực tế cho thấy, nhiều cán bộ tín dụng vì lợi ích vật chất sẵn sàng tiếp tay cho các doanh nghiệp làm giả giấy tờ hồ sơ vay vốn, nâng cao giá trị tài sản thế chấp so với thực tế để rút tiền ngân hàng Một cán bộ yếu chuyên môn có thể bồi dưỡng thêm nhưng một cán bộ giỏi nghiệp vụ mà tha hóa đạo đức thì thật nguy hiểm Bên cạnh đó, các ngân hàng thường lơi lỏng quá trình kiểm tra giám sát đồng vốn sau khi cho vay Việc theo dõi đồng vốn sau khi giải ngân giúp ngân hàng phòng ngừa rủi ro cho chính mình và cho khách hàng, tuy nhiên trong thời gian qua hầu hết các ngân hàng chưa thực hiện công tác này
Cán bộ tín dụng chưa có những nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc hạn chế rủi ro tín dụng
Cán bộ tín dụng chưa có những đánh giá chính xác về khách hàng và khả năng trả nợ của họ (bao gồm ngành nghề kinh doanh, mùa vụ, tư cách phẩm chất của khách
Trang 17do các doanh nghiệp cung cấp
Có thể nói trình độ chuyên môn và tư cách đạo đức của cán bộ tín dụng là mấu chốt của mọi vấn đề, nếu cán bộ tín dụng không công tâm thì bước đi nào cũng chứa rủi ro
(Nguồn: PGS.TS Mai Văn Bạn (2011), “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại trường Đại học Thăng Long”, NXB Tài Chính)
1.1.3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng
Đối với khách hàng là cá nhân: Khách hàng cá nhân vay vốn chủ yếu phục vụ cho mục đích tiêu dùng và nguồn trả nợ chủ yếu là nguồn thu nhập ổn định hàng tháng
từ lương Tình trạng thu nhập không ổn định hay tình trạng thất nghiệp đều làm cho khả năng trả nợ suy giảm
Những rủi ro bất thường trong cuộc sống như đau ốm, tại nạn, đi tù… đều khiến cho khách hàng có thể đẩy ngân hàng rơi vào tình trạng gặp RRTD dù ít dù nhiều
Ngoài ra, một nguyên nhân quan trọng cần kể đến đó là rủi ro đạo đức khi khách hàng cố tình lừa đạo ngân hàng để chiếm dụng tài sản, sử dụng số tiền vay không đúng mục đích, cố tình không trả nợ…
Khả năng hoạch định kinh doanh, phương án trả nợ không chính xác còn mang tính chủ quan dẫn đến thu nhỏ hơn
Đối với khách hàng là các doanh nghiệp:
Những nguyên nhân có thể gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng là: Doanh nghiệp sử dụng vốn vay sai mục đích, hoặc sử dụng vốn vay vào việc sản xuất kinh doanh các loại mặt hàng bị pháp luật cấm; không đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng vốn, lãng phí, tham ô, tham nhũng; doanh nghiệp gặp phải các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình, đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới rủi ro cho ngân hàng
Sự cố ý không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn của khách hàng nhằm chiếm dụng vốn Trong thực tế, nguyên nhân này có thể mang tính khách quan nhiều hơn,
Trang 18độ tay nghề của công nhân còn yếu kém; rủi ro tín dụng có thể xay ra khi goanh nghiệp gặp khó khăn trong tình hình tài chính; doanh nghiệp có hệ số nợ cao đó là kết quả của quá trình tăng trưởng nóng hoặc quá chậm, do doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn trong thời gian dài, không có biện pháp thu hồi nợ, làm hạn chế khả năng quay vòng các khoản phải thu; doanh nghiệp cũng có thể gặp rủi ro trên thị trường đầu ra; người sử dụng vốn vay với mục đích lừa đảo, chiếm đoạt tín dụng của ngân hàng thông qua việc tạo ra những dự án ảo…
Đối với từng khách hàng khác nhau thuộc các ngành nghề khác nhau thì mức độ rủi ro cũng khác nhau Trong chiến lược kinh doanh của NHTM, việc lựa chọn các khách hàng mục tiêu và ngành nghề mục tiêu là một việc làm thiết yếu Sự tồn tại của ngân hàng gắn liền với sự tồn tại và phát triển của khách hàng hay ngành nghề mà ngân hàng cấp tín dụng Với những đối tượng khách hàng mục tiêu ngân hàng cần có những nghiên cứu sâu rộng về ngành hàng, tình hình thị trường cũng như khả năng phát triển trong tương lai để hạn chế tối đa các loại rủi ro
(Nguồn: http://doanhnhanhanoi.net/ và PGS.TS Mai Văn Bạn (2011), “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại trường Đại học Thăng Long”, NXB Tài Chính)
1.1.3.3 Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài
Có thể khẳng định rằng bất kỳ ngân hàng hay khách hàng nào đều bị chi phối và chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài, những nguyên nhân đến từ môi trường bên ngoài mang tính chất khách quan, bất khả kháng, ngân hàng không thể kiểm soát được
mà chỉ có thể đưa ra các dự đoán và biện pháp dự phòng Các yếu tố môi trường bên ngoài bao gồm:
Nguyên nhân bất khả kháng: Do những tác động của môi trường tự nhiên như
thiên tai, bão lụt, hạn hán, động đất,… Đây là những hiện tượng thường xuyên xay ra trong thời gian ngắn nhưng để lại hậu quả rất nặng cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, các hộ sản xuất Họ mất một phần hoặc toàn bộ số vốn đầu tư, nếu dự án của
họ bị thất bại thì sẽ không thể trả được nợ vay của ngân hàng
Môi trường chính trị - pháp luật: Hoạt động của ngân hàng luôn chịu sự ảnh
hưởng của môi trường chính trị và hệ thống pháp luật Sự ổn định hay bất ổn định của chính trị sẽ quyết định đến RRTD nhiều hay ít
Trang 198
Môi trường kinh tế: Thực tế cho thấy, bất kỳ một sự thay đổi nào về chính sách
vĩ mô như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, kinh tế đối ngoại, pháp lý… đều ảnh hưởng đến lãi suất, tỷ giá hối đoái, điều kiện tín dụng… Đó đều là nhưng yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế bao gồm ngân hàng, doanh nghiệp và cá nhân
Sự biến động liên tục và rất khó dự đoán của thị trường thế giới là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sản suất kinh doanh của người đi vay Mặt khác nền kinh tế Việt Nam còn phụ thuộc rất lớn vào sản xuất nông nghiệp, quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra một cách chậm chạp
Chính sách tiền tệ: Chính sách tiền tệ nới lỏng hay thắt chặt đều là nguyên nhân dẫn đến RRTD của ngân hàng cao hay thấp Khi NHNN thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng thì các điều kiện cấp tín dụng cho khách hàng được nới rộng, tạo điều kiện cho khách hàng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với nguồn vốn nhưng đồng thời cái giá phải trả cho điều này là RRTD của ngân hàng sẽ cao hơn và ngược lại
Chu kỳ kinh tế: Sự phát triển của nền kinh tế thường diễn ra theo chu kỳ “Hưng
thịnh – Khủng hoảng – Suy thoái – Phát triển – Hưng thịnh…”.Trong giai đoạn hưng
thịnh hay phát triển thì hoạt động kinh doanh diễn ra thuận lợi, lợi nhuận thu về lớn, hoạt động tín dụng diễn ra khá an toàn Còn trong giai đoạn khủng hoảng, suy thoái dẫn tới hoạt động sản xuất gặp nhiều khó khăn do sức mua giảm, khả năng thanh toán của các chủ thể suy giảm, từ đó thu nhập và lợi nhuận giảm ảnh hưởng xấu đến khả năng hoàn trả của khách hàng, RRTD của ngân hàng từ đó mà tăng cao Ngoài ra còn nhiều yếu tố như lạm phát, giảm phát…đều có những tác động nhất định đến các doanh nghiệp cũng như ngân hàng
Môi trường công nghệ: Trong nền kinh tế tri thức ngày nay, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết Công nghệ chính là yếu tố tiên quyết quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có đủ tiềm lực tài chính để áp dụng những công nghệ hiện đại thì việc sản xuất kinh doanh sẽ rất thuận lợi, tạo ra sản phẩm có năng lực cạnh tranh lớn trên thị trường về cả chất lượng, mẫu mã và giá cả từ đó doanh thu và lợi nhuận lớn, khả năng hoàn trả nợ ngân hàng cao hơn và ngược lại, nếu doanh nghiệp sở hữu máy móc lỗi thời, lạc hậu…sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng, RRTD sẽ xảy ra với ngân hàng
(Nguồn: vneconomy.vn và PGS.TS Mai Văn Bạn (2011), “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại trường Đại học Thăng Long”, NXB Tài Chính)
1.1.3.4 Nguyên nhân từ phía tài sản đảm bảo
Tài sản đảm bảo, ngay từ cái tên đã nói lên phần nào tác dụng của nó Đây được coi là nguồn thu thứ hai của ngân hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán một
Trang 20Trường hợp bảo đảm bằng tài sản:
Tài sản đảm bảo khó định giá: Thông thường TSĐB cho các khoản vay tại ngân hàng là quyền sử dụng đất, tuy nhiên thị trường bất động sản lại là một thị trường đầy biến động và bị ảnh hưởng lớn bởi yếu tố tâm lý, do đó việc thẩm định giá trị TSĐB sao cho hợp lý nhất không phải là một điều dễ dàng đối với các cán bộ tín dụng
Tài sản đảm bảo có tính phát mại thấp: Khi khách hàng không thể thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng buộc phải phát mại TSĐB để thu hồi vốn, tuy nhiên thị trường tụt dốc làm cho việc bán được tài sản không phải là điều đơn giản bởi nếu mức giá quá thấp thì ngân hàng không thu hồi đủ vốn đã bỏ ra còn nếu cao hơn thì không thể bán được, do đó tài sản vẫn không thể quay vòng trở thành nguồn tiền bù đắp thiệt hại cho ngân hàng, vốn của ngân hàng vẫn tắc nghẽn ở đó
Tài sản đảm bảo có tranh chấp về pháp lý: TSĐB có tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu gây ra những tổn thất cho ngân hàng, cho dù có thắng kiện thì ngân hàng
đã tốn một khoản chi phí không nhỏ để theo kiện hơn thế nữa làm ảnh hưởng xấu phần nào uy tín của ngân hàng
Trường hợp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh): Người bảo lãnh không thực hiện
nghĩa vụ thanh toán thay cho người vay tín dụng khi người này không có khả năng trả
nợ (có thể là cố ý hoặc bản thân người bảo lãnh cũng gặp khó khăn về tài chính dẫn đến không có khả năng trả nợ thay)
(Nguồn: PGS.TS Mai Văn Bạn (2011), “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại trường Đại học Thăng Long”, NXB Tài Chính)
1.1.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó
đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến rất nhiều chủ thể trong nền kinh tế Đầu tiên và bản thân các ngân hàng và khách hàng đi vay, sau đó tác động
đến cả nền kinh tế
1.1.4.1 Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận ngân hàng
Những khoản tín dụng gặp rủi ro gây cho ngân hàng những thiệt hại về mặt tài chính khi không thu hồi được vốn và lãi trực tiếp làm giảm lợi nhuận ngân hàng
Trong trường hợp ngân hàng thu được lãi treo hay nợ quá hạn thì cũng làm ngân hàng mất cơ hội đầu tư vào những dự án khả thi, có khả năng mang lại lợi nhuận
Trang 211.1.4.2 Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng
Rủi ro tín dụng đã khiến cho việc hoàn trả tiền gửi của ngân hàng gặp nhiều khó khăn Các khoản đầu tư, cho vay bị thất thoát hoặc chậm thu hồi trong khi ngân hàng vẫn phải đều đặn trả lãi vốn huy động theo đúng kỳ hạn Chính điều này đã hạn chế khả năng thanh toán của ngân hàng
1.1.4.3 Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của Ngân hàng
Rủi ro tín dụng đã làm giảm uy tín của ngân hàng và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng NHTM gặp nhiều rủi ro là ngân hàng hoạt động kém hiệu quả Điều này đã làm cho uy tín của ngân hàng bị giảm sút Đây là một vấn đề rất nguy hiểm, khách hàng mất lòng tin ở ngân hàng, họ sẽ không gửi tiền vào ngân hàng, thậm chí họ còn rút lại những khoản tiền đã gửi Điều đó đã gây khó khăn cho việc huy động vốn của ngân hàng làm giảm quy mô hoạt động của ngân hàng NHTM gặp rủi ro cũng sẽ làm mất lòng tin đối với các ngân hàng bạn, ngân hàng nước ngoài nên rất khó có thể nhận được những khoản tín dụng từ phía họ khi cần thiết Ngoài ra, ngân hàng khó có thể có các quan hệ đại lý làm cầu nối trong thanh toán quốc tế, phát triển các dịch vụ của ngân hàng
Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín và năng lực cạnh tranh của ngân hàng Khi nợ xấu tăng cao dẫn đến làm giảm khả năng thanh khoản, phải đi vay từ nhiều nguồn khác nhau, uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính sẽ bị giảm đi nghiêm trọng Hơn nữa tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá không tốt về tình hình hoạt động của ngân hàng, điều này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý đối tác của ngân hàng, dẫn đến việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn và gặp nhiều trở ngại trong việc cạnh tranh với các ngân hàng khác
Nhìn vào thực tế VIB năm 2013, tỷ lệ nợ xấu tại VIB tăng nhẹ từ 2,75% lên 2,82% trong năm 2013, trong khi tín dụng tăng trưởng thấp cả năm 3,8% đó là những ảnh hưởng rõ rệt của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng của ngân hàng tăng cao, người dân giảm lòng tin vào ngân hàng vì lo sợ mất vốn, họ sẽ chuyển kênh đầu tư sang nơi
an toàn hơn như: Trái phiếu chính phủ, có thể là vàng…
(Nguồn: http://kqtkd.duytan.edu.vn)
Trang 2211
1.1.4.4 Rủi ro tín dụng là nguy cơ dẫn đến phá sản ngân hàng
Ngân hàng gặp rủi ro tín dụng đã làm giảm sút lòng tin đặc biệt là đối với dân chúng Họ lo sợ bị mất những khoản tiền đã gửi và sẽ đến rút tiền để tìm cơ hội đầu tư
có lợi hơn ở một ngân hàng khác Trường hợp nghiêm trong xảy ra khi có quá nhiều người đến rút tiền tại cùng một thời điểm và ngân hàng sẽ không đủ tiền mặt để thanh toán, làm cho khách hàng tin rằng ngân hàng có nguy cơ phá sản và sẽ đổ xô đến rút tiền về, trong trường hợp này nếu không có sự can thiệp kịp thời của NHNN và Chính phủ thì hậu quả rất khôn lường cho không chỉ ngân hàng đó mà cả hệ thống ngân hàng cũng bị ảnh hưởng
Hậu quả của sự phá sản ngân hàng sẽ tạo ra một phản ứng dây chuyền gây ra sự phá sản hàng loạt các ngân hàng khác ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ vừa qua bắt nguồn từ sự đổ vỡ của hệ thống các NHTM đã làm cho nền kinh tế của các nước bị điêu dứng Chính điều này đã gây ra những rối loạn về an ninh, chính trị, xã hội,…kéo theo hàng loạt những hậu quả khác như: Thất nghiệp, lạm phát, tệ nạn xã hội nảy sinh Đây là những bài học thấm thía có nguồn gốc từ những rủi ro tín dụng của NHTM
(Nguồn: http://kqtkd.duytan.edu.vn)
Ngày 19/06/2014, Quốc hội đã thông qua Luật Phá sản (sửa đổi), chính thức cho phá sản ngân hàng yếu kém Dự kiến sau khi được Chủ tịch nước ký lệnh công bố, Luật sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015 Trước khoảng thời gian này, đã có rất nhiều vụ sáp nhập ngân hàng yếu kém như: Hợp nhất ba ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank), Đệ Nhất (Ficombank) thành ngân hàng SCB; sáp nhập ngân hàng ĐạiABank và HDBank; Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southen Bank) sáp nhập vào ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)…
(Nguồn: Vneconomy) Những thương vụ sáp nhập này một phần nguyên do bắt nguồn
từ rủi ro tín dụng, nếu không sáp nhập nguy cơ làm ăn thua lỗ, phá sản là rất lớn
1.1.4.5 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với khách hàng
Đối với bản thân chủ thể không có khả năng hoàn trả vốn (lãi) vì bất cứ lý do nào thì họ gần như không có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng và thậm chí là
cả những nguồn vốn khác trong nền kinh tế do họ đã mất đi uy tín
RRTD làm cho các ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng, tăng chi phí hoạt động từ đó làm cho dòng tiền cho vay giảm Không những vậy, cơ hội tiếp cận vốn ngân hàng của các chủ thể đi vay khác cũng bị hạn chế hơn khi rủi ro tín dụng buộc các NHTM hoặc thắt chặt cho vay hay thậm chí phải thu hẹp quy mô hoạt động
Các chủ thể gửi tiền vào ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được khoản tiền gửi và lãi nếu như các ngân hàng lâm vào tình trạng xấu nhất đó là phá sản
Trang 2312
1.1.4.6 Trong quan hệ kinh tế đối ngoại
Làm ảnh hưởng đến vị thế và hình ảnh của hệ thống ngân hàng – tài chính quốc gia cũng như toàn bộ nền kinh tế của quốc gia đó Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra sẽ gây ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau, nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận do phải trích lập dự phòng, không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn gốc và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, thậm chí ngân hàng sẽ bị phá sản gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì thế, yêu cầu đặt ra là các nhà quản trị ngân hàng cần phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay
(Nguồn: http://kqtkd.duytan.edu.vn)
1.1.5 Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
Ngân hàng cần có những phương pháp nhận ra những dấu hiệu của RRTD để từ chối cho vay (trong trường hợp trước khi cho vay) hoặc đưa ra các thức xử lý kịp thời (trong trường hợp đã cho vay) Các nhóm dấu hiệu RRTD có thể kể đến là:
1.1.5.1 Dấu hiệu tài chính
Cơ cấu tài chính không hợp lý
Cơ cấu tài chính của một doanh nghiệp phản ánh cơ cấu nguồn vốn, mức độ tài trợ tài sản của vốn chủ sở hữu…để từ đó đánh giá sự phụ thuộc của doanh nghiệp với người cho vay Một cơ cấu tài chính lành mạnh sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động an toàn hiệu quả và vượt qua những biến động của thị trường, ngược lại cơ cấu tài chính hay là tỷ lệ nợ trên tổng tài sản quá lớn khiến cho doanh nghiệp bị động, gia tăng áp lực trả nợ từ các chủ nợ và dễ tổn thương trước biến động thị trường Dưới đây là một
số hệ số để đánh giá cơ cấu tài chính cơ bản:
Hệ số nợ trên tài sản = (Tổng nợ/Tổng tài sản) x 100%
Thông thường, nếu hệ số này lớn hơn 1, có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc phá sản của doanh nghiệp càng lớn Ngân hàng cần cân nhắc cho vay trong trường hợp này vì hàm chứa rủi ro cao
Hệ số tự tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản
Hệ số này phản ánh mức độ độc lập hay phụ thuộc về tình trạng nợ của doanh nghiệp Hệ số này càng cao càng đảm bảo an toàn cho các món nợ
Hệ số tự tài trợ tài sản cố định (TSCĐ)= Vốn chủ sở hữu/Giá trị TSCĐ
Hệ số này đánh giá mức độ ổn định của việc đầu tư vào tài sản cố định Hệ số
lớn biểu hiện sự an toàn cao (Nguồn: http://vi.wikipedia.org)
Trang 2413
Các chỉ số khả năng sinh lời có dấu hiệu bất thường
Khả năng sinh lời là một yếu tố quan trọng để ngân hàng đánh giá hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh, qua đó nắm bắt được tình hình tài chính của doanh nghiệp Nếu các chỉ số như chỉ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS); tỷ số sinh lợi trên tổng tài sản (ROA); tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) có dấu hiệu bất thường, quá thấp hoặc quá cao so với doanh nghiệp cùng ngành thì cần làm rõ nguyên nhân, nếu chỉ số này quá thấp do sụt giảm doanh thu và lợi nhuận, hoặc do quản lý chi phí đầu vào không hiệu quả, bế tắc trong khâu tiêu thụ sản phẩm hoặc quá cao do tổng tài sản hoặc vốn chủ sở hữu giảm mạnh thì tiềm ẩn rủi ro
Các chỉ số khả năng thanh khoản cho thấy dấu hiệu suy yếu
Những chỉ số này đánh giá về khả năng đáp ứng các khoản nợ từ tài sản của doanh nghiệp, bao gồm chỉ số thanh toán hiện thời, chỉ số thanh toán ngắn hạn, hệ số thanh toán nhanh, hệ số thanh toán lãi Nếu những chỉ số này có dấu hiệu sụt giảm nghiêm trọng có thể do doanh nghiệp gặp vấn đề về luồng tiền hoặc doanh nghiệp tập trung khoản nợ ngắn hạn để đầu tư dài hạn dẫn đến lượng tài tài sản có khả năng thanh khoản cao thấp, điều này gây rủi ro cho ngân hàng khi thị trường biến động và doanh nghiệp mát khả năng thanh khoản Một số tỷ số phản ánh khả năng thanh khoản:
Khả năng thanh toán hiện thời: phản ánh việc công ty có thể đáp ứng nghĩa vụ trả các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn hay không
Khả năng thanh toán hiện thời = Tài sản ngắn hạn/ Nợ ngắn hạn
Tỷ số >1 thể hiện khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp trong tình trạng tốt Khả năng thanh toán nhanh: phản ánh việc công ty có thể thanh toán được các khoản nợ bằng tài sản ngắn hạn có thể chuyển thành tiền một cách nhanh nhất và ngược lại
Khả năng thanh toán nhanh = (Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho)/Nợ ngắn hạn
Chỉ số này tương tự như thanh toán hiện thời nếu chỉ số thấp thể hiện khả năng thanh toán nhanh của công ty không tốt
Tỷ số thanh khoản hiện thời= Giá trị tài sản lưu động/ Giá trị nợ ngắn hạn
Tỷ số thanh khoản hiện thời cho biết cứ mỗi đồng nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp đang giữ, thì doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản lưu động có thể sử dụng
để thanh toán Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là doanh nghiệp không đủ tài sản
có thể sử dụng ngay để thanh toán khoản nợ ngắn hạn sắp đáo hạn
(Nguồn: http://vi.wikipedia.org)
Trang 2514
Các chỉ số về hiệu quả hoạt động bất thường
Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả là doanh nghiệp sử dụng khai thác tối đa công suất của tài sản, tốc độ luân chuyển vốn lưu động để tạo ra doanh thu nhanh, khoản phải thu có chất lượng tốt, khả năng quản lý hàng tồn kho hiệu quả thể hiện ở vòng quay hàng tồn kho, các khoản phải thu, vốn lưu động dao động xung quanh mức trung bình ngành một cách hợp lý Nếu một trong những chỉ tiêu này quá cao hoặc quá thấp đều là dấu hiệu không tốt Nếu chỉ tiêu này quá thấp cho thấy sử dụng tài sản không quá hiệu quả, vốn lưu động bị ứ đọng không tạo ra doanh thu, hàng tồn kho quá nhiều không tiêu thụ được, không tạo ra dòng tiền vào, chất lượng khoản phải thu kém Ngược lại nếu các chỉ số này quá cao so với trung bình ngành do dự trữ hàng tồn kho quá ít, chính sách tín dụng khó khăn thời hạn khoản phải thu ngắn làm mất bạn hàng, làm suy giảm mạnh các khoản phải thu thì đây cũng là dấu hiệu rủi ro cho doanh nghiệp và ngân hàng
Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh
+ Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu ×100%
Tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm doanh thu
+ Số vòng quay tài sản lưu động
Số vòng quay của vốn lưu động cho biết vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng trong kỳ Nếu số vòng quay lớn cho thấy hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại
+ Mức sinh lời của tài sản cố định
Chỉ tiêu này cho biết một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
+ Mức sinh lợi của một lao động
Phản ánh mức độ đóng góp của mỗi lao động vào lợi nhuận
(Nguồn: http://www.sav.gov.vn và http://vi.wikipedia.org)
1.1.5.2 Dấu hiệu phi tài chính
Dấu hiệu liên quan đến quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng
Giảm sút mạnh số dư tiền gửi, công nợ gia tăng, mức độ vay thường xuyên, yêu cầu khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến, chấp nhận sử dụng nguồn tài trợ lãi suất cao, chậm thanh toán nợ gốc và lãi cho ngân hàng
Trang 2615
Dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách hàng
Xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống điều hành, ít kinh nghiệm, xuất hiện nhiều hành động nhất thời, thuyên chuyển nhân viên quá thường xuyên, tranh chấp trong quá trình quản lý, chi phí quản lý bất hợp pháp, quản lý có tính gia đính
Dấu hiệu liên quan đến kỹ thuật thương mại
Sản phẩm có tính thời vụ cao, có biểu hiện cắt giảm chi phí, thay đổi trên thị trường, mất khách hàng lớn,…
Dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính
Sự gia tăng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản Chuẩn bị số liệu tài chính không đầy đủ, trì hoãn báo cáo tài chính, lượng tiền mặt giảm
Dấu hiệu phi tài chính khác
Có sự xuống cấp của cơ sở kinh doanh, hàng tồn kho tăng do không bán được,
hư hỏng, lạc hậu, có sự kỹ luật đối với cán bộ chủ cốt
Tỷ lệ nợ quá hạn Chỉ tiêu này giúp ngân hàng biết được số nợ quá hạn trên tổng dư nợ của ngân hàng để ngân hàng có những điều chỉnh phù hợp về cơ cấu cho vay cũng như các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng Thông thường ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì chất lượng tín dụng thấp, mức rủi ro ngân hàng phải đối mặt càng lớn Song tỷ lệ này mới chỉ phản ánh thực trạng của ngân hàng tại một thời điểm nhất định, để có cái nhìn toàn diện hơn ngân hàng cần kết hợp một số chỉ tiêu khác
Tỷ lệ khách hàng có nợ quá hạn Chỉ tiêu này phản ánh số khách hàng có nợ quá hạn trong tổng số khách hàng có
dư nợ tại ngân hàng , từ đó ngân hàng có thể biết mức độ rủi ro tín dụng mà ngân hàng
có thể gặp phải và sự tập trung RRTD vào những nhóm khách hàng nào để ngân hàng
có chính sách tín dụng với từng đối tượng cụ thể
Trang 2716
Tỷ lệ nợ xấu
Nợ quá hạn là khoản mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn Hay nói cách khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, tại Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007, nợ quá hạn được phân loại như sau:
Nhóm 2 (nợ cần chú ý) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn 90 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trng hạn theo thời hạn nợ được cơ cấu lại
+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 2 theo định tại Khoản 3, Khoản 4 điều này
Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 91-180 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm
+ Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
+ Các khoản nợ được phân vào nhóm 3
Nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 181-360 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
+ Các khoản nợ được phân lại vào nhóm 4
Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn
+ Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 điều này Đây là chỉ tiêu mà bất cứ một nhà quản trị ngân hàng nào cũng cần quan tâm, nó phản ảnh trung thực tình hình nợ xấu của ngân hàng, giúp ngân hàng đánh giá được
Trang 2817
chất lượng của các khoản tín dụng đã cấp, do mức độ rủi ro của nợ xấu đối với kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng là cao nhất nên nó cần được quan tâm và xử lý kịp thời Khi tỷ lệ nợ xấu cao có nghĩa là ngân hàng đang có mức độ RRTD lớn, nó cũng
có nghĩa là vấn đề quản trị rủi ro tín dụng đối với ngân hàng đang thực sự có vấn đề Các nhà quản trị ngân hàng thông qua ba chỉ tiêu trên sẽ có đánh giá cụ thể về mức độ RRTD mà ngân hàng mình đang gặp phải, từ đó có những điều chỉnh phù hợp như thay đổi về chính sách tín dụng, cơ cấu dư nợ từng ngành nghề lĩnh vực như thế nào cho hợp lý với sự thay đổi của thị trường… từ đó nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất cho ngân hàng
1.1.6.2 Vấn đề trích lập và sử dụng dự phòng
Các ngân hàng trích lập dự phòng nhằm bù đắp những tổn thất của các khoản vay khi có rủi ro xảy ra và đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng diễn ra liên tục Theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007: “Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do những khách hàng của TCTD không thực hiện nghĩa
vụ đã cam kết” Các chỉ tiêu đánh giá công tác trích lập và sử dụng dự phòng là:
Tỷ lệ dự phòng RRTD Chỉ tiêu này phản ánh khả năng bù đắp thiệt hại trên tổng rủi ro có thể xảy ra của ngân hàng, tỷ lệ này càng cao thì mức độ an toàn của ngân hàng càng lớn Mọi ngân hàng đều phải trích lập dự phòng theo quy định của NHNN theo nguyên tắc: Khoản vay càng rủi ro thì số tiền trích lập dự phòng RRTD càng lớn
Hệ số khả năng bù đắp RRTD
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng bù đắp khoản nợ có rủi ro cao mà ngân hàng xác định khó có khả năng thu hồi, đây là chỉ tiêu quan trọng giúp ngân hàng nhận biết và duy trì khả năng chống đỡ của ngân hàng Chỉ tiêu này gắn liền với sự tồn tại của ngân hàng bởi nợ quá hạn ngân hàng khó có khả năng thu hồi, nguồn vốn ngân hàng có khả năng thất thoát rất lớn, nếu ngân hàng không có khoản dự phòng đảm bảo chi trả cho nguồn vốn mà ngân hàng đã sử dụng thì rủi ro phá sản là rất lớn
Các chỉ tiêu trên phần lớn phản ánh khả năng bù đắp thiệt hại của ngân hàng trước rủi ro có thể gặp phải Các chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng chống đỡ RRTD của ngân hàng càng tốt, đảm bảo sự hoạt động liên tục của ngân hàng Song các chỉ tiêu này quá cao sẽ làm tăng chi phí cho hoạt động tín dụng của ngân hàng, vì vậy vấn đề đặt ra ở đây là xác định mức dự phòng tối ưu để đảm bảo lợi nhuận và mức độ
an toàn của ngân hàng
Trang 2918
1.1.6.3 Mức độ tập trung tín dụng
Thông qua nghiên cứu mức độ tập trung tín dụng giúp ngân hàng xác định được
cơ cấu dư nợ theo khách hàng, theo khu vực địa lý, ngành kinh tế của ngân hàng Qua
đó ngân hàng có thể xác định mức độ tập trung các nhóm khách hàng, dự đoán rủi ro gặp phải và có những điều chỉnh cơ cấu tín dụng phù hợp nhằm giảm thiểu mức độ tập trung tín dụng, giảm thiểu rủi ro mà vẫn đảm bảo lợi nhuận
Tỷ trọng dư nợ theo đối tượng khách hàng Chỉ tiêu này phản ánh mức độ tập trung tín dụng của ngân hàng, nó cho biết đối tượng khách hàng nào chiếm tỷ trọng lớn, nhỏ trong cơ cấu tín dụng của ngân hàng Thông qua chỉ tiêu này ngân hàng có thể đánh giá sự phù hợp của chính sách tín dụng với tình hình thực tế, dự đoán rủi ro tín dụng tập trung vào những đối tượng cụ thể và
có biện pháp dự phòng thích hợp
Tỷ trọng dư nợ theo ngành Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng mà qua đó ngân háng sẽ biết mức độ
ưu tiên tập trung tín dụng vào từng ngành nghề Nếu tỷ trọng dư nợ của một ngành nào
đó quá cao sẽ dẫn đến rủi ro tập trung cho ngân hàng khi thị trường biến động xấu đi,
do đó chỉ tiêu này giúp ngân hàng đánh giá RRTD và có cơ sở điều chỉnh cơ cấu tín dụng một cách hợp lý, khoa học phù hợp với biến động thị trường
Tỷ trọng dư nợ theo kỳ hạn Chỉ tiêu này cho phép ngân hàng xác định được mức độ tập trung tín dụng theo
kỳ hạn, thông qua chỉ tiêu này kết hợp với nghiên cứu và dự báo tình hình thị trường
về lãi suất, môi trường kinh tế, các yếu tố vĩ mô ngân hàng đưa ra những thay đổi tích cực trong chiến lược lựa chọn danh mục cho vay
(Nguồn: GS.TS Nguyễn Văn Tiến (2011), “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng”, NXB Thống Kê.)
1.2 Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết của công tác quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị RRTD trong NHTM là thông qua hệ thống các công cụ tác động tới rủi
ro tín dụng ngân hàng, nhằm tìm ra nguyên nhân và xử lý các tình huống xảy ra RRTD với mục tiêu giảm thiểu tổn thất do rủi ro gây ra
Quản trị RRTD có ý nghĩa quan trọng xuyên suốt hoạt động kinh doanh của NHTM, hiệu quả kinh doanh đạt được luôn đồng nghĩa với rủi ro ở mức độ có thể chấp nhận được cùng với việc tiến hành các hoạt động quản trị rủi ro Nghệ thuật trong quản trị rủi ro là phải đưa ra được quyết định đúng đắn, kịp thời nhất để giải quyết
Trang 3019
được cả hai vấn đề lợi nhuận và rủi ro sao cho hài hòa và mang lợi lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng
Hiện nay, hoạt động tín dụng vẫn đang chiểm tỷ trọng lớn nhất trong danh mục
tài sản có của NHTM, chiếm khoảng 60-70% tổng tài sản của ngân hàng (Nguồn:
vneconomy.vn) Trong khi đó xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế khiến cho quá trình
cạnh tranh diễn ra khốc liệt hơn, doanh nghiệp phải đối mặt với không ít thách thức và rủi ro thua lỗ là rất lớn Theo tổng cục thống kê số doanh nghiệp phá sản, giải thể hoặc
ngừng hoạt động năm 2013 là 60.737 doanh nghiệp (Nguồn: www.gso.gov.vn).Thêm
vào đó, cơn bão khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 bắt nguồn từ việc cho vay dưới chuẩn tại Mỹ khiến cho rất nhiều ngân hàng và các tổ chức tài chính sụp đổ, phủ bóng đen lên thị trường châu Âu và các thị trường khu vực khiến cho khó khăn càng chồng chất lên doanh nghiệp và ngân hàng Việt Nam Các thương vụ M&A3
đình đám năm trong 2013-đầu năm 2014 có thể nói đến như: Ngân hàng TMCP Phát triển TPHCM (HDBank) nhận sáp nhập Ngân hàng TMCP Đại Á (DaiABank); Tổng công
ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC – mã PVF) và Ngân hàng TMCP Phương Tây (WesternBank) hợp nhất và chuyển thành Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam (PVcom Bank); Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southern Bank) cũng đã trình Đại hội đồng Cổ đông chủ trương sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank); Ngân hàng TMCP Phát triển Mê Kông (MDB) đang trong quá trình chuẩn bị sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (Maritime
Bank); PGBank sẽ về cùng nhà của Vietinbank…(Nguồn: http://www.gso.gov.vn/)
Thực trạng nợ xấu tăng cao khiến hoạt động ngân hàng trì trệ, ngân hàng không
có nguồn thu để bù đắp thiệt hại, không dự tính được từ các khoản nợ xấu khó thu hồi hoặc không thu hồi được bởi cái phao cuối cùng của tài sản đảm bảo là thị trường bất động sản thì đóng băng…Nợ xấu toàn ngành ngân hàng năm 2011 là 3,8%, bước sang năm 2012 là 4,08% (cuối năm 2012), đến 4,73% tổng dư nợ tín dụng vào tháng 10/2013; Khi tình hình kinh tế vĩ mô được cải thiện và dần phục hồi, cộng với những
nỗ lực của hệ thống tổ chức tín dụng, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống đã giảm về mức 3,63% (cuối 12/2013) Nợ xấu ở mức cao, con số thực tế có lẽ còn cao hơn nhiều, do
đó vấn đề quản trị RRTD trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết đối với hoạt động ngân hàng để giảm thiểu rủi ro khi nền kinh tế có biến động xấu
(Nguồn: http://www.sbv.gov.vn/)
Mục đích của hoạt động quản trị RRTD: Bảo vệ ngân hàng khỏi những tổn thất,
mất mát không dự tính được như: Làm ăn thua lỗ, thất thoát vốn dẫn đến giảm quy
3M&A (viết tắt của cụm từ tiếng Anh Mergers and Acquisitions có nghĩa là mua bán
và sáp nhập) là việc mua bán và sáp nhập các doanh nghiệp trên thị trường
Trang 3120
mô,…; Mặt khác khi tín dụng ngân hàng xấu đi làm cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài chính của ngân hàng bị suy giảm, dẫn đến khả năng huy động vốn giảm, dẫn đến rủi ro thanh khoản, đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản và đe dọa sự ổn định của hệ thống ngân hàng Thông qua hoạt động quản trị RRTD giúp ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế rủi ro, giảm thiệt hại cho ngân hàng Bảo đảm mức độ rủi ro
mà ngân hàng phải gánh chịu không vượt quá khả năng về vốn và tài chính, tạo sự an toàn, ổn định trong kinh doanh, đảm bảo không ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và
tồn tại của ngân hàng
1.2.2 Nội dung quản công tác trị rủi ro tín dụng
1.2.2.1 Xây dựng chính sách quản trị rủi ro tín dụng
Trong sự biến động mạnh mẽ và khó lường của nền kinh tế thị trường thì việc xây dựng một chính sách quản trị RRTD đúng đắn và phù hợp là tối quan trọng, nó là
“kim chỉ nam” cho hoạt động tín dụng đúng hướng và bền vững, đảm bảo cho ngân hàng có thể linh hoạt trong phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng Hay nói một cách cụ thể, việc xây dựng chính sách quản trị RRTD chính là việc xác định khẩu vị rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận được, các tiêu chuẩn đánh giá rủi ro Để xây dựng chính sách tín dụng hợp lý cần căn cứ vào các điều kiện sau:
(1) Phù hợp với môi trường hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Hoạt động kinh doanh nào của NHTM cũng diễn ra trong một môi trường nhất định, nên khi xây dựng chính sách quản trị rủi ro, ngân hàng cần phải xem xét tới tác động của các yếu tố như tình hình kinh tế, xã hội trên địa bàn hoạt động của ngân hàng, đặc điểm, tính chất lĩnh vực mà ngân hàng cần cấp tín dụng cũng như mức độ cạnh tranh của các ngân hàng đối thủ khác Nếu xây dựng một chính sách phù hợp với các yếu tố vĩ mô ngân hàng có thể đo lường dự đoán được rủi ro có thể xảy ra, đa dạng các biện pháp hạn chế và bù đắp thiệt hại do rủi ro gây ra
(2) Phù hợp với quy định của cơ quan quản lý
Bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng chịu sự quản lý của các cấp chính quyền nhằm đảm bảo sự phát triển đúng hướng của các ngành trong nền kinh tế, hoạt động ngân hàng chịu sự quản lý trực tiếp của NHNN và gián tiếp của các ban ngành khác Mặt khác, rủi ro trong ngân hàng có tính dây chuyền nên việc tuân thủ các quy định của cơ quan quản lý đảm bảo an toàn cho không chỉ một ngân hàng mà cho toàn
hệ thống ngân hàng Để đảm bảo sự hoạt động trôi chảy của toàn nền kinh tế, ngân hàng cần chủ động kinh doanh và hoàn toàn chịu trách nhiệm với những hành động của mình, tuân thủ chặt chẽ với các chính sách và văn bản pháp quy đã ban hành
(Nguồn: http://www.sbv.gov.vn/)
Trang 3221
Căn cứ trên cơ sở nguyên tắc chung về QTRRTD:
+ Chiến lược QTRR phù hợp với chiến lược phát triển và chính sách tín dụng của ngân hàng
+ Có bộ phận quản trị RRTD riêng hoạt động độc lập với các bộ phận kinh doanh khác trong ngân hàng
+ Thực hiện nguyên tắc “hai tay, bốn mắt” trong hoạt động quản trị RRTD
+ Quản trị RRTD cần được thực hiện trên toàn danh mục cho vay cũng như từng khoản vay riêng lẻ; Quản trị RRTD cần đặt trong mối quan hệ với các rủi ro khác + Công tác quản trị RRTD bao gồm: xác định, định lượng, giám sát và sử dụng
Thông qua kinh nghiệm quản lý danh mục cho vay, chất lượng thẩm định tín dụng, năng lực trình độ cán bộ, nếu chất lượng thẩm định tốt sẽ phân tách rõ ràng từng khách hàng với mức độ tín nhiệm khác nhau Từ đó ngân hàng có những điều chỉnh phù hợp từ khâu cho vay tới khâu thu hồi nợ, hạn chế RRTD có thể xảy ra Hơn thế nữa, tín dụng và quản trị RRTD cần có sự nhạy cảm nghề nghiệp và kinh nghiệm năng lực của cán bộ nhân viên quản trị RRTD vì vậy nhân lực là yếu tố hết sức quan trọng trong việc xây dựng chính sách RRTD
1.2.2.2 Các mô hình quản trị rủi ro tín dụng
Mô hình quản trị RRTD chính là hệ thống các mô hình bao gồm mô hình tổ chức quản lý rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi ro được xây dựng và vận hanh một cách đầy đủ, toàn điện và liên tục trong hoạt động quản lý rủi ro của ngân hàng Mô hình QLRRTD phản ảnh một hệ thống các vấn đề về cơ chế chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn và các chốt kiểm soát rủi ro trong quy trình thực hiện nghiệp vụ, các hoạt động giám sát việc tuân thủ, nhận diện kịp thời các rủi ro phát sinh và các phương án chủ động phòng ngừa, đối phó khi có rủi ro xảy ra
Theo tiêu chí tổ chức quản lý rủi ro mo hình QTRRTD chia làm 2 loại: mô hình quản lý RRTD tập trung và mô hình quản lý RRTD phân tán Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn mô hình của mỗi ngân hàng đó là: năng lực tài chính, công nghệ
Trang 3322
thông tin và hệ thống thông tin quản lý, trình độ nhân lực, hệ thông quản trị ngân hàng,
sự phát triển của thị trường tài chính và các yếu tố vĩ mô khác
Bảng 1.1 : Phân biệt các mô hình quản lý rủi ro tín dụng
Mô hình QLRRTD phân tán Mô hình QLRRTD tập trung
Khái
niệm
Các thức tổ chức hoạt động QLRRTD tản
mát, ở nhiều bộ phận khác nhau, quyền
quyết định và QLRR khoản vay ở nhiều bộ
phận khác nhau, quyền quyết định và
QLRR khoản vay không tập trung ở trung
ương mà dàn đều ở cấp cơ sở
Cách thức tổ chức hoạt động QLRRTD dựa trên nguyên tắc tập trung tại một bộ phận, quyền quyết định và quản lý rủi
ro khoản vay tập trung ở trung ương
Đặc
điểm
Thông tin bị phân tán, quyền lực không tập
trung tại HĐQT
Các chức năng kinh toanh, tác nghiệp và
quản lý rủi ro chưa có sự tách bạch
Hoạt động quản lý rủi ro được thực hiện
độc lập tại các chi nhánh, mỗi giám đốc chi
nhánh tự đưa ra quyết định và chịu trách
nhiệm về quyết định của mình
Thông tin tập trung cao, quyền lực tập trung tại HĐQT
Các chức năng kinh doanh, tác nghiệp và quản lý rủi ro được tách bạch
Các quyết định cho vay vượt hạn mức đều tập trung vào quyết định cho vay của trung ương
(Nguồn: http://www.vnba.org.vn)
Ưu điểm của mô hình quản lý RRTD tập trung:
Thứ nhất, do các chức năng kinh doanh, tác nghiệp, quản lý RRTD được tách bạch nên công việc có tính chuyên sâu, phân chia trách nhiệm rõ ràng, tránh tình trạng thông đồng giữa cán bộ tín dụng và khách hàng
Thứ hai, việc quản lý, kiểm soát có tính tập trung cao tránh tình trạng quản lý từ
xa, thông tin số liệu báo cáo của các chi nhánh không minh bạch Cuối cùng, HĐQT
có thể đưa ra những chính sách phù hợp sát với thực tiễn hoạt động của ngân hàng căn
cứ vào thông tin được cập nhật trên toàn hệ thống Ưu điểm của mô hình tập trung cũng chính là nhược điểm của mô hình phân tán Tuy nhiên nhược điểm của mô hình tập trung đó chính là sự phức tạp trong cơ cấu tổ chức, để thực hiện đòi hỏi nhiều thời gian công sức, nếu không hoạt động hiệu quả sẽ gây cồng kềnh và mạng nặng tính hành chính
1.2.2.3 Tổ chức thực hiện quản trị rủi ro tín dụng
Xây dựng chiến lược quản trị RRTD phù hợp với tình hình kinh tế, nội lực ngân hàng là bước đầu tiên quan trọng trong công tác quản trị Việc thứ hai không kém phần quan trọng là tổ chức thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các chiến lược quản trị đã đề ra:
“Tổ chức là quá trình phân công và phối hợp hoạt động của các thành viên, các bộ phận khác trong ngân hàng để thực hiện các mục tiêu đã được đặt ra trong chiến lược
Trang 3423
xây dựng quản trị RRTD” Trong quá trình thực hiện chiến lược xây dựng quản trị RRTD, ngân hàng cần quan tâm đến mô hình phân tích và đo lường RRTD thích hợp
a Phân tích rủi ro tín dụng
Phân tích RRTD là việc xác định mức độ RRTD của khách hàng trên cơ sở xử
lý thông tin thu thập được từ hồ sơ tín dụng khách hàng, trao đổi trực tiếp hay điều tra tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của khách hàng… Việc phân tích RRTD giúp ngân hàng hiểu, nắm bắt được thực trạng khách hàng, nhu cầu vốn vay thực sự của khách hàng, các phương án và khả năng trả nợ của khách hàng Để phân tích RRTD có thể sử dụng mô hình định tính như mô hình SWOT, mô hình CAMPARL, mô hình 6C… trong đó mô hình 6C đánh giá khách hàng toàn diện nhất
Mô hình này nghiên cứu sự thiện trí và khả năng trả nợ ngân hàng của người đi vay để ngân hàng cân đối giữa mở rộng tín dụng và chấp nhận rủi ro để có quyết định cho phù hợp
Mô hình 6C
Character (Tư cách người đi vay): Cán bộ tín dụng xem xét tinh thần trả nợ, tư
cách đạo đức của người đi vay thông qua mối quan hệ với mọi người xung quanh Mục đích sử dụng vốn vay, lịch sử đi vay và trả nợ ngân hàng trong quá khú như thế nào
Có người bảo lãnh hay không, khả năng dự báo về hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp
Capacity (Năng lực tài chính): Năng lực hành vi dân sự của chủ doanh nghiệp
và của người bảo lãnh Những hồ sơ pháp lý chứng minh năng lực pháp lý của doanh nghiệp vay vốn Mô tả quá trình hoạt động của doanh nghiệp đến thời điểm hiện tại, cơ cấu sở hữu, tính chất hoạt động, sản phẩm, khách hàng và người cung cấp chính của doanh nghiệp
Cash (Thu nhập của người đi vay): Cán bộ tín dụng xem xét thu nhập trong quá
khứ, mức độ ổn định thu nhập trong tương lai để xem xét khả năng trả nợ của khách hàng
Collateral (Tài sản đảm bảo): Đây là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng, khi
đánh giá TSĐB cần đánh giá đến các yếu tố: Giá trị của tài sản, khả năng bị lỗi thời, mất giá của tài sản, tình trạng bảo hiểm, đã được dùng để bảo lãnh cho người khác hay chưa…
Conditions (Các điều kiện khác): Cán bộ tín dụng cần dự đoán xu hướng ngành
nghề mà người đi vay muốn kinh doanh và những biến động của nền kinh tế có khả năng tác động đến người đi vay Xem xét thị phần dự kiến, tình hình cạnh tranh của sản phẩm, kết quả hoạt động của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh khác trong ngành, tương lai của ngành…
Trang 3524
Control (Kiểm soát): ngân hàng tập trung vào những vấn đề sự thay đổi quy chế
hiện hành liên quan đến khoản tín dụng đang được xem xét, mức độ phù hợp của khoản vay đối với qui chế, quy định của ngân hàng Hồ sơ giấy tờ cho vay, giải ngân phải có đầy đủ và phải được ký bởi các bên, ý kiến của các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật về môi trường của ngành, về sản phẩm,về các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến khoản vay
Xếp hạng tín dụng nội bộ
Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là sự tổ hợp các quy trình phân loại khách hàng theo ngành nghề, quy mô, tính chất sở hữu, chỉ tiêu tài chính và phi tài chính để chấm điểm khách hàng Hệ thống này giúp cho ngân hàng quản trị RRTD bằng phương pháp tiên tiến, kiểm soát mức độ tín nhiệm khách hàng, thiết lập mức lãi suất phù hợp với từng nhóm khách hàng Thông qua xếp hang tín dụng nội bộ ngân hàng đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, hỗ trợ việc phân loại nợ và quy định nội bộ
về quản lý chất lượng tín dụng, đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cần đảm bảo các yêu cầu:
Phù hợp với hoạt động kinh doanh, đối tượng khách hàng của tổ chức tín dụng
Xây dựng trên cơ sở thông tin dữ liệu từng khách hàng theo ngành nghề kinh doanh, quy mô, tính chất sở hữu, tình hình hoạt động kinh doanh, năng lực điều hành
Do các lĩnh vực khác nhau, chịu tác động của các yếu tố khác nhau, quy mô khác nhau dẫn đến hiệu quả kinh doanh khác nhau nên cần căn cứ vào các chỉ tiêu trên để dánh giá chính xác khách hàng
Thường xuyên theo dõi đánh giá đầy đủ khả năng trả nợ của khách hàng, kịp thời điều chỉnh chính xác kết quả phân loại nợ, có các biện pháp quản lý đối với khoản
nợ xấu, giúp ngân hàng trong việc giám sát thu hồi howk đầy đủ và đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng
Điều chỉnh bổ sung, sửa đổi các quy trình phân loại khách hàng, hệ thống chỉ tiêu và trọng số của từng chỉ tiêu trong bộ chỉ tiêu tài chính và phi tài chính để chấm điểm, xếp hạng khách hàng theo sự biến động của thị trường Do thị trường biến động dẫn tới các doanh nghiệp biến động theo nên các bộ chỉ tiêu có thể không còn phù hợp khi doanh nghiệp thay đổi
Sau khi xây dựng được một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ riêng của từng ngân hàng, nhân viên tín dụng sau khi thu thập và kiểm tra các thông tin tài chính và phi tài chính của khách hàng thì nhân viên tín dụng nhập dữ liệu đầu vào Trên cơ sở chấm điểm từng khoản vay của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, cán bộ tín dụng sẽ thu được dữ liệu đầu ra kèm một số báo cáo cần thiết Hiện nay các ngân hàng đều xây dựng hệ thống XHTD nội bộ riêng nhằm đánh giá chính xác khách hàng dựa vào yếu
Trang 36dự kiến của danh mục tín dụng
Tổn thất dự kiến (Exprected loss – EL) là mức tổn thất mà ngân hàng có thể tính toán và dự tính trước được tương ứng với mỗi khoản mục cho vay hay cho cả danh mục nên đã có kế hoạch dự phòng cho loại tổn thất này, do đó khi có rủi ro xảy ra ngân hàng sẽ dùng quỹ dự phòng để bù đắp tổn thất dự kiến Theo Basel II thì tổn thất
dư kiến được xác định theo công thức:
Tổn thất dự kiến (EL)= Xác suất xảy ra rủi ro x Giá trị dư nợ khi xảy ra rủi ro x Giá trị tổn thất trong trường hợp rủi ro
EL=PD x EAD x LGD Trong đó:
PD (Probability of default): Xác suất không trả được nợ, chỉ tiêu này được tính thông qua dãy số liệu lịch sử ít nhất 5 năm của ngân hàng về khoản nợ đã trả, khoản
nợ đang trong hạn, khoản nợ không có khả năng thu hồi được
EAD (Exposure at default): Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ
LGD (Loss given default): Tỷ trọng tổn thất ước tính
dự kiến được xác định theo công thức:
UL =√
Sau khi xác định rõ từng loại tổn thất, nguồn bù đắp cho các loại tổn thất đó ngân hàng tiến hành đo lường RRTD Đo lường RRTD là việc đề ra và xem xét lại hạn mức rủi ro nhằm xác định mức bù rủi ro tương ứng trong lãi suất của một khoản vay,
đo lường rủi ro theo phương pháp RAROC (Return adjusted return on capital); tỷ suất
Trang 37(Nguồn: http://bank.hvnh.edu.vn/)
1.2.2.4 Kiểm soát rủi ro tín dụng
Môi trường kinh doanh luôn luôn vận động nên RRTD cũng biến đổi không ngừng, vì vậy kiểm soát RRTD giúp đảm bảo an toàn cho các khoản tín dụng được cấp, theo dõi việc sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả quản trị RRTD Để thực hiện tốt công tác kiểm soát RRTD ngân hàng cần:
(1) Thực hiện tốt việc giám sát tín dụng
Giám sát tín dụng là công việc sau khi giải ngân nhằm đảm bảo việc sử dụng vốn đúng mục đích của khách hàng, hiệu quả của phương án kinh doanh, tiến độ thực hiện dự án…thông qua công tác này ngân hàng có thể phát hiện rủi ro tiềm ẩn để
có biện pháp xử lý đảm bảo an toàn đồng vốn ngân hàng thường igams sát khách hàng thông qua:
Thông qua tài khoản ngân hàng: ngân hàng giải ngân cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng mở tại ngân hàng hoặc người bán, nhà cung cấp của khách hàng Kiểm soát bằng việc sử dụng tài khoản ngân hàng sẽ giúp nhà quản trị nắm bắt được: Mục đích sử dụng vốn vay, thời điểm có doanh thu…
Tài liệu thu nhập và báo cáo tài chính: ngân hàng sẽ nắm bắt thực trạng sản xuất kinh doanh của khách hàng, xác định khả năng trả nợ, có biện pháp thu hồi khoản vay một cách tốt nhất
Đánh giá chất lượng và tình trạng TSĐB: Việc đánh giá đúng chất lượng TSĐB
sẽ đảm bảo nguồn thu thứ hai cho ngân hàng khi khoản tín dụng có vấn đề
Kiểm tra thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng
(2) Xếp hạng rủi ro tín dụng
Sau khi xếp hạng khoản vay ngân hàng cần tiếp tục thu thập thông tin của khách hàng để có điều chỉnh phù hợp và ngân hàng có thể sử dụng ma trận chuyển hạng hạng khoản vay chu mục đích này Ma trận chuyển hạng khoản vay đo lường khả năng một khoản vay thăng hạng, xuống hạng hoặc không được hoàn trả ngân hàng xây dựng ma trận này dựa vào số liệu trong quá khứ Ví dụ ma trận chuyển hạng khoản vay:
Trang 3827
Bảng 1.2 Ma trận chuyển hạng khoản vay
Hạng rủi ro vào thời điểm cuối năm
A – Giá trị khoản vay
C – Giá trị TSĐB
r – Tỷ lệ trích lập cụ thể Ngoài việc trích lập dự phòng cụ thể theo các nhóm nợ thì ngân hàng cần trích
dự phòng chung với tỷ lệ 0.75% giá trị khoản vay với các nhóm nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 Cũng theo quyết định này, ngân hàng được chủ động trong việc phân loại và xếp hạng các khoản vay vào các nhóm nợ thích hợp trên cơ sở đánh giá của mình, đây cũng là cơ sở cho việc xếp hạng tín dụng nội bộ mà các ngân hàng đang tiến hành
(4) Giám sát và xử lý các khoản vay có vấn đề
Dù có hệ thống đánh giá, xếp hạng tín dụng khách hàng thì bất kỳ ngân hàng nào cũng tồn tại những khoản vay có vấn đề, với những dấu hiệu đã được nhận biết về các khoản tín dụng có vấn đề, ngân hàng cần tiến hành thu hồi các khoản vay dựa trên nguyên tắc:
Tận dụng tối đa các cơ hội để thu hồi đầy đủ các khoản vay đã cấp
Khẩn trương khám phá, phát hiện và cảnh báo kịp thời mọi vấn đề liên quan đến tín dụng, mọi sự chậm trễ đều làm tình hình tín dụng trở nên xấu hơn Tăng cường giám sát khoản vay và trích lập dự phòng đầy đủ
Trang 391.2.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Mục đích của công tác quản trị rủi ro tín dụng là phòng ngừa và hạn chế rủi ro,
từ đó tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng và duy trì rủi ro tín dụng trong phạm vi có thể chấp nhận được Tuy nhiện, trong quá trình quản trị rủi ro, có nhiều nhân tố tác động đến quá trình này khiến cho công tác quản trị RRTD gặp nhiều khó khăn, và có thể làm giảm hiệu quả Sau đây là một số nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi
ro tín dụng:
Các nhân tố thuộc môi trường bến ngoài
Nền kinh tế ổn định là tiền đề cho việc phát triển của ngân hàng và của các doanh nghiệp Nền kinh tế ổn định làm cho tín dụng tăng trưởng, các doanh nghiệp vay vốn cũng phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, gia tăng lợi nhuận, từ đó vốn vay của ngân hàng sẽ được hoàn trả đúng hạn
Môi trường pháp lý: Là hệ thống luật và các văn bản quy phạm pháp luật có ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước thì pháp luật là hàng rào pháp lý tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên tham gia Môi trường pháp lý ảnh hưởng đến công tác quản trị RRTD, do đó phải đảm bảo rõ ràng, không mâu thuẫn nhau và phải có văn bản hướng dẫn kèm theo, tạo điều kiện cho các ngân hàng áp dụng, đảm bảo kinh doanh an toàn, cải thiện công tác quản trị RRTD
Các nhân tố thuộc về ngân hàng
Năng lực điều hành của Ban lãnh đạo: Ban lãnh đạo có trách nhiệm đảm bảo công tác quản trị RRTD hoạt động một cách đúng đắn Ban lãnh đạo phải có khả năng ứng phó với những thay đổi của môi trường để có những biện pháp xử lý thích hợp
Cơ sở vật chất của ngân hàng: Nếu cơ sở vật chất tốt, đặc biệt ngân hàng sở hữu các phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả không những làm tăng năng suất công việc mà còn có thể kiểm soát tốt rủi ro tín dụng Ngược lại, nếu cơ sở vật chất yếu kém sẽ ảnh hưởng đến hoạt động không tốt đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng: Cán bộ ngân hàng có ảnh hưởng đến tất cả các khâu trong quá trình từ nhận hồ sở, thẩm định, xét duyệt hồ
Trang 4029
sơ tín dụng Cần phải chú ý đến hai nhân tố đó là năng lực trình độ và vấn đề đạo đức, hai nhân tố quyết định đến nhân sự ở bộ phận tín dụng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản trị RRTD
Các nhân tố thuộc về khách hàng
Khách hàng vay vốn gian lận, cố tình làm sai, làm giả hồ sơ, tài liệu vì ngân hàng thu thập thông tin khách hàng chủ yếu từ khách hàng vay vốn và trung tâm thông tin CIC, những thông tin từ CIC không thường xuyên, do đó nguồn thông tin chủ yếu vẫn
là từ khách hàng vay vốn Vì vậy, nếu khách hàng cố tình gian lận thi ngân hàng không thể kiểm soát được mức độ rủi ro của khoản vay
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã tập trung nghiên cứu làm rõ một số vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất: Những vấn đề cơ bản về RRTD trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng: Khái niệm, đặc điểm, phân loại RRTD, nguyên nhân dẫn đến RRTD, hậu quả của RRTD, dấu hiệu nhận biết RRTD và chỉ tiêu đánh giá RRTD của ngân hàng
Thứ hai: Các vấn đề cơ bản về quản trị RRTD: Khái niệm, nhiệm vụ và nội
dung của quản trị RRTD (Đo lường RRTD, kiểm soát, chuyển đổi RRTD và xử lý RRTD)
Qua đây, có thể thấy được tầm quan trọng của quản trị RRTD và sự phức tạp trong công tác quản trị RRTD tại ngân hàng Tuy nhiên, từ lý luận đến thực tiễn là một con đường rất dài, việc áp dụng lý thuyết vào thực tế còn phải tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, của ngành ngân hàng cũng như nội lực của từng ngân hàng Do mỗi ngân hàng có những định hướng phát triển khác nhau, cách đánh giá về RRTD khác nhau dẫn đến định hướng sẽ khác nhau, song để hoạt động quản trị RRTD đạt hiệu quả vẫn cần dựa trên nền tảng cơ sở lý luận chung, từ đó mỗi ngân hàng sẽ phát triển những lý luận này vào thực tế của mình một cách hợp lý và có điều chỉnh phù hợp