TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾKhoa Lâm Nghiệp KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI: Đánh giá hiện trạng và sinh trưởng rừng trồng trên vùng đất cát thuộc các xã ven biển ở huyện Phong Điền, tỉnh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Lâm Nghiệp
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Đánh giá hiện trạng và sinh trưởng rừng trồng trên vùng đất cát thuộc các xã ven biển ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Mai
Trang 2Sau một thời gian học tập, nghiên cứu tại trường Đại Học Nông LâmHuế và quá trình thực tập tại Phòng nông nghiệp và Phát Triển NôngThôn huyện Phong Điền, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáohướng dẫn Th.S Đinh Thị Hương Duyên và cán bộ nơi thực tập, đến naytôi đã hoàn thành chương trình đào tạo đại học và hoàn thành Khóa Luậntốt nghiệp Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
Ban giám hiệu nhà trường Đại Học Nông Lâm, Ban chủ nhiệm KhoaLâm Nghiệp, cùng quý thầy cô giảng dạy
Đặc biệt gửi lời cảm ơn đến Cô Giáo Th.s Đinh Thị Hương Duyênngười đã trực tiếp hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành Khóa Luận đúngthời hạn
Xin chân thành cảm ơn đến toàn bộ cán bộ trong Phòng nông nghiệp
và phát triển nông thôn huyện Phong Điền đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trongsuốt thời gian thực tập
Đồng thời tôi cũng bày tỏ lời cảm ơn đến cha mẹ cùng những ngườithân và toàn thể bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian họctập và thực hiện Khóa Luận tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin chúc thầy cô, các anh chị và toàn thể bạn bè sứckhỏe dồi dào, đạt nhiều thành công trong công việc, học tập và nghiêncứu
Do thời gian ngắn và trình độ còn hạn chế nên đề tài còn có nhiềuthiếu sót mong quý thầy cô giáo đóng góp thêm cho tôi
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 5 năm 2014
Sinh viên Trần Thị Mai
Trang 3BẢNG CHÚ THÍCH TỪ NGỮ, CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Từ, chữ cái Chú thích
ADB Ngân hàng phát triển Châu ÁBTN&MT Bộ tài nguyên và môi trườngVIFOTEC Qũy hộ trỡ sáng tạo Việt NamMEP Hội thừa sai Paris
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 7PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh miền Trung có diện tích đất cátven biển khá lớn (59.440 ha, chiếm 60% diện tích đất bằng và chiếm khoảng11,8% diện tích đất tự nhiên), phân bố trên 30 xã thuộc các huyện Phong Điền,Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc; bao gồm diện tích đất cồn cát,bãi cát, đất cát ven biển, đất phù sa úng nước và hệ thống đầm phá
Vùng cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế là một tiểu vùng sinh thái khắcnghiệt và rất nhạy cảm với điều kiện khí hậu và thời tiết, đặc biệt là trong giaiđoạn biến đổi khí hậu hiện nay Các nghiên cứu cho thấy rằng, Việt Nam là mộttrong những nước sẽ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu (ADB 2009) Nhiệt độ ởViệt Nam sau 50 năm (1958 – 2007) tăng lên khoảng từ 0,50C đến 0,70C Số đợtkhông khí lạnh ảnh hưởng đến nước ta giảm rõ rệt trong 2 thập kỷ qua Nhiệt độmùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơnkhí hậu phía Nam Lượng mưa trong 50 năm qua cũng giảm khoảng 2%, cácvùng khí hậu phía Bắc có lượng mưa giảm còn lượng mưa lại tăng ở phía Nam.Mực nước biển có tốc độ tăng 3mm/năm Theo một số kết quả nghiên cứu dựđoán đến 2100, miền Trung Việt Nam sẽ có sự gia tăng nhiệt độ trung bình lênđến 2,80C, lượng mưa trung bình tăng 7-8% và mực nước biển tăng 75 cm (BộTN&MT, 2009)
Với sự ảnh hưởng đó, điều kiện môi trường của vùng đất cát ven biển tỉnhThừa Thiên Huế trong nhiều năm qua có sự biến động khá mạnh do tác độngcủa thiên nhiên và con người Nguy cơ sạt lở bờ biển, nước biển xâm thực; hiệntượng cát bay, cát trôi, cát chuồi là những mối đe dọa thường xuyên Ngoài yếu
tố khách quan, cũng không ít lý do chủ quan như việc phát triển sản xuất, đào hồnuôi trồng thủy sản cũng đã làm xáo trộn không ít cảnh quan, môi trường; thêmvào đó, việc khai khoáng đại trà đã làm cho vùng đất nơi đây vốn đã khốn khólại càng khốn khó hơn Thực trạng đó dẫn đến đất trồng bị nhiễm mặn, sa mạchóa cảnh quan, gia tăng hạn hán, ngập úng do lún sụt địa tầng
Rừng ven biển và đầm phá luôn được tỉnh Thừa Thiên-Huế xác định cóvai trò to lớn trong việc chắn cát, giảm thiểu ảnh hưởng do biến đổi khí hậu, bảo
vệ môi trường sinh thái và các các công trình hạ tầng trong vùng, tạo công ănviệc làm, nâng cao đời sống của nhân dân
Trang 8Phong Điền là huyện nằm ở cửa ngõ phía bắc tỉnh Thừa Thiên Huế, rộng953,751km2, gần bằng 1/5 diện tích tự nhiên của tỉnh Phía đông bắc giáp biểnĐông với đường bờ biển thẳng tắp theo hướng tây bắc - đông nam trên chiều dàigần 16km Phong Điền có diện tích rừng của là 52.211,21ha, chiếm 54,74% diệntích đất tự nhiên của toàn huyện Diện tích rừng được chia làm ba loại: rừng sảnxuất 10.363,39 ha, chiếm 19,8%, rừng phòng hộ 9.836,12ha, chiếm 18,8%, rừngđặc dụng 32.011,7 ha, chiếm 61,3%.Vùng ven biển của Phong Điền là vùng bờbiển cát chạy theo hướng tây bắc – đông nam, từ làng Trung Đồng (giáp ranhQuảng Trị) đến hai xã Điền Hải và Phong Hải của huyện (giáp ranh QuảngĐiền) dài gần 16km, cao độ 28-30m, rộng từ 3.000 đến 5.000m ở phía bắc vàthu hẹp dần về phía nam Do gió biển, vùng này thường xuyên hình thành nhữngcồn cát di động hướng về phía làng mạc đầm phá ở phía tây Đây có thể nói làvùng đất rất khó khăn vì điều kiện tự nhiên rất khắc nghiệt, đất đai nghèo dinhdưỡng và thường xuyên chịu tác động của gió bão biển Để cải tạo và sử dụng
có hiệu quả vùng đất này việc nghiên cứu và gây trồng rừng phòng hộ ven biểnđóng vai trò hết sức quan trọng
Tính đến nay, vùng cát ven biển huyện Phong Điền có các loại cây trồngnhư phi lao, keo chịu hạn, keo lưỡi liềm, tập đoàn cây ngập nước; và nhóm cácloại thực vật hoang dại như: xương rồng, tràm, chổi, mua, sim, chạc chìu, dứadại… Ngoài việc chống sạt lở, các loài cây trồng này nếu được trồng tập trungcòn chống được tình trạng sa mạc hoá vùng đất cát ven biển; chống biển xâmthực và nạn cát bay; tạo cảnh quan sinh thái thuận lợi cho môi trường, phù hợpvới chiến lược phát triển lâm nghiệp của tỉnh giai đoạn 2011-2015: Thừa ThiênHuế trồng mới khoảng 1.150 ha rừng vùng cát ven biển và đầm phá
Vấn đề tồn tại lớn nhất trong phát triển rừng trồng vùng cát ven biểnhuyện Phong Điền nói riêng, tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung là chưa có cácnghiên cứu, đánh giá khoa học và một cách đầy đủ về đặc điểm vùng sinh thái,các loài cây trồng phù hợp, mà chỉ mới chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Nhằmgóp phần xây dựng cơ sở thực tiễn cho công tác phát triển rừng trồng vùng cátven biển của tỉnh hiệu quả và đảm bảo tính bền vững trong giai đoạn hiện nay,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Đánh giá hiện trạng và sinh trưởng
rừng trồng trên vùng đất cát thuộc các xã ven biển ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế".
Trang 9PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Sinh trưởng và tăng trưởng của cá thể cây rừng
2.1.1 Sinh trưởng của cá thể cây rừng
Sinh trưởng là sự tăng lên của một đại lượng nào đó nhờ kết quả đồng hóacủa một vật sống (theo V.Bertalanfly) hoặc là sự biến đi của nhân tố điều tratheo thời gian (theo Vũ Tiến Hinh- Phạm Ngọc Giao, 1997).[1]
Sinh trưởng của cây rừng là một trong những cơ sở quan trọng hình thànhnên sản lượng rừng Sinh trưởng của cây rừng có nhiều biểu hiện đa dạng cảphần trên mặt đất và dưới mặt đất Ở đây chỉ nghiên cứu nhân tố có liên quanđến sản lượng gỗ Đó là quy luật sinh trưởng chiều cao, đường kính và thể tích
Sinh trưởng của cây rừng là một hàm số (y) của thời gian (t): y= f (t)Hàm sinh trưởng cá thể cây rừng là hàm thuận, tăng đơn điệu, xác địnhtrong khoảng 0 < t T (T là tuổi thọ của cây) Đường cong biểu diễn sinh trưởng
có hình chữ S, có một điểm uốn, tại đó cây đạt lượng tăng trưởng cực đại
Đặc tính di truyền của mỗi loài cây và điều kiện lập địa quyết định dạngđường cong sinh trưởng Đặc điểm sinh trưởng của loài cây ưa sáng là sinhtrưởng nhanh, đời sống ngắn Loài cây chịu bóng sinh trưởng chậm, đời sốngdài Loài cây ưa sáng và chịu bóng không những khác nhau tốc độ sinh trưởng
mà còn khác nhau về quá trình sinh trưởng Trong giai đoạn đầu, loài cây ưasáng sinh trưởng nhanh hơn loài cây chịu bóng Đến một tuổi nào đó, tốc độ sinhtrưởng của loài cây ưa sáng chậm dần và sẽ chậm hẳn lại khi chúng đạt kíchthước cực đại Lúc này loài cây chịu bóng vẫn tiếp tục sinh trưởng và đạt tới cựcđại lớn hơn những cây ưa sáng
Vai trò tích cực của con người khi tác động các kỹ thuật lâm sinh chínhxác là làm tăng tốc độ sinh trưởng cây rừng sớm đạt đến tuổi khai thác
Quy luật sinh trưởng chiều cao, đường kính, thể tích cây rừng tuy khácnhau nhưng có đặc điểm chung là trong những năm đầu cây rừng chưa có bộ rễ
và tán cây hoàn chỉnh nên tốc độ sinh trưởng còn chậm, sau đó tốc độ sinhtrưởng tăng dần và đến một tuổi nào đó thì tốc độ sinh trưởng đạt cực đại Sauthời điểm này tốc độ sinh trưởng chậm lại và ngừng hẳn khi cây già, lúc này cây
Trang 10đạt tới kích thước cực đại và bước vào tuổi thành thục tự nhiên Qua giai đoạnnày cây già cỗi, thường xuất hiện hiện tượng rỗng ruột, dễ bị gió đổ.
Tuy có đặc điểm chung nhưng giữa sinh trưởng, chiều cao, đường kính vàthể tích vẫn có những đặc thù riêng Quy luật phổ biến xuất hiện ở nhiều câyrừng là thời điểm cây đạt tốc độ sinh trưởng cực đại về chiều cao sớm hơnđường kính và đường kính sớm hơn thể tích
2.1.1.1 Về sinh trưởng chiều cao
Sinh trưởng chiều cao diễn ra nhờ có hoạt động của mô phân sinh Thời
kỳ sinh trưởng về chiều cao bắt đầu từ khi chồi ngọn hình thành và hoạt độngcho đến khi hình thành chồi ngọn mới Ở nước ta, mùa sinh trưởng thường bắtđầu từ mùa xuân Có loài cây sinh trưởng chiều cao tiếp diễn không ngừng trongnăm gọi là nhóm thực vật sinh trưởng liên tục Có loài cây sinh trưởng chỉ tậptrung vào một số ngày của mùa xuân, sau đó ngừng sinh trưởng và sinh ra mộtvòng cành Đây là nhóm thực vật sinh trưởng không liên tục (cây bàng) Trongnhóm thực vật này lọai cây này có hiện tượng "tái sinh trưởng", có nghĩa làtrong một năm xuất hiện 2-3 đợt sinh trưởng chiều cao Ở nước ta đợt sinhtrưởng chiều cao lần thứ hai thường xuất hiện vào mùa mưa Đối với nhứng loàicây sinh trưởng không liên tục, có thể dựa vào vòng cành để đoán tuổi Căn cứvào đường cong sinh trưởng chiều cao, người ta phân biệt làm 4 dạng đườngcong sinh trưởng sau đây:
Dạng I: Cây tiên phomg tạm thời Dạng II: Cây tiên phong định cư
Trang 11Dạng III: Cây chịu bóng dưới tán rừng Dạng IV: Cây chịu bóng tầng trên
Dạng 1: Cây tiên phong tạm thời
Cây ưa sáng đới sống ngắn, cây sinh trưởng nhanh và kích thước nhỏ (Huđay, bồ đề )
Dạng 2: Cây tiên phong định cư
Cây ưa sáng, đời sống ngắn, cây sinh trưởng dài và kích thước lớn (mỡ,ràng ràng, mít )
Dạng 3: Cây chịu bóng dưới tán rừng
Cây sinh trưởng chậm kích thước nhỏ
Dạng 4: Cây chịu bóng tầng trên
Cây sinh trưởng chậm, kích thước lớn, đời sống dài
Phân loại dạng đường cong sinh trưởng là một trong những cơ sở là rấtquan trọng để lựa chọn sự phối hợp các loại cây trồng rừng thuần loài, dạngđường cong sinh trưởng chiều cao quyết định kết cấu tầng thứ của mô hìnhthuần loài và lựa chọn thời điểm và thời gian trồng
2.1.1.2 Về sinh trưởng đường kính
Sinh trưởng đường kính diễn ra nhờ có hoạt động của tượng tầng Ởnhững khí hậu phân mùa rõ rệt, nhất là đối với loài cây rụng lá việc hình thành
"gỗ mùa xuân", "gỗ mùa thu" hàng năm đã tạo nên vòng năm có thể nhận biếttrên mặt cắt ngang thân cây Đối với những loài cây này có thể dựa vào số vòngnăm để xác định loài cây
Ở nước ta, các loài cây thông, bồ đề, mỡ, thể hiện quy luật vòng nămtương đối rõ Tuy nhiên, đối với những vòng năm bị hạn hán vòng năm thườngkhông khép kín
2.1.1.3 Về sinh trưởng thể tích
Sinh trưởng chiều cao và đường kính là cơ sở quan trọng tạo thành sinhtrưởng về thể tích, trong đó lượng tăng trưởng về thể tích tỷ lệ bình phương vớilượng tăng trưởng đường kính Ngoài ra quy luật sinh trưởng thể tích còn chịuảnh hưởng bởi quy luật biến đổi hình số Sinh trưởng thể tích là cơ sở quan trọng
để tạo nên sản lượng lâm phần
Trang 12Ở dưới đất rễ cây cũng có quy luật sinh trưởng nhất định Quy luật sinhtrưởng của rễ cây (mùa rễ sinh trưởng, phạm vi không gian sinh trưởng của rễcọc, rễ bàng ) là cơ sở khoa học cho biện pháp bón phân.
Đối với mỗi loài cây, sinh trưởng của bộ phận trên mặt đất (chiều cao thâncây, trọng lượng ) và bộ phận dưới mặt đất (chiều sâu cọc rễ, trọng lượng )cũng như sinh trưởng của các bộ phận trên mặt đất (chiều cao và đường kính,đường kính và thể tích, đường kính thân cây và đường kính tán ) đều có tươngquan chặt chẽ Những tương quan này có nhiều ý nghĩa về sinh thái học, nó dựatrên những nguyên lý sinh bảo đảm cho cây rừng sinh trưởng bền vững và cânđối tự nhiên Đứng trên quan điểm sinh thái ứng dụng, những tương quan nàycũng mang nhiều ý nghĩa thực tiễn Tương quan giữa bề rộng tán cây và hệ rễbàng nói lên khả năng chịu hạn của loài cây Tương quan giữa chiều cao của cây
và chiều sâu của rễ cọc nói lên khả năng chống gió của loài cây Tương quangiữa bề rộng tán lá với đường kính ngang ngực theo tuổi là cơ sở tính toán mật
độ rừng còn để lại khi tỉa thưa Do chiều cao, thể tích khó đo và khó đạt độchính xác cao nên có thể dùng tương quan giữa đường kính ngang ngực với 2nhân tố này để suy ra chiều cao và thể tích Những tương quan này được sửdụng nhiều trong lâm sinh học và trong điều tra rừng
2.1.2 Tăng trưởng của cây rừng
Tăng trưởng là tốc độ sinh trưởng trong một khoảng thời gian nhất định.Tăng trưởng cũng là một hàm số (Z) của thời gian (t) và được tính bằng hàmbậc nhất của hàm sinh trưởng:
Z = y' = f' (t)Đường cong tăng trưởng có dạng đường cong một đỉnh không đối xứng.Điểm cực đại của đường cong tăng trưởng trùng với điểm uốn của đường congsinh trưởng Trước điểm tăng trưởng cực đại lượng tăng trưởng tăng nhanh; sauthời điểm cực đại lượng tăng trưởng giảm dần Đường cong tăng trưởng phụthuộc vào dạng đường cong sinh trưởng và cũng chịu ảnh hưởng chi phối củatính di truyền và điều kiện lập địa Loài cây ưa sáng, trong những năm đầu cólượng tăng trưởng cao, thời điểm đạt lượng tăng trưởng cực đại đến sớm sau đólượng tăng trưởng giảm nhanh Ngược lại loài cây chịu bóng trong những nămđầu có lượng tăng trưởng thấp, thời điểm đạt tăng trưởng cực đại đến muộn vàsau đó lượng tăng trưởng giảm nhưng giảm chậm hơn so với loài cây ưa sáng.Trong thời điểm cây rừng đạt tăng trưởng cực đại có ý nghĩa thực tiễn rất quan
Trang 13lâm phần cũng diễn ra nhanh nhất Nếu tác động các biện pháp lâm sinh chínhxác và kịp thời sẽ có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của lâm phần sau này.Cùng một loài cây, sinh trưởng trong những điều kiện lập địa khác nhau sẽ cólượng tăng trưởng khác nhau Lượng tăng trưởng hằng năm cực đại của nhữnglâm phần thuần loại trên điều kiện lập địa tốt sẽ đến sớm và lớn hơn so vớinhững lâm phần tương tự trên điều
kiện lập địa xấu
Đặc trưng của lâm phần ảnh
hưởng đến lượng tăng trưởng Cùng
một loài cây cùng một điều kiện lập
địa nhưng mặt độ khác nhau thì lượng
tăng trưởng cũng khác nhau
Đường cong tăng trưởng của loài cây ưa
sáng (1) và loài cây chịu bóng (2)
Tác động của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chính xác và kịp thời sẽ làmtăng lượng sinh trưởng và rút ngắn thời gian rừng đạt đến tuổi khai thác
Lượng tăng trưởng hằng năm và lượng tăng trưởng bình quân là cơ sở đểxác định tuổi thành thục số lượng Lượng tăng trưởng hằng năm là hiệu số củalượng sinh trưởng hai năm kế tiếp nhau Lượng tăng trưởng bình quân bằngthương số giữa lượng sinh trưởng chia cho thời gian (tính bằng năm) để đạtđược lượng sinh trưởng đó Ở thời điểm lượng tăng trưởng hằng năm bằnglượng tăng trưởng bình quân, rừng sẽ đạt đến tuổi thành thục số lượng Quá tuổithành thục số lượng, lượng tăng trưởng hằng năm sẽ nhỏ hơn lượng tăng trưởngbình quân Vì vậy đứng trên quan điểm sản lượng thì xác định tuổi khai thácchính bằng tuổi thành thục số lượng là kinh tế nhất Trong trường hợp này tuổithành thục số lượng chính là luân kỳ kinh doanh Lượng tăng trưởng bình quânkhông chỉ là cơ sở để xác định luân kỳ kinh doanh mà còn là tiêu chuẩn quantrọng để lựa chọn loài cây trồng đứng trên quan điểm sản lượng
2.2 Một số nét về trồng và phát triển cây lâm nghiệp trên đất cát ven biển Việt Nam
Trang 14Vùng đất cát và vùng ven biển Việt Nam được hình thành cách đâykhoảng 600.000 năm, hiện nay chúng vẫn đang tiếp tục được hình thành và cóđịa hình bằng phẳng Đặc điểm tự nhiên ở các vùng đất cát ven biển nước ta vôcùng khắc nghiệt, trong khi đó những vùng này có vai trò rất quan trọng trongviệc bảo vệ môi trường, an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế - xã hội Việcxây dựng rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát ven biển là một giải pháp rất có hiệuquả và đã được thực hiện ở nước ta hàng trăm năm nay Trong các loài cây lâmnghiệp được nghiên cứu và trồng nhiều nhất chủ yếu là Phi lao, các loài Keo,Xoan chịu hạn và một số các loài cây bản địa.
Trong thời gian 20 năm trở lại đây, đã có rất nhiều nghiên cứu với mongmuốn trồng và phát triển các loài cây lâm nghiệp chịu hạn ở vùng đất cát venbiển Các loài cây đã được đưa vào trồng khảo nghiệm và phát triển ở nhiều địaphương như Quảng Nam, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận chủ yếu là Bạchđàn, Xoan chịu hạn, Trai lá cong, các loài Keo, Phi lao Ngoài những cây trồngnêu trên, vùng đất cát ven biển miền trung còn trồng một số loài cây bản địa, cây
ăn quả lâu năm như: Xoài, Đào lộn hột, Sở, Xà cừ, Trong đó, loài cây Sở, Đàolộn hột đã trồng thành công hơn cả mặc dầu diện tích trồng rừng chưa nhiều Sởđược trồng thành quần thụ hoặc trồng phân tán trong các hộ gia đình sống trênvùng đất cát Nhân dân dùng hạt ép dầu ăn và dùng bả Sở để vệ sinh ao hồ,thuốc cá Do diện tích rừng không tập trung, phương pháp chế biến sản phẩm làthủ công thô sơ nên hiệu quả kinh doanh còn hạn chế
Nhìn chung, các mô hình còn ít về số lượng, nhiều mô hình còn trong giaiđoạn thử nghiệm, chưa được nhân rộng và phát triển mạnh mẽ do các loài cây lâmnghiệp hiện nay chưa thể hiện được sức mạnh nổi trội trong phát triển kinh tế ởđịa phương Tuy nhiên, một số dự án về phát triển cây lâm nghiệp ở các địaphương như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Bình Thuận đã chọn đượcmột số loài cây thích hợp và đưa vào trồng đại trà, có khả năng phát triển mạnh
đó là các loài Keo chịu hạn (Acacia), trong đó cây Keo lá liềm đang rất được quan
tâm, chú ý
Trong giai đoạn trước đây ở nước ta, cây Phi lao được xem là cây độcnhất ở dải cát ven biển miền trung với sức sống rất oai hùng, khả năng chắn gióbão, chắn cát bay, đem màu xanh cho vùng đất cát khô cằn, nơi mà khó có cây
gì sống được Cây Phi lao cứng cáp, lá xanh tươi bốn mùa Lá khô và quả dùng
để đun nấu Thân cây mau lớn, sau 6-7 năm được thu hoạch, bán gỗ hay bán củi
Trang 15dựng, làm than, làm củi Từ lâu các nhà trồng cây cảnh đã trồng uốn làm câycảnh nghệ thuật Vỏ xám trên cành non, nâu sẫm trên cành già, chứa chấtcasuarin dùng để nhuộm, do có Tanin nên được dùng để thuộc da, chế với sunfatsắt cho màu đen Tro của gỗ là nguyên liệu chế xà phòng Và đặc biệt còn có vai
trò làm nhiều phương thuốc chữa bệnh Khoảng vào năm 1894 cây phi lao được
nhập ngoại vào Việt Nam và trồng loài cây này sớm nhất tại Việt Nam, đó làmột linh mục truyền giáo thuộc Hội Thừa sai Paris (Mission Etrangere de Paris,viết tắt là MEP) Tuy nhiên, đứng trước những biến động về tình hình phát triểnkinh tế và nhu cầu của đời sống xã hội ngày một cao thì cây Phi lao không còn
là cây chiếm vị trí độc tôn như trước nữa Nhiều nghiên cứu với mục đích trồngcác loài cây khác có giá trị kinh tế cao, thời gian thu hoạch rút ngắn đã và đangthay đổi dần bộ mặt của vùng cát ven biển
Tình trạng phá rừng và huỷ hoại lớp phủ thực vật do con người gây ra làmcho diện tích rừng phòng hộ ven biển bị thu hẹp, độ che phủ thảm thực vật thấp,
sự xói mòn và thoái hoá đất xảy ra nghiêm trọng Mặt khác, do nuôi trồng thuỷsản đã gây nên mặn hoá những vùng đất ven biển Hiện tượng hoang mạc hoá đãxuất hiện ở các huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận),Ninh Phước, Ninh Hải (Ninh Thuận) [2] Thành phần loài trong các đai rừng cònlại đơn giản, nhiều đai rừng chỉ có một hoặc vài vài loài cây chính Một số đairừng trồng thuần loài, khả năng tái sinh tự nhiên rất hạn chế Trong đó phi lao làloài cây tiên phong, phát triển mạnh nhất, được xem là cây chủ lực trong việctrồng rừng chắn cát bay, cát chảy Tuy nhiên cần phải trồng bổ sung các loài câykhác để nâng cao khả năng cải tạo đất của đai rừng phòng hộ trên các vùng cát
Công trình nghiên cứu “Xây dựng rừng phòng hộ trên đất cát ven biển“doViện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam chủ trì, đã đoạt giải VIFOTEC 2005 ở lĩnhvực công nghệ nhằm bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên Đưa racác tiêu chí về phân vùng phòng hộ, phân chia lập địa, trạng thái rừng phi lao ,nghiên cứu này là cơ sở để quy hoạch cả hệ thống đai rừng phòng hộ đối vớivùng cát khắc nghiệt và vô cùng xung yếu của nước ta “Nét mới của công trìnhnghiên cứu này là đã định lượng được một số chỉ tiêu về năng lực phòng hộ vàtác dụng sinh thái của các đai rừng”, TS Đặng Văn Thuyết, chủ nhiệm côngtrình, cho biết “Độ đặc đai rừng” là một chỉ tiêu khoa học mới, được đưa ra cógiá trị định lượng trong đánh giá tác dụng phòng hộ của rừng [3]
Các tiến bộ kỹ thuật về phân vùng phòng hộ, việc lựa chọn và thử nghiệmcác loài cây trồng phù hợp cho từng vùng phòng hộ có trong nghiên cứu này có
Trang 16thể áp dụng cho vùng cát ven biển Bắc Trung Bộ, vận dụng phát triển cho toànvùng cát ven biển nước ta.
Cơ sở pháp lý quy định những nguyên tắc, yêu cầu và nội dung kỹ thuậtxây dựng rừng chắn gió, cố định cát, cải thiện tiểu khí hậu vùng cát biển v.v là
đề cương Xây dựng quy phạm trồng rừng phòng hộ vùng cát ven biển đã được
Vụ Khoa học - Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phê duyệtnăm 2005 Từ đây, có thể xác định hướng gió chính, mùa gió hạn, các vùngphòng hộ theo mức độ xung yếu, nhóm dạng lập địa, loài cây trồng dự tuyển chođến các kỹ thuật trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ rừng phòng hộ vùng cátven biển cả nước
Điều không kém quan trọng là cần nghiên cứu bổ sung hệ thống đai rừngphòng hộ điển hình cho các vùng phòng hộ, nhóm dạng lập địa Rừng này baogồm cả cây cao ở trên, cây nhỡ ở giữa và cây bụi ở dưới để tạo đai rừng có kếtcấu tán từ dưới sát mặt đất cát lên phía trên Hiệu quả kinh tế xã hội và môitrường của công trình đã rõ Các vấn đề được phát hiện và kết quả nghiên cứu đãđược trao đổi, chuyển giao cho các cơ quan, cán bộ, người dân vùng cát venbiển là những nơi thực hiện nghiên cứu
Cụ thể, các đai rừng phi lao, keo lá tràm trồng trên các dạng lập địa bãicát, trên líp trong khu vực canh tác nông nghiệp, có thể chặt khai thác ở tuổi 7-
10, mỗi ha thu được 9,7-10 triệu đồng Khai thác xong có kế hoạch trồng lạirừng mới
Đai rừng phi lao hay keo Acacia difficilis, Acacia torulosa 3 tuổi trồng
trên đụn cát bay với mật độ 5.000 cây/ha, bề rộng đai 100m có tác dụng làmgiảm tốc độ gió ở sau đai rừng 10m tới 0,7-0,8 lần so với tốc độ gió ở trước đairừng 10m, giảm lượng cát bay 2,4-4,2 lần, tăng độ ẩm không khí 2,1-3,7%, giảmnhiệt độ không khí 0,9-20, trả loại đất tới 240g/m2 lá rụng và cải thiện tính chấthóa học đất so với nơi trống
Với công trình nghiên cứu này, không chỉ các nhà khoa học mà rồi đây,người dân vùng biển sẽ biết rất rõ về giá trị to lớn của rừng phòng hộ ven biển
Nó ngăn chặn tình trạng biển xâm thực, cát bay cát chảy vào khu dân cư, lại bảo
vệ được môi trường sinh thái ở những miền quê nắng nóng khốc liệt
Các kết quả khảo nghiệm 6 loài bạch đàn khác nhau với 32 xuất xứ tạiĐông Hà-Quảng Trị trong thời gian qua đã chứng tỏ loài bạch đàn urophylla
Trang 17năm trồng thử nghiệm đã có thể tích thân cây là 33,17dm3/cây, đó là loài bạchđàn được gây trồng khá phổ biến ở Việt Nam (Đỗ Đình Sâm, Nguyễn NgọcBình) [4].
Mô hình trồng Phi lao, dạng mô hình này thường được xây dựng thành dảilớn, tập trung sát và dọc theo bờ biển để phòng hộ chắn gió, bão và cát bay, đặcbiệt trên những vùng đất cát di động Điển hình có mô hình trồng rừng Phi laotrên đất cát di động mạnh ven biển tại xã Hải Ninh - Quảng Ninh - Quảng Bìnhnăm 1995 do hộ nông dân Nguyễn Văn Lễ thực hiện với sự chỉ đạo của Lâmtrường Nam Quảng Bình Đây là vùng đất có thể nói là rất khó khăn nên từ lâuvẫn chưa được sử dụng Rừng được trồng theo Chương trình 327 bằng loài câytrồng Phi lao Trung Quốc và Phi lao địa phương, trong đó Phi lao Trung Quốcđược trồng mới mục tiêu thử nghiệm Mật độ trồng: 3300 cây/ha Sinh trưởngđường kính cổ rễ (D00), chiều cao vút ngọn (HVn) và đường kính tán (Dt) của 2 loàiPhi lao trồng thuần loại 3 tuổi trên một dạng điều kiện lập địa như nhau được thểhiện ở bảng 2.1:
Bảng 2.1: Sinh trưởng của 2 loài phi lao trên cùng điều kiện lập địa
Loài cây Ô tiêu chuẩn D 00 (cm) H vn (m) D T (m)
Phi lao
Trung Quốc
1a2a3a4a
TB
1,701,632,191,85
1,84
1,2201,0231,5051,180
1,232
0,8580,8481,2620,857
0,956
Phi lao
địa phương
1b2b3b4b
TB
2,792,872,612,53
2,70
1,7501,7901,7441,772
1,764
1,4071,2791,3901,250
1,332
(Nguồn: Lê Đình Khả, 2001) [5]
Số liệu bảng 2.1 cho thấy sinh trưởng của 2 loài Phi lao trên vùng cát diđộng mạnh ở mức trung bình, trong đó giống Phi lao địa phương có sinh trưởngtốt hơn Phi lao Trung Quốc, tuy nhiên Phi lao Trung Quốc lần đầu đưa vào vùngcát Quảng Ninh - Quảng Bình trồng bằng cây hom trong bầu và cây con đemtrồng cao bình quân 35cm - chỉ cao bằng nửa so với Phi lao địa phương Tỷ lệsống trung bình là 65% (thể hiện ở bảng 2.2), tuy con số này chưa phải là caonhưng điều quan trọng nhất là đã tạo được 1 lớp thảm cây che phủ mặt đất, hạn
Trang 18chế cát bay, từng bước cải thiện điều kiện đất đai và tiểu khí hậu của vùng cát diđộng mạnh ven biển
Trang 19Bảng 2.2: Tổng hợp tỷ lệ cây sống, chết của 2 loài Phi lao
Loài cây Ô tiêu
TB
110101111112
108,5
67616768
65,75
55645453
56,5
33393332
34,25
Phi lao
địa phương
1b2b3b4b
TB
110107111105
108,25
67656764
65,75
55585460
56,75
33353336
34,25
(Nguồn: Lê Đình Khả, 2001) [5]
Một điểm mới trong mô hình này cũng cần phải đề cập đến là phươngthức tổ chức thực hiện Hộ gia đình đã được giao đất và cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, được trợ giúp về kỹ thuật và nguồn giống cây trồng, gia đình
bỏ công lao động Để có thể đưa những vùng cát di động và bán di động venbiển nước ta vào sử dụng chúng ta cần phải có những chính sách ưu tiên, trợgiúp kỹ thuật và đầu tư hợp lý, có như vậy thì các mô hình trồng rừng Phi laotập trung như hộ ông Nguyễn Văn Lễ mới được nhân rộng
Ở nước ta khoa học nghiên cứu về sản lượng rừng hình thành tương đốimuộn so với các nước khác, nhưng việc nghiên cứu rừng phục vụ công tác điềutra kinh doanh rừng nước ta đã được các nhà khoa học thuộc Viện khoa họclâm nghiệp, Viện điều tra quy hoạch rừng, trường Đại học Lâm Nghiệp và cáctrung tâm nghiên cứu trong cả nước tiến hành nghiên cứu, lúc đầu chỉ thăm dòcho đến nay thì mô hình toán học cũng đã dần làm rõ
Đầu tiên các tác giả Nguyễn Ngọc Nhị và Nguyễn Văn Khánh phân vùngsinh trưởng cho thực vật rừng Việt Nam dựa vào các đặc trưng về khí hậu, thủyvăn, thổ nhưỡng và thực vật với hệ thống chi tiết gồm 6 cấp, trong số khu vựcsinh trưởng cấp cho toàn quốc Phùng Ngọc Lan (1998) đã khảo nghiệm một sốphương trình sinh trưởng cho một số loài cây như: Thông đuôi ngựa, mỡ Tácgiả cho thấy các đường thực nghiệm và đường sinh trưởng về lý thuyết đa sốgặp nhau tại một điểm, từ đó chứng tỏ sai số của phương trình rất nhỏ, có 2 giaiđoạn sai số ngược dấu nhau trong một hệ thống [6] Nguyễn Ngọc Lung (1987)
Trang 20nghiên cứu sinh trưởng và định lượng bằng mô hình toán học Tác giả cũng cónhận xét tương tự khi áp dụng các hàm sinh trưởng của Gompertz và một sốhàm khác cho một số loài cây rừng Việt Nam, sử dụng hàm Schumacher xâydựng mô hình sinh trưởng cho loài thông 3 lá tại Lâm Đồng.
Vũ Tiến Hinh (1989-1998) đã xây đựng phương pháp xác định quy luậtsinh trưởng cho từng loại cây rừng tự nhiên và mô phỏng xây dựng động tháiphân bố đường kính trên cơ sở sinh trưởng định kỳ của lâm phần hỗn loài kháctuổi Những công trình nghiên cứu đã đề xuất được hướng giải quyết và phươngpháp luận trong nghiên cứu sinh trưởng Từ đó có các biện pháp tác động đạthiệu quả tốt nhất trong kinh doanh và nuôi dưỡng rừng Kết quả nghiên cứu củacác tác giả nghiên cứu trong nước và nước ngoài cho thấy việc nghiên cứu tìnhhình sinh trưởng của một số loài cây nào đó đều dựa vào các chỉ tiêu về đườngkính ngang ngực, chiều cao vút ngọn, đường kính tán, tuổi lâm phần và vòngnăm Từ đó tính toán các chỉ tiêu, đưa ra nhận xét, đánh giá chính xác
2.3 Thực trạng về cây trồng lâm nghiệp trên đất cát ven biển của tỉnh Thừa Thiên Huế
Vùng cát ven biển, đầm phá ở Thừa Thiên - Huế có đến 42 xã, thị trấnthuộc năm huyện: Phong Ðiền, Quảng Ðiền, Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc,với chiều dài gần 50 km, rộng hàng chục nghìn ha Ðiều kiện môi trường củavùng này nhiều năm qua có sự biến động khá mạnh Trong đó, hiện tượng sạt lở
bờ biển và cát bay, cát nhảy, hoang mạc hóa là những mối đe dọa thường xuyên,làm cho vùng đất nơi đây vốn đã khốn khó, lại càng khốn khó hơn Tại thị trấnThuận An (huyện Phú Vang) và xã Hải Dương (Hương Trà), những nơi có biểnxâm thực vào đất liền từ 50 đến 100 m, đã cuốn trôi dãy nhà nghỉ của Công antỉnh cùng ngọn hải đăng ra biển, một phần do biến đổi khí hậu, phần khác dorừng phòng hộ ven biển quá mỏng, chưa đủ sức ngăn cản sóng biển tàn phá
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) Thừa Thiên
- Huế, dự án trồng rừng phòng hộ ven biển, vùng cát, một trong những hợp phầnquan trọng của Chương trình trồng mới năm triệu ha rừng được triển khai tại 28
xã thuộc năm huyện Phong Ðiền, Quảng Ðiền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc.Qua 10 năm thực hiện, dự án đã mang lại hiệu quả nhất định về kinh tế, xã hội
và môi trường, trong đó hiệu quả về môi trường sinh thái được nâng lên rõ rệt
Hệ thống đồi cát ở các vùng Ngũ Ðiền và các vùng bán di động trước đây vốn
Trang 21hoang hóa giờ đã được phủ xanh, tạo điều kiện về cảnh quan để phát triển dulịch ven biển và kinh tế trang trại trên cát.
Xã Ðiền Môn là một trong những xã ven biển của huyện Phong Ðiền thamgia dự án trồng rừng phòng hộ vùng cát (gọi tắt Dự án 661) Từ năm 2001 đếnnay, toàn xã trồng được 180 ha rừng thuộc Dự án 661 Dự án này không chỉ phùhợp với điều kiện thực tế của địa phương mà còn tạo điều kiện cho người dânphát triển kinh tế Sau khi tiếp nhận dự án, nhất là giai đoạn từ năm 2004 đến
2008, nhiều hộ dân có tâm huyết đăng ký tham gia Ngoài diện tích rừng phòng
hộ do xã quản lý, tính đến nay, có khoảng 134 ha rừng keo lưỡi liềm được giaocho gần 150 hộ gia đình trồng và quản lý Cùng với diện tích rừng trồng thuộc Dự
án 661 và gần 280 ha rừng trồng phân tán trong dân, rừng từ các dự án khác, toàn
xã đã phủ kín được 28% trong kế hoạch 45% diện tích đất tự nhiên
Không chỉ hưởng lợi trực tiếp từ rừng, nhiều hộ dân ở các xã PhongChương, Phong Hòa, Phong Bình (Phong Ðiền); Quảng Thái, Quảng Lợi,Quảng Vinh (Quảng Ðiền) đã thành lập trang trại, gia trại sản xuất nông nghiệp
có hiệu quả Ðiển hình có mô hình trang trại VACR (vườn-ao-chuồng-rừng) củacác ông Nguyễn Hữu Nhân ở xã Phong Chương (Phong Ðiền), Phan Văn Hứa ở
xã Quảng Lợi (Quảng Ðiền) Nhờ có rừng giữ ẩm, làm mát cho đất, nhiều hộdân còn tăng gia trồng thêm nhiều giống cây ăn quả và các loại hoa màu khác
Thực hiện dự án trồng rừng 661, các địa phương trong vùng đã trồng vàchăm sóc được gần 4.600 ha rừng, trong đó vùng cát ven biển gần 1.900 ha vàvùng cát nội đồng gần 2.740 ha; trồng bảo vệ đê cát ven biển và ven phá 5.210m; quản lý bảo vệ hơn 5.600 lượt/ha rừng và một số cơ sở hạ tầng khác vềtuyên truyền bảo vệ rừng [7] Qua đó, nâng độ che phủ rừng của vùng dự ántăng lên 30% Các địa phương còn trồng hơn 5.200 m cây dọc các tuyến đê venphá và ven biển để nâng cao giá trị phòng hộ Chất lượng rừng trồng ngày càngđược nâng lên, cơ cấu cây trồng ngày một đa dạng hơn, vừa có tác dụng phòng
hộ, vừa tăng thu nhập cho hộ dân Diện tích đất trống, đồi núi trọc cơ bản đượctrồng rừng phủ xanh, rừng phòng hộ ven biển, hình thành các đai rừng bảo vệ
đê, phòng hộ khu dân cư ven biển trước bão lũ và tình trạng nước biển dâng.Các dự án trồng rừng đã giải quyết công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho2.230 hộ gia đình và hơn 10 nghìn lao động Bình quân mỗi năm trồng 450 ha [6],chủ yếu là keo lưỡi liềm, keo lá tràm, phi lao Ðặc biệt, qua quá trình thực hiện,
Trang 22nhận thức và trách nhiệm về bảo vệ và phát triển rừng của địa phương cũng nhưngười dân được nâng lên rõ rệt.
Trang 23PHẦN 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG,
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các loại rừng Phi lao (casuarinas equisetiforlia), Keo chịu hạn (Acacia
difficilis), Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) có trên địa bàn thuộc các xã ven
biển huyện Phong Điền
3.3 Phạm vi
Đề tài nghiên cứu tập trung ở các rừng trồng của các tổ chức dự án ở 3 xãven biển huyện Phong Điền: Điền Môn, Điền Hương (Không điều tra rừng do
hộ gia đình tự phát trồng)
3.4 Nội dung nghiên cứu
3.4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Phong Điền
3.4.2 Hiện trạng rừng trồng trên vùng cát thuộc các xã ven biển huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Rừng trồng xã Điền Hương: Diện tích, loài cây, năm trồng, D1.3, Hvn
- Rừng trồng xã Điền Môn: Diện tích, loài cây, năm trồng, D1.3, Hvn
- Rừng trồng xã Điền Hòa: Diện tích, loài cây, năm trồng, D1.3, Hvn
3.4.3 Khả năng sinh trưởng của các loài cây trồng trên đất cát thuộc xã Điền Hương
Môn
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
3.5.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Trang 24Trên cơ sở kế thừa những tài liệu, văn bản ở Phòng Nông Nghiệp và PhátTriển Nông Thôn, phòng thống kê và xử lý các thông tin về điều kiện tự nhiên,tình hình dân sinh kinh tế trên địa bàn nghiên cứu huyện Phong Điền.
3.5.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phỏng vấn cán bộ kiểm lâm về công tác bảo vệ rừng và phát triển rừng
- Đo đếm số liệu thực tế tại rừng trồng để xác định chất lượng của rừngtrên địa bàn theo phương pháp sau:
* Bước một: Chuẩn bị
- Thu thập tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu về bản đồ hiện trạngrừng và xác định nơi phân bố
- Xác định đối tượng điều tra trên bản đồ
- Chuẩn bị các công cụ đo đếm: Thước dây, sào có khắc vạch
- Xác định ô tiêu chuẩn và kích thước cụ thể của ô, ô tiêu chuẩn 500m2
* Bước hai: Lập tuyến điều tra
- Lập các ô tiêu chuẩn (OTC) theo các độ tuổi cây rừng, mỗi tuổi cây lập
3 lần lặp ở 2 xã (Điền Hương, Điền Môn)
- Mỗi OTC có diện tích 500m2 đảm bảo:
+ Nằm gọn trong lô rừng+ Cách xa đường cái đường mòn lớn, bìa rừng ≥10m+ Không có suối cát chảy qua
+ Đồng nhất các yếu tố kết cấu, địa hình, đất đai+ Thuận lợi cho công tác điều tra
- Điều tra sơ thám
Căn cứ vào bản đồ địa hình của khu vực điều tra, xác định điều tra cácOTC điển hình tạm thời ngoài thực địa và đánh dấu trên bản đồ địa hình Đánhgiá sơ bộ về tình hình sinh trưởng của rừng Phi lao và Keo, thảm thực vật dướitán rừng
- Điều tra tỷ mỉ
Trang 25+ Ở những vị trí địa hình địa chất tương đối đồng nhất bố trí cácOTC như sau:
+ Tại xã Điền Hương bố trí các OTC theo các độ tuổi điển hình đạidiện cho các rừng trồng
+ Tại xã Điền Môn bố trí các OTC theo các độ tuổi điển hình đại diệncho các rừng trồng
Dựa vào bản đồ địa hình cùng với kết quả điều tra sơ thám, xác địnhcác OTC đại diện cho vị trí rừng trồng thuần loài Keo, rừng trồng thuần loài Philao, rừng trồng hỗn loài giữa Keo và Phi lao OTC xác định là hình chữ nhật vớidiện tích 500m2 (20m x 25m)
+ Trong mỗi OTC tiến hành đánh số thứ tự theo một hướng ( đánh sốthự tự theo hàng) để tránh bỏ sót hay trùng lặp khi kiểm kê
+ Đo đường kính gốc (Dg, cm)), đường kính tại vị trí 1,3m (D1,3, cm)bằng cách đo chu vi (C) tại vị trí gốc và vị trí 1,3m sau đó tính đường kính
+ Đo chu vi bằng thước dây có độ chính xác mm
+ Đo chiều dài dưới cành (Hdc, m) bằng thước dây có độ chính xác mm.+ Đo chiều cao vút ngọn (Hvn, m) bằng sào có độ chính xác dm
+ Đo đường kính tán (Dt, m) theo 2 chiều vuông góc ĐT-NB bằng sào
có độ chính xác dm
- Loài cây trồng
+ Năm trồng+ Mật độ trồng ban đầu+ Diện tích trồng
+ Các đại lượng sinh trưởng:
Chiều cao vút ngọn (Hvn, m)
Đường kính ngang ngực (D1,3, cm)
Đường kính gốc (Dg, cm)
Chiều cao dưới cành (Hdc, m)
Đường kính tán (Dt, m) theo hướng Đông Tây-Nam Bắc
Trang 26-Kết quả điều tra được tổng hợp vào bảng sau:
PHIẾU ĐIỀU TRA CÂY RỪNGĐịa điểm
Số ô tiêu chuẩn
TT Loài
cây
C1,3(cm) Cg(cm) Hvn(m) Hdc(m)
N
A t
V
V a
a n
Trong đó: n: là dung lượng quan sát
a: là số công thức điều tra
VA: Biến động của nhân tố A
∑= −
∗
i A i
A S C b
V
1 ( )2 1
n
S C
2
=
Trang 27VN: Biến động ngẫu nhiên
VN = VT - VA
VT: Biến động chung
C x
V a
i
n j ij T
i
−
= 1 = 1 2
Việc tìm công thức trội nhất dựa vào việc so sánh 2 giá trị trung bình lớnnhất thứ nhất và lớn nhất thứ hai thông qua tiêu chuẩn t (Student): Công thức 1
n n
SN tính
X X t
2 1
2 1 1 1
n1 và n2 là dung lượng quan sát tương ứng với X1 và X2
SN là Sai tiêu chuẩn ngẫu nhiên n a
* Lượng tăng trưởng bình quân năm
- Tăng trưởng bình quân về đường kính ( d)
Trang 28-Tăng trưởng bình quân về chiều cao ( h)
-Tăng trưởng bình quân về đường kính tán ( T)
Trang 29PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Phong Điền
4.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên
Phía Bắc giáp với huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị
Phía Nam giáp với huyện Hương Trà và huyện Quảng Điền
Phía Đông giáp với Biển Đông
Phía Tây giáp với huyện A Lưới
4.1.1.2 Địa hình địa thế
Địa hình trên địa bàn huyện Phong Điền có dạng thấp dần từ Tây sangĐông, gồm 4 dạng địa hình chính là dạng địa hình núi trung bình và núi thấp,dạng địa hình gò đồi, dạng địa hình đồng bằng duyên hải, dạng địa hình đầm phá
và biển ven bờ
4.1.1.3 Khí hậu
Bên cạnh vị trí địa lý, các đặc điểm địa hình, đặc biệt là độ cao, hướng cácdãy núi chính, độ che phủ rừng cũng có vai trò rất quan trọng trong sự phân hóakhí hậu theo từng vùng Sự phân bố lần lượt từ Tây sang Đông (núi trung bình,núi thấp, gò đồi, đồng bằng, đầm phá, cồn đụn cát chắn bờ và biển), trong đó đồinúi chiếm gần 70,9% diện tích tự nhiên của huyện đã gây ra sự giảm dần nhiệt
độ không khí từ Đông sang Tây, gia tăng lượng mưa từ Đông sang Tây và từBắc xuống Nam Lượng mưa gia tăng ở miền núi trung bình phía Tây và TâyNam có liên quan chặt chẽ đến hướng các dãy núi chính Các dãy núi trung bìnhphía Tây nằm theo hướng Tây Bắc - Đông Nam tạo thành bức tường vòng cungchắn gió Tây Nam khô nóng vào mùa hè và đón gió Đông Bắc về mùa đông
Trang 30Đối với gió mùa Đông Bắc bức tường vòng cung đón gió này vừa chuyển hướnggió từ Đông Bắc sang Tây Bắc, vừa ngưng tụ hơi ẩm lại ở sườn phía Đông vàsườn phía Bắc gây ra mưa lớn Nếu như dãy Trường Sơn đón gió Đông Bắc gâymưa lớn vào mùa đông thì cũng dãy núi này lại giữ ẩm gây mưa lớn ở phía Tây
và tạo gió Tây Nam khô nóng vào mùa hè trên lãnh thổ này
Các yếu tố khí hậu bình quân trên địa bàn huyện Phong Điền như sau:
- Chế độ nhiệt: Vùng đồng bằng 23,50C, vùng núi từ 21,4 - 24,40C; vào mùa
hạ nhiệt độ giao động từ 33,7 - 38,40C có ngày nhiệt độ trên 400C, vào mùa đôngnhiệt độ có thể xuống thấp dưới 120C
- Chế độ ẩm: Độ ẩm trung bình năm từ 87,3 - 87,8%, độ ẩm trung bình caonhất 93,0% tập trung vào các tháng 1, 2, 11 và 12, độ ẩm trung bình thấp nhấtkhoảng 79,0%, những tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 5, 6
- Chế độ mưa: Tổng lượng mưa bình quân năm vào khoảng 3.250 mm, lượngmưa trong năm phân bố không đều, thường tập trung từ tháng 6 đến tháng 11chiếm khoảng 70% tổng lượng mưa trong năm, thường gây ra lụt lội về mùamưa và hạn hán về mùa khô
- Chế độ gió: trên địa bàn huyện thường xuất hiện hai loại gió chính có ảnhhưởng đến sinh trưởng của các loại cây trồng đó là:
+ Gió mùa Đông Bắc: thường xuất hiện từ tháng 9 năm trước đến tháng 2năm sau, tốc độ gió từ 4 - 6m/s Khi loại gió này xuất hiện thường kèm theomưa, lạnh làm cho nhiệt độ không khí xuống thấp, độ ẩm không khí cao
+ Gió mùa Tây Nam: thường xuất hiện vào mùa hè, từ tháng 4 đến tháng
7 hàng năm, tốc độ gió trung bình từ 2-3m/s, những ngày cao điểm có thể đạt 8m/s Khi loại gió này được thổi từ lục địa khi gặp dãy Trường Sơn bị biến tínhthành khô nóng làm cho nhiệt độ không khí tăng cao, ẩm độ thấp, thường gây rahạn hán và cháy rừng
7 Bão và lốc tố: thường xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 11 hàng năm, tần suấtxuất hiện bão, lốc tố trên địa bàn huyện không đều, bình quân từ 3 - 4 cơnbão/năm, từ 1 - 2 cơn lốc/năm Bão và lốc tố xảy ra thường gây ra những tổnthất to lớn ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của nhân dân cũng như cây trồng,vật nuôi đặc biệt là cây lâm nghiệp
4.1.2 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng
4.1.2.1 Hiện trạng sử dụng đất
Căn cứ kết quả điều tra, rà soát hiện trạng sử dụng đất đai trên địa bàn các
Trang 31Điền.Hiện trạng sử dụng đất đai trên địa bàn huyện tính đến 30/10/2012 đượcthể hiện ở bảng sau:
Trang 32Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế
Đất chưa sử dụng Tổng Rừng đặc dụng
Rừng phòng hộ
Rừng sản xuất
Đất đồi núi chưa
sử dụng
Đất chưa
sử dụng khác
Trang 33Từ kết quả ở bảng 4.1 cho thấy, cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn huyệnPhong Điền ở thời điểm hiện tại như sau:
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 95.571,07 ha Trong đó:
- Đất nông nghiệp có diện tích 71.448,37 chiếm 74,8% diện tích tự nhiên.Trong đó:
+ Đất sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy, hải sản có diện tích11.560,55 ha, chiếm 12,1%
+ Đất lâm nghiệp có diện tích 59.887,82 ha, chiếm 62,7%, bao gồm:
○ Rừng đặc dụng: có diện tích 35.850,0 ha, chiếm 37,5%
○ Rừng phòng hộ: có diện tích 7.222,42 ha, chiếm 7,6%
○ Rừng sản xuất: có diện tích 16.815,40 ha, chiếm 17,6%
- Đất phi nông nghiệp có diện tích 10.846,09 ha, chiếm 11,3%
- Đất chưa sử dụng có diện tích 13.276,61 ha, chiếm 13,9%, bao gồm:
+ Đất đồi núi chưa sử dụng có diện tích 7.666,16 ha, chiếm 8,0%
+ Đất chưa sử dụng khác (nằm trong vùng quy hoạch khoáng sản, khucông nghiệp, khu quy hoạch dân cư) có diện tích 5.610,45 ha, chiếm 5,9%
4.1.2.2 Hiện trạng đất lâm nghiệp và đất đồi núi chưa sử dụng
Bảng 4.2: Hiện trạng đất lâm nghiệp và đất đồi núi chưa sử dụng phân theo
sử dụng Tổng cộng
chưa có rừng Tổng Rừng tự
nhiên
Rừng trồng Tổng cộng 59,887.8 48,770.6 33,127.6 15,643.1 11,117. 2 7,666.2
(Nguồn: Phòng NN&PTNT huyện Phong Điền 10/2013)
4.1.2.3 Hiện trạng tài nguyên rừng
Trang 34Diện tích các loại rừng trên địa bàn huyện Phong Điền được thể hiện ởbảng sau.
Trang 35Bảng 4.3 Hiện trạng diện tích các loại rừng phân theo đơn vị hành chính huyện Phong Điền
Trang 36Kết quả ở bảng 4.3 cho thấy:
Đối với rừng tự nhiên: Rừng giàu (IIIA3) chiếm 8,4% diện tích đất córừng, rừng trung bình (IIIA2) chiếm 4,3% diện tích đất có rừng, rừng nghèo(IIIA1) chiếm 26,7% diện tích đất có rừng, rừng phục hồi (IIB, IIA) chiếm28,5% diện tích đất có rừng Như vậy, rừng tự nhiên trên địa bàn huyện PhongĐiền chủ yếu là rừng phục hồi và rừng nghèo, chiếm 89,1% diện tích rừng tựnhiên toàn huyện và tập trung ở địa bàn 3 xã phía tây của huyện là Phong Mỹ,Phong Xuân, Phong Sơn Rừng tự nhiên có tổng diện tích 33.127,6 ha chiếm34,7% diện tích tự nhiên toàn huyện, bao gồm rừng tự nhiên trên núi đất và rừng
tự nhiên phục hồi trên đất cát
Đối với rừng trồng: Tổng diện tích 15.643,1ha, rừng trồng chiếm 55,3%diện tích rừng trồng, được phân bố chủ yếu ở các xã vùng đồi và vùng núi củahuyện, rừng trồng chưa có trữ lượng có diện tích khá lớn 6.991,5 ha, chiếm44,7% diện tích rừng trồng, bao gồm diện tích rừng mới trồng và diện tích rừngtrồng cấp tuổi II ở vùng cát Diện tích rừng trồng tập trung chủ yếu ở các xãvùng đồi (phía tây Quốc lộ 1A), các chủ quản lý có diện tích rừng trồng lớn là
Hộ gia đình, Công ty TNHHNN một thành viên lâm nghiệp Phong Điền và Banquản lý rừng phòng hộ Sông Bồ Loài cây trồng chủ yếu là Keo các loại vàThông, ngoài ra còn có một số loài cây bản địa như Sao đen, Sến trung nhưngchiếm tỷ lệ thấp
4.1.3 Đặc điểm dân sinh kinh tế - xã hội
4.1.3.1 Nguồn nhân lực
* Dân số
Theobảng 4.4 số liệu thống kê của Phòng Thống kê huyện Phong Điền
2013, mật độ dân số không đều giữa các xã, thị trấn; các xã, thị trấn có mật độdân số cao là Thị trấn Phong Điền, Điền Lộc, Điền Hòa, Điền Hải, Phong Hải,Phong Bình, Phong An, các xã có mật độ dân số thấp là Phong Mỹ, PhongXuân, Phong Sơn
Trang 37Bảng 4.4: Dân số phân theo đơn vị hành chính
(người/km 2 )
Toàn huyện 100,73
(Nguồn: Phòng NN&PTNT huyện Phong Điền 2013)
* Lao động
Tổng số lao động trên địa bàn huyện tính đến đến 31/12/2012 là 50.063người Trong đó, số lao động tham gia trong các ngành kinh tế là 48.076 ngườichiếm 90,9% so với số dân trong độ tuổi lao động, chủ yếu là lao động phổthông chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật (chiếm khoảng 70%) Lao động ởkhu vực nông thôn chủ yếu là lao động nông - lâm - ngư nghiệp
* Trình độ lao động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và tập quán canh tác
Trình độ lao động trên địa bàn huyện Phong Điền vào loại thấp, lao độngqua đào tạo mới chỉ đạt khoảng 19% (mức bình quân chung của cả nước là28%), trong đó qua đào tạo nghề là 9,5%, lao động có trình độ Cao đẳng, Đạihọc chỉ chiếm 1,25%, trình độ trung cấp 5,2%, công nhân kỹ thuật chỉ có 3,2%
4.1.3.2 Thực trạng kinh tế
Qua kết quả thống kê cho thấy, giá trị ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ caotrong cơ cấu kinh tế (trên 50%) và có xu hướng giảm dần, tiếp đó là ngành côngnghiệp chiếm khoảng trên 11% và có xu hướng tăng, các ngành lâm nghiệp,thủy sản, xây dựng chiếm tỷ trọng từ 5 - 20% Như vậy, về cơ cấu phát triểnkinh tế của huyện đang có xu hướng chuyển dịch từ nông nghiệp sang côngnghiệp trong thời gian 3 năm trở lại đây Điều này phù hợp với định hướng pháttriển kinh tế của huyện nói riêng và tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung Đặcbiệt,một số ngành kinh tế có tiềm lực như thủy sản có những đóng góp lớn trong
cơ cấu GDP của huyện, chiếm 20%
Trang 384.1.3.3 Cơ sở hạ tầng
* Giao thông
Trên địa bàn huyện có hệ thống đường giao thông tương đối thuận lợi, cóquốc lộ IA chạy dọc theo chiều dài huyện với 9 km, hệ thống các đường tỉnh lộ,đường quốc phòng ven biển được rải nhựa và kiên cố hóa, 100% các xã, thị trấntrên địa bàn huyện đã có đường ô tô đến trung tâm xã, hệ thống đường giaothông nông thôn đang từng bước được bê tông hóa (153 km)
* Thủy lợi, điện
Hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện còn chậm phát triển, trên địa bànhuyện hệ thống nước tưới chủ yếu được cung cấp từ đập Quao và một số hồ đậpnhỏ khác tuy nhiên những hồ đập này chưa đáp ứng được khả năng tưới chotoàn bộ diện tích sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hệ thống kênhmương mới được kiên cố hóa ở một vài xã nhưng chất lượng còn thấp, khả năngtưới về mùa khô và thoát nước về mùa mưa còn hạn chế
Hệ thống điện năng cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt trên địa bàn huyện
có 243 km đường dây cao thế, 364 km đường dây hạ thế, 83 trạm biến áp với tổngdung lượng 12,625 KVA đã đáp ứng được nhu cầu của các cơ sở sản xuất và nhucầu sinh hoạt của người dân Trên địa bàn huyện 21,080 hộ đã dùng điện sinh hoạt
từ lưới điện quốc gia chiếm tỷ lệ 98,9%
4.1.3.4 Văn hóa xã hội
* Y tế
Theo số liệu thống kê năm 2007, toàn huyện có 1 bệnh viện tại thị trấnPhong Điền, 3 phòng khám đa khoa tại 3 xã Phong Bình, Điền Hải và PhongXuân, ở các xã, thị trấn có 13 trạm y tế Số cán bộ y tế là 725 người, bình quân
272 người dân có một cán bộ y tế
* Giáo dục
Những năm qua được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên cơ sở vậtchất của ngành giáo dục đã được chú trọng đầu tư, xây dựng Các phòng học đãđược nâng cấp, các cơ sở phân trường cũng đã được bố trí xây dựng tới tận thônbản (trung bình có từ 15-18 học sinh/1 giáo viên) Đời sống của cán bộ giáo viênngày càng được cải thiện Tuy nhiên, trang thiết bị, giáo cụ phục vụ giảng dạy
và học tập vẫn chưa thật đầy đủ, do đó đã ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng
Trang 394.2 Hiện trạng rừng trồng trên vùng cát thuộc các xã ven biển huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tổng diện tích đất lâm nghiệp 59.887,8 ha trong đó diện tích đất lâmnghiệp có rừng chiếm 48.770,6 ha và đất lâm nghiệp không có rừng 11.117,2 ha.Trong trước thời kỳ 1986 một phần do điều kiện khắc nghiệt và một phần dochiến tranh tàn phá nên phần lớn diện tích rừng còn nhỏ Từ năm 1986-2000 docòn nhiều diện tích trống và độ che phủ thấp nên đại bàn thu hút nhiều dự ántrong nước, nước ngoài và các chính sách quản lý và phát triển nhằm tăng diệntích rừng và phủ xanh đất trống đồi trọc
+ Kiểu phụ rừng kín thứ sinh nhân tác trên vùng đất ngập mặn: So với thực
vật rừng trên cạn, rừng ngập mặn không chỉ hạn chế về diện tích mà còn hạn chế cả
về thành phần loài cây với các loài: Đước (Rhyzophora sp), Vẹt (Bruguriera sp), Mắm (Avicennia marina), Sú (Acgyceras corniculatum).
+ Kiểu phụ rừng trồng trên vùng cát: Các loài cây trồng chủ yếu là Phi
lao, Keo lá tràm, Keo lưỡi mác, các loài Keo chịu hạn
+ Kiểu phụ trảng cây bụi, trảng cỏ thứ sinh: Một số loài cây bụi như: Sim,
Mua, Chìa vôi Trên đất cát biển là một số loài cây thảm tươi như: Cỏ Lá, cỏMật, cỏ Quăn, cỏ Gấu biển, cỏ Lông chông, Muống biển
Tổng diện tích rừng trồng 19.494,76ha với loài cây trồng chủ yếu là keo,thông, phi lao và một số cây bản địa Thực bì dưới tán rừng chủ yếu là lau lách,ràng ràng, tràm chổi Trong đó, rừng sản xuất chiếm 13.401,0 ha và rừng phòng
hộ chiếm 5.148,3ha Nhưng điều kiện tự nhiên ở đây không được thiên nhiên ưuđãi, đất đai lại nghèo kiệt nên khả năng sinh trưởng của các loài cây trên địa bàncũng kém so với các vùng khác rất nhiều Người dân ở khu vực sống chủ yếuvào nông nghiệp, thủy sản, kinh doanh buôn bán nên rất ít hộ dân sống phụthuộc vào rừng
Trang 40Đất đai ở đây khắc nghiệt, nghèo chất dinh dưỡng nên không thể phục vụcho sản xuất nông nghiệp cùng với công tác phòng hộ chắn cát chắn sóng venbiển, cố định cát bay, cát nhảy Theo chỉ đạo của các cấp có liên quan đã có biệnpháp hộ trỡ vốn cho người dân trồng rừng như dự án 661, Jifpro, ODA PhầnLan, đặc biệt có dự án 661 triển khai kế hoạch trồng rừng từ năm 2001-2010 vàđạt hiệu quả cao Ủy ban nhân dân xã đã chỉ đạo trực tiếp các hộ nhân khoánrừng cấp thẻ đỏ cho người dân an tâm trong công tác chăm sóc và bảo vệ rừng.
Thành phần các loài cây trên địa bàn bao gồm các loài cây phải phùhợp với đất nghèo chất dinh dưỡng, bạc màu, có kết cấu rời rạc Đồng thờiloài cây phải phù hợp với điều kiện sinh thái và mục đích của từng vùng trongkhu vực như:
- Có bộ rễ phát triển sâu, rộng khỏe, lá có cấu tạo hạn chế thoát hơi nước, cây than
gỗ thường xanh có tán lá dày
- Cây sống lâu năm, có chiều cao vừa phái không dễ bị gãy đổ, có khả năng chốngchịu gió bão và phát triển rừng trong điều kiện khô hạn, nắng nóng
- Cây chịu được cát lấp, có sức chống chịu với gió mạnh Tán lá rộng để ngăn cảngió
Các loài cây trồng ở vùng cát ven biển và cát nội đồng: Phi lao
(casuarinas equisetiforlia), bạch đàn (Eucalyptus), Keo lá tràm (Acacia
auriculiformis), Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa), Keo chịu hạn (Acacia difficilis).
Theo quan sát trắc quan chúng tôi thấy rừng keo lưỡi liềm sau 7 năm tuổibắt đầu khép tán, ở đây chủ yếu là rừng phòng hộ nên không có biện pháp tácđộng kỹ thuật lâm sinh như tỉa cành, chỉ có bảo vệ và trồng dặm nên cây phâncành thấp chiều cao dưới cành bé, tán lá rộng, cây nhiều thân Hiện tượng cátvùi cát lấp nơi có rừng không đáng kể khoảng 10-15cm, nơi đất trống do giócuốn tạo thành từng dải hình lượn sóng độ dày từ 20-30cm
Rừng Keo lưỡi liềm trong 3 năm đầu mới trồng cần được chăm sóc bảo
vệ chặt chẽ hơn, 3 năm đầu phải trồng dặm tỷ lệ sống trong năm đầu đạt 70% do điều kiện khắc nghiệt khi rừng còn non không có hang rào chắn gió nên
65%-dễ bị gió tác động sau 3 năm trồng dặm tỷ sống đạt 85%-90% Cây có chiều caotrung bình 0,8-1m, sinh trưởng chậm
Đối với Keo chịu hạn (Acacia difficilis) đây là loài keo có khả năng chịu
hạn tốt nhất nhưng sinh khá chậm so với Keo lưỡi liềm, theo chúng tôi điều tracho thấy tỷ lệ sống cao 80%-85% , Keo chịu hạn 7 năm tuổi, chiều cao trung