Khi thực hiện hoạt động nghị luận,tận dụng những quy tắc về nhận thức chân lý trong logic, người tạo lập tổ chức sắp xếp các yếu tốcủa lập luận để dẫn dắt người tiếp nhận đi đến với chân
Trang 1MỞ ĐẦU
Phần mở đầu bao gồm các nội dung: lý do chọn đề tài, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đốitượng và phạm vi nghiên cứu, giả thuyết khoa học, các phương pháp nghiên cứu, đóng góp và giớithiệu bố cục của luận án
- Năng lực sử dụng các thao tác lập luận của HS PT hiện nay chưa tốt
- Việc dạy học các TTLL trong Làm văn nghị luận ở THPT còn nhiều tồn tại cần khắc phục
- Rèn luyện năng lực sử dụng các TTLL là một trong những con đường hiện thức hóa mụctiêu của việc dạy học Làm văn
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc xác định cơ sở khoa học về các TTLL trong VBNL, luận án đề xuất hệ thống BTđược sử dụng như một phương tiện chủ yếu để hình thành và rèn luyện năng lực tiến hành cácTTLL nhằm nâng cao chất lượng diễn đạt của HS
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:
- Xác định cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc dạy học các TTLL: phân tích, so sánh, bác
bỏ và bình luận cho học sinh THPT
- Đề xuất hệ thống BT rèn luyện các TTLL cho HS THPT
- Tổ chức thực nghiệm để đánh giá khả năng thực thi và hiệu quả của hệ thống BT đã được đề xuất
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Để hoàn thành các nhiệm vụ trên, chúng tôi chọn nghiên cứu các TTLL được triển khai trongchương trình Ngữ văn 11 (bộ cơ bản) và quá trình rèn luyện năng lực sử dụng chúng cho HS THPT
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong VBNL, để tổ chức lập luận, người nói, người viết phải sử dụng nhiều TTLL Tuynhiên, gắn với nội dung đề tài, luận án tập trung hình thành và rèn luyện năng lực sử dụng bốnTTLL: phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 24.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết + Phương pháp so sánh đối chiếu
4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra, khảo sát+ Phương pháp thực nghiệm+ Phương pháp thống kê
5 Giả thuyết khoa học
TTLL là yếu tố quan trọng giúp người nghị luận thực hiện hành động lập luận Nếu việc rènluyện các TTLL có một cơ sở khoa học đáng tin cậy, một hệ thống BT phù hợp với HS thì chúng ta
có thể củng cố, nâng cao năng lực sử dụng các TTLL, góp phần tăng hiệu quả lập luận khi viết vănnghị luận cho HS THPT
Ngoài các Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, luận án được triển khai theo cấu trúc sau:
- Mở đầu: Phần này tập trung trình bày các nội dung có tính định hướng cho việc triển khai luận án
- Tổng quan: Phần này được triển khai nhằm đánh giá lịch sử nghiên cứu các TTLL ở ViệtNam và thế giới, qua đó tìm ra hướng nghiên cứu cho luận án
- Nội dung: Ở phần này, chúng tôi tập trung vào các nội dung:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức rèn luyện các TTLL cho HS THPT
Chương 2: Hệ thống bài tập được sử dụng khi rèn luyện các TTLL cho HS THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
- Kết luận: Chốt lại toàn bộ những nội dung đã được trình bày trước đó (ở phần mở đầu,phần nội dung)
Trang 3TỔNG QUAN
Nghị luận là kiểu văn bản có tầm quan trọng to lớn đối với đời sống con người Vì thế, cácnhà khoa học đã đặc biệt quan tâm nghiên cứu kiểu văn bản này Tuy nhiên, ở các thời điểm khácnhau, lịch sử nghiên cứu về kiểu văn bản này nói chung, lịch sử nghiên cứu các TTLL có những đổithay nhất định
1 Việc nghiên cứu về thao tác lập luận phân tích, bình luận, so sánh, bác bỏ ở nước ngoài
Khảo cứu các công trình khoa học bàn về cách viết văn hay những công trình nghiên cứu
cách viết bài luận, chúng tôi nhận thấy khái niệm phân tích, bình luận, so sánh, bác bỏ ít nhiều được
giới thiệu Luận án đặc biệt lưu ý tới những đóng góp của nhà khoa học Trung Quốc, tác giả Triệu
Truyền Đống trong cuốn “Phương pháp biện luận” (1) Tác giả giới thiệu một số phương pháp được sử dụng để lập luận khi biện luận: thắng bằng logic, thắng bằng nghệ thuật ngôn từ, thắng bằng mưu chước và thắng bằng vạch trần ngụy biện Trong công trình này, tuy người viết không bàn luận trực tiếp đến các
TTLL song qua các lập luận cụ thể, tác giả đã nêu ra được một số kiểu lập luận, phương pháp lập luận và có
nhiều gợi ý liên quan tới các TTLL như : nêu ví dụ phản, luận chứng loại suy, phép phản bác phản chứng, phép phản bác chứng điều kiện, phép bác phản chứng loại suy, phản bác luận chứng, chúng tôi nhận thấy
chúng đều liên quan tới TTLL bác bỏ Không chỉ có vậy, cũng trong công trình nghiên cứu này, chúng tôicòn nhận thấy biểu hiện khác nhau của TTLL so sánh được trình bày với tư cách là các phương pháp biệnluận Chẳng hạn, khi bàn về phương pháp biện luận thắng bằng logic, tác giả đã nêu ra các phương pháp:
phép đối chiếu lịch sử, pháp luật là căn cứ Có thể nói, những phương pháp biện luận trên tương đồng với
TTLL so sánh được sử dụng khi thực hiện lập luận trong VBNL
Ngoài ra, trong công trình này, các phương pháp biện luận như: suy luận ưu tiên, nhận rõ nhân quả, lấy luận cứ chứng minh tại chỗ, suy luận biện chứng, luận đoán tương lai…cũng được tác giả giới thiệukhá rõ Về cơ bản, các phương pháp biện luận nêu trên thực chất thể hiện bản chất của TTLL khác như bìnhluận, chứng minh… khi lập luận
2 Việc nghiên cứu về thao tác lập luận phân tích, bình luận, so sánh, bác bỏ ở Việt Nam
Các nhà nghiên cứu Làm văn nghị luận ở nước ta cũng rất quan tâm tới lập luận nói chung
và TTLL nói riêng như phân tích, bình luận, bác bỏ Tuy nhiên, trong những thời điểm khác nhau,lịch sử nghiên cứu TTLL có những thay đổi
2.1 Thuật ngữ " thao tác" trong một số công trình Làm văn
Thông qua một số công trình nghiên cứu về VBNL, chúng tôi nhận thấy, các nhà khoa học
đã sử dụng thuật ngữ "thao tác" khi giới thiệu về kiểu văn bản này Tuy cách gọi tên trong các côngtrình trên chưa thực sự đồng nhất với nhau song có thể khẳng định, đó là gợi ý để chúng tôi nghiêncứu đề tài này
Trang 4(1) Triệu Truyền Đống (1996), Phương pháp biện luận - Nxb Đại học Phúc Đán (Dịch sang
Tiếng Việt và in tại Nxb Giáo dục)
2.2 Những thay đổi trong quan niệm về thao tác lập luận
2.2.1 Quan niệm đồng nhất thao tác lập luận với kiểu bài
Trong một khoảng thời gian dài, các công trình nghiên cứu về VBNL có sự đồng nhất với
nhau trong cách gọi tên cho các dạng nghị luận Theo đó, các nhà khoa học xác định phân tích, bình
luận, chứng minh, giải thích là những kiểu bài nghị luận thường dùng nhất Trên thực tế, có thểkhẳng định giá trị của VBNL một phần lớn thể hiện ở năng lực tổ chức lập luận của người viết Vìthế, khi lập luận, người tạo lập không chỉ thực hiện một TTLL mà cần phải kết hợp nhiều thao táckhác nhau, nhằm giúp cho lời văn sinh động, hấp dẫn, có sức thuyết phục người tiếp nhận Như vậy,việc đồng nhất quan niệm các TTLL với các kiểu bài là chưa thỏa đáng
2.2.2 Quan niệm không đồng nhất thao tác lập luận với kiểu bài
Một số tác giả khi tiếp cận với VBNL xác định các khái niệm phân tích, so sánh, bình luận,
bác bỏ giống với "phương pháp lập luận" Họ cho rằng đó là một thứ công cụ được người viết thực
hiện để biểu đạt nội dung nghị luận theo dụng ý riêng của bản thân Quan niệm này có phần tiến
bộ hơn, song việc xác định bản chất của chúng vẫn chưa thực sự thỏa đáng
Không gọi là "phương pháp lập luận", nhóm tác giả Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) (2) lại
xác định đó là "biện pháp" được người viết thực hiện để làm sáng tỏ nội dung nghị luận Các tác giả khẳng định đây là thao tác không chỉ giúp người viết tạo ra lời văn tự nhiên, sinh động, phong phú,
có sức thuyết phục, mà còn tạo ra sự nổi bật góc cạnh cũng như màu sắc của vấn đề nghị luận.Đồng quan niệm với cách gọi trên, tác giả Trần Đình Sử đã cho rằng phân tích, so sánh là nhữngcách luận chứng trong văn nghị luận Tuy nhiên, do định hướng nghiên cứu khác nhau, nên các tácgiả chưa thực sự chú trọng về nội dung này
Quan niệm TTLL là "phương pháp lập luận" có phần đồng nhất với cách gọi trong sách giáo
khoa (SGK) Ngữ văn 7 và SGK Ngữ văn 9 - THCS Ở THCS, các khái niệm: giải thích, chứng
minh, phân tích và tổng hợp được gọi là “phép” Chương trình Ngữ văn THCS quan niệm giải
thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp giống như phương pháp lập luận Theo đó, để tạo ra sự phù
hợp với nhận thức của HS THCS, SGK Ngữ văn gọi chúng là “phép” Cách sử dụng thuật ngữ như
vậy, tuy chưa thể hiện đúng bản chất của các khái niệm đó nhưng nó là một giải pháp sư phạm củachương trình dành cho cả GV và HS Chính những cách gọi khác nhau như vậy đã khiến cho cả GV
và HS khó hiểu khi tiếp cận vấn đề Vì thế, muốn rèn luyện năng lực lập luận cho HS đạt hiệu quả,một trong những yêu cầu cần thiết là phải có một thuật ngữ phù hợp
2.2.3 Quan niệm về thao tác lập luận trong chương trình Ngữ văn THPT
TTLL là thuật ngữ được đề ra từ ngành khoa học tâm lý học hoạt động, được vận dụng vào
Trang 5(2) Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Ngọc Thống, Lưu Đức Hạnh (1993), Muốn viết được bài văn hay, Nxb Giáo dục
một hoạt động quan trọng của con người - hoạt chiếm lĩnh thế giới bằng tư duy lôgic
Trong tạo lập văn bản, muốn tổ chức một văn bản tốt, người viết ngoài việc xác định rõ mụcđích, còn phải biết cách tổ chức lập luận để triển khai nội dung cần nghị luận Để thực hiện hànhđộng lập luận, người nói, người viết phải sắp xếp trật tự các yếu tố của lập luận như luận điểm, luận
cứ Quá trình đó được chương trình Ngữ văn hiện hành THPT gọi là các TTLL Tuy nhiên, ở cáckhối lớp khác nhau, việc sử dụng thuật ngữ TTLL cũng không đồng nhất
Ở lớp 10, chương trình sử dụng khái niệm “thao tác nghị luận” Theo đó, SGK nêu rõ: “thao tác nghị luận là những động tác được thực hiện theo trình tự và yêu cầu kỹ thuật được quy định trong hoạt động nghị luận” Đến lớp 11, SGK Ngữ văn, Tài liệu bồi dưỡng GV chương trình môn Ngữ văn 11 chọn thuật ngữ “thao tác lập luận” TTLL là một quan niệm mới được các tác giả biên
soạn SGK Ngữ văn đề ra Quan niệm này thể hiện sự thay đổi trong việc nghiên cứu và đánh giá ýnghĩa của các khái niệm phân tích, bình luận, so sánh, bác bỏ Về bản chất, thuật ngữ TTLL đã chỉ
rõ những động tác cơ bản được người tạo lập sử dụng trong quá trình lập luận Quan niệm phântích, bình luận, so sánh, bác bỏ là các TTLL giúp HS sẽ dễ dàng trong việc tiếp nhận cách thức thựchiện và tổ chức lập luận khi tạo lập văn bản Điều đó còn tạo ra sự thuận lợi cho GV trong quá trình
rèn luyện kỹ năng tổ chức lập luận cho HS Bởi vậy, chúng tôi tán đồng với quan niệm về “thao tác lập luận” trong SGK Ngữ văn THPT hiện hành.
Khảo cứu các công trình Làm văn, chúng tôi cũng nhận thấy việc rèn luyện lập luận cho HSđược quan tâm chủ yếu thông qua các bài tập hướng dẫn HS cách viết đoạn, viết bài, qua cáchhướng dẫn các em lập dàn ý để có một cơ sở triển khai lập luận khi tạo lập VBNL Như vậy, có thểkhẳng định, trong các công trình nghiên cứu Làm văn và dạy học làm văn nghị luận, rèn luyện nănglực lập luận cho HS đã được các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục quan tâm Tuy nhiên, trên thực
tế, việc rèn luyện các TTLL cho HS chưa thực sự được chú trọng Cũng vì thế, trong một thời giandài, năng lực tổ chức lập luận trong bài viết của các em chưa tốt Từ đó, với mục đích là hình thành
Trang 6và rèn luyện kỹ năng làm văn để các em có thể làm việc suốt đời, rèn luyện TTLL là việc làm cầnthiết.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN CHO HỌC SINH THPT 1.1 Quan niệm về lập luận
1.1.1 Quan niệm về lập luận trong logic học
Lập luận trong lôgic học được thể hiện rõ trong suy luận Theo đó, suy luận là "hình thức của tư duy" nhằm tạo ra cơ sở để rút ra phán đoán mới từ các quy tắc của lôgic Phán đoán, kết luận khoa
học được tạo ra từ những quy tắc lôgic thông qua các thao tác của tư duy và được thể hiện theo mộtcách thức lập luận nhất định Bởi vậy, lập luận chính là con đường để tổ chức nhận thức khoa học.Lôgic học đã xác lập rõ các quy luật của tư duy, quy tắc của lập luận cũng như những tiền đề thiếtyếu để thu được nhận thức chân lý như tính chân thực, quy tắc của lôgic lập luận Như vậy, tronglôgic học, có thể nhận thấy lập luận là yếu tố không thể thiếu của bất kì suy luận nào Nó vừa làcách thức, là thao tác tìm ra nhận thức chân lý mới, vừa là quá trình dẫn dắt con người đi đến vàkiểm nghiệm độ xác thực của chân lý ấy
1.1.2 Quan niệm về lập luận trong ngôn ngữ học
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Dân, khi bàn về lập luận, cho rằng: đó là “một hoạt động, một thao tác ngôn ngữ, qua đó người nói đưa ra một hay một số phát ngôn làm luận cứ mà cấu trúc ngôn ngữ và nội dung của chúng đưa người nghe tới những chuỗi liên kết dẫn tới một kết luận nào
đó Lập luận là một hoạt động bằng lôgic ngôn từ mà người nói thể hiện nhằm tác động đến quần chúng” (3) Theo quan niệm này, có thể nhận thấy lập luận chính là các hành động ngôn ngữ được
con người thực hiện để nêu ra những nhận xét, suy luận hay phán đoán nào đó nhằm tạo ra những tácđộng nhất định đối với người tiếp nhận
Còn nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu cho rằng lập luận một hành động ngôn ngữ có cấu tạo
chặt chẽ Tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định, thuật ngữ “lập luận” được hiểu theo hai nghĩa:“thứ nhất, nó chỉ sự lập luận tức là hành vi lập luận Thứ hai, nó chỉ sản phẩm của hành vi lập luận tức toàn bộ cấu trúc của lập luận cả về nội dung và hình thức” (4) Theo quan niệm trên, có thể khẳng
định, về bản chất, lập luận là một hành động ngôn ngữ được biểu hiện qua cả phương diện nội dung
và cấu trúc hình thức Như vậy, hiểu một cách đơn giản: lập luận là đưa ra những lý lẽ, dẫn chứng nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói, người viết muốn đạt tới.
1.2 Lập luận trong văn bản nghị luận
(3) Nguyễn Đức Dân (2000), Ngữ dụng học (tập 1), tr 21, Nxb Giáo dục, TP Hồ Chí Minh
Trang 7(4) Đỗ Hữu Châu (2010), Đại cương ngôn ngữ học - Ngữ dụng học (tập 2) (Tái bản lần thứ
5), Tr.19, Nxb Giáo dục Việt Nam
Khẳng định vai trò của lập luận, nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thống, khi tiếp cận với văn nghị
luận cho rằng: “ Văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục ” (5) Nhận định trên khẳng định cho đặc trưng cơ bản của văn bản này.
Có thể nói, nhờ hệ thống lý lẽ, dẫn chứng và thông qua việc diễn đạt bằng ngôn từ lôgic, người viết
có thể trình bày nội dung nghị luận một cách chính xác, tạo ra những tác động nhất định đối vớingười tiếp nhận Như vậy, lập luận trong VBNL là hành động ngôn ngữ giúp cho người tạo lập biểuđạt nội dung nghị luận sâu sắc, đầy đủ, chính xác
Hơn nữa, lập luận còn là hành động của tư duy logic Khi thực hiện hoạt động nghị luận,tận dụng những quy tắc về nhận thức chân lý trong logic, người tạo lập tổ chức sắp xếp các yếu tốcủa lập luận để dẫn dắt người tiếp nhận đi đến với chân lý khoa học, nhằm đạt được các mục đíchkhác nhau như tuyên truyền, giáo dục, nhận thức xã hội, giao lưu truyền bá hay truyền cảm bồidưỡng Cũng vì thế, khi dạy học lập luận trong VBNL, GV một mặt phải tuân theo các quy tắc củalogic, mặt khác phải đảm bảo tới cấu trúc của lập luận, nhưng đặc biệt phải chú trọng tới cách tổchức hệ thống lập luận khi tạo lập văn bản
1.3 Thao tác lập luận trong văn bản nghị luận
Để tìm hiểu TTLL, chúng tôi xem lập luận trong VBNL là một hành động ngôn ngữ Đó làhành động được con người thực hiện để tạo ra các sản phẩm giao tiếp cụ thể VBNL là một sảnphẩm của hoạt động giao tiếp, và để tạo ra được sản phẩm ấy, người tạo lập phải sử dụng TTLL để
tổ chức lập luận khi triển khai nội dung nghị luận
1.3.1 Khái niệm thao tác lập luận
Hoạt động nghị luận của con người cũng được tiến hành theo cấu trúc hoạt động của conngười Muốn đạt được mục đích nghị luận, người viết phải sử dụng tới các thao tác tổ chức lập luận
Có thể quan niệm về TTLL như sau:
Thao tác lập luận là những động tác có tính chất kỹ thuật được người nói, người viết sử dụng để sắp xếp các yếu tố của lập luận (luận điểm, luận cứ) theo trình tự và yêu cầu nhằm đạt được những mục đích riêng khi thực hiện hoạt động nghị luận.
1.3.2 Các thao tác lập luận trong chương trình Ngữ văn THPT
Gắn với phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi tập trung vào các TTLL dưới đây:
1.3.2.1 Thao tác lập luận phân tích
Khi tạo lập VBNL, để nội dung nghị luận được trình bày khoa học, khách quan, người viết
Trang 8(5) Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Phạm Minh Diệu, Nguyễn Thành Thi (2008), Làm văn, Tr 189, Nxb
ĐHSP
phải thực hiện TTLL phân tích Như vậy, phân tích là TTLL được người viết sử dụng nhằm dẫn dắtngười tiếp nhận hiểu hơn từng đặc điểm, từng biểu hiện, qua đó có cách nhìn chính xác, khách quanđối với của nội dung được bàn luận Nhờ có TTLL này, người tạo lập thể hiện cách thức tiếp cận đốitượng, rút ra những hiểu biết của bản thân và dẫn dắt người tiếp nhận đi đến các phán đoán, kết luậnkhoa học, và nhận thức đúng nội dung nghị luận Trong VBNL, TTLL phân tích không đơn thuầnchỉ là tách nhỏ các mặt nội dung để mà còn cần phải xác lập mối liên hệ giữa chúng để có cơ sởkhái quát lại toàn bộ nội dung đã trình bày trước đó, từ đó rút ra nhận thức chân lý Muốn nhìn nhậnđối tượng trong sự thống nhất hữu cơ của nó thì cần phải tổng hợp
1.3.2.2 Thao tác lập luận so sánh
Trong VBNL, so sánh là một TTLL được người tạo lập dùng để tìm ra sự giống nhau hoặckhác nhau giữa các đối tượng, và qua sự so sánh ấy để dẫn dắt người tiếp nhận đi đến một ý kiến,nhận định nào đấy đối với nội dung được bàn luận Nói một cách khác, đó là cách người lập luậnthực hiện nhằm dẫn dắt người tiếp nhận đến với một chân lý một kết luận nào đấy về nội dung nghịluận Cũng bởi thế, so sánh thể hiện rõ mục đích cũng như tính lập luận trong văn nghị luận Tínhlập luận của so sánh có thể được thực hiện bằng một câu, nhưng cũng có thể được người viết trìnhbày trong một đoạn văn hoặc cả bài văn Việc sử dụng TTLL này trong một câu, một đoạn hay thậmchí cả bài đều gắn với mục đích và dụng ý của người viết Khi sử dụng TTLL so sánh, người viếtkhông chú trọng tới độ dài ngắn của lập luận mà đặc biệt quan tâm tới việc sử dụng các yếu tố sosánh và làm như thế nào đó để hướng người đọc tới nhận thức, chân lý hay kết luận cuối cùng cầnnêu ra Trên thực tế, khi sử dụng so sánh để tổ chức lập luận, người lập luận có thể thực hiện theohai hình thức: so sánh tương đồng hoàn toàn và so sánh tương đồng có dị biệt
Như vậy, trong VBNL, người nói, người viết sử dụng TTLL so sánh nhằm bày tỏ ý kiến,quan niệm đối với nội dung được bàn luận Sử dụng TTLL này, người tạo lập không chỉ dẫn dắtngười đọc đến với những kết luận khoa học, chính xác mà còn giúp cho lời văn trong văn bản sinhđộng, hấp dẫn, nhiều hình ảnh Đó cũng là cách mà người nói, người viết tạo sức thuyết phục đốivới độc giả
1.3.2.3 Thao tác lập luận bác bỏ
Trong VBNL, bản chất của TTLL bác bỏ là cách người viết tổ chức lập luận nhằm phủ nhậnmột ý kiến, một kết luận bằng cách dùng lý lẽ, dẫn chứng để chỉ ra một cách rõ ràng, tường tận,thấu đáo những sự vô lý, sai lầm của nó Nó thực chất là cách người tạo lập thực hiện các động tácphủ định nhằm thể hiện nhận thức, thái độ của bản thân đối với nội dung được nghị bàn.Vì thế, lậpluận trong TTLL này gắn với hành vi mượn lời Nó được người viết sử dụng khi và chỉ khi gặpnhững quan điểm không đúng hoặc có người không tán đồng với những ý kiến mà mình đưa ra
Trang 9trong quá trình bàn luận Nhờ có TTLL này, người tạo lập sẽ chỉ ra lệch lạc, chưa chính xác trongsuy nghĩ rồi từ đó dẫn dắt người tiếp nhận đi đến với những chân lý đúng đắn, xác thực hơn.
Khi nghị luận, TTLL bác bỏ có hình thức diễn đạt gần giống với chứng minh, bởi lẽ, đó làmột dạng lập luận chứng minh đặc biệt Sở dĩ nói được như vậy là vì: chứng minh là việc đi tìmnhững lý lẽ dẫn chứng để trực tiếp khẳng định tính đúng đắn của nội dung đó Còn TTLL bác bỏ lạixuất phát từ một ý kiến, một quan niệm sai, sau đó dùng lý lẽ, dẫn chứng để chỉ ra cái sai, và nêu rachân lý (cái đúng) Cũng bởi vậy, khi sử dụng TTLL bác bỏ, người viết luôn chú ý sử dụng nhiềuhình thức diễn đạt phủ định Đặc điểm này xuất phát từ chính bản chất của TTLL này Đó là cáckiểu câu theo cấu trúc: không , không ; có thể nhưng không; đâu phải là
1.3.2.4 Thao tác lập luận bình luận
Bình luận là một thao tác được con người thực hiện trong nhiều lĩnh vực như văn học, thểthao, y tế Trong VBNL, bình luận là TTLL quan trọng không thể thiếu Khi lập luận, để thể hiệnsuy nghĩ, thái độ, quan điểm của mình, người viết phải dùng ngôn ngữ, lý lẽ, dẫn chứng đối với nộidung nghị luận Đó chính là quá trình người tạo lập thực hiện bình luận Nói một cách khác, trongVBNL, bình luận là TTLL giúp người viết, thể hiện rõ tư tưởng, tình cảm, thái độ của mình đối vớibản thân nội dung luận bàn
Khi thực hiện bình luận, người viết thực hiện hai động tác cơ bản là luận và bình Trong đó, luận là người viết xác định rõ luận điểm, tìm ra các luận cứ, luận chứng nhằm làm rõ nội dung vấn đề; bình là việc từ những luận cứ, luận chứng, lí lẽ đã nêu, người viết rút ra đánh giá của mình về nội dung được “luận” trước đó.
Với đặc trưng là dạng lập luận mang tính khái quát, bình luận là TTLL có vị trí tự do, có thể
có mặt ở khắp mọi nơi, mọi chỗ, được sử dụng khi nghị bàn (cả văn học và cả các vấn đề của đờisống xã hội) và cũng là TTLL có thể kết hợp với tất cả các TTLL khác
1.3.3 Sự kết hợp các TTLL trong bài văn nghị luận
Trong VBNL, mỗi TTLL có đặc điểm riêng, và được sử dụng nhằm một mục đích, mộtdụng ý riêng của người viết Tuy nhiên, khi lập luận, các TTLL lại có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhautrong việc tường minh nội dung bàn luận Và khi chúng kết hợp với nhau, người viết có thể tạo racách diễn đạt chính xác phù hợp với các chân lý khách quan, khoa học, qua đó gây dựng sự tintưởng ở phía người tiếp nhận Vì vậy, yêu cầu cần thiết đối với người tạo lập là phải căn cứ vàomục đích, đối tượng nghị luận để lựa chọn và kết hợp các TTLL cho phù hợp
1.4 Kỹ năng và kỹ năng lập luận
1.4.1 Kỹ năng và hình thành kỹ năng
Hiểu một cách đơn giản:"kỹ năng của con người chính là khả năng con người thực hiện một
hành động nào đó có tính chất kỹ thuật, được rèn luyện thông qua hoạt động luyện tập thực hành
Nhà tâm lý Pe- trôv- xki nhấn mạnh: "Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập tạo khả
Trang 10năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả trong điều kiện thay đổi” (6) Vì thế, con đường hình thành kỹ năng phải trải qua các bước:
Bước 1: Tìm hiểu, nhận thức đúng đắn, đầy đủ về hành động cần thực hiện Đây là bước
trang bị những hiểu biết nhằm định hướng cho việc hình thành kỹ năng
Bước 2: Quan sát mẫu, làm thử theo mẫu Đây chính là bước theo dõi kỹ lưỡng các động tác
thực hiện hành động, đối chiếu với lý thuyết, từ đó hình thành kỹ năng
Bước 3: Luyện tập Trên cơ sở bước 2, con người tiến hành luyện tập, hoàn thiện kỹ năng, phát triển thành năng lực riêng của từng cá nhân
1.4.2 Hình thành kỹ năng thực hiện các thao tác lập luận
TTLL là những động tác được người viết thực hiện nhằm tổ chức các phương tiện ngôn ngữ
để thể hiện dụng ý riêng của bản thân khi nghị luận Nói một cách khác, nó giúp người viết địnhhướng và tổ chức những nội dung cần trình bày khi lập luận Vì thế, việc hình thành những kỹ năng
về các TTLL có thể được cụ thể theo các giai đoạn sau:
Trước hết, GV định hướng cho người học nắm được phương thức thực hiện TTLL Việc làmnày nhằm trang bị cho các em những hiểu biết cơ bản về TTLL (về mục đích, yêu cầu, về cách thựchiện TTLL)
Sau khi đã tác động bên ngoài, GV tổ chức cho HS luyện tập cách thực hiện TTLL Đâychính là quá trình HS quan sát, tập vận dụng và rèn luyện kỹ năng sử dụng TTLL Giai đoạn nàyđược tiến hành theo các công việc cụ thể:
Thứ nhất, GV phải hướng dẫn HS xác định mục đích nghị luận (xác định luận điểm cần nghị luận.)
Tiếp theo, GV hướng dẫn cho HS cách thực hiện TTLL.
Sau đó, GV tổ chức cho HS luyện tập.
Cuối cùng, GV tạo điều kiện để các em củng cố nhận thức, và biến những kỹ năng ấy thành cái riêng, thành năng lực lập luận của chính bản thân HS
1.5 Điều tra, khảo sát thực trạng tổ chức rèn luyện các TTLL ở trường THPT
1.5.1 Mục đích điều tra, khảo sát
1.5.2 Nội dung điều tra, khảo sát
1.5.2.1 Khảo sát chương trình, SGK Ngữ văn bậc THPT
TTLL được triển khai ở cả hai học kỳ Theo phân phối chương trình, mỗi TTLL được triểnkhai thành một tiết và một tiết luyện tập thực hành Cách triển khai như vậy vừa thể hiện sự tôntrọng tính chất thực hành của Làm văn, vừa quan tâm tới việc rèn luyện kỹ năng sử dụng các TTLLcho HS Hơn nữa, cuối mỗi học kỳ, chương trình còn bố trí một tiết thực hành về cách kết hợp cácTTLL (kết hợp TTLL so sánh và phân tích và kết hợp các TTLL trong văn nghị luận)
Trang 11(6) Nguyễn Trí (2009), Một số vấn đề dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở Tiểu học, Tr 88, Nxb Giáo dục Việt Nam.
Với SGK Ngữ văn 11, chúng tôi tập trung vào khảo sát hệ thống BT được sử dụng khi dạyhọc các TTLL Cơ sở để khảo sát hệ thống BT là dựa vào mục đích sử dụng BT để phân loại SGKtriển khai những BT lớn với nhiều yêu cầu khác nhau Vì thế, khi khảo sát BT, chúng tôi xác địnhmỗi BT gắn với một yêu cầu phải thực hiện
1.5.2.2 Điều tra, khảo sát GV và HS
Theo nội dung đề tài, chúng tôi xác định đối tượng được điều tra, khảo sát là đội ngũ GV và
HS đang giảng dạy và học tập chương trình Ngữ văn lớp 11- THPT
1.5.3.Phương pháp khảo sát, điều tra
Để tiến hành việc điều tra, khảo sát đạt kết quả, chúng tôi thực hiện qua một số công việcsau: dự giờ, khảo sát giáo án, sử dụng phiếu điều tra khảo sát, khảo sát bài viết của học sinh
1.5.4 Kết quả điều tra, khảo sát
1.5.4.1 Kết quả khảo sát chương trình, SGK Ngữ văn THPT
Từ hệ thống BT được triển khai trong SGK Ngữ văn 11 , trong công trình này, chúng tôitiếp thu một số BT được sử dụng khi hình thành lý thuyết, khi luyện tập thực hành Đồng thờichúng tôi nhận thấy cần bổ sung thêm BT chữa lỗi - một dạng BT quan trọng trong quá trình rènluyện năng lực sử dụng các TTLL cho HS
1.5.4.2.Về phía giáo viên
Phần lớn GV ở các trường PT đều nhận thấy việc dạy học các TTLL là cần thiết, nhưng rấtkhó Khó khăn được thể hiện rõ nhất là nội dung kiến thức có nhiều mới lạ, không đồng nhất trongcách dùng thuật ngữ, thời gian dạy học chưa thỏa đáng cho việc rèn luyện kỹ năng sử dụng cácTTLL, hệ thống tài liệu tham khảo chưa đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của GV Trong quá trình dạyhọc, GV chưa phát huy hết vai trò của BT để rèn luyện các TTLL cho HS
1.5.4.3 Về phía học sinh
Với lý do muốn tập trung vào khối dự thi đại học, không thích học Làm văn,vì chưa hiểuđúng mục đích nghị luận nên khi tạo lập văn bản, nhiều em đã không vận dụng những yêu cầu vềcách sử dụng các TTLL để tổ chức các ý của nội dung cần nghị luận Mặt khác, HS chưa thực sựbiết cách vận dụng kết hợp các TTLL để tạo ra sự mạch lạc và lôi cuốn người tiếp nhận Vì thế, sảnphẩm của các em chưa tạo ra sự thuyết phục đối với người tiếp nhận
Trang 12CHƯƠNG 2
HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐƯỢC SỬ DỤNG KHI RÈN LUYỆN CÁC THAO TÁC
LẬP LUẬN CHO HỌC SINH THPT
Như trên đã nói, TTLL là một trong những kỹ năng quan trọng để thực hiện hành động lậpluận Tuy nhiên, muốn HS năng lực thực hiện TTLL khi tạo lập VBNL, GV phải tổ chức rèn luyện.Trong luận án này, chúng tôi xác định hệ thống BT là phương tiện chủ yếu được sử dụng khi rènluyện năng lực thực hiện và sử dụng TTLL
2.1 Vai trò của bài tập trong quá trình rèn luyện kỹ năng Làm văn
2.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện các TTLL
Hệ thống bài tập được xây dựng dựa trên một số nguyên tắc sau đây:
- Nguyên tắc khoa học
- Nguyên tắc hướng vào mục tiêu rèn luyện năng lực sử dụng các TTLL
- Nguyên tắc vừa sức
- Nguyên tắc đảm bảo phối hợp rèn luyện năng lực lập luận và năng lực tư duy cho HS
2.3 Xây dựng hệ thống bài tập được sử dụng khi rèn luyện các TTLL
2.3.1 Phân loại hệ thống bài tập rèn luyện TTLL
Trong luận án này, căn cứ để xây dựng hệ thống BT rèn luyện TTLL bao gồm:
Thứ nhất, căn cứ vào nội dung rèn luyện TTLL Trên cơ sở nội dung chương trình SGK Ngữvăn 11, chúng tôi cho rằng cần phải phân thành ba loại BT lớn: (1) BT rèn luyện từng TTLL; (2)
BT thực hành rèn luyện vận dụng kết hợp các TTLL; (3) BT rèn luyện kỹ năng lập luận tổng hợp
Hơn nữa, khi tổ chức hệ thống BT, căn cứ vào nội dung kiến thức, chúng tôi nhận thấy cầnmỗi loại BT trên có thể phân thành từng nhóm Theo đó, ở loại BT rèn luyện từng TTLL, ta tiếp tụcphân chia thành: nhóm BT rèn luyện TTLL phân tích, nhóm BT rèn luyện TTLL so sánh, nhóm BTrèn luyện TTLL bình luận và nhóm BT rèn luyện TTLL bác bỏ
Gắn với quá trình hình thành và rèn luyện kỹ năng, chúng tôi phân mỗi nhóm BT thành bakiểu lớn là kiểu BT phát hiện (thường sử dụng khi hình thành nhận thức cho HS), kiểu BT tái hiện
và kiểu BT vận dụng Kiểu BT được ký hiệu là K Như vậy, khi rèn luyện từng TTLL, GV cần tậptrung vào ba kiểu BT cơ bản trên Tuy nhiên, với từng mục đích rèn luyện khác nhau, chúng tôi tiếptục chia thành các dạng BT nhỏ như: (1) BT phân tích, nhận diện; (2) BT phân tích, chứng minh ;(3) BT phân tích, đánh giá; (4) BT vận dụng theo mẫu; (5) BT vận dụng sáng tạo, (6) BT vận dụngchữa lỗi Mỗi dạng BT được ký hiệu là D.Về đặc điểm, các kiểu BT, các dạng BT đều có đặc điểmtương đồng với nhau Vì thế, trong phần dưới đây, chúng tôi tập trung giới thiệu những BT được sửdụng trong quá trình rèn luyện TTLL