Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy học tiếng Anh Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã và đang tiếp tục phát triển với những bước nhảy vọt mang tính đột phá trong thế kỉ XXI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN LÊ TRÂN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
TIẾNG ANH TẠI NHÀ THIẾU NHI
TỈNH KHÁNH HOÀ
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN XUÂN BÁCH
Huế, năm 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được ai công bố trong bất
kì một công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Lê Trân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được thực hiện và hoàn thành với sự giúp đõ quý báu của Ban giám đốc Nhà thiếu nhi tỉnh Khánh Hòa, Ban thường vụ cơ quan tỉnh Đoàn tỉnh Khánh Hòa, phòng Thường xuyên Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Khánh Hòa, phòng Giáo dục TP Nha Trang, trung tâm ngoại ngữ tin học Cần Thơ, Việt Nam – MS VN 115, quý thầy cô giảng dạy lớp đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả trong suốt khóa học.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Xuân Bách, giảng viên trường Đại học sư phạm Đà Nẵng đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn quý thầy cô, quý phụ huynh và các em học sinh đang sinh hoạt và học tập tại Nhà thiếu nhi tỉnh Khánh Hòa đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi và dành thời gian quý báu để tham gia góp ý kiến giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Xin cảm ơn các anh chị trong lớp cao học Quản lý giáo dục khóa XXI
đã quan tâm giúp đỡ và động viên tác giả trong suốt khóa học.
Luận văn không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được sự quan taamchir dẫn của các thầy cô giáo, các anh chị đồng nghiệp để kết quả được tốt hơn.
Huế, năm 2014
Tác giả
Nguyễn Lê Trân
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC 1
PHỤ LỤC 4
DANH MỤC MỘT SỐ CỤM TỪ 5
ĐƯỢC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 5
DANH MỤC, SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu 8
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 8
4 Giả thuyết khoa học 9
5 Phạm vi nghiên cứu 9
6 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
8 Cấu trúc luận văn .10
CHƯƠNG 1 11
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH CHO THIẾU NHI 11
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy học tiếng Anh 11
1.2 Những khái niệm chính của đề tài 13
1.2.1 Quản lý 13
1.2.2 Quản lý giáo dục 14
1.2.3 Dạy học .15
1.2.4 Hoạt động dạy học .16
1.2.5 Quản lý hoạt động dạy học 16
1.3 Quy định về tổ chức và hoạt động của Nhà thiếu nhi 17
1.3.1 Những qui định chung 17
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của Nhà thiếu nhi .18
1.3.3 Nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động của Nhà thiếu nhi 18
1.3.4 Đối tượng và điều kiện vào sinh hoạt trong Nhà thiếu nhi 18
1.3.5 Cơ cấu tổ chức của Nhà thiếu nhi 18
1.3.6 Về quan hệ chỉ đạo 19
1.3.7 Điều kiện, phương tiện hoạt động và chế độ 20
1.3.8 Các điều khoản thi hành 21
1.3.9 Nghị quyết liên tịch về việc phối hợp chỉ đạo hệ thống Nhà thiếu nhi 21
Trang 51.3.10 Tổ chức và hoạt động của trung tâm, cơ sở ngoại ngữ 23
1.4 Hoạt động dạy học tiếng Anh cho thiếu nhi 23
1.4.1 Đặc thù của trẻ trong học việc học tiếng Anh 23
1.4.2 Mục tiêu dạy học 25
1.4.3 Nội dung dạy học 25
1.4.4 Phương pháp dạy học 26
1.4.5 Đội ngũ giáo viên dạy học tiếng Anh 27
1.4.6 Kiểm tra và đánh giá 28
1.5 Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh cho thiếu nhi 29
1.5.1 Quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học 29
1.5.2 Quản lý nội dung và đổi mới PPDH 29
1.5.3 Quản lý đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học .30 1.5.4 Quản lý việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên 31
1.5.5 Quản lý việc tự học tiếng Anh của HS 32
1.5.6 Xây dựng động cơ học tiếng Anh cho HS 32
1.5.7 Quản lý việc khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học 34
Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2 36
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 36
TIẾNG ANH TẠI NHÀ THIẾU NHI TỈNH KHÁNH HÒA 36
2.1 Tổng quan về tỉnh Khánh Hòa 36
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội 36
2.1.2 Tình hình giáo dục đào tạo 37
2.1.2.1 Hệ thống trường lớp 37
2.1.2.2 Tình hình dạy và học tiếng Anh cho thiếu nhi ở các cấp học tỉnh Khánh Hòa trong thời gian qua 38
2.2 Tổng quát về Nhà thiếu nhi tỉnh Khánh Hòa 39
2.2.1 Khái quát về Nhà Thiếu nhi tỉnh Khánh Hoà 39
2.2.2 Sơ lược về tổ tiếng Anh Nhà thiếu nhi tỉnh Khánh Hoà 41
2.3 Tổ chức khảo sát 44
2.4 Thực trạng dạy học tiếng Anh tại Nhà thiếu nhi tỉnh Khánh Hòa 44
2.4.1 Thực trạng hoạt động dạy của GV 44
2.4.2 Thực trạng hoạt động học của HS 46
2.4.3 Thực trạng điều kiện hỗ trợ cho việc dạy học 48
2.5 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh 49
2.5.1 Thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học tiếng Anh dành cho thiếu nhi 49
2.5.2 Thực trạng quản lý nội dung và đổi mới phương pháp dạy học
51
2.5.3 Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học 53
Trang 62.5.4 Thực trạng quản lý việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ
GV 55
2.5.5 Thực trạng quản lý việc tự học tiếng Anh 57
2.5.6 Thực trạng quản lý việc xây dựng động cơ học tiếng Anh 59
2.5.7 Thực trạng quản lý các dạy điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học .61
2.6 Đánh giá quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh của Giám đốc Nhà thiếu nhi tỉnh Khánh Hòa 63
Tiểu kết chương 2 65
CHƯƠNG 3 67
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 67
TIẾNG ANH TẠI NHÀ THIẾU NHI TỈNH KHÁNH HÒA 67
3.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 67
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 67
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 67
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 67
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 68
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh 68
3.2.1 Tăng cường quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học tiếng Anh dành cho thiếu nhi 68
3.2.2 Tăng cường quản lý nội dung và đổi mới PPDH phù hợp với đặc điểm và tính chất của loại hình đào tạo KCQ 70
* Ý nghĩa: 70
3.2.3 Tăng cường quản lý việc đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá HS
72
3.2.4 Phát triển việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ GV .74
3.2.5 Tăng cường quản lý việc tự học của HS để nâng cao kết quả học tập tiếng Anh 76
3.2.6 Đẩy mạnh xây dựng động cơ học tiếng Anh cho HS 78
3.2.7 Các biện pháp quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học 80 3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 82
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 82
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 82
3.4.2 Quá trình khảo nghiệm 82
3.4.3 Kết quả khảo nghiệm .83
Tiểu kết chương 3 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87
1 Kết luận 87
2 Khuyến nghị 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC
Trang 8GVNNN Giáo viên người nước ngoài
TTCSNN Trung tâm, cơ sở ngoại ngữTTGDTX Trung tâm giáo dục thường xuyên
Trang 9DANH MỤC, SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số lượng học sinh học tiếng Anh tại Nhà thiếu nhi tỉnh
Khánh Hòa từ năm học 2009-2010 đến năm học 2013-2014 41Bảng 2.2 Tình hình đội ngũ CBQL môn Tiếng Anh tại Nhà thiếu
Bảng 2.3 Thống kê chất lượng đào tạo tiếng Anh lứa tuổi thiếu
Bảng 2.4 Thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình, kế
Bảng 2.5 Thực trạng quản lý nội dung và đổi mới phương pháp
Bảng 2.10 Thực trạng quản lý phương tiện, điều kiện hỗ trợ cho
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp 84Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 85
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời kì hội nhập và với xu thế toàn cầu hoá hiện nay thì ngoại ngữ có một vai trò vô cùng quan trọng Vì thế Đảng và Nhà nước đã có mối quan tâm đặc biệt đến vấn đề dạy và học ngoại ngữ Ngày 30/09/2008 Thủ tướng Chính phủ đã ký
quyết định số 1400/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ
thống giáo dục quốc dân” (gọi tắt là đề án ngoại ngữ 2020) Thể hiện quyết tâm
thực thi Đề án Ngoại ngữ 2020, ngày 8/4/2011 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã ký Quyết định số 1400/QĐ-BGDĐT thành lập Ban Quản lý Đề án “Dạy và học
ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” Qua đó ta thấy
rằng Nhà Nước đã có mối quan tâm đáng kể đến chiến lược đào tạo ngoại ngữ cho thế hệ tương lai của quốc gia Nhìn tổng quát, trong thời kỳ đổi mới đất nước, giáo dục đã cung cấp nguồn nhân lực cần thiết cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp rất quan trọng vào thành tựu của đất nước: vượt qua khủng hoảng kinh tế, thoát khỏi tình trạng nước nghèo, chủ động hội nhập quốc tế ngày càng hiệu quả Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của thế giới cũng đồng thời chỉ ra con đường phát triển không thể nào khác đối với các nước trong thời đại toàn cầu hóa Ngoại ngữ đóng vai trò quan trọng đối với Việt Nam trong việc hội nhập thế giới nhất là khi quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra với tốc độ nhanh
Khi cánh cửa WTO đang dần rộng mở, việc hợp tác và đầu tư luôn là tâm điểm hàng đầu của mọi ngành nghề và chất lượng chất xám trong lực lượng lao động được đề cao thì đó là lúc cuộc chạy đua của tri thức và trí tuệ bắt đầu Vậy đâu
là phương tiện chính để tham gia cuộc đua và giành thắng lợi? Có rất nhiều phương tiện tuy nhiên phương tiện cơ bản để tiếp cận và giành chiến thắng đó là tiếng Anh Cộng đồng sử dụng tiếng Anh trên toàn cầu đã lên đến con số gần 2 tỷ người Các kho tài liệu, thư viện, báo cáo khoa học, phát minh và nhiều tác phẩm văn học kinh điển đều được viết và chuyển dịch sang tiếng Anh để phổ biến rộng rãi Vì vậy, có thể thấy rằng hiện nay tiếng Anh hầu như đã được xem như là ngôn ngữ quốc tế Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc dạy học ngoại ngữ trong các nhà trường chính quy cũng như các đơn vị giáo dục không chính quy
Ngôn ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu trong quá trình hội nhập và phát triển Biết tiếng Anh, giỏi tiếng
Trang 11Anh sẽ giúp chúng ta có một ưu thế vượt trội hơn những nước khác trong khu vực Tiếng Anh là một trong những ngôn ngữ thông dụng nhất trên thế giới, là chìa khoá để mở cửa thế giới; có thể nói, trên rất nhiều lĩnh vực, tiếng Anh đã chinh phục tuyệt đối.
Thực tế thấy việc dạy học tiếng Anh ngày nay ở nước ta đang phát triển với nhiều thuận lợi Số lượng người có nhu cầu học ngày càng tăng; hệ thống tài liệu dạy học phong phú; các trang thiết bị hỗ trợ dạy học đa dạng; hiện đại, cơ hội học hỏi, giao lưu với người bản xứ ngày càng được mở rộng Trong những năm qua, việc dạy học tiếng Anh đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng tiếng Anh, kỹ năng giao tiếp của học sinh còn hạn chế Nguyên nhân là
do việc tổ chức dạy học ngoại ngữ còn nhiều bất cập, một bộ phận giáo viên dạy ngoại ngữ còn hạn chế về năng lực chuyên môn, phương pháp chưa đổi mới, chưa thích ứng với sự thay đổi để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Bên cạnh đó còn có nhiều khó khăn, bất cập trong thực tế dạy học bộ môn này Người dạy, người học còn lúng túng trong việc chọn lựa tài liệu, phương pháp, phương tiện … dạy học hiệu quả nhất
Quản lý hoạt động dạy học bộ môn này tại Nhà thiếu nhi tỉnh Khánh Hoà trong thời gian qua đã đạt được những thành quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập về thực hiện nội dung chương trình để phù hợp với trình độ học sinh; việc đổi mới phương pháp giảng dạy chưa thực hiện đồng bộ; đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu xã hội; trang thiết bị cho dạy học được đầu tư nhiều nhưng chưa được sử dụng có hiệu quả; việc quản lý các khâu trong quá trình dạy học chưa được chặt chẽ
Xuất phát từ những lý do trên đây tôi chọn nghiên cứu đề tài: “BIỆN PHÁP
QUẢN LÝ DẠY HỌC TIẾNG ANH TẠI NHÀ THIẾU NHI TỈNH KHÁNH HOÀ”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng của vấn đề nghiên cứu, tôi xin đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Nhà thiếu nhi tỉnh Khánh Hoà
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Công tác quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh cho thiếu nhi
Trang 123.2 Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại Nhà thiếu nhi tỉnh Khánh Hoà
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Nhà thiếu nhi Khánh Hoà sẽ thực sự có kết quả nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp quản lý khoa học, linh hoạt, đồng bộ và sáng tạo dựa trên những lý luận lý thuyết và thực tiễn xác đáng
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại Nhà thiếu nhi tỉnh Khánh Hoà
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Nghiên cứu các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu nhằm xây dựng cơ sở cho đề tài
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
6.2.1 Phương pháp điều tra:
Xây dựng mẫu phiếu điều tra thông qua tham khảo những đề tài có liên quan đã được nghiên cứu trước đây cũng như dựa vào cơ sở lý luận, mục đích, nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu: (1) phiếu dành cho cán bộ quản lý để tham dò ý kiến của họ về thực trạng việc giảng dạy, (2) phiếu dành cho giáo viên đang dạy các lớp tiểu học và THCS, (3) phiếu dành cho cha mẹ học sinh, (4,5) phiếu dành cho học sinh 2 cấp về
6.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm: quan sát hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh, thu thập những biểu hiện quản lý của các cán bộ quản lý
6.2.3 Phương pháp lấy ý kiến các chuyên gia: trực tiếp trao đổi, xin ý kiến của các chuyên gia, các cán bộ quản lý giáo dục có kinh nghiệm
6.3 Sử dụng phương pháp thống kê toán học xử lý kết quả nghiên cứu
Dùng phương pháp này để phân tích và xử lý các số liệu điều tra nhằm định lượng các kết quả nghiên cứu bằng cách thống kê kết quả bảng trưng cầu ý kiến, xử lý thô áp dụng các công thức tính phần trăm, giá trị trung bình và kiểm nghiệm
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của công quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh cho
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng
Trang 13Anh tại Nhà thiếu nhi tỉnh Khánh Hoà
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh
8 Cấu trúc luận văn
Phần mở đầu: đã được trình bày ở trên
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh
cho thiếu nhi
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Nhà thiếu nhi
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Nhà thiếu
Kết luận và khuyến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
TIẾNG ANH CHO THIẾU NHI
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy học tiếng Anh
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã và đang tiếp tục phát triển với những bước nhảy vọt mang tính đột phá trong thế kỉ XXI, khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp có tác động tới tất cả các lĩnh vực trong đó có quản lý, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống tinh thần của xã hội, thông tin, tri thức trở thành nguồn lực chủ yếu cho phát triển và lợi thế cạnh tranh của các nước Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là một xu thế phát triển khách quan trong đó vừa diễn ra quá trình cạnh tranh gay gắt giữa các nước vừa thúc đẩy sự phát triển của mỗi nước trên thế giới
Việt Nam ngày nay, với sự đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong xu thế toàn cầu hóa, mặt khác năm 2006, Việt Nam gia nhập WTO là một bước đi quan trọng của đất nước trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới nền kinh tế xã hội hơn bao giờ hết cần đến nguồn lực con người Nguồn nhân lực này phải trải qua quá trình đào tạo của nền giáo dục hiện đại có chất lượng
Trong tiến trình hội nhập của Việt Nam nói chung, của giáo dục nước nhà nói riêng, cùng với công nghệ thông tin, ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh đóng vai trò hết sức quan trọng Tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế, là công cụ hỗ trợ đắc lực giúp chúng ta đẩy nhanh quá trình hội nhập, hợp tác để phát triển Đây chính là phương tiện hữu ích phục vụ cho việc giao tiếp, trao đổi kinh tế, văn hóa, tiếp cận những nguồn tri thức tinh hoa của nhân loại Tiếng Anh được xếp vào một trong những lĩnh vực ưu tiên trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học – công nghệ trong thời đại ngày nay Vì vậy, việc dạy học tiếng Anh ở các nhà trường chính quy nói chung và các đơn vị không chính quy nói riêng không chỉ đơn thuần
là sự quan tâm của ngành giáo dục đào tạo mà còn của toàn xã hội
Thực tế đã chứng minh rằng qua bao thế kỷ của lịch sử nhân loại con người
đã thấy được lợi ích của quản lý Nhờ có quản lý mà xã hội loài người đã tồn tại và phát triển với biết bao thành tựu đáng ghi nhớ Cùng với sự phát triển đó, các tư tưởng quản lý cũng xuất hiện, hình thành và phát triển theo trong tất cả các lĩnh vực
Trang 15của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa … và đặc biệt là giáo dục Nhiều tác giả đã có những nghiên cứu, những tác phẩm viết về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh … như John West-Burnham, Tony Gelsthorpe (Educational Leadership and the Community), Daphne Johnson (Research Methods in Educational Management), Ủy ban đào tạo giáo viên thuộc Viện hàn lâm quốc gia Hoa Kỳ (A good teacher in every classroom), Hoàng Tụy, Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc….
Tiếng Anh không đứng tách rời các môn học khác nên phần lớn các biện pháp quản lý dạy học nói chung đều có thể áp dụng được khi nghiên cứu biện pháp quản lý dạy – học môn tiếng Anh Có thể đề cập đến các công trình nghiên cứu sau:
Nguyễn Cao Cường (2012) “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại trường THCS Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội theo chuẩn kiến thức, kỹ năng” Trần Gia Thông (2007) “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh của Hiệu trưởng các Trường tiểu học thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay”
Nguyễn Thị Cẩm (2007) “Quản lý hoạt động đào tạo của trường tư thục ngoại ngữ Việt Anh tại thành phố Hồ Chí Minh”
Hồ Đăng Quang (2006) “Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học của giám đốc các trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn thành phố Huế”
Phan Thị Ngọc Liên (2011) “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại trường đại học Đông Á Đà Nẵng”
Các đề tài trên đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều mặt của việc dạy tiếng Anh như xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, có trình độ chuyên môn cao, áp dụng các phương pháp dạy học linh hoạt hiệu quả, thay đổi nội dung sách giáo khoa cập nhật tình hình chung của thời đại, phương pháp dạy học của giáo viện phải phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng và động cơ học tập của đông đảo học sinh, thay đổi phương thức kiểm tra, đánh giá, tăng cường công tác thi đua, khen thưởng, đánh giá giờ dạy của giáo viên, phối hợp với gia đình trong công tác nâng cao nhận thức cho học sinh về tầm quan trọng của việc học tiếng Anh …
Với sự hội nhập của nước ta vào nền kinh tế thế giới trong thời kì mở cửa, nhu cầu học tiếng Anh không còn là một sở thích của một số người có năng khiếu; việc học và thông thạo tiếng Anh như một ngôn ngữ giao tiếp quốc tế thông dụng đã được xác định là thiết yếu cho mọi lứa tuổi, đặc biệt là lứa tuổi thiếu nhi Vì lẽ đó, tiếng Anh đã được Bộ giáo dục và đào tạo quyết định đưa vào chương trình học
Trang 16chính khóa ở cấp tiểu học Tuy nhiên, việc nghiên cứu các biện pháp quản lý kết quả dạy học là một vấn đề khó và phức tạp Vì ngoài những văn bản chỉ đạo có tính pháp quy của Bộ, Sở, Phòng và người quản lý trực tiếp của mỗi địa phương, vùng , miền có cách làm khác nhau Tuy vậy, dù đang thực hiện việc nghiên cứu tìm ra cách thức quản lý chuyên môn hữu hiệu thì việc tổng kết các kinh nghiệm thực tiễn luôn luôn là đòi hỏi bức thiết.
1.2 Những khái niệm chính của đề tài
1.2.1 Quản lý
Thuật ngữ “quản lý” (tiếng việt gốc Hán) lột tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn Nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì trạng thái “ổn định”, quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển” Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lấy việc “quản” làm chính thì tổ chức dễ trì trệ, ngược lại chỉ quan tâm đến việc
“lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững
Trên thực tế, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về QL:
Marx và Engels cho rằng QL là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định
Theo Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của khách thể lên chủ thể về các mặt chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội, giáo dục bằng một hệ thống các luật định, chính sách, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [24; tr7]
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thi Mỹ Lộc quan niệm: “QL là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.” [1; tr9]
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: quản lý = quản + lý = giữ gìn + chỉnh sửa Quản lý là làm cho hệ thống được ổn định và phát triển
Những khái niệm trên có khác nhau song có thể khái quát:
QL bao gồm các yếu tố như: phải có chủ thể QL là tác nhân tạo ra các tác động “Ai
Trang 17quản lý?” đó là chủ thể QL (chủ thể chỉ có thể là một cá nhân, hoặc một tổ chức do con người cụ thể lập nên) Con người “quản lý ai?”, “quản lý cái gì?”, QL sự việc đó
là khách thể QL Bên cạnh đó phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đã định ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.
QL ngày nay được coi là một trong năm nhân tố phát triển kinh tế - xã hội: vốn, nguồn lực lao động, khoa học – kỹ thuật, tài nguyên và sự QL, trong đó QL có vai trò mang tính quyết định sự thành công.
Như vậy, rõ ràng QL không chỉ là một khoa học mà là một nghệ thuật và hoạt động QL vừa có tính chất khách quan vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi… chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất.
1.2.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một đặc trưng của lao động xã hội Đây là một hoạt động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội qua các thế hệ, đồng thời là một động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Để hoạt động này vận hành có hiệu quả, giáo dục phải được tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống các cơ sở giáo dục, điều này dẫn đến một tất yếu là phải có một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tương đối trong giáo dục, đó là công tác QLGD để quản lý các cơ sở giáo dục trong thực tiễn Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực QLGD, đã có những khái niệm sau:
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo:”QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [2, tr.31]
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “QLGD là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp QLGD tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó” [12, tr.45]
Theo quan điểm của tác giả Trần Kiểm, khái niệm QLGD đối với cấp vĩ mô,
“QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có
kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài xã hội nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [tr.26]
Trang 18Từ những điểm chung của các khái niệm trên, ta có thể hiểu: QLGD được
hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng QL nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.
1.2.3 Dạy học
Dạy và học là thuộc tính của mọi cơ thể sống Đối với loài người, dạy và học
là phạm trù mang tính xã hội rất cao Nó xuất hiện ngay từ buổi sơ khai khi con người muốn truyền thụ kinh nghiệm cho nhau Dần dần những kinh nghiệm ấy được tập hợp thành hệ thống tri thức Tri thức của nhân loại ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn Khái niệm DH cũng cần được mở rộng nội hàm nhằm thích ứng với những yêu cầu về nhân cách người học qua những hoàn cảnh xã hội khác nhau và phù hợp với các phương thức dạy học khác nhau Trên cơ sở lý luận của triết học Marx-Lenin về hoạt động nhận thức của con người, các nhà khoa học đã tiếp cận dạy học bằng sự xem xét mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của HĐDH để lý giải các thành tố cấu trúc của HĐDH để phân tích các thành tố cấu trúc đó từ những góc độ khoa học khác nhau:
Dưới góc độ của giáo dục học: HĐDH là hoạt động đặc trưng cho bất cứ các loại hình nhà trường, và xét theo quan điểm tổng thể, dạy học chính là con đường giáo dục tiêu biểu nhất … với nội dung và tính chất của nó, dạy học luôn được xem
là con đường hợp lý, thuận lợi nhất giúp cho học sinh với tư cách là chủ thể nhận thức có thể lĩnh hội được một hệ thống tri thức và kỹ năng hành động, chuyển thành phẩm chất, năng lực, trí tuệ của bản thân Cá nhân người học vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trình đó
Ở góc độ xã hội học giáo dục, dạy học được xem như là một diễn tiến vị thế
xã hội của con người vì qua đó con người luôn hoạt động và phát triển trong sự tiếp thu, lĩnh hội và chuyển hóa theo mục tiêu xác định của giáo dục phù hợp với sự phát triển của lứa tuổi và diễn ra trong suốt cuộc đời của mỗi người
DH là một bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách, là quá trình tác động qua lại giữa thầy và trò nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, kinh nghiệm xã hội, kỹ năng, kỹ xảo, hoạt động nhận thức thực tiễn, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng các phẩm chất của cá nhân người học
Trang 19Học là một hoạt động trong đó học sinh là chủ thể Học là quá trình tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh tri thức dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên Học có hai chức năng thống nhất với nhau: lĩnh hội và tự chiếm lĩnh Lĩnh hội là tiếp thu thông tin dạy của thầy, của sách giáo khoa… và tự chiếm lĩnh là tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức của bản thân
Dạy là sự điều khiển tối ưu hóa quá trình dạy học của học sinh để hành thành
và phát triển nhân cách cho học sinh Nếu học nhằm mục đích chiếm lĩnh khái niệm khoa học thì dạy lại có mục đích là điều khiển việc học tập Dạy có hai chức năng thường xuyên tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau là truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động dạy học
Tóm lại quá trình dạy học là một quá trình trong đó dưới tác động chủ đạo
của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, nhằm thực hiện tốt các HĐDH
1.2.4 Hoạt động dạy học
Cùng với hoạt động học tập, HĐDH là hoạt động trung tâm và đặc trưng nhất HĐDH được tiến hành với mục đích tổ chức – điều khiển nhằm tối ưu hóa hoạt động học, giúp người học chiếm lĩnh tri thức khoa học và qua đó hình thành, phát triển nhân cách
Từ cách hiểu đó, HĐDH có những nhiệm vụ sau:
- Làm cho HS nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, trong lao động và trong cuộc sống
- Phát triển trí tuệ của HS, trước hết là phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, hình thành năng lực nhận thức và hành động Dạy học đồng thời là dạy cách tự học,
tự hoàn thiện nhân cách
- Dạy kiến thức văn hóa phải đi đôi với việc hình thành thế giới quan khoa học, lòng yêu nước, chí tự cường, sống lành mạnh, giàu lòng nhân ái, có trách nhiệm, biết hợp tác và thích nghi
Kết quả của HĐDH là chất lượng và trình độ mới về phẩm chất và năng lực của HS, giúp HS có thể nhận thức và cải thiện hiện thực, làm cho hiện thực trở nên tốt đẹp hơn
1.2.5 Quản lý hoạt động dạy học
Là tổ chức một cách có khoa học cho lao động dạy học, bao gồm các hoạt động của một tập thể (GV, HS), cũng như công việc chuyên môn từng người Biện
Trang 20pháp quản lý HĐDH là cách thức thực hiện trên các nội dung giảng dạy và học tập
cụ thể theo kế hoạch dạy học và các chương trình môn học qui định đề ra Đó là cách sử dụng những phương tiện, nguồn lực vật chất và tinh thần để tạo ra các tác động hướng đích, nhằm đạt mục tiêu dạy học chất lượng và đạt hiệu quả cao, bao gồm trong đó cả việc thực hiện đổi mới PPGD
Quản lý (tổ chức, chỉ đạo) HĐDH bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Xác định mục tiêu các HĐDH
- Xây dựng kế hoạch dạy học
- Tổ chức, lựa chọn, tập hợp, bồi dưỡng lực lượng GV
- Động viên, thúc đẩy, tạo động lực, tạo điều kiện làm việc cho các thành viên (GV, HS, CBQL, nhân viên)
- Giám sát, điều hành, uốn nắn, định hướng HĐDH và học tập
- Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm, rút ra bài học (về thành công và hạn chế) để triển khai tiếp hoặc chấm dứt
- Trong điều kiện đổi mới giáo dục - dạy học hiện nay, nội dung QL HĐDH bao gồm cả việc tổ chức thực hiện đổi mới PPDH Đây chính là một nội dung vừa
có tính lâu dài vừa có tính thường xuyên và cũng là nội dung rất quan trọng trong công tác giáo dục hiện nay Bên cạnh đó, thì việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV, tạo động cơ thúc đẩy, nâng cao động lực lao động có vị trí quan trọng của quá trình
QL HĐDH
1.3 Quy định về tổ chức và hoạt động của Nhà thiếu nhi
Trong luận văn này, chúng tôi chỉ xin được trình bày rõ những điều, mục liên quan đến chức năng dạy học các bộ môn văn hóa tại Nhà thiếu nhi
1.3.1 Những qui định chung
Nhà thiếu nhi là cơ sở giáo dục của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và là trung tâm hoạt động của đội TNTP Hồ Chí Minh ở ngoài nhà trường nhằm giúp cho thiếu nhi mở rộng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, bồi dưỡng tình cảm tập thể để cùng với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã đề ra:”hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ những người lao động có văn hóa, có kỹ thuật và tính sáng tạo, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với sự phân công lao động của xã hội NTN nằm trong hệ thống giáo dục của nhà nước, do nhà nước thành lập và giao cho Đoàn Thanh niên quản lý
Trang 21NTN là một đơn vị sự nghiệp có tài khoản riêng, con dấu riêng, tùy theo qui mô, tính chất, NTN được coi tương đương với các trường phổ thông hoặc chuyên nghiệp
để vận dụng các chế độ chính sách Nhà nước đã ban hành cho phù hợp.”
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của Nhà thiếu nhi
Nhà thiếu nhi có những nhiệm vụ sau:
- Tập hợp đông đảo thiếu nhi để giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho các em thông qua các hình thức tổ chức hoạt động quần chúng rộng rãi và hoạt động chuyên môn
- Phát hiện năng khiếu, bồi dưỡng năng khiếu, tính sáng tạo cho thiếu nhi
1.3.3 Nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động của Nhà thiếu nhi
Những hình thức hoạt động chủ yếu của Nhà thiếu nhi: các lớp chuyên môn theo sở thích, phổ cập đáp ứng yêu cầu sở thích cho đông đảo thiếu nhi trong khu vực
Phương thức giáo dục chủ yếu trong NTN, các hoạt động của NTN phải thực hiện nguyên lý, phương châm giáo dục của Đảng, những nguyên tắc hoạt động của Đội và có những phương pháp giáo dục chủ yếu sau: giáo dục bằng hoạt động tập thể có tổ chức, phát huy tính tự quản của các em là chính Học mà chơi, chơi mà học
1.3.4 Đối tượng và điều kiện vào sinh hoạt trong Nhà thiếu nhi
Tất cả thiếu niên, nhi đồng đang đi học và không đi học có sức khỏe bình thường,
tự nguyện xin tham gia các hoạt động đều được tạo điều kiện tiếp nhận vào NTN
Điều kiện tiếp nhận vào sinh hoạt ở Nhà thiếu nhi:
Cá nhân thiếu nhi làm đơn xin tham gia và được cha mẹ đồng ý
1.3.5 Cơ cấu tổ chức của Nhà thiếu nhi
Bộ máy quản lý: một giám đốc là ủy viên Ban thường vụ Đoàn và Hội đồng Đội chịu trách nhiệm về toàn bộ công tác lãnh đạo tổ chức quản lý NTN theo quy định và kế hoạch Giám đốc là người có đủ phẩm chất, năng lực giáo dục (ít nhất có trình độ đại học hoặc cao đẳng sư phạm, đã qua lớp bồi dưỡng công tác Đội và thực
tế công tác thiếu nhi) được Ban Thường vụ Đoàn chọn cử và Uỷ ban nhân dân bổ nhiệm Giám đốc NTN là thành viên trong Hội đồng Đội và tuỳ điều kiện có thể tham gia chấp hành hoặc uỷ viên thường vụ, thường trực cấp bộ Đoàn trực tiếp Mỗi Nhà thiếu nhi có từ 1 đến 2 phó giám đốc, một phó giám đốc phụ trách các hoạt
Trang 22động giáo dục, một phó giám đốc phụ trách công tác quản trị, hành chính Phó giám đốc phải được Ban Thường vụ Đoàn đồng ý và Uỷ ban nhân dân bổ nhiệm, ngoài tiêu chuẩn phẩm chất tốt, phó giám đốc phải có trình độ quản lý chuyên môn trong lĩnh vực được phụ trách Căn cứ vào điều kiện và yêu cầu thực tế thành lập các khoa, phòng trực thuộc giám đốc như phòng giáo vụ, hành chính, quản trị, tài
vụ, bảo vệ … Các khoa: hoạt động quần chúng và phương pháp ( gọi tắt là khoa phương pháp) Giáo dục thẩm mỹ Giáp dục lao động hướng nghiệp sáng tạo kỹ thuật (gọi tắt là khoa kỹ thuật) Thể thao du lịch, phòng cháy chữa cháy, quốc phòng (gọi tắt là khoa thể thao)
Mỗi khoa căn cứ vào yêu cầu và điều kiện thực tế có thể thành lập các tổ bộ môn, để thành lập một tổ ít nhất phải có những điều kiện: có GV giảng dạy hướng dẫn, có cơ sở vật chất tối thiểu, các em có nhu cầu và môn đó thích hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Các trưởng, phó khoa, phòng, tổ trưởng
bộ môn do giám đốc quyết định sau khi thống nhất với ban tổ chức của cấp bộ Đoàn quản lý, những cán bộ này có phẩm chất tốt, nhiệt tình yêu trẻ, có năng lực chuyên môn và sư phạm từ trình độ trung cấp trở lên Các cán bộ giảng dạy, hướng dẫn các hoạt động trong NTN là những phụ trách đội, có phẩm chất, có ý thức chính trị, có năng lực chuyên môn và phương pháp công tác vững vàng
Các hội đồng trong NTN: Hội đồng sư phạm là cơ quan tư vấn cho giám đốc
về công tác chuyên môn trong việc xét duyệt quyết định và đánh giá các chương trình, các chuyên đề kinh nghiệm, sáng kiến của các mặt hoạt động giáo dục trong Nhà thiếu nhi Hội đồng sư phạm do giám đốc NTN làm chủ tịch, các thành viên gồm những CBQL, cán bộ chuyên môn giỏi trong và ngoài NTN NTN được thành lập các hội đồng thi đua, hội đồng kỷ luật, ban kiểm tra trong thành phần của các hội đồng và ban này đại diện của ban chỉ huy liên đội tạm thời, các hội đồng và ban hoạt động theo quy định của Nhà nước
Cộng tác viên: NTN vận động thu hút các cán bộ chuyên môn có phẩm chất tốt, yêu mến các em trên các lĩnh vực làm cộng tác viên giảng dạy và hướng dẫn các
em trong NTN
1.3.6 Về quan hệ chỉ đạo
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lãnh đạo quản lý hệ thống NTN và giao cho Hội đồng Đội trực tiếp chỉ đạo theo những nội dung nêu trong quy định về NTN NTN
Trang 23có trách nhiệm thực hiện đúng nội dung trương trình học tập và rèn luyện các bộ môn do Đoàn và cơ quan chuyên môn đã thống nhất ban hành và chịu sự kiểm tra đánh giá của cơ quan chuyên môn.
NTN có trách nhiệm hướng dẫn phương pháp tổ chức, hoạt động, giáo dục cho các NTN và câu lạc bộ trong địa phương mình NTN có quyền phối hợp với các
cơ quan, đoàn thể các tổ chức xã hội và nhà trường, các NTN ở địa phương khác để thực hiện các yêu cầu giáo dục của mình NTN được tổ chức hoạt động đoàn kết, hữu nghị, kết nghĩa với các NTN hoặc cơ sở Đội của các nước XHCN, được tổ chức các phân hội hữu nghị khi được cấp bộ Đoàn quản lý đồng ý
1.3.7 Điều kiện, phương tiện hoạt động và chế độ
Các NTN hàng năm có kế hoặch xây dựng, sửa chữa mua sắm phương tiện hoạt động, đề xuất với uỷ ban kế hoạch và các ngành liên quan đưa vào kế hoạch cung ứng, mặt khác có thể trực tếp trao đổi với các đơn vị sản xuất, kinh doanh đối với những nhu cầu số lượng ít
Ngân sách của NTN bao gồm các nguồn sau: Nguồn cơ bản là Nhà nước cấp ngân sách theo kế hoạch các NTN lập dự toán, cấp bộ Đoàn đề nghị chính quyền duyệt cấp Nguồn vận động: Cấp bộ Đoàn có kế hoạch vận động các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh và nhân dân địa phương giúp đỡ Nguồn tự có: NTN thu học phí của những em tham gia các lớp học chuyên môn, năng khiếu với mức độ vừa phải Được tổ chức một số hoạt động dịch
vụ văn hoá bao gồm cả giáo dục chuyên môn, dạy nghề, thể thao, kỹ thuật và nhận gia công một số công đoạn sản xuất một số sản phẩm để các lớp học, lao động sản xuất hướng nghiệp thực hành trên cơ sở thực hiện mục tiêu giáo dục, thu nhận tài chính bổ sung cho hoạt động Các NTN phải sử dụng nguồn tài chính vào các hoạt độnh giáo dục theo đúng quy định Nhà nước, hàng năm có quyết toán báo cáo với cấp bộ Đoàn và chính quyền
Chế độ đối với cán bộ trong NTN Các CBQL, được hưởng các chế độ theo chức danh, các cán bộ chuyên môn được hưởng các chế độ theo bằng cấp chuyên môn nghề nghiệp Các CB hoàn thành tốt nhiệm vụ được tặng các danh hiệu thi đua của Đoàn, của ngành chuyên môn và Nhà nước Các cấp bộ Đoàn và Nhà thiếu nhi
có kế hoạch tạo điều kiện cho CBQL, CB chuyên môn học tập với các hình thức để
Trang 24không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực và trình độ công tác Các CB có sai phạm tuỳ theo mức độ để có kỷ luật thích hợp theo quy định
1.3.8 Các điều khoản thi hành
Các cấp bộ Đoàn có trách nhiệm triển khai chỉ đạo thực hiện quy định, chủ động vận động các ngành, các cấp và các lực lượng tham gia vào sự nghiệp giáo dục nói chung và công tác giáo dục ở các NTN có kết quả cao hơn Thường xuyên kiểm tra đánh giá qua tổ chức hoạt động của NTN Hội đồng Đội các cấp có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo các NTN theo đúng quy định này NTN hàng năm tổng kết đánh giá báo cáo kết quả
Giám đốc Nhà thiếu nhi có trách nhiệm thi hành quyết định này
1.3.9 Nghị quyết liên tịch về việc phối hợp chỉ đạo hệ thống Nhà thiếu nhi
Giáo dục thiếu niên, nhi đồng thành những con người mới xã hội chủ nghĩa phát triển toàn diện là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân trong đó nghành giáo dục, văn hoá, thể dục, thể thao, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có trách nhiệm trực tiếp và giữ vai trò quan trọng Cùng với quá trình giáo dục trong nhà trường thì giáo dục ngoài nhà trường bằng những hoạt động tập thể do Đội TNTP Hồ Chí Minh làm nòng cốt, trong đó các NTN là phương tiện thích hợp Để tạo ra những chuyển biến mới trong việc thực hiện nghị quyết cải cách giáo dục, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục thiếu nhi ngoài nhà trường, ngoài giờ lên lớp, Bộ giáo dục, Bộ văn hóa, Tổng cục Thể dục thể thao và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thống nhất phối hợp, tăng cường chỉ đạo để NTN cấp tỉnh, thành, huyện, quận tiếp tục phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy các câu lạc bộ thiếu nhi cơ sở, với những nội dung sau:
- Về chỉ đạo: TW Đoàn có kế hoạch thống nhất nội dung, phương hướng
giáo dục và các hoạt động chuyên môn cho các NTN trên cơ sở các ngành tuỳ theo chức năng của mình, tác động đến các hoạt động trong NTN Hàng năm căn cứ vào những trọng tâm giáo dục đề ra chương trình phối hợp cụ thể cùng triển khai và đánh giá kết quả hoạt động của NTN TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cùng với Bộ Giáo dục, Bộ Văn hoá và Tổng cục Thể dục thể thao phối hợp tổng kết kinh nghiệm và tổ chức hoạt động về nội dung, phương pháp khoa học của công tác giáo dục hệ thống NTN để triển khai thực hiện thống nhất Các ngành có kế hoạch giúp
đỡ NTN về nghiệp vụ các bộ môn phù hợp với ngành mình
Trang 25- Về đào tạo và bồi dưỡng cấp bộ: Bộ giáo dục, Bộ Văn hoá và Tổng cục
Thể dục thể thao cùng với TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo đội ngũ CBQL và cán bộ nghiệp vụ trong các Cung thiếu nhi, NTN Các nghành chọn những cán bộ có phẩm chất tốt, yêu mến các em và có năng lực nghiệp vụ để cung cấp cho các NTN trên cơ sở yêu cầu của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các bộ, Tổng cục phối hợp cùng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên đề tham quan, thực tập, nghiên cứu sinh cho cán bộ đang công tác tại các NTN ở trong nước và ngoài nước, để nhanh chóng hình thành lớp cán bộ
có trình độ cao Các trường đại học của Bộ Văn hoá và Tổng cục Thể dục thể thao
có kế hoạch để từng bước mở các lớp, các khoa đào tạo, bồi dưỡng, lý luận, nghiệp
vụ cho cán bộ của NTN dưới hình thức tập trung, tại chức, chuyên tu Các sở, phòng giáo dục, văn hoá, thể dục thể thao chọn cử và vận động những cán bộ tốt đang công tác làm cộng tác viên giảng dạy các NTN
- Về phối hợp đầu tư cơ sở vật chất: Bộ giáo dục, Bộ Văn hoá, Tổng cục Thể
dục thể thao đẩy mạnh sản xuất trang thiết bị, đồ dùng học tập, giảng dạy và tập luyện cho các Nhà thiếu nhi thành một đơn vị trong kế hoạch cung cấp vật tư của mình và được ưu tiên đầu tư Bộ Văn hoá, Tổng cục Thể dục thể thao chỉ đạo để các Nhà văn hoá, các câu lạc bộ thể dục thể thao của ngành mình dành một phần ngân sách, thời gian, cán bộ, địa điểm và phương tiện để tổ chức các câu lạc bộ thiếu nhi, các lớp năng khiếu, các hoạt động phục vụ thu hút thiếu nhi HS trong khu vực, góp phần tích cực vào công tác giáo dục thiếu niên nhi đồng
- Bộ Văn hoá, Bộ Giáo dục, Tổng cục Thể dục Thể thao sẽ cử chuyên viên
trong các cục, vụ chức năng để giúp các bộ và tổng cục triển khai, theo dõi, đôn đốc thực hiện nghị quyết này Trên cơ sở thực hiện tốt nghị quyết liên tịch này, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Bộ giáo dục, Bộ Văn hoá và Tổng cục Thể dục thể thao nghiên cứu để trình lên Hội đồng Bộ trưởng ban hành một quy chế và những chính sách của Nhà nước đối với hệ thống Nhà thiếu nhi Các bên tham gia nghị quyết liên tịch này sẽ có văn bản hướng dẫn cho ngành mình, thực hiện tốt nội dung trong văn bản, mỗi năm có một cuộc họp của lãnh đạo Bộ Giáo dục, Bộ Văn hoá, Tổng cục Thể dục thể thao, Trung ương Đoàn để kiểm điểm kết quả và ban công tác mới
Trang 261.3.10 Tổ chức và hoạt động của trung tâm, cơ sở ngoại ngữ
Nội dung hoạt động của trung tâm ngoại ngữ như sau:
a Quản lý TT ngoại ngữ: Sở giáo dục và đào tạo quản lý các trung tâm ngoại ngữ thuộc các bộ, ban, ngành, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có trụ sở đóng tại địa phương
b Chương trình giảng dạy: Trung tâm ngoại ngữ, tin học xây dựng chương trình giảng dạy cho phù hợp với điều kiện của người học và sự phát triển của từng địa phương, không trái với các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Căn cứ vào các chương trình giảng dạy và hình thức học tập, trung tâm xây dựng kế hoạch học tập toàn khoá, thời gian biểu cụ thể cho từng lớp học và công bố công khai cho học viên trước khi khai giảng
c Giáo trình và tài liệu giảng dạy, học tập: sử dụng giáo trình, tài liệu giảng dạy, học tập theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hoặc các tài liệu khác không trái với các quy định của pháp luật
d Tổ chức kiểm tra và cấp chứng chỉ: thực hiện theo qui định của bộ GDĐT
1.4 Hoạt động dạy học tiếng Anh cho thiếu nhi
1.4.1 Đặc thù của trẻ trong học việc học tiếng Anh
Khi hình thành dạy tiếng, một yếu tố quan trọng chúng ta cần quan tâm đó là lứa tuổi Ở lứa tuổi thiếu nhi, chúng ta đã phải nói đến việc thiết kế một chương trình dạy tiếng có mục tiêu ngôn ngữ rõ ràng Hay nói một cách khác, chúng ta cần xác định một bản đồ ngữ liệu (syllabus map) cho từng khóa học, từ đó chọn một bộ sách giáo khoa hợp với từng lứa tuổi
Lứa tuổi nhi đồng (6 - 9 tuổi): Chúng ta đều biết trẻ em rất hiếu động
(Children are physical) Trẻ của chúng ta thích hiểu biết cái mới thông qua những hành động do chính mình làm, rồi từ đó rút ra những suy nghĩ về cái mới đó, đôi khi còn có cách giải thích riêng của mình về cái mới Vì thế giờ học ngoại ngữ phải là giờ đưa HS vào hoạt động giao tiếp thực, tức là HS được giao tiếp một cách có ấn tượng, nhằm tạo ra một phản xạ mới, tức là phản xạ sử dụng ngôn ngữ mới trong tình huống cũ Khi trẻ Việt Nam gặp nhau thường hỏi: Cậu đi đâu đấy? Cậu đi học à? … đó là tình huống trẻ Việt thường gặp, gọi là tình huống cũ Trong tình huống
đó, trẻ Anh hỏi: How are you? Vậy thì để tạo phản xạ mới này trong tình huống cũ
đó, nếu chúng ta chỉ giải thích và bắt trẻ học thuộc lòng câu: How are you? thì có
Trang 27thể thành công trong chốc lát, tức là thành công trong việc bắt trẻ nhắc lại đúng, nhưng không tạo được phạn xạ trong tình huống Để đáp ứng với tính hiếu động chúng ta cần tạo điều kiện cho trẻ được chính mình thực sự xử lý ngôn ngữ trong
giao tiếp thực Điểm thứ hai là: trẻ không tập trung được lâu (Children have short
attention) Chúng ta có thể thấy trẻ không có khả năng tập trung tư tưởng vào một vấn đề trong một thời gian dài, kể cả khi vấn đề đó là vấn đề rất hấp dẫn Trước tính cách này, một lớp học tiếng cần được tổ chức sao cho quy trình học trên lớp phải đa dạng về hoạt động và phải thay đổi luôn, không nên để một dạng thức hoạt động, dù
là sinh động đi chăng nữa, kéo quá dài
Một đặc thù nữa của trẻ là thích chơi mà học (Play to learn) Điều này giáo
học pháp hiện đại đều công nhận đối với lứa tuổi thiếu nhi Nhờ những phương tiện hiện đại ngày nay, chúng ta gần như đáp ứng tốt nhu cầu này của trẻ Và cuối cùng
trẻ cần những yếu tố lặp đi lặp lại (Children are comfortable with routines and
enjoy repetition) Hoạt động lặp đi lặp lại trong học tiếng vừa dùng để giới thiệu bài mới vừa dùng để củng cố bài cũ Sự lặp đi lặp lại không thuần túy là nhắc lại nguyên si một bài học nào đó Ở trẻ nhỏ, chúng ta không nên sử dụng hình thức này Chúng ta có thể dùng tình huống khác nhau để lặp lại một yếu tố ngôn ngữ
Để đáp ứng đặc thù của trẻ trong quy trình học tiếng Anh, chúng ta cần sử dụng những kỹ thuật và loại hình bài tập nhằm đưa trẻ vào giao tiếp thực (bring children to real communication) tạo điều kiện hình thành một cộng đồng hợp tác với nhau trong học tập
Lứa tuổi thiếu niên (9 -15 tuổi): HS lứa tuổi này có những đặc điểm khác
với HS tiểu học ở những mặt sau:
Suy nghĩ nhanh nhạy trong nhận thức kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp)
Khả năng tưởng tượng linh hoạt, logic hơn, nhất là dễ dàng liên tưởng và so sánh sự giống khác nhau giữa ngoại ngữ với tiếng mẹ đẻ
Khả năng ghi nhớ, tái hiện các đoạn hội thoại và khả năng diễn đạt bằng tiếng Anh lưu loát và bền vững hơn, phản xạ ngôn ngữ nhanh hơn
Rất hứng thú và tích cực trong học động luyện tập phát triển kỹ năng ngôn ngữ, nhất là hai kỹ năng nghe, nói, nhưng cũng rất dễ chán nản trong việc luyện tập phát triển các kỹ năng phức tạp, ví dụ như kỹ năng đọc hiểu vì gặp nhiều từ mới, trừu tượng và khó đoán nghĩa; hoặc như kỹ năng viết vì cảm thấy khó diễn đạt suy
Trang 28nghĩ, ý tưởng các nhân bằng ngôn ngữ viết.
Nhìn chung ở lứa tuổi này, tuy các em hào hứng, có ý thức muốn nắm bắt và
sử dụng được tiếng Anh nhưng khả năng độc lập trong học tập chưa tốt (còn rụt rè, không tự tin và sợ mắc lỗi khi nói) Vì vậy, các em cần phải thường xuyên được sự khuyến khích, động viên kịp thời của GV và đặc biệt cần sự hỗ trợ của các PPDH thích hợp để củng cố, ổn định và nâng cao hiệu quả học tập của các em
1.4.2 Mục tiêu dạy học
Xuất phát từ xu thế toàn cầu hóa trên thế giới cũng như từ xu thế hội nhập của Việt Nam, trong thời đại khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng và những yêu cầu của xã hội vì vậy việc dạy học môn tiếng Anh cho thiếu nhi nhằm giúp cho các em HS sử dụng tiếng Anh như một công cụ
để giao tiếp ở mức độ cơ bản, đồng thời cung cấp cho các em những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết phù hợp với lứa tuổi, đặc điểm tâm lý của các em; đặc biệt thông qua việc học tiếng Anh các em có thêm hiểu biết về đất nước, con người, phong tục tập quán và nền văn hóa của một số nước sử dụng tiếng Anh Từ đó hình thành cho các em tình cảm, có thái độ đúng đắn đối với con người và đất nước, nền văn hóa và ngôn ngữ các nước Vì vậy, việc xác định mục tiêu dạy học có ý nghĩa
to lớn đối với việc nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học Nó giúp cho GV xác định phải dạy gì, đến mức độ nào để từ đó lựa chọn được phương pháp dạy học thích hợp, đánh giá được khách quan, đúng đắn kết quả học tập của HS Mục tiêu dạy học theo qui đỊnh là dạy học và bồi dưỡng tiếng Anh nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của thiếu nhi có mục đích phổ cập, các em có nhiều cơ hội để tham gia các kỳ và đạt được các chứng chỉ trong và ngoài nước
1.4.3 Nội dung dạy học
Kết quả học tập và giảng dạy một môn học không chỉ phụ thuộc vào trình độ nắm vững kiến thức và phương pháp dạy của GV, khả năng học tập tích cực của HS
mà còn phụ thuộc không nhỏ vào nội dung dạy học Sử dụng các bộ giáo trình của các nhà xuất bản nổi tiếng như Cambridge, Oxford, Macmillan, Pearson … (đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam thẩm định) dành cho lứa tuổi thiếu nhi thiết
kế chuyên biệt, tập trung, chuyên sâu nhằm phát triển đều cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và hoạt động trong từng bài học được thiết kế dựa trên quan điểm lấy HS
Trang 29làm trung tâm Nội dung bao gồm các chủ đề và tình huống quen thuộc phù hợp và gần gũi với lứa tuổi, tâm lý, sở thích của các em, tạo hứng thú cho các em học tập Ngoài ra một lượng tài liệu phong phú được kết hợp cùng với giáo trình là những chủ đề thú vị về những lĩnh vực các em yêu thích như khoa học, âm nhạc, điện ảnh, thể thao, thế giới động vật …mà các em phải tự tìm kiếm thông tin trên Internet, sách, báo, tạp chí … với sự hướng dẫn tận tình của GV Hơn nữa, đối với tiếng Anh thiếu niên, việc luyện văn phạm thông qua giáo trình ngữ pháp được thiết kế riêng biệt và sắp xếp có hệ thống theo chương trình của Việt Nam và chuẩn quốc tế
1.4.4 Phương pháp dạy học
Ở lứa tuổi thiếu nhi, các em đã có đủ khả năng để sẵn sàng học một ngoại ngữ Rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng nếu trẻ được tiếp cận tiếng Anh ngay từ những năm đầu đời, trẻ sẽ trở nên tự tin hơn và sử dụng tiếng Anh thành thạo hơn khi trưởng thành Với trẻ nhỏ, một điều nên tránh là không nên ép buộc trẻ đi học; trẻ cần phải được tạo cảm giác hứng thú chứ không phải bắt buộc Với đối tượng được giảng dạy là thiếu nhi đòi hỏi người giáo viên phải có phương pháp riêng, phải đưa ra các ý tưởng làm sao cho lớp học càng sinh động, thân thiết, vui vẻ càng tốt PPGD không giống như cách dạy cho người lớn phải chú ý đến độ chính xác về ngữ pháp, đối với trẻ em, khi học tiếng Anh thì ngữ pháp chưa phải là điều quan trọng nhất, mà là các vấn đề liên quan đến khả năng nói trôi chảy, phát âm, từ vựng, sự nhanh nhạy và tự tin trong giao tiếp, các phản xạ khi sử dụng ngôn ngữ GV kết hợp nhiều hình thức trong một bài học như như kể chuyện, học qua bài hát, làm thơ, trò chơi bằng tiếng Anh dưới sự hướng dẫn nhiệt tình khoa học của các GV có phương pháp sư phạm tốt, giàu kinh nghiệm giảng dạy tiếng Anh cho trẻ em, nhằm tạo hứng thú trong học tập, phát huy khả năng sáng tạo và rèn luyện sự tự tin cho các em
Nhìn chung, về PPDH tiếng Anh cho thiếu nhi, chúng ta có thể thấy ba điều quan trọng sau đây:
Một là, khả năng học tiếng của trẻ Phải nói rằng trẻ con học rất nhanh nói
nghe rất giỏi, và trẻ học một cách say sưa Có những trẻ còn phát âm hay hơn, giống người Anh hơn cả GV, vì chúng bắt chước băng tiếng, băng hình
Phương pháp dạy trẻ Đối với trẻ quy trình tiếp thu ngoại ngữ là quy
trình cảm thụ ngôn ngữ (language acquisition), khác với quy trình học ngôn ngữ
(language learning) của người lớn Vì thế phương pháp dạy trẻ học tiếng hoàn toàn
Trang 30khác với các phương pháp dạy người lớn Phương pháp dạy trẻ học tiếng được
Mary Slattery & Jane Willis trình bày rất rõ trong cuốn English for Primary
Teachers do NXB Oxford xuất bản năm 2001 Ngoài ra có hai phương pháp rất phổ
biến là MAT (model action talk) của Ritsuko Nasaka (Nhật), và TPR (total physical talk – PP nghe hiểu) của James J Asher (Mỹ) Hiện nay hầu hết các GV dạy tiếng Anh cho thiếu nhi đang được được tiếp cận với các phương pháp này Điều thách
thức đối với GV và là điều mà các phụ huynh rất lo lắng, đó là khả năng phát âm
của GV Rõ ràng dạy tiếng Anh cho trẻ không đòi hỏi GV phải có trình độ kiến thức
cao, mà chỉ cần nói trôi chảy, phát âm tốt (càng gần chuẩn bản ngữ càng tốt) Hình ảnh âm thanh của những bài học đầu tiên ăn rất sâu vào tâm trí của trẻ
1.4.5 Đội ngũ giáo viên dạy học tiếng Anh
Đội ngũ GV có vị trí quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo; GV hợp đồng là các nhà sư phạm, các nhà sư phạm người nước ngoài được mời tham gia hoạt động giảng dạy tiếng Anh, thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục HS được hưởng quyền lợi theo hợp đồng
Đối với GV hợp đồng là người Việt:
Theo điều 74 của luật Giáo dục, cơ sở giáo dục được mời người có đủ tiêu chuẩn (Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; Lý lịch bản thân rõ ràng) đến giảng dạy theo chế độ hợp đồng GV giảng dạy theo hợp đồng phải thực hiện các nhiệm vụ quy định của cơ sở giáo dục Trong hợp đồng dạy học phải có điều khoản GV cam kết đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ ở nơi mình công tác
Đối với GV hợp đồng là người nước ngoài:
Có thể nói chưa bao giờ giáo viên người nước ngoài lại đông đến thế tại các
cơ sở giáo dục không chính quy và cả trong các trường học chính quy tại Việt Nam Việc đưa GV bản ngữ vào dạy đang trở thành một nhu cầu vô cùng cấp thiết việc dạy và học anh ngữ theo cách truyền thống ở một chừng mực nào đó đang rất hạn chế khả năng phát triển của HS Có thể nói rằng, GV bản ngữ thật sự mang lại những giá trị không thể phủ nhận trong việc nâng cao khả năng sử dụng tiếng Anh cho trẻ Học trò Việt thích GVNNN dạy tiếng Anh và ở chiều ngược lại, nhiều GVNNN đặc biệt là người trẻ thấy đây là cơ hội để thử sức mình ở môi trường mới
Trang 31Ngoài ra, đến Việt Nam dạy học còn là cơ hội để GVNNN đi du lịch và tìm hiểu về một nền văn hóa mới.
1.4.6 Kiểm tra và đánh giá
Kiểm tra và đánh giá là một phần không thể tách rời của hoạt động dạy học
và đang được sử dụng như một biện pháp quan trọng thúc đẩy và cải tiến việc dạy học Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập, tích hợp và cung cấp thông tin một cách có hệ thống giúp cho việc đưa ra nhận định, phán xét hay gán giá trị theo một thang đo nhất định cho một HS, một lớp học, một chương trình đào tạo Theo Black and William (1998), kiểm tra là các hoạt động bao gồm quá trình quan sát của GV, trao đổi, thảo luận trong và ngoài giờ lên lớp giữa thầy và trò, phân tích bài tập, bài kiểm tra …nhằm đánh giá mức độ tiếp thu bài học và dự báo kết quả học tập, GV có thể điều chỉnh việc dạy học như dạy lại, thử các phương pháp dạy học khác hay cho HS thêm cơ hội thực hành… và như vậy thành tích học tập của HS sẽ được dần cải thiện Theo tác giả Trần Bá Hoành, kiểm tra có nhiều hình thức:
- Kiểm tra thường xuyên: được thực hiện thông qua quan sát một cách
có hệ thống hoạt động của lớp nói chung, của mỗi HS nói riêng, qua các khâu ôn tập củng cố bài cũ, tiếp thu bài mới, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Kiểm tra thường xuyên giúp cho GV kịp thời điều chỉnh cách dạy, HS kịp thời điều chỉnh cách học
- Kiểm tra định kì: hình thức kiểm tra này được thực hiện sau khi học xong một chương trình lớn Nó giúp GV VÀ HS nhìn lại kết quả dạy và học sau những
kỳ hạn nhất định, đánh giá trình độ HS nắm một khối lượng kiến thức kỹ năng, kỹ xảo tương đối lớn, củng cố, mở rộng những điều đã học, đặt cơ sở tiếp tục học sang những phần mới
- Kiểm tra tổng kết: hình thức kiểm tra này được thực hiện vào mỗi cuối giáo trình, nhằm đánh giá kết quả chung, củng cố mở rộng chương trình toàn năm của môn học, chuẩn bị điều kiện để tiếp tục chương trình của năm học sau Đánh giá kết quả học tập của HS phải đảm bảo tính khách quan, chính xác Khi xây dựng một đề kiểm tra tiếng Anh cho thiếu nhi cần chú ý về mặt hình thức như cân đối về hình ảnh, từ ngữ … bao quát toàn bộ kiến thức cần được đánh giá Ngoài ra, thời gian để làm bài kiểm tra không quá dài hay quá ngắn
Trang 321.5 Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh cho thiếu nhi
1.5.1 Quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học
Nội dung dạy học phải cơ bản, thiết thực, hiện đại, toàn diện; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý của người học, đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng nhân tố con người phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và tiến bộ khoa học – công nghệ Trên cơ
sở chương trình phổ thông, cụ thể hóa phân phối chương trình, xây dựng kế hoạch chi tiết theo tiến độ từng tuần, từng khóa học và cả năm học và kế hoạch chỉ đạo các hoạt động dạy học nhằm đảm bảo:
- Tổ chức công tác tuyển sinh, xếp lớp cho phù hợp từng lứa tuổi, trình độ theo từng cấp học
- Dạy đủ số giờ học, hoạt động bắt buộc và đủ thời lượng tối thiểu nêu trong
kế hoạch giảng dạy
- Chủ động lựa chọn, cập nhật nội dung dạy học, đưa các nội dung giáo dục địa phương theo qui định của chương trình từng cấp học, lớp học
- Phối hợp thời lượng dạy, các nội dung dạy học (hoặc hoạt động giáo dục)
tự chọn, đặc điểm nhận thức và sức khỏe của HS đồng thời phù hợp với qui định của Bộ giáo dục và đào tạo Chương trình dạy học môn tiếng Anh đồng thời đảm bảo những nội dung thiết yếu trên các mặt: giáo dục tư tưởng, đạo đức, bồi dưỡng tri thức văn hóa, rèn luyện kỹ năng giao tiếp tiếng Anh Các nội dung này liên quan chặt chẽ với nhau, hợp thành một thể thống nhất với hạt nhân trung tâm là kỹ năng giao tiếp để thông qua hoạt động DH tạo nên ở mỗi HS khả năng giao tiếp tiếng Anh tốt hơn
1.5.2 Quản lý nội dung và đổi mới PPDH
Một trong những nhiệm vụ quan trọng về việc quản lý hoạt động dạy học của
GV đó là quản lý nội dung và đổi mới PPDH của GV tiếng Anh PPDH là quá trình trong đó GV tổ chức các hoạt động học tập của HS, hướng dẫn người học tham gia tích cực vào quá trình học tập thông qua việc dự đoán, đưa giả thuyết, tham gia tranh luận và giải quyết các tình huống có vấn đề cũng như tạo cơ hội để HS tích cực tham gia hoạt động thực hành giao tiếp thông qua các hoạt động cá nhân, theo cặp và theo nhóm Để có được PPDH tiếng Anh tốt, GV cần được đào tạo cơ bản,
có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng, có khả năng kết hợp hài hòa các phương pháp và kỹ thuật dạy - học, sử dụng hiệu quả các thiết bị, đồ dung dạy học
Trang 33và các tài liệu hỗ trợ nhằm tạo hứng thú học tập cho HS Mục tiêu quan trọng nhất của việc dạy học là dạy cách học cho HS, trang bị cho các em những phương pháp
và kỹ năng cơ bản để tăng cường khả năng tự học, thói quen học tập suốt đời
Chất lượng dạy học của GV được đánh giá không chỉ thực hiện dạy đủ giờ
mà còn phải đảm bảo nội dung giờ dạy, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ, sáng tạo của HS, tính tích cực hóa của hoạt động dạy học GV nêu vấn đề ở nhiều mức
độ, cung bậc khác nhau và áp dụng các phương pháp tương ứng Hay nói cách khác
là lấy hoạt động nhận thức của HS làm trung tâm trong quá trình dạy học
Các tiêu chí quản lý đổi mới PPDH của GV dạy môn tiếng Anh bao gồm:
- GV vận dụng những PP truyền thống kết hợp với phương pháp giáo dục hiện đại, hoặc đưa ra những phương pháp mới nhằm giúp HS nắm được kiến thức
cơ bản, đặc trưng và vận dụng tốt vào cuộc sống
- GV sử dụng các trang thiết bị dạy học, phần mềm dạy học, giáo án điện tử
… phục vụ quá trình dạy học
- Hiệu quả của việc GV áp dụng các PPDH mới trong truyền thụ kiến thức cho HS nhằm phát huy cao độ tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của HS để HS tự chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo
QL việc đổi mới PPDH đòi hỏi giám đốc phải:
- Nắm bắt và phổ biến kịp thời đến GV những thông tư, chỉ thị của các cấp
về việc đổi mới PPDH, hoặc cử người đi tập huấn các chương trình bồi dưỡng đổi mới PPDH
- Tổ chức những chuyên đề về đổi mới PPDH để GV có thể trao đổi, rút kinh nghiệm, học hỏi những cái hay, cái mới
- Coi việc đổi mới PPDH như là một trong những tiêu chí đánh giá tiết dạy
và có biện pháp kiểm tra, góp ý, giúp đỡ cho GV
- Đổi mới các phương tiện, thiết bị, kỹ thuật hỗ trợ dạy học
1.5.3 Quản lý đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học
Kiểm tra, đánh giá là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học Kiểm tra, đánh giá được xem là công cụ chuẩn xác quan trọng chủ yếu xác định năng lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy học, là động lực đổi mới PPDH, góp phần cải thiện nâng cao chất lượng đào tạo
Trang 34- Chỉ đạo khâu tổ chức xây dựng, thực hiện các quy trình và tiêu chí kiểm tra, đánh giá phải đảm bảo tính chính xác, chặt chẽ, khách quan - Chỉ đạo khâu ra đề thi: xác định mục tiêu kiểm tra vì đây là khâu rất quan trọng để đánh giá kết quả DH.
+ Mục tiêu từng lớp: đối với mỗi lớp học, mục tiêu kiểm tra, đánh giá phải dựa vào mục tiêu, yêu cầu cụ thể của từng lớp
+ Mục tiêu từng bài kiểm tra: mục tiêu của mỗi bài kiểm tra được xác định theo chuẩn kiến thức, kỹ năng tại thời điểm kiểm tra Nghĩa là người ra đề kiểm tra phải nắm được mục tiêu, yêu cầu các kỹ năng cần đạt tại thời điểm kiểm tra ở mỗi lớp
- Công tác coi thi, chấm thi cần thực hiện nghiêm túc, đúng quy chế nhằm đảm bảo HS tự giác trung thực làm bài Qua đó, giúp người GV phải tìm hiểu nguyên nhân, phát hiện những khó khăn mà HS đang gặp, nghiên cứu tìm kiếm những giải pháp khắc phục
1.5.4 Quản lý việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
Chất lượng đội ngũ GV có ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng dạy học nói chung và bộ môn tiếng Anh nói riêng Đội ngũ GV là nòng cốt, quyết định đến chất lượng của một cơ sở giáo dục Chính vì vậy nâng cao chất lượng đội ngũ GV tiếng Anh là nhiệm vụ không thể thiếu nhằm thực hiện có hiệu quả quản lý chất lượng dạy học môn tiếng Anh cho thiếu nhi
Quản lý đội ngũ GV là quản lý cả về số lượng lẫn chất lượng như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, được đào tạo đạt chuẩn Đáp ứng yêu cầu về trình
độ theo chuẩn nghề nghiệp, đặc biệt đối với GV tiếng Anh theo khung năng lực ngoại ngữ chung của châu Âu là phải có năng lực ngôn ngữ giảng dạy cao hơn trình
độ chung của cấp dạy hai bậc Cụ thể, giáo viên dạy tiếng Anh cho thiếu nhi (bao gồm cấp Tiểu học và THCS) phải đạt bậc 4/6 do Hiệp hội các Tổ chức khảo thí ngoại ngữ châu Âu ban hành (CEFR B2 – Common European Framework of Reference for Languages), tương đương chứng chỉ FCE tối thiểu 60 điểm, TOEFL trên giấy tối thiểu 525 điểm, IELTS tối thiểu 5,5 điểm, CAE tối thiểu 45 điểm, hoặc các chứng chỉ được công nhân tương đương khác, đạt năng lực ngoại ngữ bậc 4 (B2) trở lên, theo khung tham chiếu năng lực ngoại ngữ chung châu Âu Số lượng
GV là vấn đề được nêu ra nhằm đảm bảo đủ GV để đảm nhiệm các lớp và phục vụ cho công tác giảng dạy
Trang 351.5.5 Quản lý việc tự học tiếng Anh của HS
QL hoạt động tự học của HS bao gồm hai quá trình cơ bản là QL HĐ tự học trong giờ lên lớp và QL HĐ tự học ngoài giờ lên lớp Tự học phải được xác định bắt đầu từ mục đích, động cơ học tập đúng đắn, qua đó hình thành cách học, biện pháp học, kỹ thuật học … do vậy, người học cần phải được hướng dẫn, bồi dưỡng và rèn luyện kỹ năng tự học ngay từ khi bắt đầu lứa tuổi thiếu nhi, từ đó mới có thể xây dựng được phương pháp tự học Xây dựng phương pháp tự học của bản thân theo một kế hoạch hợp lý, là điều kiện đảm bảo giúp cho người học đạt hiệu quả học tập cao hơn
HĐ tự học là HĐ sáng tạo trong nhận thức của HS Tính sáng tạo thể hiện ở nhu cầu khao khát tìm tòi, khám phá sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu, cần chiếm lĩnh bằng nỗ lực của bản thân Người học có mong muốn tìm ra phương pháp mới
để chiếm lĩnh tri thức Ngoài ra, tự học còn giúp HS có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân Bên cạnh đó, tự học còn giúp HS chủ động suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, nghiên cứu và nắm bắt được bản chất vấn đề Do đó, phát huy nội lực của HS có ý nghĩa rất quan trọng giúp người học tự chiếm lĩnh kiến thức mới
1.5.6 Xây dựng động cơ học tiếng Anh cho HS
Jean Piaget (nhà tâm lý học và triết học Thụy Sĩ, nổi tiếng về những nghiên cứu nhận thức luận về trẻ em) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tự nhận thức
và tự hoạt động của HS khi nói: “Trẻ em được phú cho tính tự hoạt động thực sự và giáo dục không thể thành công nếu không sử dụng và không thực sự kéo dài tính hoạt động đó” Hơn nữa, ở lứa tuổi thiếu nhi các em được giáo dục và các em đều nhận thức được được tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập nên đây là một thuận lợi rất lớn cho GV khi xây dựng loại động lực học tập này cho HS Và để hình thành được loại động cơ này, người GV cần phải:
Giúp HS xác định được mục đích học tập HS phải xác định được sau quá trình miệt mài đèn sách, chúng sẽ được những cái gì Cụ thể như học xong một môn học các em sẽ lĩnh hội được cái gì? Và nếu không học thì các em sẽ ra sao? Có như thế, HS mới cố gắng để nỗ lực mà học Và cách thức cụ thể cho việc này là trong buổi gặp đầu tiên với HS, GV cho HS biết mục tiêu học tập và phát họa cho chúng thấy nội dung các em cần học để đạt được mục tiêu đó
Bên cạnh việc xác định học tập, GV cần phải tăng hứng thú học tập cho HS
Trang 36bằng cách chuẩn bị giáo án thật tốt, các PTDH phải hấp dẫn như lời nói uyển chuyển, lôi cuốn, hình ảnh trực quan sinh động … Ngoài ra còn có một phương pháp dung để kích thích hứng thú học tập của HS rất hiệu quả nữa là đánh vào mâu thuẫn giữa “cái chưa biết” và “cái phải biết” của HS Nghĩa là phải đặt ra các tình huống có vấn đề để HS bị kich thích mà mày mò, khám phá tìm câu trả lời nhưng phải đảm bảo tính vừa sức đối với HS.
Không những thế, để tăng cường động lực và hứng thú học tập cho HS, người GV cần phải tăng cường tích cực hóa trong hoạt động học tập Đây là một hoạt động học tập Đây là một hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học
từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập Cụ thể như khởi động tư duy bằng một vài trò chơi, câu đố hay bài hát đầu giờ, khai thác và phối hợp các PPDH một cách có hiệu quả, đặc biệt chú trọng tới các PPDH tích cực sẽ gây hứng thú học tập cho HS
Tuy nhiên, sẽ hiệu quả hơn khi GV biết kết hợp những cách thức để hình thành động cơ học tập mang tính xã hội để hình thành động cơ học tập cho HS Bằng thái độ ân cần niềm nở và thái độ vui mừng khi HS hoàn thành nhiệm vụ, những lời khen, những điểm thưởng khi HS giải quyết xuất sắc vấn đề cũng là một động lực to lớn để HS nỗ lực hơn nữa trong những lần sau
Bên cạnh đó, cha mẹ cũng có vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành
và phát triển tính tò mò và ham hiểu biết của trẻ Cùng với việc chơi với đồ vật là cả một thế giới mà trẻ muốn khám phá Khi bắt đầu tiếp xúc với nhiều kiến thức mới
mẻ khiến trẻ không khỏi bỡ ngỡ, cha mẹ và GV là người giúp trẻ tháo gỡ những vướng mắc và chiếm lĩnh dần những tri thức mới Đó là sự khích lệ trong học tập
Mặt khác, ở lứa tuổi thiếu nhi, tình bạn đối với trẻ là những điều rất thiêng liêng và có ảnh hưởng rất lớn Nên GV cũng cần phải chú ý để điều phối, dẫn dắt các mối quan hệ để HS có hứng thú học khi cùng bạn bè đi khám phá tri thức
Để duy trì được hứng thú và động cơ học tập của HS trong suốt quá trình giảng dạy không phải là điều đơn giản Nên người GV cần phải cố gắng rất nhiều trong việc trau dồi cho mình các năng lực, phẩm chất nghề nghiệp cùng với lòng kiên nhẫn và tình yêu thương HS mới có thể khiến HS có hứng thú để đi khám phá những tri thức mới trong quá trình học tiếng
Trang 371.5.7 Quản lý việc khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
TBDH là điều kiện không thể thiếu cho việc triển khai hoạt động dạy học và đặc biệt là việc đổi mới PPDH hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của HS Đáp ứng yêu cầu này, TBDH phải tạo điều kiện thuận lợi cho HS thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm CSVC cũng cần hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức dạy học được thay đổi dễ dàng, linh hoạt, phù hợp với dạy học các thể, dạy học hợp tác
Sử dụng TBDH, PTDH không chỉ là phương tiện của việc dạy mà còn là phương tiện của việc học TBDH, PTDH không chỉ minh họa, còn là nguồn tri thức Chú trọng sử dụng PTDH mới, phát triển năng lực sử dụng PTDH mới, đa phương tiện cho HS vào thực hành Đặc biệt CBQL phải cùng với GV nâng cao nhận thức ứng dụng CNTT trong QLGD và dạy học Sử dụng hiệu quả Internet, đèn chiếu Overhead, minh họa bài giảng với Video-Projector, các phần mềm dạy học, powerpoint …
Đảm bảo đồng bộ, hệ thống và có chất lượng cao của TBDH, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua hoạt động thực hành
Quán triệt cho từng cán bộ, GV mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của việc
sử dụng có hiệu quả CSVC, TBDH nhằm làm cho mọi người có nhận thức đáng đắn
Trang 38Tiểu kết chương 1
Trong quản lý giáo dục bao gồm quản lý giáo dục trong và ngoài nhà trường đòi hỏi người cán bộ quản lý phải nắm vững những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng và phải nắm vững các nội dung, nguyên tắc quản lý đơn vị Một trong những công tác quản lý Nhà thiếu nhi là công tác quản lý hoạt động dạy học nói chung và dạy học môn tiếng Anh nói riêng Quản
lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh đòi hỏi người cán bộ quản lý phải có sự hiểu biết cơ bản về bộ môn này Thông qua đó chúng tôi có cơ sở phân tích thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Nhà thiếu nhi tỉnh Khánh Hòa và đề xuất một số biện pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn tiếng Anh cho thiếu nhi trong giai đoạn hiện nay
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH TẠI NHÀ THIẾU NHI TỈNH KHÁNH HÒA
2.1 Tổng quan về tỉnh Khánh Hòa
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam với diện tích 5,217,7 km2 hội đủ các dạng địa hình cơ bản: vùng núi bán sơn địa, đồng bằng duyên hải, biển, bờ biển và các đảo, quần đảo, như hình ảnh của đất nước Việt Nam thu nhỏ, có rừng núi, đồng bằng, miền ven biển, hải đảo Ðặc điểm này tạo điều kiện cho Khánh Hòa phát triển kinh tế toàn diện và quan trọng nhất là thế tổng hợp kinh tế biển
Khánh Hoà nằm trên các đầu mối giao thông quan trọng của cả nước và thế giới Ðường quốc lộ 1 và đường sắt xuyên Việt chạy qua 5 huyện, thị xã, thành phố của Tỉnh, nối liền Khánh Hoà với các tỉnh phía Bắc và phiá Nam Ðường quốc lộ 26 nối liền Khánh Hoà với các tỉnh Tây nguyên Sân bay Cam Ranh, Nha Trang và các cảng Cam Ranh, Nha Trang, Hòn Khói nối liền Khánh Hoà với cả nước và quốc tế
Bờ biển dài 38km, có khoảng 200 hòn đảo lớn nhỏ ven bờ và các đảo thuộc huyện Trường Sa có vị trí kinh tế, an ninh quốc phòng đặc biệt quan trọng Biển Khánh Hoà có nhiều đặc sản như tôm, mực, các loại cá biển Bắc, biển nhiệt đới đặc biệt là yến sào, một đặc sản có giá trị quý như vàng, khiến từ lâu vùng quê này được mệnh danh "xứ trầm, biển yến" Vào tháng 5/2003, vịnh Nha Trang đã được công nhận là Thành viên chính thức của Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới
Khánh Hòa không chỉ là một trong những tỉnh có nhiều cảnh đẹp nổi tiếng
mà còn là nơi có truyền thống văn hóa lâu đời và truyền thống kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm Khánh Hòa còn có những công trình kiến trúc lâu đời có giá trị như Tháp Bà, Kim thân Phật tổ; …
Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, lịch sử-văn hoá đã đem lại cho tỉnh Khánh Hoà một tiềm năng lớn để phát triển du lịch, dịch vụ Thành phố Nha Trang - Trung tâm Chính trị-Kinh tế-Văn hóa của tỉnh Khánh Hoà hiện được xác định là một trong
10 trung tâm du lịch lớn của cả nước
Trang 40Mười năm đầu thế kỉ 21 là giai đoạn có ý nghĩa cực kì quan trọng của đất nước Việt Nam trên bước đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa Với vai trò và vị trí của mình trong nền kinh tế Việt Nam, Khánh Hòa chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch, nông nghiệp; xây dựng thành phố Nha Trang với chức năng là trung tâm du lịch và nghỉ dưỡng, trung tâm giáo dục – đào tạo, trung tâm văn hóa và nghiên cứu khoa học không chỉ của Khánh Hòa, mà còn bao quát cả vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Phát triển kinh tế, xã hội Khánh Hòa gắn chặt với quan hệ tổng thể các địa phương lân cận, các đô thị địa bàn các tỉnh phía nam, các khu công nghiệp lớn để thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài với công nghệ mới nhằm hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trên đường hợp tác để phát triển Khánh Hòa đẩy nhanh tiến độ hình thành khu kinh tế Vân Phong và Cam Ranh, khai thác hiệu quả hai động lực kinh tế này để thu hút đầu tư phát triển kinh tế xã hội Sự thuận lợi về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, du lịch, dịch vụ, v.v đã tạo ra những điều kiện may mắn hỗ trợ không ít cho giáo dục Khánh Hòa phát triển
2.1.2 Tình hình giáo dục đào tạo
2.1.2.1 Hệ thống trường lớp
Sự nghiệp GDĐT của tỉnh trong những năm qua phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng Toàn tỉnh có 170 trường mầm non, 187 tiểu học, 110 trường THCS và cấp 1,2; 25 trường phổ thông và cấp 2,3; 9 TTGDTX và 1 TCCN
Trong sự phát triển đi lên chung của GDĐT tỉnh nhà, giáo dục không chính quy là một loại hình rất quan trọng và cũng có nhiều chuyển biến tích cực Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh có 63 TT-CSNN, trong đó tập trung nhiều nhất ở TP Nha Trang với 46 TT-CSNN Bên cạnh đó đã có 7/8 thành phố, huyện đã thành lập được Nhà Thiếu Nhi, và hoạt động có chất lượng, ngày càng phát triển (01 Huyện còn lại chưa có Nhà Thiếu nhi là Huyện Trường Sa)
Ngoài ra, tỉnh cũng có nhiều trường Cao đẳng, Ðại học, Học viện, các Trung tâm Khoa học lớn có tầm quan trọng cả nước như Viện Pasteur, Viện Vắc-xin, Viện nghiên cứu biển, Ðại học Nha Trang, Học viện Hải quân, trường Sĩ quan không quân, trường Sĩ quan Thông tin