Có thể kể đến luận án tiến sĩ khoa học của Nguyễn Lai về sau được in thành chuyên luận về “Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt”, luận án tiến sĩ ngữ văn của Trần Quang Hải 2001 “
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRỊNH THU HƯƠNG
GIỚI TỪ TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG ANH (CÓ SO SÁNH VỚI THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tài liệu sử dụng trong luận án là trung thực Các trích dẫn trong luận án đều có chú thích rõ ràng Các kết quả phân tích và kết luận nêu trong luận án là hoàn toàn mới
TP.HCM ngày 10 tháng 04 năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trịnh Thu Hương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH SÁCH BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 8
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10
6 Bố cục của luận án 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 13
1.1 Giới từ trong tiếng Anh 13
1.1.1 Định nghĩa giới từ 13
1.1.2 Vai trò và vị trí của giới từ trong câu 13
1.1.3 Phân loại giới từ trong tiếng Anh 15
1.1.4 Giới ngữ 17
1.2 Giới từ trong tiếng Việt 20
1.2.1 Quan điểm của các nhà Việt ngữ học về giới từ trong tiếng Việt 20
1.2.2 Danh sách giới từ tiếng Việt 23
1.3 Thành ngữ và thành ngữ trong tiếng Anh, tiếng Việt 25
1.3.1 Thành ngữ (idiom) 25
1.3.1.1 Định nghĩa thành ngữ (idiom) và phân loại 25
1.3.1.2 Thành ngữ tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận 28
1.3.1.3 Thành ngữ và ẩn dụ tri nhận 29
1.3.1.4 Về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy 30
1.3.2 Quan niệm về động từ phức đoạn (phrasal verb) 33
Trang 51.3.2.1 Các định nghĩa về động từ phức đoạn 33
1.3.2.2 Các loại động từ phức đoạn 34
1.3.2.3 Ngữ pháp và ngữ nghĩa của động từ phức đoạn 36
1.4 Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt 39
1.4.1 Định nghĩa thành ngữ 39
1.4.2 Đặc trưng hình thức và ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt 40
1.4.3 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ 42
1.5 Tiếp cận giới từ và thành ngữ theo ngôn ngữ học tri nhận 45
1.6 Tiểu kết 51
CHƯƠNG 2: NHỮNG GIỚI TỪ XUẤT HIỆN NHIỀU NHẤT TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG ANH (IN, ON, AT, OUT) 53
2.1 Khảo sát từ điển thành ngữ tiếng Anh để tìm những giới từ xuất hiện nhiều nhất 53
2.1.1 Khảo sát từ điển thành ngữ của Longman 53
2.1.2 Khảo sát theo từ điển thành ngữ của Oxford 56
2.1.3 Một vài lưu ý về ngữ nghĩa và ngữ pháp của giới từ trong thành ngữ 57
2.1.3.1 Về ngữ nghĩa 58
2.1.3.2 Về ngữ pháp 59
2.2 Ngữ nghĩa và ngữ pháp của các giới từ IN, ON, AT, OUT trong thành ngữ 60
2.2.1 Ngữ nghĩa và ngữ pháp của IN 62
2.2.1.1 Ngữ nghĩa của IN 62
2.2.1.2 Ngữ pháp của IN 64
2.2.2 Ngữ nghĩa và ngữ pháp của ON 65
2.2.2.1 Ngữ nghĩa của ON 65
2.2.2.2 Ngữ pháp của ON 67
2.2.3 Ngữ nghĩa và ngữ pháp của At 67
2.2.3.1 Ngữ nghĩa của AT 67
2.2.3.2 Ngữ pháp của AT 68
Trang 62.2.4 Ngữ nghĩa và ngữ pháp của OUT 69
2.2.4.1 Ngữ nghĩa của OUT 69
2.2.4.2 Ngữ pháp của OUT 71
2.2.5 Một số nhận xét về giới từ OF 72
2.3 Hiện tượng chuyển đổi từ loại của IN, ON, AT, OUT: 73
2.4 Phân biệt cách dùng IN, ON, AT 74
2 5 Ngữ nghĩa thành ngữ thường dùng với giới từ IN, ON, AT, OUT, OF 79
2.5.1 Thành ngữ tiếng Anh với giới từ IN 79
2.5.2 Thành ngữ với giới từ ON 80
2.5.3 Thành ngữ với giới từ AT 81
2.5.4 Thành ngữ tiếng Anh với giới từ OUT 82
2.5.5 Bàn thêm về thành ngữ tiếng Anh với giới từ OF 83
2.6 Tiểu kết 83
CHƯƠNG 3: GIỚI TỪ IN, ON, AT, OUT TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN 85
3.1 Tiếp cận một số khái niệm căn bản của ngôn ngữ học tri nhận để giải thích về giới từ và thành ngữ 85
3.1.1 Khái niệm nghiệm thân (embodiment) 85
3.1.2 Ẩn dụ theo cách tiếp cận tri nhận 87
3.1.2.1 Ẩn dụ ý niệm theo quan điểm của Lakoff và Johnson 87
3.1.2.2 Các loại ẩn dụ theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận 89
3.1.2.3 Ẩn dụ và sự gắn kết văn hóa (mối tương quan giữa văn hóa và ẩn dụ)92 3.2 Sự đa nghĩa của giới từ giải thích theo ngữ nghĩa học tri nhận 94
3.2.1 Giới từ IN 106
3.2.2 Giới từ ON 108
3.2.3 So sánh về nghĩa của IN với ON 111
3.2.4 Giới từ AT 112
3.2.5 Giới từ OUT 114
3.3 Khả năng thay đổi nghĩa của giới từ trong các thành ngữ tiếng Anh 117
Trang 73.4 Tiểu kết 120
CHƯƠNG 4: SO SÁNH GIỚI TỪ IN, ON, AT, OUT VỚI 123
ĐƠN VỊ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT 123
4.1 So sánh giới từ IN, ON, AT, OUT trong thành ngữ tiếng Anh và đơn vị tương đương trong thành ngữ tiếng Việt 123
4.1.1 Thành ngữ có giới từ IN, ON, AT, OUT và có từ HAND so sánh với thành ngữ có từ TAY trong thành ngữ tiếng Việt 123
4.1.1.1 Lí do lựa chọn thành ngữ có HAND 123
4.1.1.2 Lựa chọn ngữ liệu để đối chiếu trong tiếng Việt 126
4.1.2 So sánh về ứng xử ngữ pháp (grammatical behaviour) (cụ thể là sự chuyển đổi từ loại) của giới từ “IN, ON, AT, OUT” với “TRONG, TRÊN, VÀO, RA, Ở, TẠI” 127
4.1.3 So sánh về sự phát triển ngữ nghĩa của giới từ “IN, ON, AT, OUT” với “TRONG, TRÊN, VÀO, RA, Ở, TẠI ” 136
4.1.3.1 IN, ON, AT so sánh với VÀO 136
4.1.3.2 IN, OUT so sánh với VÀO, RA 137
4.1.3.3 IN, ON so sánh với TRÊN, TRONG 140
4.1.3.4 AT so sánh với Ở/TẠI 148
4.1.3.5 So sánh giới từ IN, ON, AT, OUT trong thành ngữ tiếng Anh với VÀO, RA, TRONG, TRÊN, Ở, TẠI trong thành ngữ tiếng Việt 150
4.2.Ứng dụng trong việc giảng dạy ngoại ngữ 154
4.3 Ứng dụng trong việc dạy và học môn dịch (translation) 156
4.4 Tiểu kết 162
KẾT LUẬN 164
NGUỒN XUẤT XỨ TƯ LIỆU 170
NHỮNG CÔNG BỐ KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN 172
TÀI LIỆU THAM KHẢO 173
PHỤ LỤC 186
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: phân chia giới từ đơn và giới từ phức [190, 159] 16
Bảng 1.2: Định vị theo không gian 16
Bảng 1.3: Phân biệt thành ngữ với tục ngữ trong tiếng Việt 43
Bảng 2.1: Chức năng từ loại của IN, ON, AT, OUT 73
Bảng 2.2: Cách dùng IN, ON , AT 75
Bảng 2.3: AT, IN, ON với cách dùng về thời gian 77
Bảng 3.1: Sơ đồ ý tượng của OVER (Lakoff 1987) 104
Bảng 3.2: Nghĩa và ví dụ của IN theo sơ đồ ngữ nghĩa 107
Bảng3.3: Nghĩa và ví dụ của ON theo sơ đồ ngữ nghĩa 110
Bảng 3.4: Nghĩa và ví dụ của AT theo sơ đồ ngữ nghĩa: 113
Bảng 3.5: Nghĩa và ví dụ của OUT theo sơ đồ ngữ nghĩa: 115
Bảng 4.1: Từ chỉ bộ phận cơ thể trong thành ngữ tiếng Anh-tiếng Việt 125
Bảng 4.2: Thành ngữ có từ HAND có chứa IN, ON, AT, OUT 125
Bảng 4.3: Ngữ nghĩa IN, ON, AT dịch sang tiếng Việt 137
Bảng 4.4: Ngữ nghĩa IN, OUT so sánh với VÀO-RA 138
Bảng 4.5: Ngữ nghĩa IN-ON so sánh với TRÊN-TRONG 140
Bảng 4.6: Ngữ nghĩa AT so sánh với Ở-TẠI 149
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Giới từ trong 3000 thành ngữ 55
Hình 2.2: Giới từ trong 10000 thành ngữ 56
Hình 2.3: Giới từ trong 10000 thành ngữ 57
Hình 3.1: Từ MOTHER của Lakoff theo dạng phạm trù tâm lan tỏa 95
Hình 3.2: Từ XE trong tiếng Việt theo dạng phạm trù tâm lan tỏa 97
Hình 3.3: Sơ đồ về phạm trù tâm lan tỏa của giới từ IN 98
Hình 3.4: Sơ đồ về phạm trù tâm lan tỏa của giới từ ON 99
Hình 3.5: Sơ đồ về phạm trù tâm lan tỏa của giới từ AT 100
Hình 3.6: Sơ đồ về phạm trù tâm lan tỏa của giới từ OUT 101
Hình 4.1: Bản đồ ngành dịch của HOME 157
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tiếng Anh là một ngôn ngữ có nhiều giới từ hơn những ngôn ngữ khác
Howard Sargeant đã viết: “Chúng ta đã biết rằng tiếng Anh là một ngôn ngữ mà các
từ không thay đổi hình thái hay hình thức nhiều lắm Chính vì thế giới từ được dùng
để nối kết các mối quan hệ giữa các từ trong một câu, và kết quả là tiếng Anh sử dụng giới từ hơn rất nhiều lần so với hầu hết các ngôn ngữ khác” [109, 18] Nhưng
giới từ trong tiếng Anh cũng gây ra nhiều rắc rối cho người học hơn bất cứ các từ loại nào khác Giới từ được coi là những từ rất nhỏ bé, không bao giờ thay đổi dạng,
là những từ khi nói không có trọng âm, không được viết hoa trong các tiêu đề văn bản… và người bản xứ chọn dùng một giới từ theo thói quen không hề phải suy nghĩ [113, V] Có thể nêu những khó khăn khi học giới từ như sau: (1) Không có một ngôn ngữ nào có giới từ hay tương đồng một cách chính xác với giới từ tiếng Anh (2) Một giới từ kết hợp với từ khác có thể có nhiều nghĩa (trường hợp động từ phức đoạn) Ví dụ “make up”có thể có đến 9 nghĩa; (3) Giới từ có thể chuyển đổi từ loại thành danh từ hay động từ… [113, v-vii]
Tác giả Bryan A Garner trong cuốn A Dictionary of Modern American
Usage đã đưa ra nhận xét như sau “Dường như càng ngày càng có nhiều người viết gặp khó khăn trong việc sử dụng đúng giới từ trong những thành ngữ khác nhau”
[167, 70] Ngay cả những nhân vật có tên tuổi cũng có thể dùng sai giới từ Ví dụ tổng thống George W Bush 2006, đã dùng sai giới từ trong đoạn dẫn sau đây:
“…devoted the best years of his life in serving his country” Câu đúng phải là:
“…devoted the best years of his life to serving his country” Một tờ báo bản địa của Anh viết: Navy spends $ 516 million for rocket Câu đúng phải là: Navy spends $
516 million on rocket
Vào năm 1925, theo David Thatcher, có tác giả đã thấy bi quan và tức giận
khi nói rằng “việc dùng sai giới từ là một khuyết điểm phổ biến lạ thường của
những người viết và nói tiếng Anh, mà thậm chí ngay cả những tác giả được xem là mẫu mực hay chuẩn mực cũng không ngoại lệ” [167, 70]
Trang 12Giới từ tiếng Anh gắn bó mật thiết với thành ngữ Người nói tiếng Anh sử dụng rất nhiều thành ngữ Thừa hưởng một kho tàng thành ngữ khổng lồ từ các thế
hệ tiền nhân để lại, người bản xứ sử dụng thành ngữ rất thường xuyên trong giao tiếp hàng Điều này được chứng minh qua nhiều nghiên cứu của các nhà Anh ngữ học Chẳng hạn, Pollio và các đồng nghiệp đã đếm các dạng thức tu từ mới cũng như các dạng thức tu từ khô cứng (được coi là thành ngữ) được dùng và phát hiện ra
là người nói và người viết dùng 1,8 dạng thức tu từ mới và 4,08 thành ngữ trong một phút Lazar, Warr-Leeper, Nicholson, & Johnson (1989) phát hiện ra rằng 36% của tất cả các phát ngôn đều có chứa ít nhất một thành ngữ đa nghĩa (multiple meaning expression); ít nhất là một thành ngữ xuất hiện trong 11,5% của tất cả các phát ngôn, và thành ngữ được dùng với tần suất ngày càng tăng ở các cấp học lớn hơn Makkai, Boatner, & Gate (1996) đã trình bày hơn 4000 thành ngữ tiếng Anh trong cuốn “Từ điển thành ngữ tiếng Anh-Mỹ” của họ (Dictionary of American idioms) và lần xuất bản gần đây số lượng thành ngữ trong cuốn từ điển này đã lên đến hơn 8000 Cuốn “Từ điển thành ngữ tiếng Anh Mỹ” của tác giả Richard A Spear do nhà xuất bản McGraw Hill xuất bản lần đầu tiên vào năm 1987 chỉ có
8000 thành ngữ Nhưng gần đây, trong lần xuất bản lần thứ tư vào năm 2007 thì đã
có hơn 14000 thành ngữ [148, 3-4]
Tóm lại sử dụng giới từ và thành ngữ là hai đặc điểm nổi bật trong tiếng Anh
và gây khó khăn cho người học tiếng Anh như một ngoại ngữ Chính vì vậy, luận án này nghiên cứu giới từ trong thành ngữ Sau hơn mười năm giảng dạy tiếng Anh và nhiều năm lao động để biên soạn từ điển thành ngữ Anh Việt, chúng tôi đã tập hợp tài liệu, xác định khung lí thuyết và tận dụng những kinh nghiệm của mình trong
quá trình giảng dạy để thực hiện luận án “Giới từ trong thành ngữ tiếng Anh (có so
sánh với thành ngữ tiếng Việt)”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có rất nhiều tác giả nghiên cứu về giới từ và thành ngữ Sớm nhất thì phải kể đến Aristotle, nhà triết học Hy Lạp 384-322 trước Công nguyên Dựa trên các cơ sở ngữ pháp học và logic học, Aristotle phân chia từ thành từ nối, danh từ, động
Trang 13từ…Trong đó, từ nối mà ông đề cập gồm có liên từ và giới từ Các học giả thuộc trường phái Alexandria dựa trên các công trình của Stoic xếp các lớp từ thành tám loại riêng biệt, trong đó có giới từ Ở Nga và Liên Xô (cũ) trường phái ngữ pháp truyền thống đã nghiên cứu từ loại trong một thời gian dài, trong đó có thể kể đến các công trình của M V Lomonosov ở thế kỷ XVIII, L V Sherba, A.A Reformatskij, Ju S Stepanov, V.M Solcev, A.I Smirnitskij v.v trong thế kỷ XX
Ở Tây Âu, J Lyons và những nhà ngữ pháp, ngữ nghĩa cũng quan tâm nghiên cứu giới từ Theo Lyons, hai chức năng cơ bản của giới từ là chức năng cú pháp và chức năng định vị [dẫn theo 32]
Ở Việt Nam, đã có một số luận án chọn đối tượng khảo sát là giới từ hoặc có liên quan đến giới từ Có thể kể đến luận án tiến sĩ khoa học của Nguyễn Lai về sau được in thành chuyên luận về “Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt”, luận
án tiến sĩ ngữ văn của Trần Quang Hải (2001) “Nghiên cứu giới từ định vị theo hướng ngữ dụng”, luận án tiến sĩ ngữ văn của Nguyễn Cảnh Hoa (2001) “Nghiên cứu ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt”, luận án tiến sĩ ngữ văn của Lê Văn Thanh (2003) “Ngữ nghĩa của các giới từ chỉ không gian trong tiếng Anh (trong sự đối chiếu với tiếng Việt) Theo Trần Quang Hải (2001) thì
“Việc nghiên cứu giới từ với tư cách là một phần của ngữ pháp đã có một lịch sử lâu dài, gắn với sự ra đời của bộ môn ngôn ngữ học.” [27, 2]
Các sách có bàn riêng về giới từ trong tiếng Việt có thể kể đến những cuốn như "Hư từ trong tiếng Việt hiện đại" của Nguyễn Anh Quế, "Ngữ pháp tiếng Việt:
Từ loại" của Đinh Văn Đức, “Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt” của Hoàng Trọng Phiến… Ngoài ra, trong các sách cơ sở ngôn ngữ học, phần bàn về từ loại cũng có nhắc đến giới từ một cách khái quát, như “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, “Dẫn luận ngôn ngữ học” của Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết, “Dẫn luận ngôn ngữ học” của Vũ Đức Nghiệu (chủ biên) và Nguyễn Văn Hiệp Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Thiện Giáp nêu ra mười loại từ loại thì giới từ thuộc về "kết từ" (tên gọi khác là "quan hệ từ") Kết từ (quan hệ từ) là từ
Trang 14dùng để liên kết, sẽ gồm hai loại nhỏ là "liên từ" (liên kết quan hệ đẳng lập) và
"giới từ" (liên kết quan hệ chính phụ)
Hiện nay, nghiên cứu giới từ đã có định hướng mới, theo ngôn ngữ học tri nhận, nhờ vào những nghiên cứu tiên phong của Ray Jackendoff, George P Lakoff, Ronald Wayne Langacker, Evans, Vyvyan & Melanie Green… Langacker đã nêu cặp khái niệm nổi tiếng, đó là Trajector/Landmark (Vật được định vị/Mốc định vị)
và FIGURE/GROUND (Hình/Nền) để làm cơ sở cho những lược đồ ý tượng (Image Schema) dùng để nghiên cứu giới từ Vận dụng các khái niệm này thì nổi tiếng nhất
có lẽ là nghiên cứu trường hợp (case study) của Lakoff (1990) về sự chuyển nghĩa của từ OVER theo kiểu tâm lan tỏa (radiality), được in dưới dạng phụ lục của cuốn
“Fire, Woman and Dangerous things” (The University of Chicago Press) Nghiên cứu của Lakoff được xem là một nghiên cứu kinh điển của ngữ pháp kết cấu (construction grammar), một nhánh của ngữ pháp tri nhận
Về thành ngữ tiếng Anh thì cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu và nhiều chuyên khảo về thành ngữ, nhiều cuốn từ điển thành ngữ đã được biên soạn để giúp người học học tập và tra cứu dễ dàng hơn Theo Cowie (1998) thì giới nghiên cứu Liên Xô và Đông Âu đã nghiên cứu thành ngữ từ thập niên 50 Trong ba mươi năm qua, thành ngữ cũng bắt đầu trở thành một đề tài được nhiều học giả Tây Âu và Hoa
Kỳ quan tâm nghiên cứu Ngoài ra cũng đã có nhiều dự án nghiên cứu thành ngữ trên quy mô lớn và đã có rất nhiều hội thảo quốc tế về thành ngữ Đã có rất nhiều từ điển chuyên về thành ngữ của những nhà xuất bản tên tuổi như Longman, Oxford, Cambridge… Số lượng công trình nghiên cứu về thành ngữ trong thời gian gần đây
là rất nhiều và đa số khảo sát thành ngữ dưới góc độ cấu trúc ngữ nghĩa Tuy nhiên,
sự xuất hiện của ngôn ngữ học tri nhận vào đầu những thập niên 1970 đã mang lại nhiều thay đổi về cách nhìn nhận và cách tiếp cận thành ngữ Có những công trình nghiên cứu về thành ngữ chứa yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người như của Ning Yu (2007), Armina Janyan và Elena Andonova (2000) … các sách chuyên khảo về thành ngữ của Chitra Fernando (1997), Andreas Langlotz (2006), Sam Glucksberg (2001)…
Trang 15Các tài liệu nghiên cứu về thành ngữ ở Việt Nam từ trước đến nay phần lớn tiếp cận theo hướng cấu trúc- ngữ nghĩa Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như Bùi Khắc Việt (1981), Trương Đông San (1974), Hoàng Văn Hành (1976), Chu Bích Thu (1994), Phan Văn Quế (1995), Nguyễn Văn Tu (1960, 1968, 1976), Đỗ Hữu Châu (1962, 1981, 1986), Nguyễn Kim Thản (1963), Cù Đình Tú (1973, 1982), Nguyễn Văn Mệnh (1972, 1986), Nguyễn Thiện Giáp (1975, 1985), Hồ Lê (1976)… Đến đầu năm 2008, các công trình nghiên cứu về thành ngữ ở Việt Nam theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận mới chỉ ở dạng bài báo đăng tạp chí và cuối năm 2008 thì mới có luận án tiến sỹ ngữ văn của Nguyễn Ngọc Vũ “Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận”
Luận án của chúng tôi là nghiên cứu đầu tiên nghiên cứu về giới từ trong thành ngữ tiếng Anh, đi sâu vào nghiên cứu bốn giới từ đơn có tần số xuất hiện thuộc loại cao nhất trong thành ngữ tiếng Anh, có so sánh với tiếng Việt Cách tiếp cận của chúng tôi về bốn giới từ này dựa trên cách tiếp cận theo cấu trúc-ngữ nghĩa kết hợp với cách tiếp cận theo ngôn ngữ học tri nhận Hai lí do khiến chúng tôi không chọn cách tiếp cận cấu trúc-ngữ nghĩa một cách thuần tuý, mà thay vào đó,
có sự kết hợp với cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận, đó là: 1) Cách tiếp cận cấu trúc-ngữ nghĩa đã được một số công trình đi trước lựa chọn, điển hình là luận án của Nguyễn Cảnh Hoa, Trần Quang Hải và Lê Văn Thanh, vì vậy sẽ rất khó có cái mới nếu chúng tôi chỉ dùng cách tiếp cận này; 2) Cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận cho phép người nghiên cứu có cái nhìn sâu hơn vào quá trình phát triển ngữ nghĩa của giới từ, bất luận chúng được dùng trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày hay trong thành ngữ
Theo nhận định chung của nhiều nhà nghiên cứu, hướng tiếp cận theo tri nhận ngày nay được nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu lựa chọn vì cách tiếp cận này đưa ra được một số mô hình và cách lý giải, hợp lí hơn, khắc phục được những thiếu sót mà cách thức lý giải theo cấu trúc- ngữ nghĩa chưa giải quyết được
Hiện nay, ngôn ngữ học tri nhận được coi là một hệ thống lý thuyết, cách tiếp
Trang 16cận có cơ chế rất linh hoạt chứ không phải đơn thuần là một lý thuyết ngôn ngữ đơn
lẻ Quá trình tri nhận của con người xứng đáng là một diễn đàn dành cho những nghiên cứu liên ngành, theo đó có một loạt vấn đề cần nghiên cứu như: bản chất và
sự sắp xếp hay tổ chức của hệ thống ý niệm, bản chất của quá trình tri nhận tham gia vào việc nói và hiểu ngôn ngữ tự nhiên (gồm cả ngôn ngữ dấu hiệu, cử chỉ -sign language), mối quan hệ của chúng với các miền khác của sự tri nhận của con người, bao gồm hệ thống kiến thức và khái niệm chung và các quá trình (vấn đề ngôn ngữ
và tư duy) và các hệ thống cảm giác và hành vi ứng xử khác như là tầm nhìn và hành vi ứng xử phi lời (ví dụ như: điệu bộ, cử chỉ) [135]
Đặc biệt, liên quan đến các giới từ, các nhà ngôn ngữ học tri nhận đã tiếp tục các truyền thống của tâm lý học và triết học, lưu ý đến tầm quan trọng của không gian và các trải nghiệm không gian được thể hiện trong ngôn ngữ và tư duy [172, ix]
Vai trò của không gian và các trải nghiệm không gian trong ngôn ngữ và tư duy được ngôn ngữ học tri nhận nhấn mạnh như là quá trình nghiệm thân (embodiment), quá trình được coi là nền tảng của sự phát triển ngữ nghĩa trong ngôn ngữ Theo các nhà tri nhận luận, sự thể hiện của ngữ nghĩa trong ngôn ngữ là dựa trên các khái niệm nền tảng trong tự nhiên Ngôn ngữ không nhìn nhận một cách trực tiếp về “thế giới thật” Đúng hơn là ngôn ngữ nhìn nhận/nói về cái đại diện trong hệ thống khái niệm của con người Hệ thống khái niệm bao gồm hệ cấu trúc khái niệm (nghĩa là các khái niệm cơ sở, các lược đồ hình ảnh v.v), phản ánh và giải thích thế giới với tư cách là một trung gian phản ánh thông qua sự nhận thức và trải nghiệm của con người Cấu trúc khái niệm là một kết quả cho thấy con người chúng ta trải nghiệm và tương tác với thế giới vật chất không gian (spatio-physical world) mà chúng ta đang sống như thế nào Thế giới bên “ngoài kia” cung cấp cho chúng ta một cơ tầng tri giác mộc mạc (raw sense-perceptual substrate), làm nền cho hệ thống ý niệm (conceptual system) Tuy nhiên, chúng ta trải nghiệm cái gì và trải nghiệm như thế nào chủ yếu là chịu ảnh hưởng hay nhờ vào bản chất của cơ thể
và kiến trúc thần kinh học của chúng ta Nói cách khác, trải nghiệm là mang tính nghiệm thân [172, 3]
Trang 17Chúng tôi nghĩ rằng thế giới là vô tận và vẫn còn rất nhiều điều chúng ta không thể giải thích hết được Tất cả những cái tồn tại được thì đều có lý do hợp lý của nó và không hẳn cái mới có thể thay thế hoàn toàn hay phủ nhận được những cái trước nó Mọi tri thức đều phản ánh cái thời đại của nó Không có tri thức nào có thể bao quát toàn bộ thế giới Khoa học xã hội và nhân văn là ngành khoa học mang tính kế thừa cao Chính vì vậy, trong luận án này, khi chọn đề tài nghiên cứu về giới
từ trong thành ngữ tiếng Anh, so sánh với tiếng Việt thì chúng tôi vừa muốn kế thừa
ưu điểm của cách tiếp cận cấu trúc- ngữ nghĩa, vừa muốn kết hợp với những kết quả mới trong hướng tiếp cận theo tri nhận, nhằm tìm cách lý giải đơn giản nhất và dễ nhất cho người đọc cũng như người học ngoại ngữ (tiếng Anh cho người Việt và tiếng Việt cho người nước ngoài) để giải quyết những vấn đề gây khó khăn, có liên quan đến giới từ trong thành ngữ Để tránh sa vào cuộc tranh luận lí thuyết ngoài tầm của luận án, chúng tôi sẽ không đi sâu phân tích hay bàn về sự khác nhau giữa cách tiếp cận theo cấu trúc- ngữ nghĩa và cách tiếp cận theo tri nhận
Tóm lại, với loại đề tài này, trong luận án chúng tôi chọn cách tiếp cận thường thấy (như ở các tác giả đi trước như Nguyễn Cảnh Hoa, Trần Quang Hải và
Lê Văn Thanh ) là cấu trúc-ngữ nghĩa Nhưng do sự phát triển của ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam và thế giới trong những năm gần đây, nên khi khảo sát sự phát triển ngữ nghĩa (các quá trình ý niệm hoá) cũng như sự chuyển đổi từ loại của các giới từ, luận án chủ trương vận dụng hướng tiếp cận tri nhận, vì đây là cách tiếp cận cho phép hiểu sâu nhất, giải thích thuyết phục nhất những vấn đề này Dĩ nhiên, do ngôn ngữ học học tri nhận còn rất mới mẻ ở Việt Nam nên sự vận dụng cách tiếp cận này trong luận án chắc chắn chỉ là những bước ban đầu
3 Đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là giới từ trong thành ngữ tiếng Anh
có so sánh với tiếng Việt Đối tượng nghiên cứu là giới từ, còn thành ngữ là môi trường để các giới từ hành chức và cũng làm vai trò hạn định phạm vi thu thập tư liệu và khảo sát về giới từ Việc xét giới từ trong thành ngữ giúp nhấn mạnh vào
Trang 18nghĩa không gian và phi không gian của giới từ cũng như là nhân tố tạo nên tính bóng bảy, súc tích của thành ngữ Bức tranh về giới từ trong thành ngữ chắc chắn là một bức tranh nhiều màu sắc, thú vị
- Nghiên cứu quá trình phát triển ngữ nghĩa của các giới từ IN, ON, AT, OUT đi từ nghĩa không gian đến nghĩa phi không gian và những biến đổi từ loại (parts of speech, hay word classes) kèm theo quá trình phát triển ngữ nghĩa này
- So sánh quá trình phát triển ngữ nghĩa và biến đổi từ loại của IN, ON, AT, OUT của tiếng Anh với các từ tương đương trong tiếng Việt nhằm áp dụng kết quả nghiên cứu vào việc chữa lỗi có liên quan đến giới từ trong thành ngữ cho người Anh học tiếng Việt và ngược lại
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, thủ pháp ngôn ngữ học
Trước hết, phương pháp miêu tả được dùng để miêu tả cấu trúc của thành ngữ, miêu tả các ứng xử ngữ pháp của các giới từ IN, ON, AT, OUT trong thành ngữ tiếng Anh và các từ tương đương trong tiếng Việt
Luận án dùng phương pháp miêu tả, kết hợp với phương pháp phân tích ngữ nghĩa để miêu tả ngữ nghĩa của các giới từ IN, ON, AT, OUT ở Chương 2 và ngữ nghĩa của VÀO, RA, TRONG, TRÊN, Ở, TẠI ở Chương 4 Mục đích sử dụng hai phương pháp miêu tả và phân tích ngữ nghĩa là để thấy rõ sự lan tỏa nghĩa của giới
Trang 19từ, từ nghĩa không gian lan tỏa sang nghĩa phi không gian, sự thay đổi trong ứng xử ngữ pháp của các từ này và sự chuyển đổi từ loại
Luận án đặc biệt sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu để thấy những điểm tương đồng và khác biệt giữa giới từ trong thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt trên các bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa Phương pháp này trước hết cho chúng ta thấy sự tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa và ứng xử ngữ pháp của các giới từ tiếng Anh so với tiếng Việt Phương pháp này còn cho chúng ta thấy rõ những điểm tương đồng và dị biệt trong quá trình nghiệm thân, trong quá trình ý niệm hóa thế giới, và sự thể hiện thông qua ngôn ngữ của người Anh và người Việt Phương pháp này áp dụng trong toàn bộ luận án ở các chương 2, 3 và 4
Ngoài ra luận án còn sử dụng các thủ pháp thống kê và thủ pháp mô hình hóa Thủ pháp thống kê ngôn ngữ học được dùng để chọn các giới từ tiếng Anh có tần số sử dụng cao nhất và tiêu biểu nhất cho quá trình biến đổi ngữ nghĩa, đi từ nghĩa không gian sang nghĩa phi không gian của chúng Phương pháp này cũng nhằm đến sự khẳng định việc sử dụng nhiều giới từ như là một đặc điểm nổi trội của tiếng Anh
Luận án sử dụng các thủ pháp mô hình hoá, đưa ra mô hình về sơ đồ ngữ nghĩa và sự lan tỏa nghĩa của các giới từ IN, ON, AT, OUT áp dụng ở chương 3
Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp liên ngành (có sự kết hợp giữa văn hóa học và ngôn ngữ học), cũng như sử dụng phương pháp điều tra và phỏng vấn của ngôn ngữ học xã hội
4.2 Nguồn tư liệu:
Nguồn tư liệu chính của luận án là các giới từ trong thành ngữ tiếng Anh được lấy từ Từ điển thành ngữ tiếng Anh của nhà xuất bản Longman và Oxford, từ điển thành ngữ Anh Việt của Lã Thành – Trịnh Thu Hương- Trung Dũng
Các tư liệu về ngữ nghĩa từ vựng của từ trong tiếng Việt được lấy từ Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê và Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý Nguồn ngữ liệu về thành ngữ tiếng Việt lấy từ cuốn Từ điển Thành ngữ và tục ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân
Trang 20Ngoài ra, luận án còn sử dụng tư liệu lấy từ các ấn phẩm tiếng Anh và tiếng Việt đã được xuất bản Riêng về tư liệu khảo sát các lỗi do giao thoa (chuyển di) tiêu cực, chúng tôi lấy tư liệu là các bài tập, bài dịch của sinh viên và các cộng tác viên người bản ngữ nói tiếng Anh
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về lí luận, luận án góp phần vào việc làm phong phú hơn lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận thông qua ngữ liệu và nghiên cứu đối chiếu tiếng Anh và tiếng Việt, liên quan đến những giới từ không gian thường gặp nhất, đồng thời góp phần làm rõ hơn mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hoá, chỉ ra những quá trình ý niệm hoá mang tính phổ quát và những quá trình ý niệm hoá mang tính đặc thù
Việc nghiên cứu về giới từ và giới từ trong thành ngữ theo hướng tri nhận sẽ giúp giải thích thấu đáo và triệt để sự lan tỏa nghĩa (radiality) của giới từ, từ những nghĩa không gian lan tỏa sang những nghĩa phi không gian, tạo thành những phạm trù mà ngôn ngữ học tri nhận gọi là các phạm trù tâm lan tỏa (radial categories) Lý thuyết ẩn dụ ý niệm và khái niệm nghiệm thân, tính lan tỏa… được trình bày trong luận án không chỉ có ý nghĩa trong việc nghiên cứu giới từ và thành ngữ mà còn có tiềm năng to lớn trong việc nghiên cứu ngôn ngữ, tâm lý, dịch thuật và giảng dạy văn hóa học
Về thực tiễn, các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp người Việt học tiếng
nói, việc nghiên cứu, khảo sát giới từ trong thành ngữ từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận là một hướng đi mới mẻ, cho phép các giáo viên giảng dạy ngoại ngữ, các nhà nghiên cứu đi sâu hơn, xa hơn và giải quyết được những khó khăn, vướng mắc, tồn tại trong những nghiên cứu về thành ngữ và giới từ từ trước tới nay
Luận án cũng cung cấp một kho dữ liệu phong phú về những thành ngữ có chứa các giới từ IN, ON, AT, OUT Trong tiếng Anh, những thành ngữ và những giới từ này có tần số xuất hiện rất cao Các bảng danh sách thành ngữ trong luận án
sẽ hỗ trợ rất nhiều cho việc học và giảng dạy tiếng Anh
Vì luận án chỉ ra được cách thức tri nhận về giới từ không gian IN, ON, AT,
Trang 21OUT trong tiếng Anh, từ đó phác họa ra được cách thức và sự ý niệm hóa các nghĩa phi không gian của những giới từ này, chỉ ra sự khác nhau và sự giống nhau trong cách tri nhận về không gian giữa người Việt và người Anh, nên các kết quả đó sẽ là
cơ sở để chữa một số lỗi phổ biến khi học và sử dụng những giới từ này
Trên lĩnh vực dịch thuật, luận án chỉ ra một số nghĩa cơ bản và nhiều ví dụ minh họa với cách dịch cụ thể, giúp các dịch giả bớt lúng túng khi gặp các giới từ
IN, ON, AT, OUT trong thành ngữ tiếng Anh
6 Bố cục của luận án
Ngoài Mở đầu, phần chính văn của luận án được chia thành bốn chương
Chương một: Cơ sở lý luận
Nội dung chương này trình bày những cơ sở lý thuyết căn bản về thành ngữ, động từ phức đoạn các khái niệm lý thuyết về thành ngữ của người Anh và người Việt Đây là những cơ sở lý luận cần có để tìm hiểu về giới từ trong tiếng Anh cũng như trong tiếng Việt Trong chương này chúng tôi cũng giới thiệu tổng quan về một
số khái niệm căn bản khác trong ngôn ngữ học tri nhận giúp cho việc tìm hiểu và lý giải sự phát triển ngữ nghĩa của thành ngữ cũng như giới từ trong thành ngữ
Chương hai: Những giới từ xuất hiện nhiều nhất trong thành ngữ tiếng Anh
(IN, ON, AT, OUT)
Trong chương này chúng tôi tiến hành khảo sát các giới từ tiếng Anh có tần
số xuất hiện cao trong từ điển của Longman và Oxford ở hai phương diện ngữ nghĩa
và ngữ pháp, đó là bốn giới từ đơn IN, ON, AT và OUT Chúng tôi miêu tả và phân tích ngữ nghĩa của từng giới từ và sự chuyển đổi từ loại của bốn giới từ đơn này Sau cùng chúng tôi cố gắng phân biệt cách dùng của IN, ON, AT, OUT thông qua nhiều ví dụ cụ thể để giúp người học có thể học và sử dụng những giới từ này dễ dàng và hiệu quả
Chương ba: Giới từ IN, ON, AT, OUT tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận
Ở chương này chúng tôi giới thiệu chi tiết về một số khái niệm căn bản của ngôn ngữ học tri nhận như khái niệm nghiệm thân, tâm lan tỏa, lý thuyết ẩn dụ ý niệm của Lakoff và Johnson và sự đa nghĩa của từ Thông qua các lý thuyết và khái niệm này của ngôn ngữ học tri nhận, chúng tôi lý giải sự phát triển về ngữ nghĩa của
Trang 22các giới từ không gian IN, ON, AT, OUT trong tiếng Anh, đó là quá trình lan tỏa từ các nghĩa không gian sang các nghĩa phi không gian
Chương bốn: So sánh giới từ IN, ON, AT, OUT với đơn vị tương đương
trong thành ngữ tiếng Việt
Trong chương này chúng tôi điểm lại, phân tích và tổng kết quan điểm của các nhà nghiên cứu nhằm nêu bật mối quan hệ và tác động, lẫn nhau giữa ngôn ngữ, tri nhận và văn hóa Sau đó chúng tôi so sánh và phân tích chi tiết về ngữ nghĩa của từng giới từ trong thành ngữ tiếng Anh so sánh với thành ngữ tiếng Việt, thông qua
đó nêu ra sự tương đồng cũng như sự khác biệt về cách tư duy, về tri nhận không gian giữa người Anh và người Việt Cuối chương chúng tôi đề xuất một số cách dạy
và học nhằm giúp học viên người Việt học tiếng Anh và học viên người nói tiếng Anh học tiếng Việt tốt nhất và hiệu quả nhất Và từ đó chúng tôi cũng đưa ra những giải pháp giúp cho việc dịch thuật giới từ trong thành ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt cũng như từ tiếng Việt sang tiếng Anh được hay hơn, dễ dàng và hợp lí hơn
Ngoài ra, luận án có 10 phụ lục Phụ lục 1 là toàn bộ các câu dịch của sinh viên, thông qua các câu dịch này chúng tôi đã đi tìm và phân tích những lỗi điển hình sinh viên hay mắc phải để từ đó đưa ra giải pháp giúp sinh viên học và sử dụng giới từ cũng như thành ngữ tiếng Anh thông thạo và hiệu quả hơn Phụ lục 2 là toàn
bộ thành ngữ có từ HAND1
, phần này được dùng để đối chiếu và so sánh với các thành ngữ có từ TAY trong thành ngữ tiếng Việt để thấy rõ những tương đồng và khác biệt cũng như vai trò và vị trí của giới từ trong thành ngữ tiếng Anh so sánh với thành ngữ tiếng Việt Phụ lục 3, 4, 5, 6 là nguồn ngữ liệu phân tích, khảo sát để
về việc học và tiếp thu giới từ trong thành ngữ tiếng Anh Phụ lục 7: thành ngữ tiếng Việt có các từ như “TRONG, TRÊN, VÀO, RA, Ở, TẠI ” Phụ lục 8, danh sách giới từ tiếng Anh Phụ lục 9, thành ngữ tiếng Việt có từ Tay Phụ lục 10: Sơ đồ ngữ nghĩa của IN, ON, AT, OUT
1 Sở dĩ chúng tôi chọn thành ngữ có từ HAND (tay) vì theo ngôn ngữ học tri nhận, các bộ phận cơ thể người đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong các quá trình nghiệm thân Trong số các bộ phân cơ thể người, thì HAND (tay) được xem là bộ phận quan trọng bậc nhất trong quá trình con người lao động, tương tác với môi trường
Trang 23thì “giới từ là những từ như on, off, of, into, và thường đi theo sau nó là một danh từ
hay một đại từ” [147, xxiii] Theo từ điển Oxford Advanced Learner (2010) thì
“giới từ là một từ hay một nhóm từ như là in, from, to, out of, on behalf of, được
dùng trước một danh từ hay đại từ để chỉ nơi chốn, vị trí, thời gian hay phương cách Còn cụm giới từ là một giới từ và danh từ đi theo sau giới từ đó ví dụ như ‘at night hay after breakfast’” [108] Theo David Thatcher thì “giới từ là một loại từ loại dùng để nối hoặc liên hệ một phần của câu, thường là danh từ, hay đại từ, hay động từ dưới hình thức V+ing hay một bổ ngữ (complement) tương đương với các phần khác của câu hay với cả câu.” [167, 15]
Nhìn chung, định nghĩa của các tác giả đều có điểm thống nhất, đó là: giới từ
là từ nối trong câu, giới từ thường đứng sau động từ và trước các thành phần khác của câu Vị trí của giới từ trong câu rất linh hoạt Trong luận án này chúng tôi sẽ sử dụng định nghĩa giới từ của David Thatcher
1.1.2 Vai trò và vị trí của giới từ trong câu
Tiếng Anh có khoảng 140 giới từ nhưng theo David Thatcher thì có 66 giới
từ đơn được dùng thường xuyên Đó là những giới từ sau:
1)about, 2) above, 3) across, 4) after, 5) against, 6) along, 7)alongside, 8)amid(st), 9)among(st), 10)around, 11)as, 12)at, 13)before, 14)behind, 15)below, 16)beneath, 17)beside(s), 18)between, 19)beyond, 20)but, 21)by, 22)concerning, 23)considering, 24)despite, 25)down, 26)during, 27)except, 28)for, 29)from,30)in, 31)inside,
Trang 2432)into, 33)less, 34)like, 35)minus, 36)near, 37)notwithstanding, 38)of, 39)off,40)
on, 41)onto, 42)opposite, 43)out, 44)outside, 45)over, 46)past, 47)pending, 48)plus, 49)regarding, 50)round, 51)since, 52)through, 53)throughout, 54)till, 55)to, 56)toward(s), 57)under, 58)underneath, 59)unlike, 60)until, 61)up, 62)upon, 63)via, 64)with, 65)within, 66)without
Theo như định nghĩa thì giới từ là từ dùng để nối (liên kết - link), để thiết lập quan hệ, giúp các đơn vị trở thành một chuỗi liên quan với nhau về ngữ pháp và ngữ nghĩa Giới từ có thể diễn tả nguyên nhân, tác nhân, công cụ, cách thức, phương tiện, chức năng, và mục đích Giới từ có khi được so sánh như là một loại vữa hay
hồ liên kết các khối nguyên liệu (là các từ loại khác, chủ yếu là danh từ hoặc danh ngữ) lại với nhau thành những bức tường trong một tòa nhà (là câu hay đoạn văn)
Ta hãy xét ví dụ, câu “I went the cinema my friend the evening the twenty-fifth” (tôi
đến rạp chiếu phim bạn tôi buổi tối 25) có thể bị xem như là một đống gạch lộn
xộn, không rõ nghĩa, nhưng khi chúng ta đưa giới từ to, with, on và of vào những vị trí thích hợp ở trong câu, để có “I went to the cinema with my friend on the evening
of the twenty-fifth” (tôi đến rạp chiếu phim với bạn tôi vào buổi tối 25) thì những
viên gạch nguyên liệu đó đã được gắn kết lại với nhau thành một câu kết cấu chặt chẽ đầy ý nghĩa [167,158] Như vậy rõ ràng là việc loại bỏ giới từ sẽ dẫn đến câu viết trơ trụi, nghèo nàn, lộn xộn dễ nhầm lẫn [dẫn theo 167, 15]
Thường thì tất cả các giới từ có thể ở vị trí đầu câu Một giới từ có thể được
đặt trước hoặc sau những giới từ khác ví dụ: “They are not up to such a difficult
job” Giới từ cũng có thể được đặt trước hay đặt sau động từ, trạng từ, tính từ, danh
từ hay danh động từ (gerund) David Thatcher đã so sánh vị trí của giới từ trong câu như một người dân du mục nay đây mai đó, hay một ngôi sao bóng đá di chuyển khắp sân cỏ Tuy nhiên, giới từ phải đứng trước mạo từ (article: a, an, the) và đại từ
sở hữu (him/his, her/her, it/its) Nên nhớ là giới từ không được phép đứng trước hoặc sau đại từ làm chủ ngữ (I, he, she), và thường thì giới từ không đặt cuối câu [167, 23]
Trang 25Có trường hợp trong câu ta có thể bỏ được giới từ, nhưng cũng có những trường hợp không thể bỏ giới từ được Một số giới từ có thể có một hoặc nhiều
nghĩa Chẳng hạn, từ điển OED cho chúng ta đến 10 nghĩa của giới từ with Trong
những trường hợp mà nghĩa của giới từ là nghĩa hàm chỉ của động từ đứng trước giới từ đó (implied in the preceding verb) thì chúng ta có thể bỏ giới từ đó đi được
Ví dụ: “climb (up) the mountain”, “pass (by) the forest”, “turn (round) the corner”
thì những giới từ (up), (by), (round) có thể bỏ được Nhưng cũng có những trường
hợp, người ta thêm giới từ vào mà thực sự không cần thiết, ví dụ như: “catch on fire”, “plummet down” Hoặc ví dụ trong câu “Peter Mandelson has no special
knowledge or interest in Northern Ireland,” chúng ta có thể thêm giới từ of vào sau
từ knowledge Trong tiếng Anh có một số động từ không bắt buộc phải có giới từ đi
theo động từ đó và không làm thay đổi nghĩa của động từ “approve of/approve”,
“offend against/ offend”, “repent of/repent” và trong những trường hợp này chúng
ta có thể bỏ được giới từ Tuy nhiên có những trường hợp khi đưa thêm giới từ vào thì nghĩa thay đổi, hay động từ bắt buộc phải có giới từ đi kèm
Theo Tom Cole thì đôi khi việc sử dụng giới từ là không bắt buộc và điều
này khiến việc sử dụng giới từ càng thêm rối rắm Ông đưa ra ví dụ so sánh: “When
I’m at home, I feel safe” và “when I’m home, I feel safe”, các câu hoàn toàn không
khác nhau về nghĩa, như vậy có giới từ AT hay không có AT đi trước chữ home thì
nghĩa của câu không có khác biệt gì [81, 23-24]
1.1.3 Phân loại giới từ trong tiếng Anh
Về mặt ngữ nghĩa, có thể xem xét các loại giới từ và nghĩa cơ bản của theo các phạm trù không gian (space), thời gian (time) và ẩn dụ (metaphor) chuyển đổi
từ phạm trù này sang phạm trù khác Về mặt cấu tạo, Yule chia giới từ thành hai loại đó là giới từ đơn (simple prepositions) và giới từ phức (complex prepositions) Giới từ đơn lại có thể chia thành hai loại dựa trên cách dùng về ngữ pháp (grammatical uses) và cách dùng về từ vựng (lexical uses) [181, 158] Do khuôn khổ có giới hạn của luận án, nên chúng tôi chỉ khảo sát có chọn lọc “giới từ đơn” trong tiếng Anh
Trang 26Bảng 1.1: phân chia giới từ đơn và giới từ phức [181, 159]
Simple prepositions (Giới từ đơn) Complex prepositions (Giới từ phức)
Grammatical (Ngữ
pháp)
Lexical (Từ vựng) (Prep)+NP+ prep
(giới từ+ cụm danh từ+ giới từ)
Giới từ trong tiếng Anh đánh dấu mối quan hệ giữa một cụm danh từ theo sau với một cụm danh từ, động từ, hay tính từ đứng trước nó Theo Yule thì nghĩa cơ bản của giới từ sẽ được định vị theo không gian (location in space), định vị theo thời gian (location in time) và định vị theo nghĩa ẩn dụ (location in metaphor) Cụm danh từ theo sau sẽ làm bổ ngữ cho giới từ, tạo nên giới ngữ (Prepositional Phrase)
Định vị theo không gian
Bảng 1.2: Định vị theo không gian [181]
Vị trí của thực thể (entity viết tắt là E) Vị trí được nhắc tới được nhận biết như là
Điểm (Point) Bề mặt (Surface) Khu vực (Area)
Vị trí được kết nối at E• on E in E
Trang 27Ví dụ: At 625 Royal Street; On Royal Street; In the old part of Royal Street
Định vị theo thời gian
Có một số tương đồng giữa cách mà giới từ được định vị theo không gian và theo thời gian
Ví dụ: At six o’clock; At that time; On Monday; On March 20 th ; In October
Định vị theo nghĩa ẩn dụ
Trong tiếng Anh một số giới từ được dùng theo kiểu thành ngữ (bắt buộc phải dùng giới từ đó, và đương nhiên người học phải thuộc lòng), và ta phải hiểu theo nghĩa ẩn dụ, cụ thể là ẩn dụ thực thể (entity metaphors), theo cách phân loại
của Lakoff và Johnson (1984) Ví dụ: Tell us IN your own words (Kể cho chúng tôi bằng ngôn ngữ của bạn) Express yourself IN complete sentences (Thể hiện bạn/ bày tỏ về bạn bằng những câu hoàn chỉnh trọn vẹn) I can’t make any sense OUT of
his words (Tôi không hiểu gì cả qua những lời nói của anh ấy) He communicated his beliefs THROUGH words (Anh ấy đã chuyển tải đức tin của mình thông qua lời
nói/ ngôn từ)
1.1.4 Giới ngữ2
Trong ngữ pháp tiếng Anh có những ngữ (phrase) chính như sau: danh ngữ, động ngữ, tính ngữ, trạng ngữ (hiểu theo nghĩa là ngữ đoạn có trạng từ làm trung tâm chứ không phải là một tên gọi thành phần câu) và giới ngữ [68, 96-97]
Khi giới từ dẫn xuất cho một ngữ và kết hợp với một danh từ để hình thành
một ngữ, ngữ đó được gọi là giới ngữ Ví dụ như trong câu: “The cat sleeps on the
sofa” (con mèo nằm ngủ trên chiếc ghế sô pha thì) “ON” là giới từ, được dùng để
giới thiệu giới ngữ “on the sofa” Như vậy một ngữ bắt đầu bằng một giới từ được gọi là một giới ngữ [164, 173] Ví dụ như: …before lunch; after doing the job; in a big hurry…
Danh ngữ đi sau giới từ có những đặc trưng ngữ nghĩa-cú pháp sau đây:
2 Prepositional phrase: được dịch là cụm giới từ hay giới ngữ Chúng tôi dùng thuật ngữ giới ngữ thống nhất
trong toàn luận án
Trang 28Về đặc trưng cú pháp: danh ngữ vẫn giữ nguyên các kết hợp theo mô hình danh ngữ
Về đặc trưng ngữ nghĩa: ngữ nghĩa của danh ngữ có sự phù hợp với ngữ nghĩa của giới từ đứng trước, thể hiện ở chỗ nếu giới từ mang nghĩa không gian thì danh ngữ mang ý nghĩa không gian, còn nếu giới từ mang nghĩa phi không gian (hoặc nghĩa ban đầu là không gian, nhưng đã được dùng theo nghĩa chuyển, nghĩa phi không gian) thì danh ngữ sẽ mang nghĩa phi không gian
Theo ngữ pháp tiếng Anh hiện đại, một giới ngữ có một trong hai chức năng sau: (a) như là một định ngữ bổ nghĩa cho một danh từ, ví dụ: Edward Windsor
and his girlfriend of five years at last announced their intention to marry [164, 173];
(b) như là một trạng từ bổ nghĩa cho động từ Ví dụ: Prince Edward and
Rhys- Jones faced the nation with aplomb [164, 174]
Tất cả các giới từ đều cần phải có bổ ngữ (object) và bổ ngữ có thể được nói
rõ hay hiểu ngầm Ví dụ về bổ ngữ được hiểu ngầm như: That’s the answer I was
waiting for (ie That’s the answer for which I was waiting.) Các bổ ngữ của giới từ
luôn luôn là danh từ hay một từ loại tương đương danh từ (noun equivalent)
Dưới đây là một số ví dụ về cách dùng của giới từ và giới ngữ trong tiếng Anh [103]
V- Prep- N 3
Dùng như là một trạng ngữ cho động từ (as a modifier to a verb)
Sleep throughout the winter ngủ qua suốt mùa đông
Danced atop the tables for hours nhảy múa ở đầu bàn hàng giờ
Prep- N
Dùng như là một định ngữ cho danh từ (as a modifier to a noun)
The weather in May thời tiết vào tháng 5
Cheese from France with live bacteria phomát từ Pháp có chứa khuẩn sống
Trang 29Dùng như là một bổ ngữ cho động từ (as the complement of a verb)
Insist on staying home khăng khăng ở nhà
Dispose of unwanted items vứt bỏ những thứ không cần
Prep phrase - N
Dùng như là một bổ ngữ cho danh từ (as the complement of a noun)
A thirst for revenge khát khao báo thù/trả thù
An amendment to the constitution một phần sửa đổi/ bổ sung của hiến pháp
Như đã có dịp nói trên đây, đặc điểm nổi bật của tiếng Anh là có hệ thống giới từ rất phong phú Giới từ làm cho tiếng Anh biến đổi linh hoạt hơn, và cũng làm cho tiếng Anh trở nên khó học đối với người nước ngoài Để học tiếng Anh đạt mức sơ cấp thì không khó, song muốn nắm vững tiếng Anh, nói nhuần nhuyễn, trôi chảy ở mức độ cao thì là một thách thức lớn và làm mất nhiều công sức, thời gian của người học Sử dụng giới từ một cách linh hoạt và chính xác sẽ giúp cho câu nói tiếng Anh hay hơn, chặt chẽ hơn, cũng như thể hiện được nét hay của nền văn hóa tiêu biểu Âu-Mỹ Tiếng Anh có khoảng 140 giới từ và có khoảng 66 giới từ thường hay sử dụng nhất Tiếng Anh cũng là ngôn ngữ sử dụng giới từ nhiều hơn so với các ngôn ngữ khác Điều khó nhất khi học giới từ trong tiếng Anh là cũng các từ đó về mặt từ loại thì lúc là giới từ nhưng lại có lúc là trạng từ, liên từ, tức có hiện tượng chuyển loại Một cái khó nữa của giới từ là: có thể cùng một giới từ nhưng có nhiều nghĩa khác nhau và cách sử dụng khác nhau Đặc biệt, khi giới từ đi với động từ trong động từ phức đoạn thì nói chung người học thường phải học thuộc lòng chứ khó có thể suy diễn được nghĩa theo qui tắc
Trong phần này, chúng tôi muốn sơ lược tóm tắt cách học để nắm vững giới
từ tiếng Anh có hiệu quả, đó là: 1 Học từng giới từ tiếng Anh đi kèm với các ví dụ, học đến đâu nhớ chắc và thuộc đến đó 2 Học giới từ từ dễ đến khó, từ những giới
từ thường dùng nhất như in, on, at… đến các giới từ ít dùng 3 Khi các giới từ có nhiều nghĩa thì học các nghĩa thông dụng nhất trước, rồi đến học các nghĩa khác sau, và khi học thì phải luôn luôn học kèm theo ví dụ tiêu biểu, và cố gắng thuộc các ví dụ 4 Học các cụm giới từ với nghĩa của nó, vì khi giới từ đứng tách ra thì
Trang 30mang nghĩa khác, khi hình thành cụm mang nghĩa khác 5 Học các giới từ trong thành ngữ và không được học nhiều quá cùng một lúc vì học nhiều thì mau quên Nên học thuộc ví dụ minh họa là tốt nhất vì giới từ trong thành ngữ ngoài nghĩa đen còn thể hiện nghĩa bóng, mà nghĩa bóng mới là nghĩa chính
1.2 Giới từ trong tiếng Việt
1.2.1 Quan điểm của các nhà Việt ngữ học về giới từ trong tiếng Việt
Theo những tài liệu mà chúng tôi tiếp cận thì chưa có một quan điểm thống nhất nhau giữa những nhà Việt ngữ học về giới từ Cách phân chia và tên gọi từ loại khi nói về giới từ cũng chưa thống nhất nhau Sau đây chúng tôi xin tổng kết một số quan điểm tiêu biểu về từ loại này
Tác giả Cao Xuân Hạo cho rằng giới từ là một loại hư từ4
“Những từ được dùng để dẫn nhập một ngữ đoạn, cho biết ngữ đoạn ấy làm thành phần câu hoặc làm phụ ngữ trong một ngữ đoạn lớn hơn là giới từ” [28] Theo Nguyễn Thiện Giáp thì
giới từ là “từ loại gồm những từ như của, bằng, để… giới từ có đặc trưng chính là
kết hợp với một danh ngữ - bổ ngữ của nó – để tạo ra một đơn vị cú pháp lớn hơn gọi là giới ngữ Bản thân giới từ không có nghĩa biểu hiện, chúng chỉ cho biết ngữ đoạn đi sau nó đóng vai trò phụ gì, hoặc là trạng ngữ, hoặc là định ngữ, hoặc là bổ
ngữ.” [20, 264-265] Trong tiếng Việt, ngoài những giới từ chính danh như: tại, bởi,
vì, từ, tuy, nếu, dù, …còn có những giới từ do các danh từ chuyển thành như: trên, dưới, trong, ngoài, sau, trước, của… và những giới từ do vị từ chuyển thành như: ở, đến, tới, vào, ra, lên, xuống, bằng, với, cùng, …Đáng chú ý là trong tiếng Việt có
một số giới từ có khả năng thuyết hóa ngữ đoạn đi sau nó Thí dụ: Quyển sách này
của ông ấy đấy; Thịt nai trong chảo ấy; Cái bàn này bằng gỗ
Trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến ( 1991) thì trong số các từ loại của Việt Nam không có
tên gọi giới từ Sách viết có 10 từ loại trong tiếng Việt: danh từ, động từ, tính từ, số
từ, đại từ, phụ từ, kết từ, trợ từ, tình thái từ, thán từ Thực chất, trong cách phân loại
này, giới từ nằm trong tên gọi kết từ: kết từ là phạm trù chung, gồm có liên từ (kết
4
Hư từ là những từ chỉ quan hệ cú pháp [30, 16]
Trang 31nối quan hệ đẳng lập hay song song) và giới từ (kết nối quan hệ chính phụ) Diệp Quang Ban cũng có quan điểm tương tự khi xếp giới từ vào trong nhóm kết từ Còn
theo Bùi Đức Tịnh thì giới từ là một trong chín loại từ loại của tiếng Việt với định nghĩa: “Giới từ và giới ngữ là những tiếng dùng để chỉ sự tương quan giữa ý nghĩa của hai từ và mệnh đề Giữa hai từ, ta dùng một giới từ Giữa hai mệnh đề, ta dùng một giới ngữ” [dẫn theo 27] Còn Nguyễn Kim Thản thì cho rằng “Giới từ là một loại hư từ (trong nhóm quan hệ từ) có tác dụng nối liền từ phụ (hoặc từ tổ phụ) với
từ chính biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa hai đơn vị đó” [dẫn theo 27]
Nguyễn Anh Quế xếp giới từ vào trong một nhóm lớn là hư từ, Nguyễn Hữu Quỳnh xếp trong nhóm nhỏ hơn là quan hệ từ Còn trong luận án của mình Vũ Văn
Thi định nghĩa giới từ như sau: “Giới từ là một loại hư từ thuộc nhóm quan hệ từ,
có chức năng thể hiện mối quan hệ cú pháp giữa thành phần chính và phụ trong câu”, và sau đó Vũ Văn Thi đưa ra những đặc điểm của giới từ như sau:
1) Giới từ là một hư từ thể hiện ý nghĩa quan hệ
2) Giới từ hầu như không có khả năng bổ sung một ý nghĩa nào đó cho trung tâm, do vậy giới từ không phải là yếu tố có quan hệ một chiều mà có quan hệ hai chiều
3) Giới từ thể hiện mối quan hệ ngữ pháp chính phụ, nối giữa trung tâm với thành phần phụ
4) Giới từ có khả năng làm dạng thức hóa từ, cụm từ tạo nên các giới ngữ để chúng có khả năng giữ chức vụ cú pháp là thành phần phụ
5) Về mặt vị trí: Vị trí phổ biến của giới từ là đứng giữa thành phần chính và thành phần phụ theo kiểu: A-q-B trong đó A, B là các thành phần; q là quan hệ từ [dẫn theo 27, 14-15]
Theo Trần Quang Hải thì “Có thể nói rằng việc nghiên cứu riêng giới từ như
là một đối tượng nghiên cứu độc lập, giống như ở các ngôn ngữ châu Âu, chưa từng
có trong lịch sử nghiên cứu tiếng Việt Nếu có chăng, chỉ là xếp chung trong việc nghiên cứu một nhóm từ có cùng hình thức biểu hiện Thực ra, phân loại tiếng Việt theo kiểu phân loại của các ngôn ngữ Ấn-Âu cũng có phần không ổn…” [dẫn theo
27, 15]
Trang 32Giới từ trong tiếng Việt có thể bị nhầm lẫn với những từ loại khác, do có hình thức biểu hiện ngữ âm (và chữ viết) giống nhau Ví dụ, chúng tôi thử tra từ
"vào" trong từ điển để có thêm ví dụ minh họa Kết quả từ “vào” được chú là động
từ (ví dụ cụm: "vào dịp tết" từ điển xếp là động từ), liên từ, trạng từ; hoặc từ "dưới"
thì là liên từ và tính từ (Từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý làm chủ biên) Theo chúng tôi, những trường hợp này đều là giới từ
Như đã nói trên đây, nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Thiện Giáp nêu ra mười loại từ loại ra thì giới từ thuộc về "kết từ" (tên gọi khác là
"quan hệ từ") Kết từ (quan hệ từ) là từ dùng để liên kết, sẽ gồm hai loại nhỏ là
"liên từ" (liên kết quan hệ đẳng lập) và "giới từ" (liên kết quan hệ chính phụ) Vậy
có thể gọi "giới từ", "phó từ", 'tình thái từ" v.v một cách chung nhất là "hư từ", bởi
vì với tư cách là một phạm trù từ vựng-ngữ pháp lớn, hư từ gồm nhiều loại, trong
đó có các từ loại như vừa kể Giới từ sẽ dẫn nhập cho một ngữ đoạn lớn hơn nó, đó
là "giới ngữ", ví dụ: "bằng xe đạp", "ngoài sân", "vào thứ hai" Ngữ đoạn này có thể làm thành phần câu, thường là trạng ngữ, khi ta xét chúng trong những câu cụ thể, ví dụ như:
-Nó đi học bằng xe đạp
-Chúng tôi uống cà phê ngoài sân
-Chúng ta sẽ gặp nhau vào thứ hai
Trong những trường hợp trên giới ngữ đóng vai trò trạng ngữ của câu
Tuy nhiên, các giới ngữ không chỉ đóng vai trạng ngữ, mà còn đóng các vai thành phần câu khác, chẳng hạn:
Trong nhà ra mở cửa (Trong nhà là chủ ngữ)
Với các ông khác, tôi không muốn nói chuyện với họ (Với các ông khác là
khởi ngữ, theo hệ thống phân loại thành phần câu của Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp)
Việc này tùy hai ông (Tùy hai ông là vị ngữ)
Về quan niệm giới ngữ thì giữa tiếng Anh và tiếng Việt có nhiều điểm khác biệt nhau Theo Trần Quang Hải, một số nhà nghiên cứu theo quan điểm của
Trang 33Nguyễn Tài Cẩn cho rằng chỉ có những ngữ có các từ có thể làm trung tâm thì mới được coi là đoản ngữ và vậy trong tiếng Việt chỉ có danh ngữ, động ngữ và tính ngữ được coi là đoản ngữ Còn tổ hợp “giới từ+ đoản ngữ" là một biến thể của đoản ngữ, tức là một đoản ngữ đã được dạng thức hóa để đặt vào một chức vụ nào đấy ở trong câu nói, tức không thừa nhận giới ngữ Tuy nhiên, Nguyễn Kim Thản thì cho rằng tiếng Việt có giới ngữ Xét về hình thái thì, giới ngữ tiếng Việt và giới ngữ tiếng Anh có nhiều điểm tương đồng Giới ngữ tiếng Việt cũng có cấu trúc li tâm như giới ngữ tiếng Anh [dẫn theo 27, 19]
Như phần trình bày trên chúng ta thấy quan điểm của các nhà Việt ngữ về quan niệm giới ngữ vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng và thống nhất nhau Song các nhà nghiên cứu đều thừa nhận sự tồn tại của giới từ với tư cách là một từ loại của ngôn ngữ, nằm trong phạm trù "kết từ" hay "quan hệ từ" Chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ
“giới từ” trong toàn bộ luận án cho cả tiếng Anh và tiếng Việt để thuận tiện cho việc phân tích và so sánh
1.2.2 Danh sách giới từ tiếng Việt
Trong các luận án tiến sỹ của Trần Quang Hải và Nguyễn Cảnh Hoa, cả hai đều cho rằng giới từ trong tiếng Việt là mờ nhạt nếu so với tiếng Anh Tiếng Anh có
140 giới từ trong khi tiếng Việt chỉ có khoảng 40 giới từ Chúng tôi lập danh sách giới từ đơn thông dụng trong tiếng Việt lấy theo danh sách của cả Trần Quang Hải
và Nguyễn Cảnh Hoa như sau:
1) Bằng Ví dụ: rơm không có thì mày đun bằng gì (Nguyễn Công Hoan,
3) Bởi Ví dụ: Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này (Nguyễn Du, Kiều) 4) Cho Ví dụ: Em gửi trái cây miền bắc thơm ngon cho anh
6) Cùng Ví dụ: Vợ chồng cùng nghĩa lẽ nào chẳng thương (ca dao) 7) Đặng Ví dụ: Chúng ta phấn đấu đặng giành nhiều thành công và
Trang 348) Để Ví dụ: Có trầu chẳng để môi thâm
9) Đến Ví dụ: Đi đến đâu phải theo phong tục ở đó
11) Dưới Ví dụ: Nếp nhà tranh lủn củn nấp dưới rặng tre già (NTT, TĐ, 24) 12) Hay Ví dụ: Hay ăn thì lăn vào bếp; một người hay lo bằng kho
13) Giữa Ví dụ: Tậu ruộng giữa đồng, lấy chồng giữa làng (thành ngữ) 14) Hòng Ví dụ: Anh ta nói dài dòng hòng che lấp sai lầm của mình 15) Lại Ví dụ: Sau cơn bão chúng tôi sát cánh bên nhau xây lại ngôi nhà 16) Lên Ví dụ: Làm trai cho đáng nên trai, Xuống Đông Đông tĩnh; lên
17) Ngoài Ví dụ: Tôi ngồi viết luận án ngoài vườn
18) Nhằm Ví dụ: Chúng ta luyện tập thể dục nhằm có một thân thể khỏe mạnh 19) Nhờ Ví dụ: Tôi được như ngày hôm nay là nhờ công của bố
20) Như Ví dụ: Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong
21) Nơi Ví dụ: Em luôn tin tưởng nơi anh!
22) Ở Ví dụ: Muốn tu chùa ngói Phật vàng, Chùa tranh Bụt đất ở làng
23) Qua Ví dụ: Chúng tôi quen nhau qua một lần tình cờ đi xem phim 24) Quanh Ví dụ: Quanh nhà em có rất nhiều hoa
26) Sang Ví dụ: Đi sang nhà hàng xóm chơi
27) Sau Ví dụ: Sau buổi học, chúng tôi đi xem phim
28) Tại Ví dụ: Được thua dù có tại trời, Chớ thấy sóng cả mà rời tay co
Trang 35Sông sâu sào ngắn khôn dò tới nơi (ca dao)
32) Trên Ví dụ: Dọc ngang nào biết trên đầu có ai (Nguyễn Du, Kiều) 33) Trong Ví dụ: Ngoài hình xinh đẹp, trong lòng xấu xa (Ca dao)
34) Trước Ví dụ: Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo
35) Từ Ví dụ: Chút lòng trinh bạch từ nay xin chừa (Nguyễn Du, Kiều) 36) Vào Ví dụ: Vào thứ bảy hàng tuần, chúng tôi học nhóm
37) Về Ví dụ: Tôi luôn nghĩ về mẹ
38) Vì Ví dụ: Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân (Tục ngữ)
39) Với Ví dụ: Cơm với cá như mạ với con (Tục ngữ)
40) Xuống Ví dụ: Chị tôi đi xuống bếp
Tuy nhiên, chúng ta thấy trong danh sách giới từ trên của hai tác giả Trần Quang Hải và Nguyễn Cảnh Hoa có 6 từ không phải là giới từ, đó là những từ sau:
12) Hay (hay ăn): "hay" là phó từ (như "thường", "vẫn" )
15) Lại (xây lại): "lại" là phó từ chỉ thể (aspect) tái diễn
16) Lên: động từ
25) Ra (ra đầu ra đũa): trường hợp này giống "ra tuyên bố", có thể xếp vào động từ 29) Tận (tận 4h): "tận" là trợ từ (như "chỉ", "cả" "chính")
40) Xuống (đi xuống bếp): "xuống" là phó từ chỉ hướng
Như vậy danh sách giới từ đơn trong tiếng Việt theo chúng tôi chỉ còn có 34 giới từ
1.3 Thành ngữ và thành ngữ trong tiếng Anh, tiếng Việt
1.3.1 Thành ngữ (idiom)
1.3.1.1 Định nghĩa thành ngữ (idiom) và phân loại
Thành ngữ là những cấu trúc ngôn ngữ đặc biệt giúp cho cách diễn đạt của chúng ta hay hơn, phong phú, ý nhị và giàu hình ảnh hơn Ví dụ: To sit on the fence: 1 ngồi ở hàng rào; 2 do dự, lưỡng lự; phân vân chưa quyết; đứng giữa
(không nghe theo ai) Ví dụ 1: I sat on the fence and watched the race: Tôi ngồi trên hàng rào và xem/ theo dõi cuộc đua Ví dụ 2: No decision has been taken about the
building of the new airport The authorities are still sitting on the fence: Chưa có sự
Trang 36quyết định về việc xây dựng một sân bay mới Các nhà chức trách vẫn còn phân vân chưa quyết
Langlotz cho rằng thành ngữ là những cấu trúc ngôn ngữ đặc biệt, là những hình thể ngôn ngữ rất phức tạp (complex linguistic configurations) mà các nhà ngôn ngữ học phải suy tư và những người học ngôn ngữ đó phải bối rối và lúng túng… Các cấu trúc thành ngữ có thể được mô tả như là các biểu tượng phức tạp với các đặc trưng cụ thể về hình thức, ngữ nghĩa, ngữ dụng và ngôn ngữ xã hội Đặc điểm chính mang tính bản chất của thành ngữ là nghĩa trọn vẹn của thành ngữ không phải
là nghĩa của từng thành phần cấu tạo của thành ngữ đó [135, 1-4]
Nói cách khác nghĩa tổng quát của một thành ngữ là một sự mở rộng ngữ nghĩa từ kết quả nghĩa của các thành phần từ vựng cấu tạo của thành ngữ, chứ không phải là phép cộng đơn giản ngữ nghĩa của các thành tố cấu tạo Mối quan hệ giữa nghĩa tổng quát của thành ngữ và nghĩa tổng của các thành phần hợp thành phản ánh một kiểu mẫu hình tượng (pattern of figuration) Về nghĩa của thành ngữ chúng ta phải phân biệt hai mức độ nghĩa:
a Nghĩa đen (nghĩa tổng của các từ hợp thành)
b Nghĩa thành ngữ (nghĩa từ vựng mở rộng của cấu trúc)
Khi nghĩa thành ngữ và nghĩa đen của cấu trúc càng khác biệt nhau nhiều thì nghĩa của thành ngữ ấy càng mơ hồ, khó đoán, càng khó khăn cho người học [135, 4]
Một thành ngữ là một cấu trúc được thể chế hóa gồm có hai hay nhiều mục
từ và có một cấu trúc kết hợp của một cụm từ hay bán mệnh đề, thể hiện đặc tính cấu trúc Trước tiên một thành ngữ có một chức năng diễn ngôn tưởng tượng và đặc trưng hình tượng, nghĩa là cấu trúc ngữ nghĩa của nó có nguồn gốc phi kết cấu Thêm vào đó, nó khá cố định và có giới hạn theo một trật tự [135, 5]
Fraser (1970) quan niệm rằng bao giờ cũng có thể phân loại thành ngữ theo những cách phân loại khác nhau và do đó ông không đưa ra một nguyên tắc độc lập nào cho sự phân loại thành ngữ
Còn Langacker đưa ra quan điểm về thành ngữ như sau:
Trang 37Nếu chỉ coi thành ngữ là những đơn vị ổn định về ngữ nghĩa và bền vững về cấu trúc thì mọi chuyện quá đơn giản Chính xác hơn, thành ngữ cần phải được xem là những đơn vị ngữ nghĩa phức tạp mang tính biểu tượng đã được qui ước hóa và hợp nhất thành một “thể ổn định” Chúng
ta nhận thấy rằng những chỉnh thể này có thể nhận ra ngay cả khi các đơn
vị cấu thành nên chúng bị đảo thứ tự…thành ngữ cần được xem là một đơn vị về một mức độ nào đó độc lập với trật tự sắp xếp sẵn dù trật tự này là cái chúng ta thường gặp và “nghe quen” hơn những trật tự khác [dẫn theo 60, 73]
Langacker nhận xét về tính phức tạp trong cấu trúc thành ngữ như sau:
Dù các tổ hợp thành ngữ có thể thành cố định do được sử dụng như một thói quen, thì cũng không thể phủ nhận rằng nó được cấu thành từ những thành phần riêng rẽ Như vậy nếu coi thành ngữ là một tổ hợp cố định hay một “từ dài” (từ ghép từ nhiều từ) thì sẽ gặp một mâu thuẫn lớn: Khi thành ngữ được cho là một từ dài thì mặc nhiên đã loại bỏ tính phân tích được của nó và chẳng có cơ sở nào để xem thành ngữ là hệ thống phức tạp nữa Lúc này, tất cả các ngữ cố định sẽ được xem là một chuỗi các hình vị ghép lại với nhau bất kể nó dài hay ngắn Bất kì thành ngữ nào cũng có tính phân tích được ở một mức độ nhất định Ngôn ngữ luôn
có hàng ngàn, hàng vạn các đơn vị biểu tượng phức tạp và nó được thể hiện qua các đơn vị cấu thành Ở một mức độ nhất định, các đơn vị cấu thành vẫn có vai trò tạo nghĩa cho thành ngữ Vậy chúng ta nên xem thành ngữ là những đơn vị không thể phân chia được và có nghĩa võ đoán khi các đơn vị cấu thành của nó hoàn toàn không đóng vai trò gì trong quá trình tham gia tạo nghĩa [60, 75-76]
Trong ngôn ngữ học truyền thống, thành ngữ là đối tượng nghiên cứu của từ vựng học, của ngữ nghĩa học và ngữ pháp học Hướng tiếp cận chủ yếu của truyền thống là hướng phân tích thành ngữ theo cấu trúc-ngữ nghĩa, tức miêu tả cấu trúc của thành ngữ theo những mô hình kết hợp, sau đó miêu tả ngữ nghĩa của những
Trang 38cấu trúc này như là một hàm (function) đặc biệt dựa trên ngữ nghĩa của các thành tố được dùng để lấp đầy mô hình đó và đặc trưng cấu trúc của mô hình đó
1.3.1.2 Thành ngữ tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận
Các nhà ngôn ngữ học tri nhận quan niệm rằng ngôn ngữ không phải là một khả năng tri nhận độc lập (autonomous), tách rời khỏi những khả năng tri nhận khác của con người và riêng biệt trên bậc thang tiến hóa của loài Thành ngữ, với tư cách
là một đơn vị đặc biệt của hệ thống ngôn ngữ, cũng không nằm ngoài những quy luật chung trong quá trình con người trải nghiệm, tri nhận và phạm trù hóa thế giới Lakoff, Johnson, Gibbs xem xét về bản chất ngữ nghĩa của thành ngữ và mối quan
hệ giữa cấu trúc với ngữ nghĩa của thành ngữ cho rằng, ngữ nghĩa của chúng dựa trên cách chúng ta trải nghiệm, tri nhận hay “nghiệm thân”, với quá trình ý niệm hóa và phạm trù hoá thế giới, thực tại khách quan ở quanh chúng ta
Theo Lý Toàn Thắng “Tri thức ngôn ngữ (tức là tri thức về ý nghĩa và ý thức) về cơ bản là cấu trúc ý niệm và biểu hiện ngữ nghĩa về cơ bản là biểu hiện ý niệm… các biểu hiện về cú pháp, từ pháp và âm vị học về cơ bản cũng mang tính ý niệm; bởi vì các âm thanh và các phát ngôn phải được tạo sinh ở đầu ra và nhận hiểu ở đầu vào của các quá trình tri nhận chi phối sự nói, viết và sự nghe đọc – vốn
là hai quá trình đều liên quan đến trí não” [49 ] Còn Gibbs (1997) thì khẳng định
“thành ngữ không tồn tại với tư cách là những đơn vị nghĩa độc lập trong hệ thống
từ vựng mà về bản chất chúng là những bộ phận của hệ thống các khái niệm đã được ẩn dụ hóa” Theo Steen (1997) thì trong bộ nhớ của mỗi con người đều tồn tại một tập hợp rất lớn về các hình ảnh ghi nhận về thực tại khách quan ở quanh chúng
ta, và tùy theo môi trường sống và văn hóa của dân tộc đó mà tạo ra và hình thành tập hợp hình ảnh này Lakoff gọi tập hợp hình ảnh này là “image schema” (sơ đồ hình ảnh/lược đồ ý tượng) Và Steen cho rằng lược đồ này không bị ngữ cảnh chi phối mà nằm trong tiềm thức của mỗi người [dẫn theo 60, 18,19] Ví dụ như trong đầu của mỗi người Việt, hình ảnh về ông Bụt, cây tre, cây cau, cây dừa, cây đa, cây cầu, con đò, bến nước, mái đình, vua Hùng, tà áo dài… đều là những hình ảnh quen thuộc Chúng ta không thường xuyên sử dụng những hình ảnh này, nhưng chúng
Trang 39nằm sẵn và tồn tại rất lâu trong trí não chúng ta và khi chúng ta giao tiếp, chúng sẽ
tự hiện lên lúc cần đến Còn đối với người Anh thì trong tập hợp hình ảnh của họ những hình ảnh ông Bụt, cây tre, cây cau, cây dừa, cây đa, cây cầu, con đò, bến nước, mái đình, vua Hùng, tà áo dài này lại rất xa lạ, mang phong vị phương xa (exotic) Từ những hình ảnh tri nhận cơ sở, chúng ta hình thành các thành ngữ mới
và suy ra được nghĩa của các thành ngữ cũ Lakoff (1987) cho rằng với đa số thành ngữ, nhất là những thành ngữ có hình ảnh thì từ những hình ảnh này chúng ta có thể suy đoán ra được nghĩa của thành ngữ Nói đơn giản là khi chúng ta có sẵn trong đầu “kho hình ảnh thành ngữ” thì dễ đoán ra được nghĩa của thành ngữ
Như vậy theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận, thông qua quá trình con người tương tác, trải nghiệm mang tính nghiệm thân với thực tại khách quan ở quanh chúng ta, thì một trong những kết quả của quá trình ý niệm hóa đó là những thành ngữ bóng bảy giàu hình ảnh Các yếu tố cấu thành nên thành ngữ có mối liên
hệ với hoạt động tư duy nên thông qua cơ chế tri nhận và sự ý niệm hóa chúng ta có thể hiểu được hay suy ra được nghĩa của thành ngữ từ những yếu tố cấu thành nên thành ngữ
1.3.1.3 Thành ngữ và ẩn dụ tri nhận
Nếu như phong cách học truyền thống xem ẩn dụ chỉ là một phương thức tu
từ thì ngôn ngữ học tri nhận lại xem ẩn dụ, trước hết, là một phương thức của tư duy Theo quan điểm như vậy, Lakoff và Johnson, với công trình nổi tiếng
“Metaphors We Live By” (1980) đã thực sự làm một cuộc cách mạng về ẩn dụ Khái niệm về ẩn dụ tri nhận đã là một trong những trọng tâm thảo luận của ngôn ngữ học tri nhận Theo tổng kết của Trần Văn Cơ thì “Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là
ẩn dụ ý niệm-cognitive/conceptual metaphor) là một trong những hình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới
và không có nó thì không thể nhận được tri thức mới Về nguồn gốc, ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con người trong việc nắm bắt và phát hiện sự giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tượng khác nhau
Trang 40Ẩn dụ là một cơ chế tri nhận nhờ đó những tri giác liên tục, tương tự đã trải qua quá trình phạm trù hóa được đánh giá lại trong những bối cảnh ý niệm mới Nói một cách chung nhất, "ẩn dụ được xem là cách nhìn một đối tượng này thông qua một đối tượng khác, và với ý nghĩa đó, ẩn dụ là một trong những phương thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ” [10, 293-294]
Trong cuốn Metaphors We Live By, Lakoff và Johnson đề cập nhiều tới ẩn dụ
cấu trúc, ẩn dụ ý niệm, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định hướng… Ẩn dụ cấu trúc (structural metaphor) là loại ẩn dụ khi nghĩa (hoặc giá trị) của một từ (hay một biểu thức) này được hiểu (được đánh giá) thông qua cấu trúc của một từ (hoặc một biểu thức) khác Kiểu ẩn dụ này thường sử dụng kết quả của quá trình biểu trưng hóa (vật thể và ngôn ngữ) và của sự liên tưởng [10, 295] Ẩn dụ cấu trúc có thể gặp trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao v.v
Đối với ý nghĩa của thành ngữ, chúng tôi thấy cần nhắc đến lý thuyết của Fauconnier và Turner về “hỗn hợp ý niệm” (conceptual blending) Theo lí thuyết này, các nhân tố và các mối quan hệ thiết yếu từ các chuỗi viễn cảnh hay từ đủ loại kịch bản (scenarios) được trộn lẫn trong một quá trình tiềm thức được biết đến như
là hỗn hợp ý niệm (conceptual blending), được cho là có khắp mọi nơi trong tư duy
và ngôn ngữ Sự thấu hiểu đạt được thông qua những sự trộn lẫn này tạo ra những sản phẩm của tư duy sáng tạo [91]
1.3.1.4 Về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy là một trong những chủ đề quan trọng nhất của ngôn ngữ học và triết học ngôn ngữ Về vấn đề này, đã có quá nhiều công trình và tác giả nổi tiếng bàn luận, và tầm vóc của những bàn luận này rõ ràng vượt quá khuôn khổ một luận án Tuy nhiên, ở đây chúng tôi cũng muốn nhìn lại vấn đề theo một cách nhìn xâu chuỗi, đi từ quan điểm phản ánh luận Mác xít đến cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận hiện nay
Theo Lý Toàn Thắng: “Nguyên lý về mối quan hệ khăng khít giữa ngôn ngữ
và tư duy cùng với nguyên lý về tính xã hội của ngôn ngữ là hòn đá tảng để phát triển và hoàn thiện ngôn ngữ học Mác xít.” [48, 56] Vấn đề này không chỉ nằm