1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tư tưởng hồ chí minh về con người và giải phóng con người

243 513 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 243
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề quyền tự quyết của các quốc gia, các dân tộc, vấn đề về giải phóng con người tưởng chừng là những vấn đề đã cũ của quá khứ, nhưng thực chất, trong giai đoạn hiện nay cũng như tron

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

NGUYỄN TRUNG DŨNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

NGUYỄN TRUNG DŨNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI

Chuyên ngành: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

Mã số : 62.22.80.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS LƯƠNG MINH CỪ

Phản biện độc lập:

1 PGS, TS NGUYỄN THẾ NGHĨA

2 PGS, TS NGUYỄN THANH Phản biện:

1 PGS, TS NGUYỄN THẾ NGHĨA

2 PGS, TS NGUYỄN THANH

3 PGS, TS NGUYỄN XUÂN TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Ngày….tháng…năm 2012

Tác giả

NGUYỄN TRUNG DŨNG

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài 01

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 03

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án 08

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 09

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 09

6 Cái mới của luận án 09

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 10

8 Kết cấu của luận án 10

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC 11

1.1 VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG 12

1.1.1 Vấn đề con người và giải phóng con người trong triết học Ấn Độ 12 1.1.2 Vấn đề con người và giải phóng con người trong t riết học Trung Quốc 19

1.2 VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 29

1.2.1 Tư tưởng về con người và giải phóng con người trong triết học phương Tây thời kỳ Cổ - Trung đại 29

1.2.2 Tư tưởng về con người và giải phóng con người trong triết học phương Tây thời kỳ Phục Hưng và cận đại 36

1.2.3 Tư tưởng về con người và giải phóng con người trong triết học cổ điển Đức 42

1.2.4 Tư tưởng về con người và giải phóng con người trong triết học phương Tây hiện đại 47

Trang 5

1.3 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGH ĨA MÁC – LÊN IN VÀ TƯ TƯỞNG TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM VỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI

PHÓNG CON NGƯỜI 55

1.3.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về con người 55

1.3.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giải phóng con người 61

1.3.3 Vấn đề con người và giải phóng con người trong lịch sử tư tưởng Việt Nam 65

Chương 2: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI 76

2.1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI 76

2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội đối với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người 76

2.1.2 Truyền thống văn hóa dân tộc, truyền thống quê hương, gia đình đối với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người 83

2.1.3 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người 86

2.2 QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI 95

2.2.1 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 95

2.2.2 Thực chất vấn đề con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh 112

2.3 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI 123

2.3.1 Giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc 126

2.3.2 Giải phóng con người gắn liền với giải phóng giai cấp 132

2.3.3 Xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa là tiền đề giải phóng con người một cách triệt để và cách mạng 144

Trang 6

Chương 3: VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 159

3.1 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 159

3.1.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay, tác động đến việc xây dựng, phát triển và giải phóng con người 159

3.1.2 Thực trạng, những thành tựu và mặt còn hạn chế về vấn đề giải phóng con người ở Việt Nam hiện nay 177

3.2 BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 190

3.2.1 Giữ vững nguyên tắc độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đối với việc giải phóng con người ở Việt Nam hiện nay 190

3.2.2 Đảm bảo và phát huy dân chủ, là cơ sở và nền tảng, để giải phóng con người ở nước ta trong giai đoạn hiện nay 193

3.2.3 Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân là biểu hiện cụ thể, trực tiếp nhất của việc xây dựng, phát triển và giải phóng con người Việt Nam hiện nay 195

3.3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN MỤC TIÊU GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM HIỆN NAY 198

3.3.1 Định hướng và mục tiêu cơ bản về sự nghiệp giải phóng con người của Đảng, Nhà nước Việt Nam hiện nay 198

3.3.2 Một số giải pháp cơ bản để thực hiện mục tiêu giải phóng con người trong điều kiện Việt Nam hiện nay 204

PHẦN KẾT LUẬN 220

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 225

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 237

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vấn đề giải phóng con người, giúp con người thoát khỏi mọi sự đau khổ, đem lại cho con người một cuộc sống tự do, hạnh phúc là khát vọng ngàn đời của nhân loại và, cũng là vấn đề được quan tâm lớn nhất của các nhà tư tưởng, ở mọi thời đại lịch sử

Hiện nay, trên thế giới đang diễn ra quá trình toàn cầu hóa hết sức mạnh mẽ, cả về chiều rộng và chiều sâu Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, các dân tộc ngày càng gia tăng Bên cạnh bức tranh sinh động của đời sống thế giới về kinh tế, chính trị, văn hóa, chúng ta vẫn thấy nổi lên ở đây đó sự xung đột về sắc tộc, tôn giáo, chính trị,… như những dấu hiệu không tốt trong quá trình phát triển Đặc biệt là, sau sự khủng hoảng chính trị ở Liên Xô và các nước Đông Âu, thời kỳ chiến tranh lạnh dường như đã kết thúc về mặt hình thức, nhưng trên thực tế, trên thế giới, vẫn ngấm ngầm xảy ra những cuộc chạy đua vũ trang, những sự đối đầu quyết liệt để phân chia thị trường thế giới Vấn đề quyền tự quyết của các quốc gia, các dân tộc, vấn đề về giải phóng con người tưởng chừng là những vấn đề đã cũ của quá khứ, nhưng thực chất, trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai, lại đang trở thành vấn đề nóng, mang tính thời sự với những yêu cầu, cấp thiết đòi hỏi cần phải giải quyết một cách khoa học và hợp đạo lý, để thế giới cùng chung sống hòa bình, cùng hợp tác và phát triển

Trong quá trình hơn hai mươi năm đổi mới, phát triển trên tất cả các lĩnh vực về kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng, Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu to lớn cả về nhận thức và hoạt động thực tiễn Đời sống của nhân dân đã không ngừng được nâng lên, con người với tư cách là chủ thể xã hội, đã có nhiều cơ hội để phát huy khả năng của mình, an ninh

Trang 8

xã hội được giữ vững Tuy nhiên, bên cạnh đó trên phương diện thực tiễn, vẫn còn rất nhiều những vấn đề lớn đặt ra cho khoa học lý luận phải tập trung nghiên cứu, đưa ra những định hướng giải quyết Chẳng hạn, như vấn

đề về mối quan hệ giữa lợi ích và quyền tự quyết của dân tộc với yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, của quá trình phát triển; vấn đề mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển, giữa đổi mới kinh tế và chính trị, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; vấn đề giải phóng con người trong mối quan hệ với sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, khu vực và giữa các cá nhân; vấn đề phát huy nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước; và v.v…

Như vậy, thực tiễn kinh tế - xã hội Việt Nam, đã và đang đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi cần có sự giải quyết triệt để về mặt lý luận Xét cho đến cùng, tất cả những vấn đề cơ bản nêu trên, thực chất đó là vấn đề

về con người, giải phóng và phát triển con người Ở đây, chúng ta có thể tìm thấy những nội dung mang tính lý luận và phương pháp luận về vấn đề con người và giải phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh Bằng thực tiễn hoạt động cách mạng sinh động của mình, trên cơ sở sự kế thừa và phát triển xuất sắc những tư tưởng tiến bộ về con người và giải phóng con người trong lịch sử, đặc biệt là sự vận dụng tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin về giải phóng con người, Hồ Chí Minh đã xây dựng được hệ thống

tư tưởng về vấn đề con người và giải phóng con người một cách sâu sắc và toàn diện, mang bản sắc Việt Nam

Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) đã khẳng định: chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho đường lối cách mạng của Đảng Đại hội lần IX của Đảng tiếp tục khẳng định: “lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là

Trang 9

nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động, là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta”[26; tr 84] Thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, ngày 27 tháng 03 năm 2003 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị 23/CT-TW về việc đẩy mạnh nghiên cứu và tuyên truyền giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới Hiện nay, Đảng ta đang quan tâm, chỉ đạo tăng cường việc học tập, làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng và toàn xã hội Do vậy, việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học về hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh càng

có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, có giá trị cao trên góc độ lý luận

Trong những năm gần đây, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, vấn đề về con người và giải phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, đã được nhiều nhà khoa học ở trong và ngoài nước nghiên cứu, phân tích ở nhiều phương diện và cấp độ khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một tác giả và công trình khoa học nào, nghiên cứu về vấn đề con người và giải phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh một cách có hệ thống và hoàn chỉnh Vì vậy, một mặt, với mong muốn làm rõ thêm, phong phú thêm tư tưởng khoa học

về vấn đề con người và giải phóng con người của Hồ Chí Minh nói riêng, sự đóng góp của Người vào kho tàng lý luận và lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung; mặt khác với mong muốn góp phần giải đáp những vấn đề lý luận về giải phóng con người do thực tiễn hiện nay đang đặt ra, chúng tôi đã lựa chọn

vấn đề: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người” làm đề

tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ triết học

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề con người và giải phóng con người trong lịch sử triết học nói chung, và trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng được các nhà khoa học nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận và mức độ phong phú khác nhau

Về vấn đề con người và giải phóng con người trong lịch sử triết học,

Trang 10

hầu hết các nhà khoa học không tập trung nghiên cứu thành những nội dung riêng, mang tính hệ thống, mà trình bày lồng ghép trong các quan điểm về bản thể luận, nhân sinh quan, nhận thức luận của các triết gia theo

phương diện lịch sử Có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu như: Lịch sử Triết học Tập 1 Nxb Khoa học xã hội, 2002, của tác giả Nguyễn Thế Nghĩa và Doãn Chính (chủ biên); Lịch sử Triết học của tác giả Nguyễn

Hữu Vui Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; tác giả Lưu Phóng Đồng

với công trình Triết học phương Tây hiện đại Tập 1, 2 Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 1994;… Có những tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề giải phóng con người theo từng giai đoạn lịch sử, hoặc theo từng

triết gia như: Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ của tác giả Doãn Chính Nxb Thanh niên, 1999; Bùi Bá Linh (2003): Quan niệm của C.Mác

và Ph.Ăngghen về con người và sự nghiệp giải phóng con người Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Thế Nghĩa (2003): Quan niệm của C.Mác về tha hóa và sự giải phóng con người trong “Bản thảo kinh tế - triết học” Tạp chí Triết học số 10-2003; Đáng chú ý nhất là tác phẩm Tư tưởng triết học về con người của tác giả Vũ Minh Tâm (chủ biên) Nxb

Giáo dục, Hà Nội, 1996 Tác phẩm đã trình bày những nội dung cơ bản về vấn đề con người trong lịch sử triết học Riêng vấn đề giải phóng con người, hiện nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách có

hệ thống, theo phương diện lịch sử

Về vấn đề con người và giải phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh: Trong lịch sử cách mạng Việt Nam đương đại, việc tổ chức học tập

và nghiên cứu tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã được triển khai từ rất sớm bằng nhiều hình thức phong phú khác nhau trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta như một yêu cầu khách quan của cuộc sống Song, chỉ đến những năm gần đây, trong hoàn cảnh thế giới có nhiều biến

Trang 11

động lớn, hệ thống chính trị – xã hội của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, xuất phát từ mục tiêu giữ vững ổn định tình hình kinh tế – xã hội của đất nước, trên cơ sở đổi mới tư duy do Đại hội Đảng lần thứ VI vạch ra, đặc biệt từ khi Đại hội Đảng lần thứ VII khẳng định:

“Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động” thì công tác giảng dạy và nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được đẩy mạnh Nhiều tác phẩm, nhiều công trình, nhiều bài viết có giá trị khoa học đã xuất hiện một cách khá phong phú, sinh động Các nhà khoa học đã nghiên cứu, tìm hiểu một cách khá toàn diện về tư tưởng Hồ Chí Minh Từ nguồn gốc hình thành đến nội dung tư tưởng của Người, từ lối sống, phong cách đến đạo đức của Người,… đều được nghiên cứu một cách sâu sắc với nhiều khía cạnh và cách tiếp cận khác nhau Đặc biệt, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người, cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu, phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau và cũng đã có nhiều tác phẩm, nhiều bài báo khoa học được công bố Tác giả

Thành Duy với tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2001) đã phân tích sâu sắc về mối quan hệ giữa văn hóa với việc xây dựng con người phát triển toàn diện; về nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người phát triển toàn diện; về đặc điểm, các giải pháp xây dựng con người phát triển toàn diện trong bối cảnh hiện nay

Trong luận án tiến sĩ triết học với đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện (Học viện Chính trị quốc gia, 2001), tác giả

Nguyễn Hữu Công đã phân tích cơ sở lý luận, nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người; những vấn đề đang đặt ra đối với thực tiễn phát triển con người hiện nay; việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Tác

Trang 12

giả PGS.TS.Lê Sỹ Thắng với tác phẩm: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996); Tác giả Thành Duy với bài viết: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách đối với con người (Tạp chí Lịch sử Đảng, tr 24-30, số 12 năm 2005)

Nội dung của các tác phẩm, bài viết này tập trung phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong mối quan hệ với các chính sách đối với con

người Trong tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người (Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005), các tác giả Phạm Ngọc Anh (chủ biên), Nguyễn Khánh Bật, Phạm Văn Bính đã trình bày bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành, phát triển và các đặc điểm nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người; những quan niệm và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người; sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay Tác giả Trần Văn Thức cũng đã bàn thêm tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

trong bài báo: Sự kế thừa và phát triển tư tưởng quyền dân tộc, quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh (Tạp chí Lịch

sử Đảng, tr 52-56, số 4 – 2006) Trong số ít tác phẩm trình bày vấn đề con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh với tính cách là một công trình chuyên

khảo, đáng chú ý nhất là tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002) của tác giả Lê Quang Hoan Nội dung của công trình này đã nêu khái quát ba vấn đề lớn: con người là vốn quý nhất, là yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của tiến trình cách mạng Việt Nam; xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa là một chiến lược cơ bản, lâu dài

ở Việt Nam Vận dụng phương pháp luận của triết học, tiếp cận đối tượng bằng phương pháp hoạt động – giá trị - nhân cách, tác phẩm đã chứng minh

sự thống nhất giữa tư tưởng về con người với nhân tố con người và phát

Trang 13

huy nhân tố con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, khi tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng con người, chưa có tác giả nào nghiên cứu và trình bày được một cách có hệ thống - lôgíc như là một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh Vấn đề giải phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, chỉ mới được các tác giả đề cập và phân tích một cách rời rạc, riêng lẻ trong các tác phẩm đã được công bố

Vấn đề giải phóng con người đặt trong mối quan hệ với giải phóng dân tộc cũng đã có nhiều tác giả đề cập đến nhưng chủ yếu nhấn mạnh đến đặc điểm sự hình thành tư tưởng, tính tất yếu, những điều kiện,… của cách

mạng giải phóng dân tộc như: Võ Nguyên Giáp (chủ biên) với tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); F Motoo: Hồ Chí Minh giải phóng dân tộc và đổi mới (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); tác giả Bùi Đình Phong với tác phẩm Giải phóng dân tộc và đổi mới dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004); Nguyễn Đình Thuận:

Sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc

1911 – 1945 (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002);… Nội dung cơ bản

có thể rút ra được từ các tác phẩm nói trên là: cách mạng giải phóng dân tộc chính là tiền đề cho việc giải phóng con người, đưa con người thoát khỏi tình trạng nô lệ, trở thành người làm chủ đất nước

Vấn đề giải phóng con người đặt trong mối quan hệ với đấu tranh giải phóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội có nhiều tác giả đề cập đến

như: Nguyễn Đức Đạt: Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005); Phạm Hồng Chương: Tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam (Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2003); Bùi Bá Linh: Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và

Trang 14

cách mạng xã hội (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005);…

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới cũng được nhiều

nhà khoa học nghiên cứu như tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

và con người của các tác giả Đặng Xuân Kỳ, Vũ Khiêu, Hoàng Chí Bảo,

Đỗ Huy (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005); Trần Quy Nhơn: Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, (Nxb Giáo dục, 2004); Phạm Quốc Thành: Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cho cán bộ đảng viên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004);…

Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng, vấn đề con người và giải phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã ít nhiều được các tác giả

đề cập đến trong các công trình nghiên cứu ở nhiều mức độ, khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay, cũng vẫn chưa có được công trình nào phân tích về vấn đề này một cách có hệ thống, sâu sắc và toàn diện Vì vậy,

chúng tôi chọn đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người” nhằm góp phần làm sáng tỏ hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn

đề con người và giải phóng con người nói riêng và tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

Mục đích của luận án là tập trung nghiên cứu làm rõ một cách có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người; trên cơ

sở đó đề xuất một số giải pháp thực hiện mục tiêu giải phóng con người ở nước ta hiện nay

Để đạt được mục đích nêu trên, luận án, thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Một là, trình bày khái quát về vấn đề con người và giải phóng con

người trong lịch sử tư tưởng nhân loại

Hai là, trình bày và phân tích làm rõ những nội dung cơ bản về vấn

Trang 15

đề con người và giải phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Ba là, từ những vấn đề trình bày trên, luận án rút ra những bài học

lịch sử của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người,

đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng con người ở nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh sâu sắc, phong phú, sinh động, phản ánh và có sự ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa tư tưởng trong xã hội Do đó, trong luận án này, chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu là, chỉ tập trung vào việc làm rõ vấn đề con người và giải phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề con người và giải phóng con người

Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản như: lôgíc – lịch sử, quy nạp – diễn dịch, phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh,… và một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể khác, để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của luận án

6 Cái mới của luận án

- Luận án đã trình bày khái quát những nội dung cơ bản về vấn đề con người và giải phóng con người trong lịch sử triết học

- Luận án đã trình bày, phân tích một cách có hệ thống và làm sáng

tỏ được những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

và giải phóng con người

- Luận án cũng đã tập trung nghiên cứu, lý giải và đề xuất được một

Trang 16

số giải pháp cơ bản có tính chất định hướng nhằm góp phần vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và giải phóng con người ở nước ta hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý luận:

Luận án đã góp phần nghiên cứu và hệ thống hoá tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người nói riêng Trên cơ sở đó, luận án đã chứng minh và khẳng định rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề giải phóng con người vào cách mạng Việt Nam một cách khoa học, sáng tạo và thành công

Ý nghĩa thực tiễn:

Kết quả nghiên cứu của luận án đã góp phần cung cấp cơ sở lý luận mang tính phương pháp luận trong việc giải quyết vấn đề giải phóng con người trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu về tư tưởng

Hồ Chí Minh và các lĩnh vực khoa học xã hội có nội dung liên quan đến vấn đề con người và giải phóng con người

Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để giáo dục truyền thống cách mạng, trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để phát huy tinh thần đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hiện nay

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm ba chương, chín tiết và in trong 209 trang luận án

Trang 17

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ CON NGƯỜI

VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

Trong lịch sử phát triển của triết học, vấn đề con người luôn được xem là một nội dung trung tâm của các trường phái triết học Bởi vì, xét cho đến cùng, thông qua việc giải quyết vấn đề về con người, các nhà triết học mới thể hiện được thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận của mình về thế giới khách quan, trong đó có vấn đề về giải phóng con người Toàn bộ các quan niệm về thế giới được triết học đưa ra đều nhằm xem xét bản chất chung của con người và xác định vị trí, vai trò của con người trong thế giới hiện thực, từ đó tìm ra con đường, cách thức để giải phóng con người Việc lý giải bản chất con người và tiến đến giải phóng con người trở thành nội dung cốt lõi, cơ bản và là mục tiêu chủ yếu của triết học trong mọi thời đại

Kế thừa sâu sắc tinh hoa của dân tộc và trí tuệ của thời đại mà đỉnh cao là tính nhân văn sâu sắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã hình thành nên những quan điểm phong phú, đa dạng về nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội như lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, lý luận về nhà nước, pháp luật, văn hóa, đạo đức,… Trong đó, tư tưởng của Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người là nội dung quan trọng nhất, thể hiện tư tưởng chủ đạo mang tính định hướng cho việc thể hiện thế giới quan của Người Việc nghiên cứu vấn đề con người và giải phóng con người trong lịch sử triết học là điều kiện cần thiết, để hiểu sâu sắc hơn cơ sở lý luận cũng như thấy

Trang 18

được sự kế thừa và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này

1.1 VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG

1.1.1 Vấn đề con người và giải phóng con người trong triết học

Ấn Độ

Ấn Độ là một trong những trung tâm triết học lâu đời và phong phú của nhân loại Nền văn minh sớm nhất của những tộc người Ấn cổ đại là nền văn minh sông Ấn xuất hiện từ khoảng 2.500 năm trước Công nguyên Giai đoạn văn minh rực rỡ nhất của triết học Ấn Độ là thời kỳ Veda (khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ VII trước Công nguyên) được phản ánh trong kinh Veda, bộ kinh thể hiện tri thức tổng hợp và tối cổ của văn hóa

Ấn Độ, trong đó có tư tưởng đặc sắc về vấn đề con người Tiếp theo thời kỳ Veda là thời kỳ Cổ điển hay thời kỳ Phật giáo, Bàlamôn giáo (từ thế kỷ VI trước Công nguyên đến thế kỷ X sau Công nguyên) Quá trình hình thành

và phát triển của tư tưởng triết học, tôn giáo Ấn Độ cổ - trung đại chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện sống và tính chất sinh hoạt của xã hội đương thời Đất nước Ấn Độ có địa hình và thời tiết đa dạng, có núi cao quanh năm tuyết phủ, có sa mạc khô cằn, có những vùng đồng bằng rộng phì nhiêu rộng lớn Đặc biệt là sự phân chia đẳng cấp nghiệt ngã, kết cấu xã hội – giai cấp phức tạp với sự thống trị về mặt tư tưởng của kinh Veda và tôn giáo Bàlamôn đã làm cho đời sống xã hội nặng nề, trì trệ, bảo thủ Do vậy,

tư tưởng triết học thời kỳ này phản ánh sâu sắc cuộc đấu tranh lâu dài chống sự phân biệt đẳng cấp, chế độ xã hội nô lệ mang nặng tính chất gia trưởng, chống lại uy thế của kinh Veda và tôn giáo Bàlamôn, đề cao bản chất, giá trị của con người, bảo vệ quyền sống của con người, giải phóng con người

Ở thời kỳ Veda (khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ VII trước Công

Trang 19

nguyên), tư tưởng của người Ấn Độ cổ đại chủ yếu được phản ánh tập trung trong các kinh Veda Veda là một khối lượng tác phẩm văn học được sáng tác trong khoảng thời gian trên dưới 2000 năm Bộ phận sớm nhất của Veda bao gồm 4 tập thánh kinh chủ yếu: Rig-Veda, Sama-Veda, Yajur-Veda và Atharva-Veda Dựa trên cơ sở của thế giới quan thần thoại, tôn giáo, các nhà tư tưởng đã bước đầu “giải thích vũ trụ vạn vật bằng biểu tượng các vị thần tự nhiên và sau đó là những tư tưởng triết lý trừu tượng,

lý giải nguyên lý của vũ trụ, giải thích bản chất, đời sống tâm linh của con người” [9; tr 59] Tư tưởng khái quát trong kinh Veda là giải thích vũ trụ, con người bằng biểu tượng các vị thần tự nhiên, gắn nguồn gốc, vị trí và số phận của con người với các vị thần Thần linh vừa có sức mạnh siêu việt, lại vừa mang nặng tính người với những đặc điểm của con người như thần linh cũng có chồng, có vợ, thần linh cũng có cả tính tốt và tính xấu, Thần linh tồn tại ở khắp nơi: thần Lửa Agni cai quản hạ giới, thần Gió Vaynu oai phong cai quản không trung, thần Mặt Trời Surya (có bốn vợ là: nữ thần tri thức, Hoàng hậu, nữ thần Ánh sáng và nữ thần Bóng tối) cai quan thiên giới, ngoài ra còn có thần Mặt Trăng Mosa, thần Nước Apas mạnh mẽ, thần Bão tố Rudra,… Nếu gạt đi yếu tố thần bí trong việc lý giải bản chất của vũ trụ, chúng ta có thể thấy rằng, thông qua việc miêu tả sức mạnh của các vị thần linh, nhân tố con người trong tư tưởng của người Ấn Độ cổ đại có đời sống phong phú, hoàn mỹ, sống động và cụ thể

Bộ phận xuất hiện muộn hơn kinh Veda là Bahmana, Aranyaka và Upanishad Đặc biệt, sự xuất hiện của Upanishad là một bước giải phóng

tư duy của người Ấn Độ cổ đại, đánh dấu bước chuyển từ thế giới quan thần thoại sang tư duy triết học Nếu như quan niệm về con người trong kinh Veda còn mang nặng dấu ấn thần thoại thì Upanishad muốn dùng lý trí để lý giải bản thể vũ trụ, bản tính con người, từ đó tìm ra nguyên nhân

Trang 20

của nỗi khổ và con đường, cách thức giải thoát con người khỏi sự rằng buộc của thế giới hữu hình Upanishad thừa nhận “tinh thần vũ trụ tối cao” Brahman, là thực tại đầu tiên, duy nhất, tuyệt đối chi phối vũ trụ, là nguyên nhân của tất cả mọi sự sống Khi “tinh thần vũ trụ tối cao Brahman” biểu hiện trong con người và chúng sinh thì đó chính là linh hồn cá nhân Atman Atman là linh hồn cá nhân bất diệt, là bộ phận của cái toàn bộ, tuyệt đối, tối cao Brahman Trong thế giới sáng tạo của Brahman, con người chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Con người dùng lý trí của mình để xem xét sự vật, tìm hiểu thế giới theo quy luật riêng của nó và từ

đó con người hòa nhập vào Brahman Khi nhận thức được Brahman, con người sẽ nhận thức được mọi cái còn lại và có thể giải thoát được linh hồn

ra khỏi sự ràng buộc của thể xác và mọi đau khổ của thế giới trần tục Do những cảm giác, ham muốn, dục vọng và những hành động nhằm thỏa mãn ham muốn của con người ở thế giới trần gian đã làm cho linh hồn bất

tử (Atman) bị giam hãm hết thể xác này đến thể xác khác, bị che lấp nên không nhận thức được chân bản của mình là Brahman Muốn giải thoát được linh hồn bất tử, con người phải dốc lòng tu luyện tri thức và tu luyện hành động Và chỉ có như vậy, con người mới nhận ra được chân bản của mình, khi đó linh hồn bất tử (Atman) đồng nhất với “linh hồn vũ trụ tối cao” (Brahman), con người được giải thoát Giải thoát là trạng thái tự do tuyệt đối, vượt qua mọi ảo ảnh, vượt qua mọi quan niệm sống chết, nhận thức được bản thể vũ trụ tối cao và chân bản tính của con người Con người thoát khỏi sự chi phối của quy luật nghiệp báo, luân hồi Như vậy,

tư tưởng của Upanishad đã cho thấy được mối quan hệ giữa đời sống tinh thần của con người với nguồn sống bất diệt của vũ trụ, từ đó chỉ ra con đường, cách thức giải thoát con người ra khỏi sự ràng buộc của thế giới sự vật, hiện tượng hữu hình, hữu hạn

Trang 21

Tiếp theo thời kỳ Veda là thời kỳ Cổ điển hay thời kỳ Phật giáo, Bàlamôn giáo (từ thế kỷ VI trước Công nguyên đến thế kỷ X sau Công nguyên) Triết học thời kỳ này được chia thành hai phái: chính thống và không chính thống, căn cứ vào việc thừa nhận hay không thừa nhận uy quyền tối cao của Veda cũng như vai trò của tinh thần sáng tạo vũ trụ tuyệt đối Brahman

Hệ thống triết học chính thống bao gồm sáu trường phái: Samkhya, Nyaya, Vaisesika, Mimansa, Yoga, Védanta Tư tưởng chung của sáu trường phái này đều thừa nhận Brahman là tinh thần vũ trụ tối cao, là thực thể tuyệt đối bất diệt, là bản chất sâu xa của mọi sự tồn tại Con người là một thực thể bao gồm thể xác và linh hồn (phái Mimansa, Vedanta, Yoga),

là sự kết hợp của bản nguyên vật chất và bản nguyên tinh thần (phái Samkhya), là những “linh hồn cụ thể” tồn tại bên cạnh “Linh hồn thế giới tối cao” duy nhất Từ đó, họ cho rằng, để giải thoát linh hồn ra khỏi sự ràng buộc của thể xác thì buộc con người phải tập trung thực hiện cho đúng mọi nghi thức của kinh Veda, phải dốc lòng tu luyện, chiêm nghiệm nội tâm, thực nghiệm tâm linh

Hệ thống triết học không chính thống bao gồm các trường phái: trường phái Jaina, Lokayata và Phật giáo Phủ nhận quan điểm của kinh Veda là con người do “Đấng sáng tạo tối cao” sáng tạo ra, trường phái Jaina cho rằng toàn bộ thế giới và con người do những chất liệu nguyên thủy tạo ra Đó là jiva và adjiva, hay còn gọi là linh hồn và tất cả những gì không phải linh hồn Linh hồn là một thực thể thuần khiết, tồn tại vĩnh viễn

và bất diệt cùng với vật chất Thế giới không có linh hồn duy nhất mà linh hồn được biểu hiện khác nhau, nó thâm nhập vào tất cả, hiểu biết tất cả, chi phối tất cả và truyền sinh lực cho tất cả Khác với trường phái Jaina, trường phái Lokayata cho rằng con người sinh ra là do tụ hợp của các nguyên tố

Trang 22

đất, nước, lửa, không khí Sinh mệnh, linh hồn, ý thức và cảm giác của con người chỉ xuất hiện khi bốn yếu tố trên kết hợp lại hay phân tán theo một cách thức đặc biệt Vì vậy, không thể có yếu tố linh hồn và con người không phải thờ cúng, hiến tế lễ cho bất kỳ một vị thần nào Quan điểm phủ nhận thần thánh, phủ nhận uy quyền của Brahman đối với sự sống còn được đặc biệt nhấn mạnh trong triết học Phật giáo

Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo, xuất hiện vào khoảng thế

kỷ thứ VI trước Công nguyên, là kết quả của sự phản ánh chế độ phân biệt đẳng cấp nghiệt ngã của xã hội đương thời Kinh điển của Phật giáo bao gồm 3 bộ phận (gọi là Tam tạng kinh): Tạng Kinh, Tạng Luật và Tạng Luận Tạng Kinh là bộ phận ghi lại những lời dạy của Phật thích ca; Tạng Luật là những điều quy định mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo; Tạng Luận là các tác phẩm luận giải về Phật giáo của các học giả cao tăng về sau Trong Tam tạng kinh, những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo về thế giới trong đó có quan điểm về con người và tư tưởng giải thoát con người được trình bày mang tính hệ thống, lôgic

Phật giáo phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế và thần sáng tạo Brahman Phật giáo cho rằng, thế giới là một dòng biến ảo vô thường, vô ngã, không có cái gì là trường tồn bất định, chỉ có sự vận động biến đổi không ngừng theo chu trình bất tận: sinh, trụ, dị, diệt Tất cả sự vật, hiện tượng trong thế giới đều chịu sự chi phối, tác động của luật nhân quả Thế giới xung quanh ta và cả con người, không phải do một vị thần thánh nào sáng tạo ra, mà được cấu thành bởi sự kết hợp của hai yếu tố là “sắc” và

“danh” Trong đó “sắc” là yếu tố vật chất, là cái có thể cảm giác được, nó bao gồm đất, nước, lửa, không khí Còn danh là yếu tố tinh thần, không có hình chất mà chỉ có tên gọi Nó bao gồm: thụ là cảm thụ; tưởng là sự suy nghĩ, tư tưởng; hành là ý muốn thúc đẩy hành động; thức là sự nhận thức

Trang 23

Chính cái “danh” và cái “sắc” đó kết hợp lại với nhau tạo thành “ngũ uẩn” Ngũ uẩn tác động qua lại tạo nên vạn vật và con người Nhưng sự tồn tại của sự vật chỉ là tạm thời, thoáng qua, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãi mãi Do đó, không có cái “Bản ngã” hay cái tôi chân thực

Theo Phật giáo, đời là bể khổ Đức Phật đã chỉ ra tám điều khổ mà chúng sinh mắc phải, đó là: sinh, lão, bệnh, tử, “ái biệt ly khổ”, “cầu bất đắc khổ”, “oán tăng hội khổ”, “ngũ ẩm thịnh khổ” Nguyên nhân mọi nỗi khổ của con người là “dục vọng” và “vô minh” Do “vô minh” nên người

ta lầm tưởng rằng cái gì cũng thường định, cái gì cũng là của ta nên có hành động chiếm đoạt, tạo ra nỗi khổ triền miên, lôi kéo con người mãi mãi phiêu bạt trong dòng luân hồi Muốn con người thoát khỏi khổ não, cảnh luân hồi sinh tử, đạt đến cõi Niết bàn thì phải diệt trừ dục vọng, xóa

vô minh, từ bỏ tham, sân, si Đức Phật chỉ ra con đường, cách thức để giải thoát nỗi khổ Đó là: con người phải có nhận thức đúng đắn, nhìn nhận rõ phải trái, không để những điều sai trái che lấp sự sáng suốt của mình (chính kiến); suy nghĩ đúng đắn để đạt tới chân lý (chính tư duy); hành động, làm việc đúng đắn, không làm những điều tàn bạo, gian dối (chính nghiệp); nói những điều đúng đắn, điều phải, điều tốt, không nói điều ác (chính ngữ); sống đúng đắn, trung thực, nhân nghĩa, không tham lam (chính mệnh); nỗ lực, phấn đấu vươn lên (chính tinh tiến); luôn tâm niệm, suy nghĩ đến đạo lý chân chính, đến điều tốt, không nghĩ đến điều xấu, tà đạo (chính niệm); kiên định, tập trung tư tưởng vào con đường, đạo lý chân chính (chính định)

Qua tư tưởng của Phật giáo về con người và giải thoát con người, chúng ta có thể thấy tính nhân bản, nhân văn sâu sắc Phật giáo là tiếng nói tiến bộ đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội, phủ nhận uy thế có tính truyền thống của kinh Vêda, Upanishad và giáo lý Bàlamôn Triết lý Phật

Trang 24

giáo không chỉ phản ánh mâu thuẫn gay gắt của chế độ xã hội đương thời

mà còn “quan tâm đến thân phận và đời sống của mỗi con người và chủ trương giải thoát cho tất cả chúng sinh khỏi những nỗi khổ của cuộc đời bằng tin tưởng vào đời sống đạo đức, từ bi, hỉ xả (tứ vô lượng tâm), bác ái

và sức mạnh của trí tuệ, huệ giác của chính con người”[10; tr 175] Tuy nhiên, Phật giáo không giải thích được cuộc đời con người là do chính con người tạo ra, không thấy được nguồn gốc xã hội của “bể khổ” cho nên Phật giáo chưa chỉ ra được con đường và biện pháp cải tạo xã hội đúng đắn để xóa bỏ tận gốc rễ sự đau khổ, bất công trong xã hội Ấn Độ đường thời Phật giáo khuyên con người chấp nhận số phận một cách thụ động, chiêm nghiệm trong thế giới nội tâm để giải thoát đau khổ, đạt đến cõi Niết bàn – một cõi đạt được hạnh phúc tối thượng, tuyệt đối thanh tịnh, một trạng thái giải thoát trong tư tưởng, tinh thần Phật giáo nêu lên tư tưởng giải phóng con người nhưng thực sự lại không giải phóng được số phận của con người

trong đời sống hiện thực

Như vậy, tư tưởng về con người và giải phóng con người trong triết học Ấn Độ cổ - trung đại đã có sự phát triển sâu sắc, phong phú Một mặt, các quan điểm triết học thời kỳ này phản ánh tính chất kiên cố của chế độ công xã nông thôn với nền kinh tế tự nhiên tự cung, tự cấp, đời sống phát triển trì trệ với chế độ phân biệt đẳng cấp hết sức khắc nghiệt Mọi quyền lợi, địa vị xã hội đều nằm trong tay giai cấp quý tộc, tăng lữ Các đẳng cấp khác như tiện dân, nô lệ thì bị khinh miệt và đói khổ Mặt khác, tư tưởng về con người và giải phóng con người thời kỳ này đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của kinh Veda và các giáo lý tôn giáo cho nên không tránh khỏi chủ nghĩa duy tâm, thần bí Trên cơ sở phản ánh thực tiễn sinh động của đời sống kinh tế -

xã hội đương thời, nội dung chính trong hệ thống quan niệm về con người

của tất cả các trường phái triết học Ấn Độ cổ - trung đại là lý giải bản chất

Trang 25

đời sống tâm linh và con đường giải thoát con người khỏi “bể khổ”, khỏi sự ràng buộc của thế giới trần tục Con người là điểm xuất phát, “giải thoát” là

mục đích cao nhất và cuối cùng của triết học Ấn Độ cổ - trung đại

1.1.2 Vấn đề con người và giải phóng con người trong triết học Trung Quốc

Triết học Trung Quốc cổ đại hình thành từ cuối thiên niên kỷ thứ II, đầu thiên niên kỷ thứ I trước Công nguyên và phát triển rực rỡ nhất vào thời Xuân thu – Chiến quốc (từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ III trước Công nguyên) Đây là thời kỳ xã hội Trung Hoa có những biến động lịch

sử hết sức sâu sắc Nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu tiên của xã hội có giai cấp ở Trung Quốc xuất hiện Đến thế kỷ VIII trước Công nguyên, nền sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và kinh tế thương nghiệp có bước phát triển mạnh mẽ đã dẫn đến sự phát triển đa dạng trong kết cấu giai tầng của

xã hội Mâu thuẫn giữa tầng lớp địa chủ mới lên không được tham gia chính quyền với giai cấp thị tộc cũ đang nắm chính quyền ngày càng gay gắt Mâu thuẫn này đòi hỏi phải xóa bỏ chế độ nô lệ thị tộc, nhà nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến, mở đường cho sản xuất phát triển Sự biến động của kinh tế - xã hội đã quy định sự biến đổi của lĩnh vực tư tưởng Trong xã hội xuất hiện những trung tâm, những tụ điểm

mà ở đó các nhà tư tưởng với lập trường giai cấp khác nhau bàn luận, tranh luận, phê phán, đả kích xã hội đương thời Lịch sử gọi thời kỳ này là thời

kỳ “Bách gia chư tử” (trăm nhà trăm thầy), “Bách gia tranh minh” (trăm nhà đua tiếng) Trong thời kỳ “tranh minh” đó đã xuất hiện những tư tưởng

vĩ đại mà có nội dung cơ bản là “lấy quan hệ con người với con người, con người với cộng đồng nói chung làm điểm xuất phát và nhằm cuối cùng là

ổn định, điều hòa mối quan hệ đó”[125; tr 31] Nghiên cứu những tư tưởng chung về con người và giải phóng con người giai đoạn Trung Hoa cổ đại sẽ

Trang 26

giúp chúng ta thấy rõ nội dung cơ bản trên

Về nguồn gốc con người: đặc điểm nổi bật trong triết học Trung Hoa

cổ đại về nguồn gốc của vạn vật và con người là quan niệm về đạo biến hóa của trời đất, sự tương tác chuyển hóa giữa hai thế lực căn bản của vũ trụ là

“lý” – “khí”, “âm” – “dương”; mối quan hệ giữa trời và người,… Đây cũng

là một trong những vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học giai đoạn này Người sáng lập ra trường phái triết học Nho gia là Khổng Tử (tên là Khâu, tự Trọng Ni, 551 – 479 trước Công nguyên) Một mặt, Khổng Tử thừa nhận, vạn vật trong thế giới luôn luôn tự vận động, biến hóa theo đạo của nó, con người và vạn vật trong vũ trụ đều là kết quả của sự tương tác giữa “lý” và “khí”, giữa “âm” và “dương” tạo thành “Đạo” là sức mạnh vô hình, mạnh mẽ, giữ cho “âm” – “dương” trung hòa, để vạn vật không ngừng sinh ra “Đạo” là mầu nhiệm định phép sống cho vạn vật, con người Khổng Tử cho rằng, mỗi cá nhân, sự sống – chết, phú quý hay nghèo hèn là do “thiên mệnh” quy định Tuy nhiên, Khổng Tử không đồng ý quan điểm cho rằng con người buông xuôi, bỏ mặc cho “thiên mệnh” Ông đề cao vai trò của con người, sự nỗ lực cố gắng học tập, làm việc của mỗi người Nếu mỗi người cố gắng rồi mà vẫn thất bại thì lúc đó mới tại Trời

Tiếp tục bảo vệ và phát triển tư tưởng triết học, chính trị đạo đức của Khổng Tử là Mạnh Tử Mạnh Tử tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư (372 – 289 trước Công nguyên) Trong quá trình chống lại các trường phái triết học khác thời Xuân thu, nhằm kế thừa và phát triển tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử đã xây dựng nên học thuyết chính trị - xã hội của mình, trong đó

có quan điểm về con người và giải phóng con người Mạnh Tử cho rằng, trong con người, cùng với phần tinh thần (“tâm” và “tính”), còn có phần

“khí” “Khí” lưu hành khắp vũ trụ, ngưng tụ lại thành hình nên mới có vạn

Trang 27

vật và con người Nhờ có khí lưu hành trong cơ thể mà con người mới có

sự sinh trưởng “Khí” không tách rời “tâm” mà thống nhất làm thành cơ thể sống “Tâm” và “khí” phải giữ được điều hòa thì con người mới tồn tại và sinh trưởng Bản tính con người là thiện nhưng vì đắm đuối và vật dục nên cái tâm mờ tối đi, không còn giữ được cái bản nhiên sáng suốt, bỏ mất cái mầm thiện trong tâm mình nên tính mới trở thành bất thiện Vậy nên, để giữ gìn, không làm tổn hại đến thiên tâm, thiên tính Trời phú cho, con người phải tồn tâm dưỡng tính, ý chí con người giúp con người chi phối khí đến mức khí có thể mạnh lên, hòa được với trời đất

Người tiếp tục phát triển truyền thống trọng nhân, lễ, nghĩa, nhạc của Nho gia ở cuối thời kỳ Chiến quốc là Tuân Tử (313-238 trước Công nguyên) Theo Tuân Tử, đạo trời chi phối mọi sự vận động, biến hóa của vạn vật Ông xem “khí” là yếu tố vật chất cấu tạo nên vạn vật Tự nhiên và quy luật biến hóa của nó không thể thay đổi theo ý muốn chủ quan của con người Tuân Tử cho rằng, con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên, nếu con người hành động theo trật tự của giới tự nhiên thì sẽ hạnh phúc, ngược lại thì sẽ gặp tai họa Ông khuyên con người không nên chờ đợi sự ban phát của tự nhiên một cách bị động, bỏ thói quen ỷ lại và lệ thuộc vào giới tự nhiên Con người biết làm chủ mình, tự tin với bản thân, ra sức lao động, giữ gìn thân thể khỏe mạnh, ăn ở điều độ thì trời sẽ không để cho con người nghèo khổ, ốm đau bệnh tật Ông đề cao vị trí, vai trò của con người trong thế giới Do đạo trời luôn diễn ra theo lẽ tự nhiên nhất định, không liên quan

gì đến đạo người nên tự nhiên và quy luật biến hóa của nó không thể thay đổi theo ý muốn chủ quan của con người được Tuân Tử khẳng định, trời không thể quyết định vận mệnh của con người Không có lực lượng thần bí, siêu nhiên nào chi phối đời sống con người Cuộc sống của con người là do chính con người chứ không phải tại trời Con người không nên ỷ lại vào giới

Trang 28

tự nhiên, chờ đợi sự ban phát của tự nhiên mà phải ra sức sản xuất, cải biến hiện thực và chú trọng đến giáo hóa, lễ nghĩa Tuân Tử cho rằng tình cảm, dục vọng, khí quan cảm giác và tư duy đều là đặc điểm của con người Hình thể con người có trước, sau đó mới sinh ra ý thức, tinh thần

Chống lại thuyết “Thiên mệnh” của Khổng Tử, Mặc Tử (479 – 381 trước Công nguyên) cho rằng không hề có số mệnh quyết định và chi phối con người Hành vi của chính con người gây nên họa phúc, thành bại trong cuộc sống của họ Nếu con người nỗ lực làm việc, tiết kiệm tiền của thì có thể làm cho cuộc sống đầy đủ và no ấm Nếu con người không gắng sức làm việc thì sẽ nghèo đói Nhưng Mặc Tử lại thừa nhận ý chí của Trời, cho rằng Trời xoay vần bốn mùa sinh ra các tiết, tạo ra hoa lá, cỏ cây, sản vật và con người Cùng với Trời, quỷ thần là một thế lực thiêng liêng, giám sát chặt chẽ mọi hành vi con người Vì vậy, theo Mặc Tử, tuy con người không có số mệnh nhưng ý chí công minh của Trời và quỷ thần là khuân phép, mực thước cao nhất của hành vi con người Nếu thuận theo ý Trời và quỷ thần con người sẽ được giàu sang, trường thọ Nếu trái ý Trời và quỷ thần con người sẽ bị Trời khiến cho sống không được trọn đời Để thuận theo ý Trời, con người phải thực hành “Kiêm ái”, nghĩa là yêu thương mọi người như nhau, không phân biệt giàu - nghèo, thân - sơ,… “Kiêm ái” là nhân nghĩa, là gốc của mọi đức con người và khi thực hiện được thì “sẽ làm cho đạo đức, luân lý xã hội trở nên tốt đẹp và người ta có thể đạt được tất cả những phẩm chất đạo đức khác như huệ, trung, từ, hiến, kính, đễ,… người người no đủ, nhà nhà hạnh phúc, quốc gia yên lành, thiên hạ bình trị” [111; tr 411-412]

Nhà triết học nổi tiếng với học thuyết về “đạo” ở Trung Quốc cổ đại, người sáng lập ra trường phái triết Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ thứ

VI trước Công nguyên) Trong hệ thống triết học của Lão Tử, học thuyết về

“đạo” là nền tảng, chi phối các các vấn đề trong triết học của ông Theo

Trang 29

Lão Tử, “đạo” là bản nguyên của thế giới, sinh ra thế giới “Đạo” là quy luật chung nhất của vạn vật, độc lập với ý muốn của con người Toàn bộ thế giới vũ trụ do sự chi phối của “đạo” luôn luôn vận động, biến hóa không ngừng Đây là quy luật nghiêm ngặt, không có sự vật nào có thể tồn tại mà đứng ngoài quy luật đó, kể cả trời đất và thần linh Lão Tử không thừa nhận sự biến hóa của thế giới tuân theo mục đích sẵn có của thế lực siêu tự nhiên nào đó Ông cho rằng con người là một bộ phận của giới tự

nhiên, nương tựa vào quy luật tự nhiên để hành động hợp theo lẽ tự nhiên

Kế thừa và phát triển quan điểm duy vật của Lão Tử và Tuân Tử về thế giới, đại biểu triết học xuất sắc nhất của trường phái Pháp gia là Hàn Phi Tử cho rằng, “đạo” là nguồn gốc của mọi vật, là quy luật phổ biến, không thay đổi “Lý” là quy luật riêng, là cái bộc lộ ra của “đạo” nên biến hóa không ngừng Con người phải hoạt động theo quy luật của “đạo” và

tuân theo “lý”

Về bản tính con người: các nhà triết học Trung Quốc cổ đại rất quan

tâm đến bản tính của con người với mục đích giáo hóa con người và nhằm cải biến xã hội loạn lạc đương thời Về cơ bản, các nhà triết học thời kỳ này coi bản tính con người là biểu hiện của cái thiện hoặc cái ác, của tính trời hay tính thuộc về nhân tâm,… Sau khi xác định bản tính con người, các nhà triết học đưa ra các nội dung để giáo hóa con người và tìm các hình mẫu cho con người lý tưởng, xác định cách ứng xử của con người (với tự nhiên

và xã hội) Với thế giới quan khác nhau nên quan niệm về bản tính con người trong triết học thời kỳ này cũng hết sức phong phú

Theo Khổng Tử, bản tính của con người là tính tự nhiên do trời phú, sinh ra đã có Đó là bản tính hiền lành, ngay thẳng, được thể hiện trong các phạm trù đạo đức như nhân, nghĩa, lễ, trí, dũng,… Trong đó, phạm trù nhân

là nội dung bản chất nhất trong bản tính con người Tùy theo trình độ và

Trang 30

hoàn cảnh của mỗi người mà Khổng Tử diễn đạt, giảng giải về chữ nhân một cách khác nhau Nhân là lòng thương người, là lòng rộng lượng Nhân còn có thể được hiểu là đức hoàn thiện của con người, là đạo làm người Đạo sống của con người được Khổng Tử khái quát thành hai mặt không tách rời nhau: sống với mình và sống với người Sống với mình và sống với người thì phải thành tâm, tình cảm chân thực, cái gì mình không muốn thì đừng đem thi hành cho người khác, mình muốn thành đạt thì cùng giúp người khác thành đạt Con người có phẩm chất can đảm, chất phác, thật thà

là gần với đức nhân Người thực hiện được nhân là người thực hiện được nghĩa Theo Khổng Tử, nghĩa là việc phải làm theo bổn phận, dù trong bất

kỳ hoàn cảnh nào Người đạt được đức nhân nghĩa là người có trí và dũng Trí chính là tri thức, là sự hiểu biết sáng suốt về đạo lý, biết phân biệt phải trái, biết xét đoán sự việc Nếu không có trí sáng suốt thì chẳng những không giúp được mình mà còn làm hại đến thân mình Cùng với trí, người muốn đạt được nhân thì cần phải có dũng nữa Người có dũng là người có ý chí quả cảm, kiên cường, hành động xả thân vì nhân nghĩa; đối lập với kẻ ỷ vào bạo lực, hành động bất chấp đạo lý Người có trí, có dũng chưa chắc đã

có nhân, nhưng người có nhân thì ắt phải có trí và có dũng Như vậy, người

có đức nhân – trí - dũng là những người có chí khí, luôn giữ vững nhân cách, không nao núng, sợ sệt, không ngả nghiêng xa rời đạo lý

Mạnh Tử cho rằng “bản tính con người là thiện” Con người ta ai cũng có lòng trắc ẩn (biết xót thương), lòng tu ố (biết hổ thẹn), lòng từ nhượng (biết cung kính) và lòng thị phi (biết phải trái) Đó là bốn đầu mối của thiện, gọi là “tứ đoan” mà Trời phú cho con người Đã là con người thì

ai ai cũng đều có chung cái mầm thiện vốn có và cũng đều có các quan năng do Trời phú cho mỗi người để nhận biết, phân biệt phải trái, tốt xấu như nhau vì tính thiện là cái chung, cái bản chất cả mỗi loài Tính thiện của

Trang 31

con người ta đều bắt đầu từ “tâm” của mỗi người “Tâm” là cái chủ thể trong tinh thần, là cái thần linh Trời phú cho ta, là cơ quan để suy nghĩ, phân biệt phải - trái, thiện - ác và để ứng phó đối với vạn sự, nên còn gọi là lương tâm Tâm ta tỏ là nhờ có “lương năng” (cái người ta sinh ra không cần học cũng hay) và “lương tri” (cái người ta sinh ra không cần suy nghĩ

mà biết) mà tự biết được nhân, nghĩa, lễ, trí

Tuân Tử lại cho rằng, một mặt con người vốn “tính ác”, hành vi đạo đức của con người do thói quen mà thành, mặt khác bản tính con người có thể cải hóa được bằng giáo dục lễ nghĩa

Hàn Phi Tử quan niệm bản tính con người là ác Con người sinh ra

đã vốn tham dục, vị lợi Do vậy, muốn trị dân, trị nước thì không thể lấy giáo dục, lễ nghĩa làm trọng mà phải đề cao pháp luật,…

Dù các nhà triết học có các quan niệm khác nhau về bản tính con người và các phương pháp giáo hóa con người nhưng tất cả các quan niệm

và phương pháp đó đều mang tính nhân văn, tăng cường tính thiện, đẩy lùi tính ác của con người, hướng tới xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn vì con người

Về vấn đề nhận thức của con người: các nhà triết học Trung Quốc

cổ đại đề cao vai trò nhận thức của tư duy trực giác Các nhà triết học đều xem sự cảm nhận và thể nghiệm là con đường đúng đắn để đi đến nhận thức cái bản thể siêu hình, trừu tượng Theo Khổng Tử, trí là tri thức, là hiểu biết, là sáng suốt Nếu không có trí sáng suốt thì chẳng những không giúp gì mình mà còn hại đến bản thân Do tin vào “thiên mệnh” nên Khổng Tử tin vào tri thức tiên thiên Mặt khác, Ông lại cho rằng, trí không phải tự nhiên mà có, nó chỉ được hình thành qua quá trình tu dưỡng, rèn luyện Từ đó, Khổng Tử xác định những cách thức để giáo dục con người với các phương pháp phong phú, đặc sắc như: phương pháp gợi

Trang 32

mở, đối thoại, học đi đôi với hành, “ôn cũ biết mới”,… Theo Khổng Tử, phương pháp gợi mở, đối thoại giữa thầy và trò sẽ giúp người học phát huy được tính năng động chủ quan, tính độc lập sáng tạo Ông luôn yêu cầu người học phải có óc quan sát tinh tường, biết suy luận trên cơ sở những điều đã biết Khổng Tử phản đối cách nói suông, học suông Ông đòi hỏi người học phải kết hợp việc học với việc tự đào sâu suy nghĩ, học kết hợp với hành, nói đi đôi với làm,… Đặc biệt, người học không được giấu dốt, tự phụ, tự mãn Người học muốn tiến bộ thì phải có thái độ khách quan, không được võ đoán, cố chấp,… Đây chính là phần lý luận có giá trị quý báu của tư tưởng của Khổng Tử về con người và giải phóng con người

Tuân Tử đề cao vai trò tích cực của con người trong hoạt động nhận thức và cải biến hiện thực Con người có khả năng nhận thức sự vật bên ngoài và có thể biết được quy luật của sự vật khách quan Mỗi cơ quan cảm giác đều có khả năng nhận thức được sự vật bên ngoài khi chúng tác động vào giác quan con người Muốn nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về sự vật, con người phải dựa vào hoạt động của tư duy, đó là “tâm” Tâm có thể điều khiển được các quan năng, có thể tổng hợp, phân tích, trừu tượng hóa, khái quát hóa và so sánh – gọi là khả năng “trưng tri” “Tâm” là chủ thể tinh thần trong con người Theo Tuân Tử, tình cảm, dục vọng, tư duy con người đều là những hiện tượng tự nhiên Không có lực lượng thần bí, siêu nhiên nào chi phối đời sống tinh thần của con người Đây là quan điểm rất tiến bộ của Tuân Tử, vượt qua những quan điểm duy tâm thần bí về con người

Quan điểm về con người trong các mối quan hệ chính trị - xã hội,

được các tư tưởng triết học thời kỳ này phản ánh sâu sắc bối cảnh kinh tế -

tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng Các cuộc chiến tranh tàn

Trang 33

khốc, thôn tính lẫn nhau giữa các nước đã làm cho mâu thuẫn trong xã hội ngày càng gay gắt, người dân phải chịu cảnh cùng cực Tình trạng lễ nghĩa, cương thường đảo lộn, đạo đức suy đồi thời Xuân thu diễn ra phức tạp Trước bối cảnh đó, các nhà triết học có những lý giải khác nhau và cố gắng tìm mô hình hành động lý tưởng để con người ứng xử, giải thoát khỏi tình hình xã hội như vậy Khổng Tử cho rằng mỗi con người sinh ra đều có một địa vị, công dụng nhất định Ứng với mỗi công dụng, địa vị ấy là một

“danh” nhất định Nếu “danh” hợp với “thực” gọi là “chính danh” Ngược lại, “danh” không hợp với “thực” là “loạn danh” Vận dụng thuyết “chính danh” để lý giải các vấn đề trong xã hội, Khổng Tử cho rằng xã hội loạn lạc

là do “loạn danh”, vua không ra vua, tôi không ra tôi, con không làm đúng đạo con, trật tự lễ nghĩa bị xáo trộn Để giải phóng con người, giữ được ổn định xã hội thì tất yếu phải sửa mình cho “chính danh” Khi đó, lời nói sẽ đúng đắn, mọi việc sẽ “ngay thẳng”, lễ nghĩa được duy trì

Mặc Tử cho rằng chỉ có học thuyết “Kiêm ái” của ông mới là phương thức để cứu xã hội khỏi cảnh chết chóc, đói khổ “Kiêm ái” không chỉ là ý chí của trời mà còn là đạo lý của thánh nhân, không “Kiêm ái” thì thiên hạ loạn, có “Kiêm ái” thì thiên hạ trị Nếu thực hiện được “Kiêm ái” thì đạo đức, luân lý xã hội sẽ trở nên tốt đẹp, người người no đủ, quốc gia yên lành

Từ quan điểm về “đạo”, Lão Tử đưa ra quan niệm hết sức đặc sắc của mình về đạo đức nhân sinh và chính trị xã hội thông qua học thuyết “vô vi” Theo Lão Tử, “vô vi” không có nghĩa là không làm gì mà là hoạt động theo lẽ tự nhiên, không can thiệp vào guồng máy tự nhiên, không hoạt động một cách giả tạo, gò ép “Vô vi” không chỉ là sống theo lẽ tự nhiên, không ham muốn, dục vọng mà còn không cần đến cả tri thức, văn hóa và tiến bộ

xã hội Ông cho rằng hiểu biết nhiều thì sinh ra ham muốn dẫn đến tranh

Trang 34

đoạt, xâm phạm lẫn nhau, trái với đạo tự nhiên Do vậy, ông chống lại sự

áp đặt của các chuẩn mực đạo đức, pháp luật và coi đó là sự can thiệp cưỡng chế vào bản tính tự nhiên của con người Bản thân mình cũng không nên quý và lo lắng cho nó, có thân mà coi như chẳng có, cứ tự nhiên thanh thản, không phải lo nghĩ gì Được như vậy, con người đã vươn tới chân thiện, là người bước vào vương quốc của giấc mơ Lão Tử đòi hỏi giai cấp thống trị phải tuân theo quy luật tự nhiên, không được can thiệp vào đời sống tự nhiên của con người Giai cấp thống trị cần tôn trọng bản tính, khả năng, sở thích tự nhiên của mỗi người, khuyến khích mọi người làm những việc cần phải làm một cách tự nhiên Ông coi chiến tranh là trái với đạo tự nhiên, là đại họa cho xã hội Không có vinh hay nhục khi thắng hoặc bại trong chiến tranh Chiến tranh chỉ gây chết chóc, đau khổ cho con người, ảnh hưởng lâu dài đến xã hội Như vậy, theo Lão Tử, con người chỉ được giải phóng khi được sống và làm việc theo lẽ tự nhiên, sống hòa hợp với tự nhiên, không phô trương, không thái quá Con người cần thấu suốt mọi lẽ của tự nhiên và cần có tâm hồn trong sáng, chất phác và vô tội

Trên cơ sở luận điểm cho rằng bản chất con người là “ích kỷ”, là

“ham mê lợi ích”, Hàn Phi Tử đưa ra tư tưởng pháp trị Theo ông, muốn trị nước, yên dân thì phải lấy pháp luật làm trọng Ông cho rằng, “pháp”,

“thế”, “thuật” là ba yếu tố thống nhất không tách rời trong pháp trị Ba yếu

tố này là tiêu chuẩn điều chỉnh hành vi của con người, duy trì trật tự xã hội

Tóm lại, trong triết học Trung Quốc cổ đại, các nhà triết học bằng

nhiều cách khác nhau đều quan tâm đến con người, bản tính con người, luôn đề cao tính nhân văn và khẳng định các giá trị tích cực của con người Con người được xem xét trong các mối quan hệ với tự nhiên và xã hội, qua

đó đề cao vai trò con người nhưng không tuyệt đối hóa con người Các triết gia Trung Hoa cổ đại khi bàn đến con người, chủ yếu chỉ chú trọng đến

Trang 35

con người cá nhân, đến phẩm chất tinh thần, ý thức đạo đức của con người Các trào lưu tư tưởng đã đưa ra nhiều cách thức khác nhau để giáo

hóa con người như “tu thân”, “chính danh” của Nho gia; “kiêm ái” của Mặc gia, dùng pháp luật của Pháp gia, Việc hoàn thiện, giáo hóa con người được thể hiện khá phong phú nhưng đều quy vào những mẫu người lý tưởng như “quân tử”, “đấng trượng phu”, “thánh nhân”, “chân nhân”, “trí nhân”, Do hạn chế lịch sử, lập trường giai cấp cho nên các nhà triết học thời kỳ này chưa thực sự quan tâm đến người dân lao động, chưa tìm cách giải phóng con người hiện thực một cách hữu hiệu và triệt để Những phương pháp hoàn thiện con người lại ràng buộc con người vào trật tự, các chuẩn mực và thể chế xã hội đó Tuy nhiên, có thể thấy rằng, con người

luôn là trung tâm và mục tiêu nhận thức trong triết học Trung Quốc cổ đại

1.2 VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

1.2.1 Tư tưởng về con người và giải phóng con người trong triết học phương Tây thời kỳ Cổ - Trung đại

Triết học phương Tây cổ đại xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ IX đến thế kỷ thứ VII trước Công nguyên, trong bối cảnh mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô và nô lệ ngày càng gay gắt Giai cấp chủ nô dùng bạo lực đàn áp nô

lệ, coi nô lệ là một thứ hàng hóa đặc biệt để mua bán, trao đổi Nhiều cuộc khởi nghĩa của nô lệ chống lại sự áp bức của giai cấp chủ nô liên tiếp nổ ra Thực tiễn cuộc sống đã quy định nội dung và xu hướng phát triển của triết học, trong đó có quan điểm về con người Ngay từ khi mới ra đời, triết học

đã đặt con người là một trong những vấn đề trung tâm để xem xét Cùng với việc lý giải về nguồn gốc, số phận, nỗi khổ đau, hạnh phúc, của con người, nhiều nhà tư tưởng thời kỳ này muốn tìm ra con đường để giải thoát khỏi những mâu thuẫn giai cấp và chỉ ra phương hướng và biện pháp để

Trang 36

thực hiện những khát vọng về một cuộc sống hạnh phúc

Những đại biểu đầu tiên của chủ nghĩa duy vật cổ đại là các nhà triết học tự nhiên Các nhà triết học thời kỳ này đã xem xét con người trong sự tồn tại thực tế và coi con người như là một bộ phận cấu thành của tồn tại nói chung của thế giới Theo họ thì con người cũng giống như mọi sự vật khác đều bắt nguồn từ một bản nguyên vật chất xác định như nước (theo Talét), hoặc không khí (theo Anaximen), hoặc lửa (theo Hêraclit) hoặc từ một bản nguyên vật chất không xác định như apâyrôn (theo Anaximanđrơ) Xênôfan thì cho rằng con người sinh ra từ hai bản nguyên là đất và nước, còn Zênông thì lại khái niệm hai bản nguyên đó là lửa và đất Con người được hòa đồng vào chỉnh thể thống nhất là vũ trụ và không có sự tha hóa con người ra khỏi tự nhiên Khái niệm “vũ trụ” ở những người thuộc trường phái Milê chỉ có nghĩa là con người, là xã hội Thần thánh cũng bắt nguồn từ vật chất như không khí (theo Anaximen) hoặc thần thánh và vũ trụ cũng là một (theo Hêraclit) Xênôphan, người đứng đầu trường phái Êlê, coi thần thánh chỉ là bản thân thế giới, là biểu tượng của con người vì thần thánh cũng như con người, có thói hư tật xấu như con người Nhà triết học Pitago thì đề cao quyền lực tối cao của thần thánh Sau thần thánh là các nhà hoạt động chính trị, xã hội rồi đến bố mẹ Con người phải tuân thủ theo sức mạnh của thần thánh tối cao Theo ông, linh hồn là bất tử, nó tạm trú vào cơ thể hữu tử và sau khi sinh vật chết đi thì linh hồn chuyển nhập vào một cơ thể khác để thực hiện một cuộc tái sinh

Thời kỳ hưng thịnh của xã hội Hy Lạp cổ đại cũng là thời kỳ mà chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm cổ đại phát triển đến đỉnh cao với những đại biểu tiêu biểu nhất là Đêmôcrit và Platôn Vấn đề con người mà triết học

đề cập đến cũng đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với thời kỳ trước

Đêmôcrit cho rằng, tất cả các sự vật đều được cấu tạo từ các nguyên

Trang 37

tử và khoảng không Linh hồn của con người cũng được cấu tạo từ nguyên

tử Nguyên tử linh hồn rất nhỏ, có hình cầu, giống như nguyên tử của lửa, nhẹ và vận động với tốc độ lớn, do đó làm cho cơ thể vận động Con người không phải do thần thánh tạo ra mà là kết quả của quá trình biến đổi của tự nhiên Đêmôcrit cho rằng, sự sống bắt nguồn từ những vật thể ẩm ướt Những sinh vật đầu tiên sống dưới nước là những cơ thể có cấu trúc hết sức đơn giản, tiến dần thành sinh vật có vú sống trên cạn Quá trình phát triển lâu dài làm cho chúng có tay, có chân, có mắt, có tai Trong đó, con người

là sinh vật hoàn thiện nhất Do nhu cầu của cuộc sống, con người dần dần phát triển, hình thành tiếng nói, ngôn ngữ, biết dùng lửa, dự trữ thức ăn Nhu cầu là cơ sở phát triển của văn hóa, xã hội

Platôn đã phát triển chủ nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại lên đến đỉnh cao và ông trở thành đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm cổ đại Theo ông thì tự nhiên chỉ là thế giới của những vật cảm tính không ngừng nảy sinh và mất đi Tất cả sự vật đều bắt nguồn từ cái thế giới vĩnh cửu, bất biến, bất động của những bản chất tinh thần, những ý niệm Đấy mới là “tồn tại chân chính” Những vật thể cảm tính chỉ là cái bóng của ý niệm, là sự hỗn hợp của tồn tại và hư vô (vật chất), là những dấu vết mờ nhạt của những ý niệm siêu cảm Phát triển quan niệm của Pitago về sự bất tử của linh hồn, Platôn cho rằng thân thể của con người chỉ là cái nhà tù của linh hồn, ở đấy linh hồn có thể nhớ lại thời kỳ mà nó chưa nhập vào thân thể, thời

kỳ ở trong thế giới các ý niệm Sau khi con người chết đi, linh hồn bất tử được giải thoát khỏi sự giam hãm trong cái thân thể chết của con người để trở về với thế giới ý niệm Điều đó có nghĩa là chết không phải là chấm hết Chết chỉ là sự chấm dứt hiện hữu của một thân xác, là sự hóa thân để linh hồn trở về với con người của nó, chờ sự luân hồi tiếp theo Platôn cho rằng linh hồn có ba thành phần tương ứng với tính cách khác nhau của các hạng

Trang 38

người trong xã hội Sự ưu trội của các tỷ lệ trong ba thành phần linh hồn là căn cứ phân định thành các giai tầng khác nhau Đó là tầng lớp của những người tinh túy gồm các nhà triết học và các nhà thông thái; những người chiến binh giữ gìn trật tự, an ninh; những người có bổn phận làm ra của cải

để nuôi sống mình và những người khác Trong xã hội không thể có công bằng tuyệt đối giữa các giai tầng Duy trì sự khác nhau về địa vị xã hội là cần thiết Xã hội phải do những người quý tộc cai trị Hơn nữa, Platôn cho rằng chỉ có giới chủ nô quý tộc mới có được đời sống đạo đức, vì đó là những người ưu tú nhất Còn đối với nô lệ, Platôn không công nhận họ là con người

vì ở họ hoàn toàn không có đời sống đạo đức

Triết học Hy Lạp cổ đại đến thời Arixtốt mới phát triển đến mức cao nhất Arixtốt quan niệm linh hồn là cái gắn liền với sinh vật: ở thực vật có linh hồn thực vật, ở động vật có linh hồn cảm tính, ở con người có linh hồn

lý tính Arixtốt cho rằng số phận của con người đã được an bài từ trước – người này sinh ra để làm chủ nô, kẻ khác thì làm nô lệ Chủ nô mới là

“động vật chính trị”, “động vật xã hội”, còn nô lệ chỉ là những “công cụ biết nói” Quan hệ giữa chủ nô và nô lệ giống như linh hồn với cơ thể, linh hồn thống trị và chỉ huy cơ thể Để bênh vực giai cấp quí tộc chủ nô, ông kiên quyết phản đối sự nổi dậy của những người nô lệ Nô lệ không có khả năng sống, chỉ có dân tự do mới có thể có được đời sống đạo đức, mức độ đạo đức là tương xứng với mức độ của cải Theo Arixtốt, con người là một sinh vật xã hội, sống thành cộng đồng tồn tại trong nhiều mối quan hệ, trong đó nhà nước là hình thức cao nhất của những mối quan hệ đó Nhà nước không phải là hiện thân của thần thánh, không phải là hiện thân của của sự thống trị mà nhà nước có sứ mệnh đảm bảo hạnh phúc và công lý cho mọi người, trừ nô lệ

Có thể nói rằng, các nhà triết học phương Tây cổ đại đặc biệt quan

Trang 39

tâm đến vấn đề con người, khẳng định con người là vốn quý nhất, là trung tâm hoạt động của thế giới Con người, không chỉ được xem như một thành viên của vũ trụ, một vũ trụ đầy thành tích, mà còn luôn chứng tỏ sự hiện hữu vượt trội của mình nhờ có năng lực nhận thức ngang tầm với thần linh Tuy các nhà triết học đã cố gắng dùng lý trí của con người để giải thích những vấn đề liên quan đến đời sống con người nhưng sự giải thích đó đều chứa đựng những yếu tố thần thoại nhất định

Triết học Tây âu thời Trung cổ tồn tại và phát triển trong điều kiện chế độ phong kiến thay thế cho chế độ chiếm hữu nô lệ (thế kỷ V – XV) Đây là thời kỳ thống trị khắc nghiệt của tôn giáo và thần học Nhà trường và

hệ thống giáo dục đều do giáo hội kiểm soát Các tín điều tôn giáo trở thành

cơ sở cho tất cả các tư tưởng về tự nhiên, xã hội và con người Mọi trường phái triết học tiến bộ đều bị cấm và những đại biểu của các trường phái ấy đều bị xua đuổi hoặc đàn áp Triết học thời kỳ này là phục tùng thần học, theo chủ nghĩa duy tâm Vấn đề con người chủ yếu được bàn đến ở các mặt như nguồn gốc hình thành, tự do ý chí và quyền lực đối với tự nhiên

Trung tâm của thần học cơ đốc giáo là vấn đề chúa Trời Căn cứ vào những tín điều trong “cựu ước” của người Do Thái, vào những quan điểm tôn giáo của những cộng động người bị đế quốc La Mã chinh phục, đồng thời kết hợp với những quan điểm duy tâm khách quan của Platôn, các nhà thần học Cơ đốc giáo đã đưa ra một hệ thống những quan điểm triết học mới của họ về con người: về sự sáng thế của chúa Trời, về tổ tông của con người và sự chuộc tội, về sự chăn dắt của chúa đối với con người, sự phục sinh sau khi chết ở thế giới bên kia, v.v… Tất cả những điều ấy đã thể hiện rất rõ trong những quan điểm của Ôguyxtanh, người đại biểu tư tưởng của thần cơ đốc giáo ở thời kì đầu và được coi là một trong những “cha đẻ” của nhà thờ giáo hội có nhiều ảnh hưởng nhất Theo ông thì chúa Trời, với tính

Trang 40

cách là một lực lượng siêu nhiên, với quyền uy tuyệt đối đã sáng tạo ra cả thế giới tự nhiên và con người Vì vậy, chúa định đoạt mọi số phận của con người, chúa có quyền lực thần thánh đối với con người, có thể ban phước lành hoặc trừng phạt con người tùy theo ý chúa Bắt nguồn từ chúa, con người hoàn toàn bị phụ thuộc vào lực lượng siêu nhiên và không thể nhận thức được Con người phải phục tùng tuyệt đối những tiêu chuẩn do chúa đặt ra, phải trung thành và tin vô điều kiện vào chúa Con người thường nghĩ rằng mình hành động theo nguyện vọng và sự hiểu biết của mình, nhưng thực ra nó chỉ làm những gì được chúa quy định ra từ trước Cùng với những quan niệm thần bí về con người, Ôguyxtanh đã đưa ra những luận điểm về thuyết tiền định, cũng như thuyết định mệnh, gắn chặt với cuộc sống và số phận của con người

Để bào chữa cho chế độ chủ nô suy tàn đang trên đường sụp đổ không thể tránh khỏi của nó, Ôguyxtanh đã đưa ra chủ nghĩa khổ hạnh giả dối, kêu gọi con người - mà thực ra là những người nô lệ - hãy coi thường vật chất và cuộc sống trần thế, bởi vì chính lòng ham muốn về vật chất đã làm con người mắc phải cái “tội tổ tông” và cũng từ đó tiếp tục mãi cuộc đời tội lỗi của mình Theo ông thì con người không nên yêu của cải, mà chỉ nên yêu cái không thể lấy đi được tức là chúa Trời, bởi vì cuộc sống trần thế là “tội lỗi” và “tạm thời”, còn cuộc sống “ở bên kia” mới là hạnh phúc

và vĩnh cửu; bởi vì đời sống thực tế chỉ là chuẩn bị cho đời sống bên kia, và con người chỉ là kẻ bộ hành tạm thời trên trái đất

Sự phát triển tột đỉnh của chủ nghĩa kinh viện Tây Âu diễn ra vào thế

kỷ XIII Các triết gia thời kỳ này ra sức khôi phục lại và giải thích học thuyết của Arixtốt sao cho có lợi đối với nhà thờ Thiên Chúa Nhà triết học kinh viện nổi tiếng thời kỳ này là Tômat Đacanh Theo Tômat Đacanh, giới tự nhiên là do chúa trời sáng tạo ra từ hư vô, con người chỉ là hình ảnh của chúa

Ngày đăng: 13/11/2014, 06:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Phạm Ngọc Anh (chủ biên) (2005): Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (chủ biên)" (2005): "Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Tác giả: Phạm Ngọc Anh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
[2]. Phạm Ngọc Anh (2009): Triết lý Hồ Chí Minh – Giá trị lý luận và thực tiễn. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý Hồ Chí Minh – Giá trị lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2009
[3]. Từ Thiên Ân, Hứa Bình, Vương Hồng Sinh (chủ biên) (2002): Lịch sử thế giới thời hiện đại (1900 – 1945). Tập 5. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: (chủ biên)" (2002): "Lịch sử thế giới thời hiện đại (1900 – 1945)
Tác giả: Từ Thiên Ân, Hứa Bình, Vương Hồng Sinh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
[4]. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương (1960): Chủ Tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp. Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ Tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1960
[5]. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương (1984): Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo. Tập 1 (1920 – 1954 ). Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1984
[6]. Phạm Văn Bính (2008): Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Văn Bính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2008
[7]. Bộ Tài chính (2006): Thực trạng giàu nghèo và những vấn đề đặt ra. Địa chỉ http://www.mof.gov.vn/Default.aspx?tabid=612&ItemID=31712 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng giàu nghèo và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2006
[8]. Doãn Chính – Lương Minh Cừ (1991): Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại. Nxb. Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại
Tác giả: Doãn Chính – Lương Minh Cừ
Nhà XB: Nxb. Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1991
[9]. Doãn Chính (1999): Lịch sử Triết học Ấn Độ cổ đại. Nxb. Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Triết học Ấn Độ cổ đại
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 1999
[10]. Doãn Chính (1999): Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ. Nxb. Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 1999
[11]. Doãn Chính – Đinh Ngọc Thạch (chủ biên) (2003): Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác – Ph.Ăngghen và V.I.Lênin. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác – Ph.Ăngghen và V.I.Lênin
Tác giả: Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
[12]. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010): Báo cáo của chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2010 và nhiệm vụ năm 2011.Địa chỉ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2010 và nhiệm vụ năm 2011
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
[13]. Phạm Hồng Chương (2003): Tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam
Tác giả: Phạm Hồng Chương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
[14]. E.Cô-bê-lép (1985): Đồng chí Hồ Chí Minh. Nxb. Tiến bộ Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng chí Hồ Chí Minh
Tác giả: E.Cô-bê-lép
Nhà XB: Nxb. Tiến bộ Mátxcơva
Năm: 1985
[15]. Phạm Như Cương (chủ biên) (1978): Về vấn đề xây dựng con người mới. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề xây dựng con người mới
Tác giả: Phạm Như Cương (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1978
[16]. Lê Duẩn (1970): Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới. Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1970
[17]. Lê Duẩn (1976): Thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam. Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1976
[18]. Lê Duẩn (1979): Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1979
[19]. Bùi Đăng Dung, Nguyễn Tiến Dũng (2005): Lịch sử triết học phương Tây hiện đại. Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Bùi Đăng Dung, Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
[20]. Thành Duy (2002): Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w