Trong các nghiên cứu thực nghiệm đã được đề cập trước đây, vẫn chưa tìm thấy một nghiên cứu nào nghiên cứu một cách cụ thể, đầy đủ và có hệ thống về các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng n
Trang 1MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Vấn đề xóa đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn, là sự quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước trong nhiều năm qua Đây là vấn đề luôn được coi là một trong những mục tiêu quan trọng, xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đã cam kết thực hiện các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ vào tháng 9 năm 2000 Bên cạnh đó Việt Nam cũng đã trở thành nước có mức thu nhập bình quân đầu người xếp ở nhóm nước có mức trung bình của thế giới thì bản chất của nghèo đói ở nước ta đã có những thay đổi nhanh chóng, không chỉ thể hiện ở lượng và còn đòi hỏi cả về chất [10], [285]
Mặc dù công cuộc phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể và được quốc tế đánh giá cao [75] Tỷ lệ nghèo giảm nhanh từ 58,1% năm 1993 xuống còn 19,5% năm 2004, và kể từ năm 2006 đến nay,
tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 15,9% năm 2006 xuống 14,7% năm 2007, 12% năm 2008 và 11% năm 2009 [60], [301], [303] đến năm 2010 tỷ lệ nghèo đói chỉ còn 9,45% [276] Tuy vậy, mức độ giảm nghèo không đồng đều giữa các vùng miền, nhiều khu vực vẫn còn tỷ lệ hộ nghèo cao, như khu vực Miền núi phía Bắc, khu vực Tây Nguyên, vùng ven biển Miền Trung, v.v… [1], [75], [91]
Thủy sản là ngành sản xuất có tính chất đặc thù, hoạt động sản xuất thủy sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, tài nguyên nguồn lợi hải sản Trong những năm qua, thủy sản được coi là ngành kinh tế mũi nhọn, đã đóng góp tích cực vào tốc độ tăng trưởng kinh tế [9], [15], [16], [22] Giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đã tăng liên tục trong nhiều năm qua Nếu như năm 1995 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 600 triệu USD thì đến năm 2000 con số này đã đạt trên 1,4 tỉ USD, năm
2008 đạt 4,5 tỉ USD và đến năm 2010 đạt 5,016 tỉ USD [9], [22], [283] Tuy vậy, nghề cá Việt Nam nói chung và khu vực Nam Trung Bộ nói riêng vẫn có những đặc điểm đó là: quy mô nhỏ, đa nghề và sử dụng các ngư cụ truyền thống [15], [58],
Trang 2[172, [188] Vấn đề này đã gây ra những khó khăn trong việc kiểm soát cường lực khai thác trên các vùng biển [88] Thêm vào đó, tình trạng khai thác hải sản vẫn đang diễn ra ở hầu hết khu vực ven bờ, cường lực khai thác (bao gồm cả số lượng tàu thuyền và tổng công suất) đang không ngừng tăng lên [15], [41], [204] Nghề khai thác hải sản ven bờ này đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ, như: tác động của biến đổi khí hậu đến nuôi trồng và đánh bắt hải sản [17], đói nghèo, những vấn đề về suy giảm nguồn lợi hải sản và ô nhiễm môi trường [15], [242]
Nghề cá ven bờ đã được Chính phủ nhìn nhận là đang trong tình trạng khai thác quá mức, Chính phủ đã và đang cố gắng giảm cường lực khai thác ở khu vực ven bờ [15] Điều này đã làm cho tình hình nghèo đói trong ngành thủy sản vẫn tiếp tục là vấn đề nóng bỏng, là mối quan tâm của các cơ quan chức năng và của các địa phương có cộng đồng ngư dân sinh sống, nhất là cộng đồng ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ
Khu vực ven biển Nam Trung Bộ là khu vực tập trung nhiều cộng đồng ngư dân hoạt động nghề khai thác hải sản ven bờ sinh sống và là một trong những khu vực
có nhiều xã nghèo ven biển đặc biệt khó khăn [15], [29] Bên cạnh đó, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn, đặc biệt là chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới đang trong quá trình triển khai [33] Vì vậy, việc tìm ra những giải pháp thiết thực, cơ bản, lâu dài để những hộ ngư dân nói chung, ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ nói riêng thật sự thoát nghèo, chống tái nghèo, được tiếp cận với những cơ hội mới và được hưởng lợi từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là một thách thức lớn đối với khu vực này
Từ nhiều năm qua, vấn đề nghèo đói nói chung và nghèo đói của ngư dân nói riêng đã được đưa ra thảo luận, bàn bạc và đã có một số công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề này dưới các góc độ và phạm vi khác nhau Các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đói đã được đề cập trong các nghiên cứu trước đây như: Foster, J & đồng nghiệp [175], Ravallion, M [230], Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Nông – Lâm Liên Hiệp Quốc (FAO), v.v… Những nghiên cứu này đã đưa ra phương pháp tiếp cận, cơ sở khoa học và những bằng chứng thực nghiệm làm nền tảng cho việc xây dựng cơ sở lý thuyết về phân tích nghèo đói
Trang 3Những công trình nghiên cứu của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP), Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cũng chỉ dừng lại ở mức độ phân tích về tổng quan trong đánh giá nghèo đói ở Việt Nam, chưa nghiên cứu một cách cụ thể đối với hộ gia đình ngư dân; một số nghiên cứu khác chỉ khảo sát thực trạng tại một số địa phương trong ngành thủy sản thông qua phân tích định tính như công trình của Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) và Ngân hàng Thế giới trong nghiên cứu ngành Thủy sản [15], [74] hay của Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa các dịch vụ sinh thái biển và ven biển với việc giảm nghèo tại Việt Nam [73]
Bên cạnh đó, đã có một số công trình nghiên cứu điển hình khác trong phân tích nghèo đói tại Việt Nam như: Kinh tế vĩ mô của giảm nghèo - Việt Nam tìm kiếm bình đẳng trong tăng trưởng [117], Phân tích hiện trạng nghèo tại Đồng Bằng Sông Cửu Long [5], Hộ gia đình Việt Nam nhìn qua phân tích định lượng [57], Các yếu tố quyết định phúc lợi gia đình, xã hội và bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam [50], So sánh giữa phân tích nghèo đói bằng phương pháp định tính và định lượng tại Việt Nam [214], Quản lý tài nguyên ven biển và vấn đề xóa đói giảm nghèo trong các cộng đồng nghề cá ở tỉnh Khánh Hòa [51], Báo cáo đánh giá nghèo đói và quản lý nhà nước có sự tham gia: Vùng ven biển Miền Trung và Tây Nguyên của Ngân hàng Phát triển Châu Á [1], Sự tham gia của cộng đồng ngư dân nghèo trong xác định nguồn lực và nhu cầu đầu tư phát triển thủy sản của Ngân hàng Thế giới và Viện Kinh tế Việt Nam [74], Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới đói nghèo của ngư dân ven đầm Nha Phu, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa [101], Đo lường nghèo đói:
Áp dụng cho nghề cá quy mô nhỏ tại đảo Bích Đầm, Việt Nam [255]
Các nghiên cứu trên đã đã tìm ra mối liên hệ giữa các yếu tố vĩ mô, đặc điểm nhân khẩu học với tình trạng đói nghèo Tuy nhiên, những tác giả này mới chỉ nghiên cứu một cách rời rạc các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đói (quy mô hộ gia đình, các đặc điểm về nhân khẩu học, v.v….) Bên cạnh đó, các cách tiếp cận trên tùy theo mục tiêu, thời gian, nguồn lực của nhà nghiên cứu mà tiến hành bằng những phương pháp
Trang 4khác nhau Một số công trình nghiên cứu của Nhóm tác chiến bản đồ liên Bộ [79], [115] cũng chỉ dừng lại ở mức độ phân tích về tổng quan trong đánh giá nghèo đói ở Việt Nam, chưa nghiên cứu một cách cụ thể đối với hộ gia đình ngư dân [51]
Trong các nghiên cứu thực nghiệm đã được đề cập trước đây, vẫn chưa tìm thấy một nghiên cứu nào nghiên cứu một cách cụ thể, đầy đủ và có hệ thống về các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của các hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung Bộ
Về phương pháp, hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây như đã đề cập ở trên sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích và trình bày dữ liệu, chỉ có một số ít những công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định lượng với
mô hình hồi quy đa biến [55], [57], [112] Mặt khác, các nghiên cứu này chưa lượng hóa được ảnh hưởng của những yếu tố mang tính đặc thù của nghề khai thác hải sản tới tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân như: ảnh hưởng của rủi ro do thiên tai,
sự biến đổi khí hậu, v.v
Như vậy, có thể thấy rằng mặc dù các nghiên cứu trước đã tìm ra mối liên hệ giữa một số yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình, nhưng chưa thấy hết những yếu tố khác mang tính đặc thù về đói nghèo của cộng đồng ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ, phương pháp tiếp cận và phân tích dữ liệu còn hạn chế
Trước thực tế và yêu cầu bức thiết đó cần phải có thêm nhiều nghiên cứu về nghèo đói ở cả cấp quốc gia, cấp vùng, cấp địa phương và đặc biệt là những ngành sản xuất có tính đặc thù như khai thác hải sản ven bờ Thực hiện nhiều nghiên cứu hơn với những thông tin chi tiết hơn sẽ là bước đầu tiên và là cơ sở quan trọng trong mọi chiến lược phát triển ở cấp địa phương, ngành và trên bình diện quốc gia
Với những lý do trên đề tài được hình thành để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
tới tình trạng nghèo đối với hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ khu vực Nam Trung Bộ nhằm giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước thấy được đâu là những vấn đề cần quan tâm và tác động đến những yếu tố nào để mang lại hiệu quả
và đảm bảo được mục tiêu phát triển của mỗi địa phương trong tiến trình xóa đói giảm nghèo tại khu vực này
Trang 52 MỤC TIÊU CỦA LUẬN ÁN VÀ CÁC CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu bao trùm của luận án là tìm ra và lượng hóa những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung Bộ, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp cơ bản và cần thiết nhằm cải thiện tình trạng nghèo tại khu vực này Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận án bao gồm:
- Hệ thống hóa các phương pháp luận về phân tích đói nghèo, đồng thời xây dựng phương pháp tiếp cận mới trong phân tích nghèo đối với hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung Bộ;
- Phân tích thực trạng nghèo trong các hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven
- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm cải thiện tình trạng nghèo cho các hộ ngư dân tại nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực này
2.2 Các câu hỏi nghiên cứu
Xuất phát từ những mục tiêu nghiên cứu luận án đã được đề cập ở trên, luận án đặt ra và cần làm sáng tỏ các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
- Những yếu tố điển hình nào và mức độ ảnh hưởng của chúng ra sao tới tình trạng nghèo của hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ?
- Các phương pháp được sử dụng hiện nay có thực sự lượng hóa được những yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình, đặc biệt là những yếu
tố phi định lượng?
Trang 6- Các đặc trưng nhân khẩu học của ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ ảnh hưởng như thế nào tới tình trạng nghèo của hộ?
- Làm thế nào để đề xuất những giải pháp có cơ sở khoa học và khả thi đểgiảm nghèo bền vững cho những hộ gia đình ngư dân?
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những hộ ngư dân hoạt động nghề khai thác hải sản ven bờ thuộc những xã nghèo nằm trong danh sách các xã đặc biệt khó khăn ven biển [29] của các địa phương khu vực Nam Trung Bộ bao gồm: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa giai đoạn 2006 – 2010 Các
lý do chọn các địa phương trên để điều tra đó là:
Thứ nhất, đây là những địa phương có nhiều cộng đồng ngư dân hoạt động trong nghề khai thác hải sản ven bờ và có nhiều xã nghèo ven biển nằm trong danh các xã nghèo đặc biệt khó khăn được Chính phủ phê duyệt, do đó việc nghiên cứu tình trạng đói nghèo đối với các hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ thuộc các địa phương như đã đề cập góp phần rất lớn và có thể làm điển hình nghiên cứu cho các
mô hình xóa đói giảm nghèo trong cộng đồng ngư dân ven biển của những địa phương khác
Thứ hai, những xã nghèo này đa phần đều xa trung tâm của các địa phương, và nguy cơ tụt hậu, khả năng tiếp cận các điều kiện về cơ sở hạ tầng, các dịch vụ chăm sóc y tế và giáo dục thấp [15]
Thứ ba, những địa phương trên hàng năm đều phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của thiên tai [14], [17], [59], [85], đã làm cho đời sống sản xuất của hộ gia đình ngư dân vốn đã khốn khó thì nay càng khó khăn hơn
Thứ tư, sự gia tăng dân số nhanh trong cộng đồng ngư dân [15], sự suy thoái, ô nhiễm môi trường ven biển và sự suy giảm nguồn lợi hải sản ven bờ [12], [16], [18], [76] có thể gây ra những khó khăn về việc làm và tình trạng nghèo cho các hộ gia đình ngư dân này
Trang 7Thứ năm, các chính sách của Chính phủ trong việc ngăn chặn sự gia tăng hoạt động khai thác hải sản ven bờ [15], [16] có thể tạo ra sự xáo trộn khá lớn về điều kiện kinh tế và khả năng sẽ làm cho nhiều hộ gia đình ngư dân hoạt động trong nghề này trở thành những hộ nghèo
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án được thực hiện trong các khía cạnh sau đây:
- Phạm vi lý thuyết: Có nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ ngư dân Do vậy, nghiên cứu này ngoài việc phân tích một số yếu tố điển hình về đặc điểm kinh tế xã hội của các hộ ngư dân, một số yếu tố về việc phân bổ nguồn lực của Chính phủ như tín dụng và đất đai còn tập trung vào việc đo lường và đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên
đó là vấn đề biến đổi khí hậu, rủi ro do thiên tai, tình trạng suy thoái và ô nhiễm môi trường ven biển, sự suy giảm đáng báo động về nguồn lợi hải sản ven bờ hiện nay
- Phạm vi ngành: Đối tượng khảo sát là các hộ gia đình ngư dân hoạt động trong nghề khai thác hải sản ven bờ, bởi đây là đối tượng mà Nhà nước đang đặc biệt quan tâm trong điều kiện nguồn lợi hải sản ven bờ đang suy giảm nhanh chóng, đồng thời ngành thủy sản đang trong quá trình triển khai quản lý tổng hợp vùng bờ [185], [203], [242] Bên cạnh đó, Chính phủ đã có quyết định điều chỉnh mức chuẩn nghèo [37] và thực hiện tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011 [35] nên sự biến động về tình trạng nghèo của khu vực này có thể có những thay đổi lớn
- Phạm vi địa lý: Các hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung Bộ là một trong những khu vực được đánh giá là nghèo so với cả nước [1], [15], [279], [301] nên luận án chỉ tập trung khảo sát các hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại các xã nghèo ven biển của các địa phương Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa như đã được trình bày
- Phạm vi thời gian: Số liệu sơ cấp về nghèo đói của các hộ ngư dân hoạt động trong nghề khai thác hải sản ven bờ trong nghiên cứu được điều tra trong thời gian
từ tháng 03/2010 đến 10/2010 Số liệu thứ cấp về nghèo đói liên quan được thu thập
từ giai đoạn 2006 đến 2010, với các lý do sau:
Trang 8Thứ nhất, đây là thời gian đang thực hiện quyết định về áp dụng chuẩn nghèo cho giai đoạn 2006 – 2010 của Chính phủ Mặt khác, đây còn là giai đoạn tiếp theo trong quá trình thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ [26] và chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2015 [31] nên luận án nghiên cứu trong khoảng thời gian này có những cơ sở pháp lý để phân tích
Thứ hai, việc phân tích đánh giá tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân trong giai đoạn này là cơ sở để các cơ quan quản lý, chính quyền các địa phương đưa ra những chiến lược và chính sách phù hợp với thời điểm hiện nay nhằm phục vụ cho công tác giảm nghèo trong giai đoạn tiếp theo
4 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
So với những công trình nghiên cứu trước đây, luận án đã tổng hợp một khối lượng lớn tài liệu liên quan tới vấn đề nghiên cứu, đồng thời khái quát một cách có
hệ thống về lý thuyết cũng như các quan điểm, phương pháp tiếp cận trong phân tích đói nghèo, đặc biệt luận án đã bổ sung về cơ sở lý luận và xây dựng mô hình nghiên cứu trong việc đo lường yếu tố phi định lượng, như: các đặc điểm thuộc điều kiện tự nhiên, môi trường, nguồn lợi hải sản, v.v… ảnh hưởng như thế nào và mức
độ ảnh hưởng của chúng ra sao tới tình trạng nghèo của hộ gia đình Nhìn chung, điểm mới của luận án được thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình Luận án nhận diện và xác định những yếu tố đặc trưng của hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ (bao gồm các yếu tố định lượng và phi định lượng), như: (i) Những đặc trưng của hộ gia đình ngư dân, (ii) Đặc điểm về nguồn lợi hải sản và môi trường ven biển, v.v…
Thứ hai, luận án phân tích và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình: (i) Xây dựng phương pháp tiếp cận mới trong phân tích nghèo, đồng thời vận dụng phương pháp này để lượng hóa yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung Bộ; (ii) Xây dựng các mô hình kinh tế lượng (mô hình hồi quy và mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính - SEM) để kiểm định các yếu tố ảnh hưởng và mức
Trang 9độ ảnh hưởng của từng yếu tố tới tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ
Thứ ba, những giải pháp mà luận án đề xuất được dựa trên kết quả nghiên cứu, phù hợp với đối tượng ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung Bộ hiện nay
Tóm lại, với những đặc điểm nêu trên, luận án đã thể hiện sự khác biệt và không trùng lắp với các nghiên cứu trước đây mặc dù đã kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó, đồng thời còn bổ sung thêm phương pháp phân tích
và tiếp cận mới trong việc đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình nói chung và hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ khu vực Nam Trung Bộ nói riêng
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN
5.1 Về mặt lý luận
Thứ nhất, luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, làm rõ bản chất của nghèo đói nói chung và tình trạng nghèo của ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ nói riêng Đồng thời tổng hợp, so sánh, đánh giá hệ thống các lý thuyết và quan điểm về nghèo, những yếu tố gây ra tình trạng nghèo cho hộ gia đình
Thứ hai, luận án bổ sung cho cơ sơ lý luận về phương pháp tiếp cận trong việc đo lường và đánh giá nghèo thông qua xây dựng các thang đo nhằm lượng hóa các yếu
tố định tính để làm nền tảng cho việc phân tích tình trạng nghèo của hộ gia đình Thứ ba, luận án đã tổng kết công tác giảm nghèo của Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời tổng kết thành tựu giảm nghèo của một số tổ chức và quốc gia trên thế giới để rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực thi các chính sách giảm nghèo đối với Việt Nam nói chung và khu vực Nam Trung Bộ nói riêng trong những giai đoạn tới
5.2 Về mặt thực tiễn
Thứ nhất, để thực hiện luận án tác giả đã tiến hành điều tra thực địa với quy mô mẫu lớn hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung
Trang 10Bộ, đồng thời thu thập và tổng hợp một khối lượng lớn các tài liệu liên quan đến phân tích nghèo đối với hộ gia đình nói chung và hộ gia đình ngư dân nói riêng Đây là những tài liệu không chỉ phục vụ cho việc nghiên cứu và thực hiện luận án
mà còn cung cấp một bức tranh chi tiết về thực trạng nghèo đói tại Việt Nam và vùng Nam Trung Bộ từ trước tới nay
Thứ hai, luận án đã khái quát khá toàn diện về thực trạng nghèo của cộng đồng ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung Bộ, xác định và làm
rõ những yếu tố gây ra tình trạng nghèo cho hộ gia đình ngư dân tại khu vực này Thứ ba, luận án đã đi sâu phân tích yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo đối với hộ gia đình, đồng thời đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng tới tình trạng nghèo của các hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực này Trên cơ sở
đó, đề xuất các giải pháp cơ bản và đặc thù nhằm giảm tình trạng nghèo cho các hộ gia đình ngư dân để làm cơ sở cho các địa phương, các cơ quan quản lý trong việc nhận diện và xác định những vấn đề cần ưu tiên trong chính sách giảm nghèo đối với cộng đồng ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ hiện nay
Cuối cùng, luận án có thể sử dụng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, cán bộ giảng dạy và học viên sau đại học trong các cơ sở giáo dục đại học khi nghiên cứu về đói nghèo nói chung và đối tượng ngư dân nói riêng
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận án được kết cấu thành bốn chương Nội dung chủ yếu các chương bao gồm:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu đề tài Trong chương 1 này luận án đã phân tích, đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới đề tài luận án để tìm kiếm cơ hội nghiên cứu Bên cạnh đó phương pháp nghiên cứu của luận án cũng được trình bày Những nội dung cơ bản của phương pháp nghiên cứu bao gồm: khái quát về quy trình nghiên cứu, mô tả quy trình nghiên cứu định tính và nghiên cứu lượng Ngoài ra, luận án đã khái quát phương pháp tiếp cận trong việc đo lường các yếu tố phi định lượng của các nhà nghiên cứu trên thế giới để xây dựng các thang đo lường, phục vụ
Trang 11cho mục tiêu nghiên cứu của luận án Cơ sở để xây dựng các mô hình kinh tế lượng, nguồn dữ liệu được sử dụng trong luận án, phương pháp điều tra, chọn mẫu và phương pháp phân tích dữ liệu cũng được trình bày chi tiết trong nội dung của chương 1 này
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về nghèo
Trong chương này, luận án đã đề cập tới lý thuyết về kinh tế học hộ gia đình, phương pháp tiếp cận từ lý thuyết độ thỏa dụng, hàm chi tiêu tới vấn đề nghèo của
hộ gia đình Bên cạnh đó, luận án đã khái quát về lý thuyết trong phân tích nghèo, tổng kết những bài học kinh nghiệm đã thực hiện thành công trong công tác giảm nghèo của Việt Nam, một số tổ chức và quốc gia trên thế giới Trên cơ sở đó, luận
án đã xây dựng và đề xuất mô hình nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ khu vực Nam Trung Bộ
Chương 3: Phân tích yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ khu vực Nam Trung Bộ
Nội dung chương 3 của luận án tập trung phân tích, đo lường, đánh giá thực trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân, trong đó đi sâu vào nhận dạng, mô tả những đặc điểm và nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo, đồng thời sử dụng các mô hình kinh tế lượng để ước lượng và phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven ven bờ
Chương 4: Giải pháp nhằm giảm nghèo cho các hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ khu vực Nam Trung Bộ
Nội dung trong chương bốn của luận án là xem xét các quan điểm, mục tiêu về giảm nghèo cho các hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ khu vực Nam Trung
Bộ, đồng thời xây dựng và đề xuất các giải pháp trên cơ sở kết quả nghiên cứu để đưa ra những gợi ý chính sách nhằm giảm nghèo đối với hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực này
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 1.1.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Ở nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu về nghèo đói, ảnh hưởng của các yếu tố tới tình trạng nghèo Những nghiên cứu điển hình như: công trình nghiên cứu của Gordon [178] cho thấy, tình trạng sở hữu chung trong ngành thủy sản quy
mô nhỏ cũng dẫn đến tình trạng nghèo đói Ngày càng có nhiều người có thể tham gia khai thác hải sản với kinh nghiệm hoặc vốn đầu tư hạn chế trong điều kiện tự do tiếp cận Điều này dẫn đến việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên và gây ra những trở ngại trong hoạt động sinh kế trên biển [139], [233] Kết quả là làm cho lợi tức kinh tế giảm sút và thu nhập của ngư dân thấp Nguyên chủ yếu dẫn đến tình trạng nghèo đói của các hộ ngư dân có liên quan đến việc tiếp cận ở cấp độ thấp nguồn tài nguyên thiên nhiên như thủy sản
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa nghề cá và nghèo đói
Nguồn: [139, tr 968]
Nghiên cứu của Béné [139], đã đưa ra kết luận khá tương đồng với của Gordon
Trang 13[178] Nghiên cứu này cũng đã có những lý giải về mối quan hệ giữa nghề cá và đói nghèo Ngư dân được coi như là những người nghèo nhất của người nghèo mà nguyên nhân xuất phát từ những đặc điểm của ngành thuỷ sản và đưa tới kết luận rằng:
Nói chung nghề cá quy mô nhỏ tạo ra thu nhập cho ngư dân, bất kỳ nỗ lực nào, ngư dân sẽ vẫn là người nghèo và quyền tự do tiếp cận trong tài nguyên thủy sản đã làm cho ngư dân trở thành những người nghèo nhất Nghề cá quy mô nhỏ được coi như công việc cuối cùng có thể đảm bảo an toàn cho người nghèo và cho phép mọi người đều có thể tham gia vào hoạt động khai thác thủy sản thậm chí họ không có bất kỳ kỹ năng hoặc tài sản gì
Nghiên cứu của cả Béné [139] và Cunningham [160] đều cho thấy vấn đề đói nghèo trong ngành thủy sản là do cơ hội thu nhập thấp Ngành thuỷ sản quy mô nhỏ thường ở tại các khu vực xa xôi với rất ít cơ hội có những việc làm khác Nói cách khác, các khoản thu nhập khác ở ngoài ngành thuỷ sản thường thấp, do vậy đã làm cho thu nhập của ngư dân ở mức thấp Đây chính là đặc điểm của nghề cá quy mô nhỏ ở các nước đang phát triển [165], [205], [240]
Những nguyên nhân và nguồn gốc của nghèo đói trong ngành thủy sản quy mô nhỏ là cơ sở để tăng cường quản lý và thúc đẩy sinh kế trong ngành sản xuất mang tính đặc thù này [86], [173], [174] Bên cạnh đó, việc thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng suất thấp, kéo theo thu nhập hộ gia đình thấp Thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp Tiết kiệm thấp lại là nguyên nhân của sự thiếu hụt vốn đầu tư, và điều này lại làm cho thu nhập thấp [134], [157], [213] Không đủ vốn, người nghèo không thể làm gì được; từ việc cơ bản nhất là mua tàu thuyền và ngư cụ chứ chưa tính đến việc cải tiến sản xuất hay áp dụng khoa học kỹ thuật mới Muốn thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn này cần phải có nguồn vốn từ bên ngoài [211] Trong trường hợp này thì nguồn vốn vay hay vốn tín dụng từ các tổ chức tín dụng chính thức và phi chính thức, hoặc từ các dự án cấp tín dụng cho người nghèo của Chính phủ [68], [74], [215], [266] sẽ là yếu tố quan trọng để họ thoát nghèo
Nghiên cứu của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) [23], [106], John Weeks và đồng nghiệp [117], Fozzard và đồng
Trang 14nghiệp [2] đã có những bằng chứng về các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến nghèo đói bao gồm: lạm pháp có thể sẽ dẫn tới gia tăng đói nghèo, trong khi tăng trưởng/ thu nhập và việc làm dẫn tới giảm đói nghèo Nghiên cứu này cũng kết luận rằng một chính sách thành công là chính sách dẫn đến giảm nghèo [116]
Kết quả công trình nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới [183], [264], Ngân hàng Phát triển Châu Á [135], Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) [260] hay của các tác giả như Wagle [256], Deaton [167] cho thấy tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói là mức chi tiêu (hay thu nhập) để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội Sự khác nhau chung nhất thường là ở chỗ thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi Điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia
Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu về nghèo đói, sinh kế bền vững trong nghề cá quy mô nhỏ tại các quốc gia trên thế giới như của tác giả Thorpe [250], Hersoug [185], Chowdhury [154], Cortés Rodriguez [158] cho thấy, đa số nghề cá quy mô nhỏ đều thuộc về các quốc gia đang phát triển, sự gia tăng dân số
và khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản đang là những vấn đề nổi bật tại các quốc gia này Muốn giải quyết tình trạng này cần thiết phải giải quyết sinh kế bền vững cho ngư dân
Nghiên cứu của Panayatou [223], của Jentoft [196] hay của Timothy [248] cũng chỉ ra, với nghề cá quy mô nhỏ tại các quốc gia trên thế giới hiện nay đang tạo ra nhiều áp lực đối với tài nguyên thủy sản Với đặc điểm nghề cá quy mô nhỏ thực hiện đánh bắt bằng các công cụ thô sơ thậm chí sử dụng các thiết bị mang tính hủy diệt đã gây ra nhiều nguy cơ, rủi ro đối với tài nguyên thuỷ sản Ngoài ra, sự phụ thuộc tài nguyên trong đời sống của ngư dân đã dẫn đến tình trạng khai thác quá mức tài nguyên thủy sản, đặc biệt tại các khu vực ven bờ [155], [207], [251] Sự nghèo đói và suy giảm nguồn lợi thủy sản tiếp tục tạo ra những áp lực ngày càng gia tăng cho cộng đồng ngư dân này [194], [227], [249] Nếu không có những chính sách quản lý năng lực khai thác hữu hiệu đồng thời giải quyết tình trạng dân số đang
Trang 15gia tăng như hiện nay sẽ ngày càng tạo ra những thách thức trong việc quản lý nghề
cá tại các quốc gia Một trong những giải pháp cần ưu tiên là thiết lập quyền tài sản đối với tài nguyên sở chung như thủy sản [146], [200], [206]
Kết quả nghiên cứu của ICSF [191], Stobutzki và đồng nghiệp [244] cũng đưa
ra một kết của khá tương đồng với những nghiên cứu trên Tuy nhiên, một trong những giải pháp được đề xuất nhằm giải quyết các vấn đề của nghề cá quy mô nhỏ
đó là cần thiết lập các khu bảo tồn biển (MPA) Điều này sẽ có tác động rất tích cực tới sự phục hồi tài nguyên thủy sản và giảm được áp lực khai thác Xét về lâu dài, việc thiết lập các khu bảo tồn biển có tác dụng cải thiện sinh kế cho ngư dân
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, vấn đề nghèo đói, môi trường trong ngành thủy sản đã có một số
cơ quan và tác giả nghiên cứu như: công trình nghiên cứu của Bộ Thủy sản và Ngân hàng Thế giới [15], Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc [30], Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh [56], Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [11], Bộ Tài Nguyên và Môi trường [89], Nhóm hành động chống nghèo đói [81], hay Nhóm tác chiến bản đồ liên Bộ [79], v.v Hầu hết những công trình nghiên cứu này đều đánh giá sự cần thiết phải cải thiện tình trạng nghèo trong các cộng đồng ngư dân
mà sinh kế phụ thuộc vào hoạt động khai thác thủy sản, việc lồng ghép các vấn đề môi trường trong chiến lược xóa đói giảm nghèo ở cấp độ vùng, quốc gia hay tại mỗi địa phương đã có những tác động tích cực tới việc cải thiện tình trạng nghèo hiện nay Ngoài ra, cần phải thiết lập một cơ chế đối với nghề cá trên cơ sở nghề cá
có trách nhiệm [170] để giảm áp lực đối với nguồn lợi thủy sản Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu của tác giả Khổng Diễn (2009) đã đánh giá thực trạng đói nghèo và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở một số tỉnh ven biển Miền Trung Nghiên cứu đã thực hiện điều tra ba địa phương đại diện cho ba khu vực khác nhau của khu vực Miền Trung, bao gồm: Quảng Bình, Quảng Nam và Ninh Thuận Kết quả phân cho thấy có sự khác biệt khá lớn về tình trạng đói nghèo giữa dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, khu vực đồng bằng và miền núi tại các địa phương này [44]
Trong bối cảnh hiện nay, tình trạng nghèo đói vẫn còn khá phổ biến, đặc biệt là
Trang 16các xã ven biển nơi người dân sống phụ thuộc phần lớn vào tài nguyên thiên nhiên Việc tài nguyên bị giảm nhanh trong những năm gần đây là do ảnh hưởng của cách tiếp cận tự do truyền thống, dân số tăng nhanh và tình trạng khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, thiếu lồng ghép giữa lập kế hoạch và quản lý trong Chiến lược toàn diện về giảm nghèo (CPRs)[13], [118], [233]
Kết quả nghiên cứu của Bộ Thủy sản [17] cũng cho thấy tình trạng thu nhập thấp
là tình trạng phổ biến ở khu vực ven biển, nhất là tại các vùng bãi ngang Hiện nay, tại 21 tỉnh ven biển đã có 157 xã được đưa vào chương trình các xã đặc biệt khó khăn, được hỗ trợ phát triển [15] Kết quả này cũng phù hợp với một số công trình nghiên cứu khác cho rằng “các vùng ven biển tỷ lệ nghèo thuộc về nghề cá là rất lớn Các con số thống kê hiện nay chưa phản ánh rõ, do không thể áp dụng chuẩn nghèo của nông thôn (áp dụng cho nông dân) vào các hộ ngư dân do các hộ ngư dân thường không có đất, đầu tư và mức độ bấp bênh đều lớn hơn nhiều” và “nghề cá quy mô nhỏ có tỷ lệ nghèo cao, phần đông các gia đình chỉ có thuyền hoặc đi làm thuê” [51] Đối với hoạt động khai thác thủy sản ven bờ, về mặt sinh kế đánh bắt cá được xem là nghề chủ đạo đối với các cộng đồng ngư dân ven biển, những người mà không có nghề nghiệp gì khác và không được đào tạo nghề Việc mở rộng nghề nuôi trồng thuỷ sản và sự phát triển kinh tế xã hội khác đã tác động nhiều tới sinh
kế của những ngư dân truyền thống vì họ không có quyền sử dụng hoặc đánh bắt hợp pháp ở các khu vực đánh bắt mặc dù họ vẫn đánh bắt từ trước đến nay Điều này đã khiến họ, vốn đã là những người bị thiệt thòi nhất trong cộng đồng, mất hết
cơ hội kiếm sống và làm cho tỷ lệ nghèo đói của các khu vực này cao [15], [68] Bên cạnh đó, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Trâm Anh [4] về phát triển bền vững ngành thủy sản tỉnh Khánh Hòa đã đề cập tới việc xây dựng hệ thống các chỉ
số đánh giá phát triển bền vững ngành thủy sản tại địa phương này Tác giả đã tổng kết những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn của nền kinh tế thủy sản thế giới, mà trọng tâm là phát triển bền vững, coi đó như là những bài học có giá trị tham chiếu trong sự phát triển ngành thủy sản tỉnh Khánh Hòa, đồng thời đã đánh giá thực trạng phát triển ngành thủy sản tỉnh Khánh Hòa trên quan điểm phát triển bền vững,
Trang 17để có cách nhìn toàn diện về tiềm năng, thành tựu, cũng như những tồn tại trong sự phát triển của ngành thủy sản Khánh Hòa Dựa trên nền tảng lý luận kết hợp với việc phân tích thực trạng ngành thủy sản Khánh Hòa, nghiên cứu đã xây dựng hệ thống chỉ số xác định tính bền vững của ngành thủy sản làm căn cứ để đánh giá thực trạng phát triển ngành thủy sản tỉnh Khánh Hòa trên các khía cạnh về: sinh thái và môi trường, kinh tế, xã hội và thể chế Trong đó việc cải thiện sinh kế, thu nhập và phúc lợi cho ngư dân là một trong những tiêu chí quan trọng Tuy nhiên, hệ thống các chỉ số này chưa tính tới đặc điểm liên ngành đảm bảo không gian phát triển bền vững cho ngành thủy sản, như du lịch, vận tải biển, v.v…Bên cạnh đó, các chỉ số để đánh giá những tác động của biến đổi khí hậu vốn đang là vấn đề rất cấp thiết hiện nay cũng chưa được đề cập trong nghiên cứu này
Nghiên cứu của tác giả Đào Công Thiên [101] đã xác định được một số yếu tố tác động tới đói nghèo của ngư dân ven đầm Nha Phu, Khánh Hòa dựa trên bộ dữ liệu điều tra hộ gia đình của Cục Thống Kê Khánh Hòa năm 2004 Nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi qui đa biến với biến phụ thuộc là chi tiêu hộ gia đình do Walle, Dominique và Gunewardena đề xuất [257] Các biến độc lập mà tác giả đưa vào mô hình để xem xét bao gồm: dân tộc, tuổi chủ hộ, giới tính của chủ hộ, quy
mô hộ gia đình, số người phụ thuộc, số con trong hộ gia đình, nghề nông, yếu tố đai, tiếp cận tín dụng, tình trạng việc làm của chủ hộ, độ tuổi và trình độ học vấn của chủ hộ gia đình ngư dân Tuy nhiên nghiên cứu này chưa tìm ra được những yếu tố mang tính đặc thù ảnh hưởng tới đói nghèo của ngư dân, các yếu tố thuộc
về đặc điểm của hộ ngư dân như nghề khai thác, năng lực tàu thuyền cũng như những đặc điểm môi trường và nguồn lợi hải sản ven bờ chưa được đề cập và nhận diện, phạm vi nghiên cứu còn hạn chế Bên cạnh đó, các biến độc lập có tính loại trừ nhau như: quy mô hộ gia đình, số người phụ thuộc đều được tác giả đưa vào
mô hình phân tích gây khó khăn cho việc giải thích kết quả nghiên cứu Giá trị của các đại lượng thống kê trong phân tích các mô hình hồi quy để giải thích về sự biến thiên của của các yếu tố tác động tới chi tiêu của hộ gia đình thấp (Adjusted
R Square = 0,30) chưa đảm bảo tính thuyết phục về mặt khoa học và thực tiễn của
Trang 18nghiên cứu Ngoài ra, cơ sở lý thuyết để tiếp cận khía cạnh đói nghèo của ngư dân chưa được tác giả đề cập từ lý thuyết của kinh tế học
Nghiên cứu của tác giả Võ Văn Diễn [255] đã đưa ra những bằng chứng rõ ràng hơn về các yếu tố ảnh hưởng tới chi tiêu của hộ gia đình của ngư dân tại đảo Bích Đầm, Thành phố Nha Trang Các yếu tố mà tác giả đề xuất trong mô hình nghiên cứu bao gồm: quy mô hộ gia đình, số người phụ thuộc, số trẻ em trong hộ, tình trạng sở hữu tàu thuyền, tiếp cận tín dụng, tình trạng việc làm, độ tuổi và trình
độ học vấn của chủ hộ gia đình ngư dân Tuy nhiên, giống như nghiên cứu của một số tác giả khác, nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc khảo sát một số hộ ngư dân nghề cá quy mô nhỏ với nghề chủ yếu là nuôi trồng hải sản, với mẫu khảo sát nhỏ (N = 60), mức độ giải thích của mô hình về các yếu tố ảnh hưởng tới đói nghèo mới chỉ giải thích được 29% (Adjusted R Square = 0,290) Bên cạnh đó, nghiên cứu này chưa phản ảnh hết được những yếu tố ảnh hưởng và những đặc trưng nghèo đói của hộ gia đình trong cộng đồng ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung Bộ
Một số công trình nghiên cứu của một số tác giả đã xem xét về mối quan hệ giữa nghèo đói và môi trường hay tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai và vấn đề
ô nhiễm ô trường, nguồn lợi hải sản tới tình trạng nghèo của ngư dân hiện nay cả về mặt phương pháp tiến cận và nghiên cứu thực nghiệm
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Thanh Ca [18] cho thấy, môi trường biển hiện nay ở nước ta đang có dấu hiệu bị ô nhiễm và suy thoái Chất lượng môi trường biển và vùng ven bờ tiếp tục suy giảm theo chiều hướng xấu Môi trường vùng nước ven bờ đã bị ô nhiễm dầu, kẽm và chất thải sinh hoạt, nơi cư trú của các loài thủy sản cũng bị ô nhiễm Bên cạnh đó, do sự tăng nhanh về dân số đã làm cho biển và vùng bờ vốn là nơi giàu có và đa dạng tài nguyên, chứa đựng nhiều tiềm năng phát triển kinh tế đa dạng, đang bị sử dụng lãng phí Vấn đề này đã gây sức ép rất lớn đến tài nguyên và môi trường vùng ven bờ
Dưới sức ép của các hoạt động phát trển kinh tế, ô nhiễm môi trường và thiên tai, các hệ sinh thái, nơi cư trú của các loài sinh vật biển bị phá hủy, đặc biệt là đối
Trang 19các hệ sinh thái nhạy cảm như rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và san hô, v.v Sự đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản giảm rõ rệt do đánh bắt hủy diệt và suy giảm môi trường sống [294], [295]
Mối liên hệ giữa trữ lượng cá, tài nguyên biển và nghèo đói là rất rõ ràng Có thể nhận thấy một điều từ nghiên cứu ban đầu là “các chính sách về biển hiện nay chỉ tập trung chủ yếu vào phát triển kinh tế và an ninh quốc gia chứ không thể hiện mối liên hệ tương hỗ nào giữa phát triển, bảo vệ môi trường và nguồn lợi thuỷ sản Việc đưa ra nhiều phương án khác nhau giúp làm giảm tác động đến việc mất đi nguồn thu nhập mà không làm tổn hại đến hoạt động bảo tồn và nguồn lợi thuỷ sản
là rất quan trọng để đạt được mục tiêu phát triển bền vững nhưng lại chưa được nghiên cứu vào thảo luận rộng rãi Một mối quan tâm khác cũng cần được xem xét
đó là sự phát triển của ngành du lịch, thương mại có thể là mối đe dọa đối với sự phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản Sự hạn chế của luật pháp cùng với sự thiếu điều phối trong hoạt động giữa các cấp, từ trung ương xuống địa phương là một trong những nguyên nhân gây ra vấn đề này Những mặt hạn chế này càng cho thấy nhu cầu cần phải có cơ chế quản lý tài nguyên biển và ven biển một cách hiệu quả
và cơ chế này phải được lồng ghép và điều phối từ trung tâm Việc lập kế hoạch và xây dựng chính sách thường được tiến hành theo kiểu từ trên xuống mà không có sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan [13]
Nghiên cứu này cũng khẳng định, vấn đề nhận thức về môi trường và tài nguyên biển của đại bộ phận dân cư ven biển vẫn còn thấp kém Vì vậy, nếu không thay đổi nhận thức của người dân, không cải thiện sinh kế cho họ, không lôi cuốn được họ tham gia vào quá trình quản lý, thì tài nguyên và môi trường biển tiếp tục bị khai thác huỷ diệt Kết cục là cư dân ven biển rơi vào vòng luẩn quẩn: nhu cầu sinh kế - khai thác quá mức - cạn kiệt nguồn lợi - nghèo khó Bên cạnh đó, sự biến đổi ngày càng xấu đi của khí hậu, thời tiết cũng như tình trạng suy giảm nguồn lợi hải sản ven bờ đang là những vấn đề ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân này [62], [63], [65]
1.1.3 Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu điển hình liên quan tới luận án
Trang 20Thông qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan, có thể thấy rằng những đề tài và công trình nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, quan điểm, phương pháp tiếp cận, phạm vi nghiên cứu và ảnh hưởng của các yếu tố nghiên cứu tới tình trạng nghèo của hộ gia đình từ các góc độ khác nhau Một số đặc điểm chính của những mô hình nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của
hộ gia đình trong các nghiên cứu này đó là:
Thứ nhất, trong phân tích tình trạng nghèo của hộ gia đình chủ yếu được tiếp cận trên khía cạnh kinh tế, thông qua quá trình điều tra về thu nhập hoặc chi tiêu của
hộ gia đình Các chỉ số đo lường và đánh giá tình trạng nghèo của hộ gia đình được dựa trên khung lý thuyết do Blackwood [136], Foster và đồng nghiệp [175], Wagle [256], Walle và đồng nghiệp [257], Ravallion [230] đề xuất
Thứ hai, các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ được xem xét từ các đặc điểm của vùng, đặc điểm hộ gia đình, đặc điểm cá nhân của chủ hộ và đặc điểm phân bổ nguồn lực của Chính phủ Tùy vào bối cảnh, đối tượng và phạm vi nghiên cứu mà những đặc điểm này được xem xét và đưa vào mô hình nghiên cứu các yếu
tố khác nhau
Thứ ba, đối với hộ gia đình ngư dân, vấn đề nghèo đói của hộ gia đình còn phụ thuộc vào đặc điểm của ngư dân, điều kiện tự nhiên, môi trường và nguồn lợi hải sản Những yếu tố này được các nhà nghiên cứu phân tích, đánh giá và nhận định trên các kết quả điều tra thực địa
Từ kết quả khái quát về những công trình điển hình này cho thấy, phạm vi nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu chưa đi sâu phân tích những tác động cụ thể của các yếu tố tới tình trạng nghèo của hộ, đặc biệt là việc lượng hóa những đặc điểm điều kiện tự nhiên, như: môi trường, nguồn lợi thủy sản, v.v… ảnh hưởng ở mức độ nào tới tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ, phương pháp phân tích dữ liệu còn hạn chế Một số kết quả và mô hình nghiên cứu điển hình liên quan tới luận án được thể hiện trong phần Phụ Lục 3
1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng nhiều phương pháp khác
Trang 21nhau, như: phương pháp biện chứng duy vật để có những đánh giá toàn diện về đối tượng nghiên cứu; phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu để tổng hợp, phân tích,
so sánh, phân loại, khái quát, hệ thống các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài luận án; phương pháp điều tra, khảo sát thực địa để tiến hành điều tra khảo sát và đánh giá tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung Bộ và phương pháp thống kê, kinh tế lượng để xử lý các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp từ quá trình điều tra thực địa nhằm hỗ trợ, giải quyết các mục tiêu của luận án Các nội dung cụ thể về phương pháp nghiên cứu bao gồm:
1.2.1 Quy trình nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu của luận án, quy trình nghiên cứu của đề tài được tổ chức hai bước bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định tính bao gồm 2 nội dung cơ bản là nghiên cứu các cơ sở lý thuyết về nghèo và tổng quan về các kết quả nghiên cứu trước đây nhằm hình thành khung lý thuyết và xác định mô hình nghiên cứu của đề tài Bước tiếp theo là tổ chức phỏng vấn thử trong các hộ ngư dân nghề khai thác ven bờ tại các xã nghèo ven biển trên địa bàn để bước đầu khám phá những yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của các hộ ngư dân này Cùng với những kết quả của các nghiên cứu trước thì việc phỏng vấn thử còn là cơ sở để xây dựng bản câu hỏi điều tra phục vụ cho quá trình nghiên cứu định lượng tiếp theo Toàn bộ quy trình nghiên cứu này được tóm tắt trong sơ đồ 1.1
Trang 22Sơ đồ 1.1 Quy trình nghiên cứu 1.2.2 Nghiên cứu định tính
1.2.2.1 Nghiên cứu sơ bộ
Mục tiêu của việc nghiên cứu sơ bộ là bước đầu nhận dạng những yếu tố nào ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của các hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại các địa phương khu vực Nam Trung Bộ Các câu hỏi được lựa chọn đưa vào bản câu hỏi
sơ bộ được tổng hợp từ ba nguồn: từ các nghiên cứu trước, từ ý kiến tư vấn của các
Phỏng vấn thử N=50
Xây dựng bản câu hỏi sơ bộ
Nghiên cứu thí điểm
Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên
cứu về nghèo đói Định hướng mô hình lý
thuyết
Bản câu hỏi mẫu
Bản câu hỏi chính thức
Phân tích CFA và kiểm định giả thuyết
Phân tích hồi quy đa biến, hồi quy logit Phân tích thống kê
mô tả, Anova
Trang 23chuyên gia và từ kết quả của việc phân tích phỏng vấn nhóm Các thông tin cơ bản trong bản câu hỏi bao gồm: các đặc điểm về nhân khẩu học của chủ hộ và các thành viên trong gia đình (tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, giới tính của chủ hộ
và các thông tin khác có liên quan), thu nhập từ các hoạt động kinh tế, tình hình chi tiêu của hộ gia đình, v.v Ngoài ra, các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên, như: rủi
ro do thiên tai, sự biến đổi khí hậu, sự suy thoái và ô nhiễm môi trường biển ven bờ
và sự suy giảm nguồn lợi thủy sản cũng được đưa vào để nhận diện
v Tổ chức phỏng vấn nhóm tập trung (Focus Group Discussions)
- Mục tiêu
Bước đầu nhận dạng những đánh giá khác nhau về đặc điểm nghèo của hộ gia đình ngư dân và những yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ với những đặc điểm khác nhau của chủ hộ Cụ thể:
+ Nhận dạng về đặc điểm của hoạt động nghề khai thác hải sản ven bờ
+ Nhận dạng về các khoản chi tiêu trong hoạt động sản xuất và đời sống của hộ + Nhận dạng những đặc điểm của hộ gia đình trong hoạt động tạo thu nhập + Ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu học và đặc điểm nghề khai thác ven bờ đối với tình trạng nghèo của hộ
+ Sự khác nhau giữa hoạt động khai thác hải sản với hoạt động khác
+ Thông qua các kết quả phỏng vấn, kết hợp với bản câu hỏi mẫu để xây dựng bản câu hỏi sơ bộ và thang đo nháp
- Đối tượng và phương pháp tổ chức phỏng vấn
Lựa chọn 50 người chủ hộ và là người có tiếng nói quyết định trong các hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ thường trú trên địa bàn xã Vĩnh Lương (thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa) và xã Ninh Thủy (huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) chia làm 5 nhóm tương ứng với 5 nhóm nghề khai thác ven bờ khác nhau:
+ Nhóm 1: 10 người là chủ hộ gia đình ngư dân hoạt động nghề khai thác cố định (đăng, đó)
+ Nhóm 2: 10 người là chủ hộ gia đình ngư dân hoạt động trong nghề mành vó + Nhóm 3: 10 người là chủ hộ gia đình ngư dân hoạt động nghề lưới kéo
Trang 24+ Nhóm 4: 10 người là chủ hộ gia đình ngư dân hoạt động nghề lưới vây + Nhóm 5: 10 người là chủ hộ gia đình ngư dân hoạt động trong các nghề khai thác ven bờ khác
Lý do chủ yếu để chọn chủ hộ trong gia đình bởi vì ở Nha Trang cũng như Việt Nam nói chung, chủ hộ thường là nam giới và là người trực tiếp tham gia hoạt động khai thác hải sản, tạo thu nhập cho gia đình Tất cả những người được chọn đều có quen biết với những người trong nhóm nghiên cứu Ba cuộc phỏng vấn tập trung tương ứng với 5 nhóm đã được tiến hành vào 5 buổi khác nhau tại Chi Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khánh Hòa Trước khi phỏng vấn 1 tuần các đối tượng phỏng vấn được gợi ý và thăm dò khả năng tham gia, sau đó họ sẽ nhận được một giấy mời chính thức kèm theo một thư ngỏ cho biết tinh thần và nội dung cơ bản của cuộc phỏng vấn, trong
đó họ được lưu ý là không cần phải chuẩn bị trước điều gì mà chỉ cần trả lời hay thảo luận đúng như những gì họ đang suy nghĩ tại cuộc phỏng vấn
Các cuộc phỏng vấn được tiến hành dưới hình thức như là những buổi tọa đàm, trong đó các đối tượng được phỏng vấn và người điều khiển phỏng vấn trao đổi với nhau một cách hoàn toàn tự nhiên về những hoạt động thường ngày đối với hoạt động khai thác hải sản ven bờ và đời sống của hộ Người điều khiển phỏng vấn chỉ có vai trò định hướng cho cuộc thảo luận đi theo đúng hướng để đạt được các mục tiêu đề ra
mà không can thiệp vào suy nghĩ và câu trả lời của những người được hỏi và cũng không nhận xét, đánh giá về các câu trả lời Toàn bộ quá trình phỏng vấn, trao đổi được ghi chép lại bằng văn bản để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu tiếp theo
- Thu thập dữ liệu
Dữ liệu thu thập được từ các cuộc phỏng vấn là các bản ghi chép lại trên giấy theo đúng nguyên văn những gì đã thảo luận Các cuộc phỏng vấn được tiến hành dưới hình thức các buổi tọa đàm, trao đổi hoàn toàn tự nhiên về đời sống hiện tại cũng như tình hình khai thác hải sản của hộ gia đình Vì vậy, người điều khiển phỏng vấn đã sử dụng một bản hướng dẫn phỏng vấn theo dạng bán cấu trúc và các câu hỏi đưa ra là những câu hỏi mở nhằm khuyến khích và hướng cho người được
Trang 25hỏi trả lời vấn đề theo ý nghĩ của mình và sử dụng những từ (thuật ngữ) của riêng
họ trong khi trình bày Kịch bản phỏng vấn nhóm được trình bày tại Bảng 2.1 Mỗi vấn đề có thể được đặt ra chung cho cả nhóm và đề nghị từng người cho biết ý kiến riêng của họ hoặc cũng có những câu hỏi riêng đặt ra cho mỗi người cụ thể Các vấn
đề không chỉ được hỏi và trả lời mà còn được khuyến khích trao đổi, bình luận bằng cách đưa ra câu hỏi theo dạng: “đó là ý kiến của Ông/bà A, còn Ông/bà nghĩ sao?” Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 1-2 giờ Quá trình thực hiện phỏng vấn nhóm được
sự giúp đỡ của các cán bộ Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản thuộc
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Khánh Hòa
Trưởng nhóm: “Chào mừng ông (bà/anh/chị) đến với buổi phỏng vấn này!
Chúng tôi là những thành viên của nhóm nghiên cứu đang thực hiện một đề tài nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung Bộ Đề tài được thực hiện nhằm mục đích tìm ra những đặc điểm, yếu tố ảnh hưởng tới tình hình nghèo đối với các hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ hiện nay Mục đích của buổi phỏng vấn hôm nay là ghi nhận những thông tin liên quan đến đời sống của hộ cũng như hoạt động khai thác hải sản ven bờ, những vấn đề về môi trường và nguồn lợi hải sản ven bờ hiện nay mà đại diện đầu tiên là các ông/bà tham gia ở đây
Trong quá trình phỏng vấn, ông/bà sẽ nhận được những câu hỏi liên quan đến điều kiện sống cũng như những vấn đề về hoạt động khai thác hải sản của gia đình hiện nay Do vậy, rất mong các ông/bà hãy cố gắng nêu ra thật sát những gì ông/bà đang suy nghĩ, hãy bày tỏ suy nghĩ theo cách của riêng mình, tất cả các ý kiến của ông bà sẽ được ghi nhận và có thể được tranh luận mà không bị đánh giá là đúng hay sai hoặc tốt hay xấu”
Giới thiệu: Trưởng nhóm giới thiệu từng người trong nhóm nghiên cứu và đề
nghị mọi người tự giới thiệu mình để làm quen và tạo bầu không khí cởi mở
Tiến hành phỏng vấn: Hai người trong nhóm nghiên cứu tiến hành đặt các câu
hỏi liên quan đến mục tiêu nghiên cứu dựa trên 4 nội dung chính:
+ Đánh giá về đời sống hiện nay của hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải
Trang 26+ Đánh giá của ông/bà về những rủi ro do thiên tai, tình hình môi trường và nguồn lợi hải sản ven bờ hiện nay có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống của gia đình
Các câu hỏi nêu ra phần lớn là những câu hỏi mở để những người được phỏng vấn thảo luận và nêu lên một cách sát thực nhất suy nghĩ của họ Các dạng câu hỏi điển hình như sau:
Bảng 1.1 Bản hướng dẫn phỏng vấn (kịch bản phỏng vấn)
Các thông tin về hoạt
- Trung bình trong năm qua, gia đình Ông/bà đánh bắt bao nhiêu tháng? Mỗi tháng bao nhiêu chuyến biển?
- Thu nhập bình quân/tháng của gia đình Ông/bà từ hoạt động khai thác hải sản là bao nhiêu?
Các thông tin về hoạt
động kinh tế khác
của gia đình
- Ngoài hoạt động khai thác hải sản, gia đình có làm thêm nghề gì khác không? Nếu có thì gia đình làm thêm những nghề gì?
- Thu nhập từ nghề làm thêm trung bình tháng của cả gia đình là bao nhiêu tiền?
Các thông tin về đời
Trang 27phí sinh hoạt khác) của gia đình chiếm tỉ lệ bao nhiêu phần trăm trong tổng chi tiêu hàng tháng của gia đình?
- Những khoản thu nhập của gia đình hiện nay có đủ bù đắp chi tiêu không? Nếu thiếu thì bằng cách nào để gia đình có đủ chi tiêu?
- Đời sống của gia đình Ông/bà hiện tại là tốt hơn hay xấu hơn so với những năm trước?
Đánh giá về vấn đề
môi trường và nguồn
lợi hải sản ven bờ
- Ông/bà đánh giá như thế nào về khả năng khai thác nguồn lợi hải sản ven bờ hiện nay?
- Nếu nguồn lợi hải sản ven bờ nhiều hơn (hay ít đi) thì theo Ông/bà nguyên nhân do đâu?
- Theo Ông/bà sản lượng hải sản đánh bắt trên một mẻ lưới hiện nay tăng lên hay giảm đi?
- Ông/bà có nhận xét gì về môi trường ven biển tại địa bàn khai thác hải sản của gia đình hiện nay?
- Tình trạng rác thải tại các vùng ven biển, nơi mà gia đình ông/bà thường khai thác hải sản ra sao? Có hay không? nhiều hay ít?
- Ông/bà đã làm những gì để nâng cao thu nhập cho gia đình từ hoạt động khai thác hải sản?
Đánh giá về ảnh
hưởng của rủi ro do
thiên tai và vấn đề
biến đối khí hậu
- Trong 5 năm trở lại đây, gia đình Ông/bà đã bao giờ bị ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới chưa?
- Nếu có thì gia đình gặp phải những vấn đề gì? Thiệt hại đối với gia đình Ông/bà như thế nào?
- Hoạt động khai thác hải sản của gia đình có thường bị ảnh hưởng do các hiện tượng thời tiết bất lợi không? Nếu có thì thường gặp những dạng thời tiết nào?
- Ngư trường khai thác hải sản của gia đình trong 5 năm trở lại đây có gì thay đổi? Nếu có thì lý do gì làm ngư trường khai thác của gia đình biến động?
- Đời sống và hoạt động sản xuất của gia đình Ông/bà ra
Trang 28sao khi gặp phải thiên tai?
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
- Phân tích dữ liệu sơ bộ
Các dữ liệu sau khi đã thu thập được trong các cuộc phỏng vấn tiến hành như trên, bao gồm các bản ghi chép bằng tay sẽ được tổng hợp, để xem xét để rút ra những kết luận có tính bản chất và quan trọng nhất về những vấn đề đã được thảo luận trong các buổi phỏng vấn Việc phân loại, tổng hợp và phân tích các dữ liệu được thực hiện bằng phương pháp thủ công, với sự hỗ trợ chủ yếu của phần mềm soạn thảo văn bản MS.Words và MS.Excel sau đó tiến hành so sánh, đối chiếu để rút ra những đặc điểm mấu chốt về đặc điểm của hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ hiện nay
v Xây dựng thang đo về biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và suy giảm
nguồn lợi hải sản ven bờ
Các thang đo sơ bộ được xây dựng dựa trên kết quả của các cuộc thảo luận nhóm tập trung và bản câu hỏi mẫu Căn cứ vào các phát biểu về tình trạng biến đổi khí hậu, môi trường và nguồn lợi hải sản ven bờ là những vấn đề liên quan tới hoạt động khai thác hải sản ven bờ và thu nhập chủ yếu của các hộ gia đình được phỏng vấn Sau khi đã xử lý, tập hợp và rút gọn lại để thu được những phát biểu phản ánh tương đối chính xác các biểu hiện và khái niệm về vấn đề biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường biển ven bờ và suy giảm nguồn lợi hải sản; dựa vào các khái niệm đã có
về vấn đề biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và suy giảm nguồn lợi hải sản ven
bờ, thang đo sơ bộ với một tập hợp các biến quan sát đã được đưa ra để nghiên cứu
và đo lường các khái niệm nghiên cứu này
- Sự cần thiết phải đo lường các khái niệm liên quan đến sự biến đổi khí hậu, ô
nhiễm môi trường và suy giảm nguồn lợi hải sản ven bờ
Để có những chính sách và giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ, rất cần thiết phải hiểu được những nhân tố tác động đến tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân này, cả những yếu tố bên ngoài cũng như những yếu tố bên trong đối với mỗi hộ gia đình Hoạt động khai
Trang 29thác hải sản, đặc biệt là khai thác hải sản ven bờ phụ phuộc rất lớn vào tình trạng nguồn lợi hải sản và môi trường biển ven bờ hiện nay Vấn đề biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường ven biển vốn rất khó nhận biết một cách cụ thể mà cần phải có những thống kê, đánh giá từ các cơ quan chuyên môn và phải mất nhiều thời gian, công sức cũng như nguồn lực tài chính Tuy vậy, những biểu hiện của vấn đề này có thể được nhận diện thông qua sự cảm nhận và đánh giá của ngư dân từ hoạt động thực tiễn Việc xây dựng một bản câu hỏi để đo lường các khái niệm này đã được một số nhà nghiên cứu trên thế giới xây dựng và đánh giá [152], [166], [262], v.v Tuy nhiên, trong điều kiện tại Việt nam nói chung và vùng Nam Trung Bộ nói riêng hầu như chưa được thực hiện từ trước tới nay Mặc dù vậy, phương pháp tiếp cận này cũng sẽ phác họa những đặc điểm nổi bật nhằm khám phá những yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường ven biển ảnh hưởng ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ nhìn từ khía cạnh đánh giá của hộ gia đình vẫn là hết sức cần thiết và có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn
- Tổng quan về việc sử dụng thang đo để đo lường các yếu tố biến đổi khí hậu,
ô nhiễm môi trường
Trong thời gian qua, mức độ quan tâm của các nhà nghiên cứu về biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường biển nói chung, và nguồn lợi hải sản ven bờ nói riêng ngày càng nhận được sự quan tâm lớn của nhiều nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau Cùng với sự gia tăng về tầm quan trọng phải hiểu được những diễn biến mới về biến đổi khí hậu, ảnh hưởng của chúng tới đời sống của ngư dân, đặc biệt là những hộ ngư dân hoạt động trong nghề khai thác hải sản ven bờ, v.v…, các nhà nghiên cứu cũng
đã phát triển nhiều thang đo lường để phục vụ cho các mục đích nghiên cứu của họ
Từ rất sớm, nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng các thang đo để đo lường các khái niệm về môi trường trong việc nghiên cứu các mối quan tâm về môi trường của người dân nhằm phát hiện những thay đổi có thể có của những vấn đề môi trường qua thời gian [166], [199], [237], [238] Một trong những nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này là dựa vào việc khảo sát những cư dân của tiểu bang Washington, Hoa
Trang 30Kỳ từ 1970-1974, Dunlap và Dillman [166] đã đánh giá vấn đề hỗ trợ bảo vệ môi trường bằng cách yêu cầu trả lời về sở thích của họ cho việc phân bổ kinh phí thuế đối với các khoản chi tiêu của Chính phủ trong các khu vực khác nhau, như: chi phí cho kiểm soát ô nhiễm và công tác bảo vệ rừng cũng như các khu vực tự nhiên khác
mà công chúng hưởng thụ Hầu hết các nghiên cứu [252], [253], [254] sử dụng phương pháp thang đo với nhiều mục hỏi để đo lường các khía cạnh cụ thể về các vấn đề môi trường như: vấn đề ô nhiễm, bảo tồn để đưa ra những biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề môi trường như: chất lượng môi trường hoặc suy thoái môi trường nói chung [150], [169], [208]
Trong khi đó, Ulka Kelkar và đồng nghiệp [262] đã sử dụng thang đo Likert để đánh giá tính dễ bị tổn thương tại các thành phố của Ấn Độ đối với vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay Anthony Leiserowitz [130] cũng đã sử dụng loại thang đo này để đánh giá những rủi ro do biến đổi khí hậu của người dân tại Hoa Kỳ Còn nghiên cứu của Chenyang Xiao [152] phát triển thang đo Likert để đo lường mối quan tâm các biến số về môi trường của người dân tại Hoa Kỳ và Canada Tác giả này đã sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phương pháp phân tích khẳng định (CFA) để xem xét về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới mối quan tâm về môi trường Trong vấn đề về môi trường và nguồn lợi hải sản, nghiên cứu của Oracion, Miller và Christie [222] đã sử dụng thang đo Likert để nghiên cứu về nhận thức của ngư dân đối với vấn đề môi trường biển, hoạt động khai thác và quản
v Xây dựng bản câu hỏi sơ bộ
Bản câu hỏi sơ bộ được xây dựng phục vụ cho mục đích sau cùng là xác định được các đặc điểm nội tại đặc trưng của hộ gia đình ngư dân ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ Chính vì tầm quan trọng của nó mang tính quyết định đến các kết quả
Trang 31nghiên cứu sau này, nên bản câu hỏi ban đầu được xác định mang tính bao quát hầu hết các đặc điểm của hộ gia đình ngư dân Bên cạnh đó, các chỉ báo cho các khái niệm về những vấn đề ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và suy giảm nguồn lợi hải sản ven bờ của các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, phù hợp với những đặc điểm về trình độ, tập quán và ngôn ngữ của ngư dân Do đó, nghiên cứu quyết định đưa vào các chỉ báo đã được sử dụng của các tác giả trên thế giới về lĩnh vực này có tính chọn lọc phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận án Ngoài ra, nghiên cứu cũng bổ sung một số các chỉ báo mới phát sinh từ cuộc nghiên cứu phỏng vấn nhóm mà nghiên cứu đã thực hiện
1.2.3 Nghiên cứu định lượng
1.2.3.1 Nghiên cứu định lượng sơ bộ
Thang đo nháp là kết quả của bước 2 nói trên được đánh giá thông qua nghiên cứu định lượng sơ bộ với một mẫu có kích thước n=100 Các thang đo được điều chỉnh thông qua phương pháp phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha Các biến có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3 và hệ số alpha nhỏ hơn 0,7 sẽ bị loại Các biến còn lại sẽ được đưa vào bản câu hỏi dùng cho nghiên cứu định lượng chính thức (bản câu hỏi hoàn chỉnh) được trình bày tại Phụ Lục 1 Bản câu hỏi chính thức được thiết kế gồm 3 phần với các nội dung chủ yếu sau đây:
- Phần thứ nhất: Phần giới thiệu, phần này được thiết kế để thuyết phục mọi người đồng ý tham gia trả lời và hướng dẫn cách thức trả lời bản câu hỏi mà người hỏi đưa ra
- Phần thứ hai: Các câu hỏi để nhận diện tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân, đánh giá của ngư dân về các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên mang tính đặc thù
có thể ảnh hưởng tới tình trạng nghèo như: rủi ro do thiên tai, sự biến đổi khí hậu sự suy thoái và ô nhiễm môi trường biển ven bờ và sự suy giảm nguồn lợi thủy sản, v.v Các đối tượng được hỏi để xác nhận mức độ đồng ý hay không đồng ý trên thang đo Likert 5 điểm trải dài từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý cho các phát biểu
- Phần thứ ba: Các thông tin về đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình ngư dân, tình hình về nghề khai thác hải sản mà hộ gia đình đang hoạt động cũng như những vấn
đề về thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình Ngoài ra, trong phần thứ ba này, nghiên cứu
Trang 32còn gợi mở những nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo cho hộ gia đình đồng thời
những nguyện vọng của hộ trong việc cải thiện tình trạng nghèo cũng được đề cập
1.2.3.2 Nghiên cứu chính thức
v Chọn mẫu điều tra
Việc chọn mẫu được tiến hành để điều tra các hộ gia đình cần đảm bảo tính đại diện cho tổng thể Sau khi có thông tin thu được từ mẫu nghiên cứu sẽ suy rộng cho các đặc tính của tổng thể nghiên cứu Cụ thể, mẫu nghiên cứu trong luận án được thực hiện như sau:
- Kích thước mẫu cần thu thập
Trong phân tích thống kê kích thước mẫu cần thu thập phải đủ lớn để đạt được mục tiêu của luận án và đạt được độ tin cậy nhất định Tuy nhiên, kích thước mẫu là bao nhiêu thì được gọi là lớn thì còn chưa được xác định rõ ràng Việc xác định kích thước mẫu tùy thuộc vào phương pháp ước lượng được sử dụng Có nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng phương pháp ước lượng ML (Maxinmun Likelihood) tối thiểu phải
từ 100 đến 150 mẫu [182] Theo Bollen [141] thì số mẫu tối thiểu cho 1 tham số cần ước lượng trong phân tích khám phá (EFA) là 5 mẫu Bên cạnh đó, trong nghiên cứu còn sử dụng phương pháp ước lượng bình phương bé nhất (OLS) thì số mẫu tối thiểu cho một biến cần ước lượng trong phân tích hồi quy là 10 [181, tr 107 - 108] Tabachnick và Fidell [244] thì cho rằng, số mẫu tối thiểu trong phân tích hồi quy OLS bằng 50 + 5k (với k là số biến độc lập) Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm của tổng thể nhằm đảm bảo tính đại diện, nâng cao độ tin cậy trong kết quả phân tích, nghiên cứu thực hiện khảo sát 1.200 hộ gia đình ngư dân hoạt động trong nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung Bộ
- Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu là quá trình chọn lựa một bộ phận tương đối nhỏ từ một tổng thể, với
tư cách là đại diện cho tổng thể nghiên cứu Do vậy, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát các hộ ngư dân hoạt động nghề khai thác hải sản ven bờ bằng phương pháp lấy mẫu định mức (quota sampling) Việc quyết định các tổng thể con dựa trên tỷ lệ tổng thể tàu thuyền khai thác ven bờ của mỗi địa phương trong khu vực Phương pháp lấy mẫu định mức này tương tự như lấy mẫu xác suất phân tầng, nhưng điểm khác biệt cơ bản
Trang 33là trong từng tổng thể con những hộ gia đình được chọn mẫu tại hiện trường theo
cách thuận tiện và phán đoán cũng như kinh nghiệm nghiên cứu của tác giả [19, tr
78-79], [107, tr 36] để phục vụ cho quá trình điều tra Số lượng mẫu tại mỗi địa
phương tại khu vực Nam Trung Bộ được tính toán cụ thể tại Bảng 1.2
Bảng 1.2 Số lượng mẫu đuợc điều tra tại các địa phương
khu vực Nam Trung Bộ Tỉnh Số lượng*
(Chiếc)
Tỷ lệ (%)
Số lượng mẫu điều tra (mẫu)
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Cục Khai thác và BVNLTS [41]*
Với địa bàn nghiên cứu trải dài từ Quảng Nam đến Khánh Hòa, nên việc thu thập
mẫu điều tra được sự giúp đỡ của các đồng nghiệp và cán bộ Chi Cục Khai thác và
bảo vệ nguồn lợi Thủy sản của các địa phương này để đảm bảo quá trình điều tra đáp
ứng được yêu cầu của nghiên cứu
v Nguồn số liệu được sử dụng trong nghiên cứu
- Nguồn số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập từ quá trình điều tra phỏng vấn trực tiếp các hộ gia
đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ để thu thập những thông tin về những đặc
điểm kinh tế - xã hội của đối tượng này Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng
phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân để nhận dạng và xác định yếu tố
ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ
- Nguồn số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu từ Tổng Cục Thống kê, Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội, Cục Thống kê, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn của các địa phương trên địa bàn Nam Trung
Trang 34Bộ Bên cạnh đó, nghiên cứu sẽ thu thập số liệu từ các báo cáo của Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, Tổ chức
Nông – Lâm của Liên Hiệp Quốc, v.v…
v Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu
Các thông tin thu thập được kiểm tra và chỉnh lý nhờ quá trình đọc soát lại để tránh sai sót, mâu thuẫn Sau đó tất cả các thông tin thu thập được mã hóa các câu trả lời và tiến hành nhập dữ liệu vào máy tính Các phần mềm thống kê được sử dụng để
mô tả, phân tích và kiểm định giả thuyết đối với các biến số cần nghiên cứu Hai công
cụ chính để tóm tắt và trình bày các kết quả nghiên cứu là việc xây dựng các bảng biểu thống kê, sử dụng công cụ phân tích hồi quy và phân tích nhân tố
Đối với các biến số thuộc về đặc điểm của hộ gia đình, phân bổ nguồn lực của Chính phủ được đo lường trực tiếp, việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của các hộ ngư dân được thực hiện bằng phương pháp hồi quy OLS Phương pháp hồi quy logit được sử dụng để phân tích các yếu tố tác động biên ảnh hưởng tới xác suất rơi vào tình trạng nghèo của hộ
Đối với các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên được đo lường gián tiếp, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha để sàng lọc các thang đo từ những khái niệm nghiên cứu Công cụ phân tích nhân tố khám phá (EFA) để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và kiểm định giả thuyết về yếu tố ảnh hưởng tới nghèo của hộ cũng được sử dụng Tất cả các thủ tục trên đều được thực hiện bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0, Amos 16.0 và MS Excel
2003 để hỗ trợ cho việc giải quyết vấn đề nghiên cứu
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương 1 luận án đã trình bày chi tiết về phương pháp luận nghiên cứu nhằm hình thành khung phân tích của luận án Các nội dung chính được trình bày trong chương 1 này bao gồm:
Trang 35Thứ nhất, luận án đã khái quát những công trình nghiên cứu tiêu biểu trong lĩnh vực đói nghèo, đặc biệt là những công trình nghiên cứu về đói nghèo trong ngành thủy sản góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về nghèo và tìm kiếm cơ hội nghiên cứu của luận án Cùng với việc tổng quan các công trình nghiên cứu này giúp cho việc nhận diện những yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình nói chung và
hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung Bộ nói riêng Thứ hai, luận án đã mô tả chi tiết về phương pháp nghiên cứu Về cơ bản, phương pháp nghiên cứu của luận án được tổ chức hai bước bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
Trong nghiên cứu định tính, luận án mô tả tiến trình nghiên cứu sơ bộ nhằm khám phá và nhận diện vấn đề nghèo của hộ gia đình ngư dân Những vấn đề trong quá trình nghiên cứu sơ bộ như: Tổ chức phỏng vấn nhóm tập trung, khái quát về quá trình xây dựng thang đo về biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và suy giảm nguồn lợi hải sản ven bờ cũng được đề cập
Kết quả nghiên cứu sơ bộ là bước đầu nhận dạng những yếu tố nào ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của các hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung Bộ và giúp cho việc điều chỉnh bản câu hỏi điều tra để phù hợp với đặc điểm của đối tượng ngư dân, phục vụ cho quá trình điều tra chính thức Nội dung chủ yếu của bản câu hỏi này gồm 3 phần với các nội dung chủ yếu như: (i) Phần giới thiệu và hướng dẫn cách thức trả lời; (ii) Phần mô tả các câu hỏi để nhận diện tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân và (iii) Phần mô tả những thông tin về đặc điểm nhân khẩu học của hộ, v.v
Trong nghiên cứu chính thức, luận án đã trình bày mẫu nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu điều tra, kích thước mẫu cần thu thập cho từng địa phương để phục vụ cho quá trình điều tra
Cuối cùng, phương pháp xử lý dữ liệu, các phần mềm thống kê được sử dụng để phục vụ cho quá trình tính toán, phân tích cũng được trình bày một cách chi tiết trong nội dung của chương
Trang 36CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGHÈO
2.1 KINH TẾ HỌC HỘ GIA ĐÌNH
2.1.1 Kinh tế hộ gia đình
2.1.1.1 Khái quát về kinh tế hộ gia đình
Kinh tế gia đình là một yếu tố quyết định tới mức sống của hộ gia đình và các thành viên trong hộ Nền kinh tế gia đình với tiềm năng đảm bảo cho sự phát triển của hộ gia đình, từ mức sống bình quân thấp đến một mức độ cao hơn thông qua cải thiện và đáp ứng các nhu cầu của những cá nhân trong hộ gia đình và xã hội Kinh
tế hộ gia đình dựa trên những tư tưởng và nguyên tắc trong việc phân bổ các nguồn lực khan hiếm từ các hoạt động khác nhau để đáp ứng được sự phát triển nhằm đạt được tiêu chuẩn sống của hộ [232]
Các phương pháp tiếp cận về những đặc điểm, quy mô kinh tế của hộ nhằm đưa
ra một chuẩn mực mà mỗi gia đình được xem xét dựa trên những tiêu chí khác nhau, trong những điều kiện kinh tế khác nhau Các lý thuyết kinh tế học hộ gia đình đã cho thấy sự khác biệt trong cách tiếp cận chủ quan và khách quan để xây dựng một tiêu chuẩn sống của hộ gia đình Mục tiêu của phương pháp tiếp cận là căn cứ vào các chỉ số được thu thập từ các cá nhân hộ gia đình, như: chi phí, tài sản
và thu nhập Trong khi đó, phương pháp tiếp cận chủ quan dựa trên nhận thức của người dân trong việc đáp ứng các nhu cầu, mức độ hài lòng về kinh tế hoặc tài chính của hộ Chuma và Molyneux [156] đánh giá tình trạng kinh tế của hộ gia đình thông qua việc sử dụng tài sản và tiêu dùng hàng hóa Kết quả cho thấy rằng sự phân loại về tình trạng kinh tế của hộ gia đình là khác nhau giữa khu vực nông thôn
và thành thị
Khi đánh giá về kinh tế của hộ, nhiều nhà nghiên cứu [147], [202], [209] đã cho thấy các khoản thu nhập bổ sung của hộ gia đình có thể đóng góp tích cực vào tình hình kinh tế của gia đình Thu nhập bổ sung của hộ gia đình bao gồm các khoản thu nhập, như: tài sản thừa kế, các khoản tiết kiệm, trợ cấp việc làm, quyền sở hữu nhà
Trang 37cửa, v.v… Tài sản là một chỉ số về tiềm lực kinh tế của một hộ gia đình nhằm dự phòng các trường hợp bất trắc, hoặc trở thành bà đỡ cho các rủi ro về kinh tế như thất nghiệp [197] Những phương pháp tiếp cận khác nhau về kinh tế của hộ gia đình đã được các nhà nghiên cứu phân tích, đánh giá với mục đích nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu về khả năng kinh tế của hộ gia đình để tìm kiếm các giải pháp cải thiện kinh tế hộ trong tương lai
Bên cạnh đó, vấn đề quản lý hộ gia đình cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện Quản lý hộ gia đình được hiểu là một lĩnh vực nhằm giúp các thành viên
và gia đình cải thiện chất lượng cuộc sống của họ thông qua quá trình ra quyết định đối với vấn đề sử dụng và phân bổ nguồn lực [148] Gross, Crandall, và Knoll [180] xem xét quản lý hộ gia đình là "hoạt động có mục đích nhằm tạo ra và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được mục tiêu của hộ” Berger đã nghiên cứu về hoạt động quản lý của hộ gia đình để đánh giá sự phát triển về hoạt động quản lý, mối quan hệ và ứng dụng của nó đến cuộc sống của hộ [148] Những kết quả này góp phần đặt nền tảng cho việc nghiên cứu về hoạt động kinh tế của hộ gia đình Trước tiên, hộ gia đình tập trung vào việc tạo ra của cải vật chất và sử dụng hàng hóa, dịch
vụ cho việc duy trì cuộc sống Thứ hai, hộ gia đình ra các quyết định trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên khan hiếm của mình
2.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ gia đình
Đã có nhiều nghiên cứu về hộ gia đình vào những năm 1950 và tập trung chủ yếu vào các vấn đề như: quản lý tài chính, thu nhập và chi tiêu, an sinh, hưu trí, nhà
ở, ngân sách, tiết kiệm và hôn nhân [129] Các nghiên cứu về hộ gia đình đã xem xét việc phân bổ thời gian cho hoạt động sản xuất và phân chia công việc trong hộ gia đình Tình trạng việc làm của phụ nữ, trẻ em, giải trí và quá trình ra quyết định của hộ cũng được xem xét [195]
Theo Deacon và Firebaugh [164], hộ gia đình sử dụng và quản lý các yếu tố đầu vào cho sản xuất nhằm đạt được những kết quả đầu ra Hoạt động quản lý liên quan đến các bước, bao gồm: xây dựng các mục tiêu, kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả đạt được [143] Các quyết định mà hộ gia đình thường đưa ra, như: xác
Trang 38định các dịch vụ sẽ được cung cấp bởi các thành viên trong gia đình, các dịch vụ sẽ được mua từ thị trường [142] Các nghiên cứu về gia đình đã chứng minh mối liên
hệ giữa tình trạng kinh tế và các biến số nhân khẩu học, hoạt động quản lý, v.v… của hộ gia đình [164], [209]
2.1.2 Độ thỏa dụng và chi tiêu hộ gia đình
2.1.2.1 Lựa chọn tiêu dùng tối ưu của hộ gia đình
Trong mô hình đơn giản về hành vi hộ gia đình [221], các thành viên cần tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ khác nhau để tối đa hóa độ thỏa dụng Hàm thỏa dụng của
hộ gia đình khi tiêu dùng K hàng hóa có dạng:
1( , , K)
Trong đó (q1, , qK) là một tập hợp những hàng hóa K mà hộ tiêu dùng
Để đáp ứng được nhu cầu của mình trong việc tiêu dùng hàng hóa, hộ gia đình cần có mức thu nhập nhất định để trang trải cho các hoạt động chi tiêu Tổng thu nhập của hộ gia đình là một hàm số có dạng:
1
K
k k k
=
Trong đó:
Ψ: là thu nhập phi lao động
qk: là số lượng hàng hóa k (k = 1,…, K) mà hộ tiêu dùng
pk: là giá cả của hàng hóa k tương ứng (k = 1,…, K)
Giả sử rằng, ban đầu thu nhập phi lao động bằng không Hộ gia đình sẽ tối đa hóa độ thỏa dụng của mình Điều này có nghĩa rằng:
Trang 392.1.1.2 Hàm chi tiêu, độ thỏa dụng và ngưỡng nghèo
Để xác định ngưỡng nghèo, cần thiết phải xem xét độ thỏa dụng của hộ trong quá trình tiêu dùng hàng hóa với ràng buộc về ngân sách để đảm bảo cho hộ gia đình đáp ứng được các nhu cầu cơ bản, như ăn, mặc, ở, v.v… Hàm chi tiêu của hộ gia đình phản ánh vấn đề này và được xem xét trong điều kiện không gian, thời gian cụ thể và đảm bảo hộ gia đình nhận được một mức phúc lợi nhất định Những hộ không đạt được mức
độ phúc lợi bình quân đầu người nhất định này được coi là những hộ nghèo [230] Hàm thỏa dụng là một khái niệm kinh tế được sử dụng rộng rãi đo lường phúc lợi
mà con người nhận được thông qua tiêu dùng các loại hàng hóa Theo phương pháp tiếp cận này, ngưỡng nghèo có thể được hiểu là một điểm nằm trên hàm chi tiêu của hộ gia đình Điểm này phản ánh chi phí tối thiểu để một hộ gia đình đạt được một mức độ
độ thỏa dụng nhất định theo giá hiện hành và phù hợp với những đặc điểm của hộ gia đình [87], [230]
Giả sử rằng, một hộ gia đình với các đặc điểm x, tiêu thụ một giỏ hàng hóa với số lượng q Mức độ ưa thích của hộ gia đình đối với tất cả các giỏ hàng hóa tiêu dùng được đại diện bởi một hàm thỏa dụng có dạng u (q, x) Chi phí tối thiểu để một hộ gia đình với những đặc điểm x, đạt được độ độ thỏa dụng u và khi phải đối mặt với giá p được phản ánh thông qua hàm chi tiêu, có dạng là e (p, x, u)
Mức thỏa dụng thực tế mà hộ gia đình nhận được thông qua chi tiêu là e (p, x, u) với tổng chi tiêu thực tế chính là y = pq, để một hộ gia đình tối đa hóa độ thỏa dụng Nếu gọi uz là mức thỏa dụng cần thiết để hộ thoát nghèo thì ngưỡng nghèo là một hàm
có dạng:
z = e (p, x, uz) (2.4) Như vậy, ngưỡng nghèo là chi phí tối thiểu tại một mức độ thỏa dụng nhất định với giá hiện hành và đặc điểm hộ gia đình Đây chính là cơ sở để nhận diện được khía cạnh nghèo từ mức độ thỏa dụng đến nghèo trong khía cạnh tiền tệ Tuy vậy, sẽ rất khó để nhận biết được làm thế nào xác định mức nghèo khó của độ thỏa dụng Do đó, để đo lường tình trạng nghèo, cần phải kết hợp chuẩn nghèo với thông tin thu thập được từ hộ gia đình trong việc phân bổ chi tiêu cho sinh hoạt của hộ gia đình Về nguyên tắc có các phương pháp cơ bản đó là:
Trang 40Thứ nhất, phương pháp chỉ số phúc lợi: Người ta có thể giảm phát tất cả các khoản thu nhập tiền tệ thông qua z Chỉ số phúc lợi xã hội được xác định bằng cách lấy chi tiêu thực tế chia cho z (y/z), trong đó y là tổng chi phí (pq) Giá trị y/z còn được gọi là “chỉ số phúc lợi " [138]
Thông qua chỉ số phúc lợi này, có thể tính toán "chỉ số chi phí thực của đời sống" và được xác định bằng biểu thức:
e (p, x, uz)/e (pr, xr, uz) (2.5) Trong đó: pr là giá tham chiếu cố định
xr thể hiện sự ưa thích với những đặc điểm của hộ gia đình
Chỉ số chi phí cuộc sống là chỉ số phản ánh ngưỡng nghèo của mỗi người trong
hộ gia đình Căn cứ vào chỉ số này để đưa ra một ngưỡng nghèo chung (Zr) Ngưỡng nghèo chung này được xác định gián tiếp thông qua hàm chi tiêu Hàm chi tiêu với mức giá pr, sự ưa thích xr và với mức thỏa dụng ở ngưỡng nghèo uz có dạng:
Zr = e (pr, xr, uz) (2.6) Chỉ số này có thể được sử dụng để chuẩn hóa tất cả các khoản thu nhập bằng tiền giúp cho việc so sánh với các đơn vị tiền tệ khác nhau Ngưỡng nghèo duy nhất này được sử dụng và được gọi là chuẩn nghèo chung Chỉ số này phản ánh "chi tiêu thực" hay "thu nhập thực" mà hộ gia đình đạt được
Thứ hai, phương pháp chi tiêu tương đương: Chỉ tiêu này được xác định thông qua việc sử dụng hàm chi tiêu để tính toán một mức "chi tiêu tương đương" và được thể hiện thông qua phương trình:
, , , ,
y = e p x v p x y (2.7) Khi pr và xr cố định, thì ye là hàm thỏa dụng có xu hướng tăng và là hàm đại diện cho mọi thành viên của hộ gia đình
Gọi Zr là chỉ số phúc lợi của hộ (mức chuẩn nghèo chung) Để tính "chỉ số phúc lợi tương đương y/Zr, cần thu thập những thông tin trong việc phân bổ chi tiêu thực
tế hoặc chi tiêu bình quân đầu người thì việc đo lường tình trạng nghèo của hộ có thể được xác định
Việc đo lường phổ biến nhất được sử dụng trong thực tế là chỉ số số đếm đầu người, được tính toán bởi tỷ lệ phần trăm của số người sống dưới ngưỡng nghèo