Tôi xin chân thành cám ơn thầy cô khoa Văn học và Ngôn ngữ; thầy cô Phòng Sau đại học đã hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án; cám ơn các thầy cô đã âm thầm g
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN DUY TRUNG
LÔ-GÍCH, NGỮ NGHĨA VÀ LẬP LUẬN
(Trên cứ liệu tiếng Việt)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN DUY TRUNG
LÔ-GÍCH, NGỮ NGHĨA VÀ LẬP LUẬN
(Trên cứ liệu tiếng Việt)
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 62220101
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS NGUYỄN ĐỨC DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi Các tài liệu nêu trong
luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
khác
NCS Nguyễn Duy Trung
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Luận án được hoàn thành với sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Đức Dân Từ lúc bắt đầu triển khai đề tài, thầy đã dành nhiều thời gian, công sức để định hướng và bổ khuyết giúp tôi hoàn thành luận án trong điều kiện hết sức khó khăn Thầy cũng là người bảo trợ khoa học giúp tôi thực hiện thành công công trình sinh viên nghiên cứu khoa học (giải nhì cấp Bộ, 1998), luận văn tốt nghiệp (1999), luận văn thạc sĩ (2006) Không chỉ hướng dẫn khoa học, hơn 15 năm qua, GS.TS Nguyễn Đức Dân cùng PGS.TS Trần Thị Ngọc Lang còn hết lòng giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn trong cuộc sống để duy trì việc học Xin gởi lời cám ơn đặc biệt đến thầy cô về những giúp đỡ to lớn này
Tôi xin chân thành cám ơn thầy cô khoa Văn học và Ngôn ngữ; thầy cô Phòng Sau đại học đã hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án; cám ơn các thầy cô đã âm thầm giúp đỡ tôi vượt qua nhiều khó khăn từ ngày là sinh viên; cám ơn Hội đồng chuyên môn đã đóng góp ý kiến; cám ơn các nhà khoa học thực hiện phản biện độc lập đã chỉ ra những sai sót giúp tôi bổ sung, sửa chữa
và hoàn thiện trước khi luận án được bảo vệ chính thức
Trong thời gian làm Nghiên cứu sinh cũng như học Thạc sĩ trước đó, tôi luôn được đơn vị quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi Nhờ vậy tôi đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao mà vẫn duy trì được việc học Tôi xin nỗ lực rèn luyện, nâng cao chuyên môn từ những tri thức đã được học để đóng góp vào công việc chung của đơn vị, thay cho lời cám ơn về những quan tâm của lãnh đạo và sự chia
sẻ trong công việc của đồng nghiệp
Cuối cùng, xin dành niềm vinh dự này gởi về ba mẹ và người thân của tôi - những người dù không biết chữ vẫn lặng lẽ hy sinh, dành cho tôi cơ hội để được đi học, để phấn đấu vươn lên
TP.Hồ Chí Minh ngày 18 tháng 4 năm 2014
NCS Nguyễn Duy Trung
Trang 5MỤC LỤC
BÌA CHÍNH
BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CÁM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
M Đ U 1
1 Lý do, mục đích và tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3 Lịch sử vấn đề 4
Phương pháp nghiên cứu 6
5 Giá trị khoa học và giá trị thực tiễn của luận án 8
6 Cấu trúc của luận án 10
C ng 1 T NG QUAN: TỪ LÔ-GÍCH ĐẾN LẬP LUẬN 11
1.1 Tư duy là tồn tại 11
1.1.1 uan điểm marxism về tư duy và con người 11
1.1.2 uá trình nhận thức 12
1.2 Ngôn ngữ và lô-gích 14
1.2.1 Tư duy và ngôn ngữ 14
1.2.2 Hình thức của tư duy - v vật chất ngôn ngữ 15
1.3 Lập luận: Từ lô-gích hình thức tới lô-gích phi hình thức 18
1.3.1 Miêu tả, nhận định, lý lẽ và lập luận 18
1.3.2 Lập luận theo lô-gích hình thức 20
1.3.3 Lập luận theo lô-gích phi hình thức 21
1.3.3.1 Lập luận theo tri thức ngôn từ 25
1.3.3.2 Lập luận theo tri thức xã hội 28
1.3.3.3 Nguỵ biện trong lập luận 29
Tiểu kết 32
Trang 6C ng 2 LÔ-GÍCH VÀ LẬP LUẬN: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN 33
2.1 Lập luận trong ngôn ngữ tự nhiên 33
2.1.1 Lập luận: cấu trúc khái quát 33
2.1.2 Lập luận và các phương thức lập luận 35
2.1.2.1 Lập luận khoa học 37
2.1.2.2 Lập luận thực tiễn 38
2.1.2.3 Lập luận hiệu quả 39
2.1.2 Lập luận theo phép so sánh 39
2.1.2.5 Tăng cường lý lẽ bằng phép so sánh cho lập luận 41
2.1.2.6 Lập luận theo so sánh tương phản 42
2.1.2.7 Lập luận theo lô-gích hình thức 44
2.1.2.8 Chứng minh và bác b : Những vấn đề chung 45
2.1.3 Hình thức ngôn ngữ của lập luận 50
2.1.3.1 Tác tử lập luận 50
2.1.3.2 Kết tử lập luận 53
2.1.3.3 Những tín hiệu ngôn ngữ định hướng lập luận 54
2.1 Lý lẽ trong lập luận 58
2.1 .1 Lý lẽ 58
2.1 .2 Lý lẽ nội tại và lý lẽ khách quan 59
2.1 .3 Lý lẽ đời thường 60
2.1 Lý lẽ trong lập luận quyền uy 64
2.1 .5 Một số kiểu lý lẽ để thuyết phục 67
2.1.5 uan hệ lô-gích và hình thức ngôn ngữ trong lập luận tự nhiên 72
2.1.5.1 Kiểu quan hệ nhân - quả (theo [21]) 73
2.1.5.2 Sự giải thích 75
2.1.5.3 Lập luận nêu quan hệ giả định 76
2.1.6 Một vài lý lẽ đặc thù của người Việt 77
2.2 Ngữ nghĩa và phương pháp sơ đồ hoá lập luận 84
2.2.1 Vấn đề cơ sở 84
2.2.2 Những sơ đồ cơ bản: Từ ngữ nghĩa tới sơ đồ lập luận 86
Trang 72.2.2.1 Lập luận một tiền đề 86
2.2.2.2 Lập luận hai tiền đề 87
2.2.2.3 Những lập luận rút gọn 90
2.2.3 Sơ đồ hoá chuỗi lập luận 91
2.2.3.1 Những chú ý cần thiết 92
2.2.3.2 Chuỗi lập luận 94
2.2.3.3 Sơ đồ của chuỗi lập luận 96
2.2.3 Chuỗi sơ đồ tranh luận 111
Tiểu kết 119
C ng 3 LÔ-GÍCH VÀ LẬP LUẬN: NHỮNG PHƯƠNG DIỆN KHÁC 121
3.1 Sự phủ định trong ngôn ngữ tự nhiên 121
3.1.1 Sự phủ định 121
3.1.1.1 Phủ định: một hình thức phổ biến trong lập luận 121
3.1.1.2 Phủ định và sự so sánh theo thực thể luận 122
3.1.2 Jespersen O và cái nhìn lịch đại về sự phủ định 123
3.1.2.1 Phủ định trong tiếng Hy Lạp 123
3.1.2.2 Phủ định như một phổ niệm ngôn ngữ 124
3.1.2.3 Vấn đề phủ định trong Việt ngữ học 125
3.1.2 Những cơ sở của sự phủ định 125
3.1.3 Tiền giả định và giá trị của phép phủ định 127
3.1.3.1 Tiền giả định 127
3.1.3.2 Tiền giả định trong mối liên quan với phép phủ định 128
3.1.3.3 Các nguyên tắc của tiền giả định 128
3.1 Hai phương diện của sự phủ định 131
3.1 .1 Sự xác nhận 131
3.1 .2 Sự phủ nhận 133
3.1 .3 uan hệ giữa ý nghĩa phủ nhận và xác nhận trong câu phủ định 134
3.1.5 Không gian của sự phủ định trong ngôn ngữ tự nhiên 135
Trang 83.1.5.1 Tính đối xứng và phi đối xứng 135
3.1.5.2 Không gian và lượng hoá của một biểu thức 136
3.1.6 Ngôn ngữ hoá các lượng từ 139
3.1.6.1 Các dạng lượng hoá 139
3.1.6.2 Phủ định của một lượng hoá trong ngôn ngữ 140
3.1.7 Bác b và lập luận bác b 141
3.1.7.1 Các phương thức của sự bác b 141
3.1.7.2 Miêu tả câu bác b gián tiếp bằng lô-gích vị từ 144
3.2 Trường nghĩa từ góc độ lô-gích và lập luận 145
3.2.1 Vấn đề chung 145
3.2.1.1 Về thuật ngữ trường 145
3.2.1.2 Trường nghĩa 147
3.2.2 Lý thuyết trường nghĩa 149
3.2.2.1 Từ Humboldt đến Saussure 149
3.2.2.2 uan điểm nối tiếp tiến bộ của Trier J 152
3.2.3 Các phương diện của trường nghĩa - cơ sở của sự lập luận 154
3.2.3.1 uan hệ trên hai trục toạ độ: liên tưởng và kết hợp 155
3.2.3.2 Trường nghĩa và phép phủ định 156
3.2 Sự quy chiếu 157
3.2.5 Tính bất tương hợp nghĩa của trường nghĩa 159
3.2.5.1 Phương diện thứ nhất 159
3.2.5.2 Phương diện thứ hai 159
3.2.6 Thang độ 160
3.2.7 Định hướng lập luận bằng từ ngữ 161
Tiểu kết 164
KẾT LUẬN 167 TÀI LIỆU THAM KHẢO
XUẤT XỨ CÁC TRÍCH DẪN
Trang 9MP Modus Ponens (tam đoạn luận), suy luận theo điều kiện đủ
MT Modus Tollens (tam đoạn luận), suy luận theo điều kiện cần
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ khái quát của một lập luận 35
Sơ đồ 2.2: Một tiền đề suy ra một kết đề 86
Sơ đồ 2.3: Từ một tiền đề suy ra nhiều kết đề 87
Sơ đồ 2 : Lập luận hai tiền đề 88
Sơ đồ 2.5: Mỗi tiền đề suy ra kết đề 88
Sơ đồ 2.6: Nhiều tiền đề suy ra nhiều kết đề 89
Sơ đồ 2.7: Tiền giả định làm tiền đề 91
Sơ đồ 2.8: Lập luận quy nạp 93
Sơ đồ 2.9: Chuỗi lập luận 95
Sơ đồ 2.10: Chuỗi lập luận với những lý lẽ ngầm ẩn 98
Sơ đồ 2.11: Lý lẽ ngầm ẩn từ sự chuyển đổi cặp tuy… nhưng để lại một vết 100
Sơ đồ 2.12: Chuỗi lập luận nhiều câu đơn trong cấu trúc nghịch nhân quả 102 Sơ đồ 2.13: Lập luận hình thành từ việc chuyển các câu đơn thành phán đoán lô-gích 106
Sơ đồ 2.1 : Hoạt đsộng tranh luận bác b đa thoại 116
Trang 11M Đ U
1 Lý do, mục đíc và tín cấp t iết của đề tài
Sự xâm nhập của toán học và lô-gích vào các ngành khoa học xã hội và nhân văn ngày càng mạnh mẽ Xu hướng này không nhằm làm cho ngôn ngữ mang vẻ đẹp cân đối, hài hoà như toán học hay lô-gích mà là một tất yếu trong quá trình phát triển của các khoa học xã hội Hơn hết, bản thân ngôn ngữ đã chứa đựng một số nội dung, nguyên lý quan trọng mà chỉ có thể được làm sáng t bằng những công cụ hình thức của toán học hay lô-gích học Thực tế cho thấy, rất nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ dựa trên cách tiếp cận này đã chỉ ra bản chất của ngôn ngữ tự nhiên, bổ sung hiệu quả cho các kết quả nghiên cứu bằng những phương pháp ngôn ngữ học thuần túy Trong một nỗ lực như thế, đối tượng nghiên cứu càng được hiển thị rõ hơn về bản thể luận
Và khi bản chất ngôn ngữ nhờ đó đã được làm sáng t , đến lượt nó lại bổ sung cho các khoa học liên ngành Một quá trình thẩm thấu từ những công cụ
mà nhà ngôn ngữ học đang sử dụng Điều đó càng cho thấy trong nghiên cứu ngôn ngữ, có sự tác động biện chứng giữa phương tiện và mục đích
Lập luận là một hoạt động ngôn từ uá trình sử dụng ngôn ngữ của người bản ngữ không phải là cách chọn lựa một hình thức ngữ pháp phù hợp
để diễn đạt mà là thao tác xây dựng chuỗi ngôn ngữ sao cho hợp lý với tình huống và mục đích của cuộc giao tiếp Đó là hoạt động dùng ngôn ngữ để tác động vào nhận thức và hành vi của người tiếp nhận Một sự chọn lựa có tính đến những can thiệp mạnh mẽ của tư duy để điều chỉnh tư duy
Lập luận là quá trình hiện thực hoá tư duy Mọi lập luận đều được thể hiện trước hết và quan trọng nhất bằng ngôn ngữ Vậy, tư duy - ngôn ngữ - lập luận là bộ ba của một chỉnh thể thống nhất từ hình thức đến nội dung Trong đó, mỗi bộ phận là một quá trình: quá trình tư duy, quá trình lập luận
Trang 12và quá trình sử dụng ngôn ngữ Mỗi quá trình như thế đều có những đặc điểm riêng, sử dụng những cơ chế riêng, nhưng tất cả phải cùng tham gia hướng đích
Nghiên cứu lập luận nhất thiết phải bắt đầu từ ngôn ngữ như là chiếc v vật chất của tư duy Nhưng ngôn ngữ vốn có sự mềm dẻo, linh hoạt và biến đổi không ngừng theo thời gian, không gian, theo ngữ cảnh, tâm lý, lứa tuổi, truyền thống, xã hội và theo từng nền văn hoá Cho nên, khó có thể định hình chúng để nêu lên mô hình phổ quát như bản chất vốn có của nó Về phương diện này, việc sử dụng công cụ lô-gích để hình thức hoá các biểu thức ngôn ngữ trong quá trình phân tích sẽ trở nên hữu ích đối với nhà ngôn ngữ học
Gần đây, nhờ những công cụ lô-gích hình thức và lô-gích phi hình thức
(tức là sự lập luận) mà ngữ dụng học, lý thuyết hội thoại có những phát triển
vượt bậc Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài -gí h ng ngh à n (trên
cứ liệu tiếng Việt) với mục đích thông qua những công cụ của lô-gích hình thức và lô-gích phi hình thức - cũng là lý thuyết lập luận - nhằm góp phần làm sáng t một số phương diện của ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng Trên cơ sở đó, chúng tôi hy vọng được tiếp nối và góp thêm một phần công sức trong công việc mà các nhà nghiên cứu từng khai phá
Lập luận là hoạt động phổ biến trong tất cả các cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ Các văn bản dù được xây dựng theo phong cách nào cũng cần dùng tới lập luận Hoạt động giao tiếp ngôn ngữ bao gồm trao đổi giao tiếp thông thường hàng ngày, hoạt động giảng dạy và học tập trong nhà trường, sự giao dịch mua bán thương mại, quá trình tranh tụng ở toà án, đến các diễn từ chính trị, chất vấn và trả lời tại nghị trường… đều cần dùng tới lập luận và cần thực hiện lập luận sao cho hiệu quả Một khi không thực hiện được điều đó xem như là một thất bại của người lập luận và tất nhiên không đạt được mục đích giao tiếp đã đặt ra
Trang 13Việt Nam, người đi tiên phong trong lĩnh vực này là cố GS.TS Đỗ Hữu Châu và GS.TS Nguyễn Đức Dân Hai nhà khoa học đã có những công trình nghiên cứu mang tính hệ thống về khoa học lập luận và đưa ra những đề xuất xác đáng Trong mươi năm gần đây, nhiều luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ cũng đề cập đến những phương diện khác nhau của vấn đề này Tuy nhiên, từ tư duy, ngôn ngữ đến lập luận là một quá trình hết sức phức tạp Tư duy là cái luôn chứa những bí ẩn cần được khám phá
Một thực tế, dù đã có những ý kiến của các nhà khoa học đề nghị tập trung nghiên cứu và ứng dụng giảng dạy môn lập luận trong nhà trường nhưng vấn đề này hiện vẫn chưa được triển khai Các trường đại học của Việt Nam gần như không dành thời lượng cho môn học này trong chương trình đào tạo Trong khi đó, sinh viên trong quá trình học và ngay cả khi ra trường làm việc luôn đối diện với những vấn đề liên quan đến lập luận Vì vậy, đề tài cũng nhằm góp phần đề xuất cho sự hiện thực hoá bộ môn lập luận trong nhà trường, điều mà các quốc gia ở châu u và phương Tây đã triển khai từ rất sớm
2 Đ i t ng và p m vi ng i n c u
Phạm vi của đề tài -gí h ng ngh à n rất rộng Chúng tôi
chỉ triển khai nội dung luận án trên một số mặt hoạt động của ngôn ngữ và quá trình tư duy liên quan tới lập luận, thông qua các công cụ của một số hệ lô-gích Như sẽ được trình bày ở chương Tổng quan (chương 1), lô-gích mệnh
đề và lô-gích vị từ có giá trị đặc biệt trong vấn đề này Trong phụ đề luận án,
chúng tôi ghi “trên ứ iệ tiếng Việt” với ý nghĩa một mặt luận án này được trình bày qua cứ liệu tiếng Việt, mặt khác có những vấn đề lô-gích và lập luận, nhất là ý ẽ, là đặc thù của tiếng Việt tức chỉ riêng cho tiếng Việt Trong
khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ có thể đề cập đến một số nội dung căn bản xung quanh vấn đề tư duy, lô-gích và sự lập luận nói chung, những đặc thù của người Việt và tiếng Việt nói riêng qua ngữ liệu được trích từ các tác phẩm văn học, từ những hoạt động tranh biện tại nghị trường cũng như trong
Trang 14nói năng, giao tiếp hàng ngày Khái niệm lập luận, cấu trúc lập luận là nội dung trung tâm, ở đó lý lẽ trong lập luận là phần then chốt Chúng tôi trình
bày qua cứ liệu tiếng Việt Về những lý lẽ trong lập luận, ngoài những lý lẽ
lô-gích và những lý lẽ chung cho mọi dân tộc, luận án đặc biệt chú ý giới
thiệu nhiều ý ẽ đặc thù của người Việt mà chưa mấy tác giả quan tâm
Các vấn đề khác nằm ngoài giới hạn được đề cập như trên không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án
3 Lịc sử vấn đề
Trong cuộc sống, con người luôn cần dùng đến lập luận Dùng lập luận
để chứng minh một điều gì đó Dùng lập luận để thanh minh, để giải thích một sự kiện nào đó, để thuyết phục người khác tin vào một sự kiện và cũng có thể dùng lập luận để bác b , bắt bẻ một ý kiến khác
Vì vậy, lập luận có tầm quan trọng đặc biệt Ngay từ thời cổ đại, thế kỷ thứ V trước Công nguyên, lập luận đã được chú ý nghiên cứu Có truyền thuyết rằng, vùng đất Sicile vốn do hai bạo chúa thống trị Họ chiếm đất đai
và chia cho binh sĩ của mình Nhưng vào năm 67 TCN (trước Công nguyên) một cuộc nổi dậy đã lật đổ hai bạo chúa này Nhiều người tuyên bố từng là chủ sở hữu những mảnh đất trước đây bị cướp đoạt Thế là có những cuộc kiện cáo liên miên tại toà Trong tình hình đó, Corax và học trò của ông là Tisias đã viết một tài liệu về “Phương pháp lý lẽ” khi nói trước toà Có lẽ, đó
là văn bản đầu tiên đề cập tới phương thức lập luận (theo [22]) Corax và Tisias là hai nhà hùng biện nổi tiếng của Hy Lạp Chính tại Sicile sau thời điểm này, xuất hiện cuốn sách về mỹ từ học được cho là sớm nhất trong lịch
sử phong cách học cũng của hai ông
Lập luận là tranh luận Trong tranh luận có ngụy biện Có những khảo cứu về lập luận liên quan đến sự ngụy biện
Trong quá trình lập luận cũng có thể xuất hiện những sai lầm về phương
diện lô-gích cũng như về tư duy Đó là ngộ biện (fallacies) - những sai lầm
Trang 15trong lập luận Vấn đề này cũng đã được Aristote đề cập đến Hiện nay người
ta vẫn tiếp tục nghiên cứu những ngộ biện hiện đại Công trình Fallacies
(1970) của Hamblin rất tiêu biểu, luôn được nhắc tới như một tác phẩm kinh điển về vấn đề này [91]
Thuở ban đầu, lập luận được coi là lĩnh vực thuộc phạm vi của th t
hùng biện - một “nghệ thuật nói năng”, được trình bày trong Rhetoric (Tu từ
học) của Aristote Tiếp sau đó, sự lập luận cũng được trình bày trong các phép suy luận lô-gích, trong thuật ngụy biện hay những cuộc nghị luận, tranh cãi ở toà án
Thời cổ đại người ta nghiên cứu những lập luận hình thức
Nửa sau thế kỷ XX, lý thuyết lập luận được quan tâm trở lại Những công trình của hai tác giả Pháp Anscombre J.C và Ducrot O [66], [76] đã đưa
ra một kiến giải mới, căn bản và độc đáo về lý thuyết lập luận trong ngôn ngữ học
Năm 1985, Trung tâm nghiên cứu lập luận châu u (Centre européen pour l’Étude de l’Argumentation) được thành lập và đã tổ chức nhiều hội thảo chuyên đề tại Amsterdam, bốn năm một lần
Có những cách tiếp cận khác nhau về lập luận (xem chương 1, mục 1.3) Các mô hình lập luận được coi như một công cụ tốt để tranh biện Giáo
sư Zarefsky David của Đại học Northwestern đã viết quyển sách nổi tiếng về lĩnh vực này, chỉ hơn mười năm đã có 12 lần tái bản [127]
Lý thuyết lập luận gắn với lô-gích phi hình thức - informal logic [25] Lập luận cũng được coi là tu từ học Năm 1971, Kahane H viết công
trình kinh điển nổi tiếng Logic and contemporary rhetoric [98]
Năm 1989, Walton công bố công trình Informal logic: A handbook for critical argumentation (Lô-gích phi hình thức: Hợp tuyển về những lập luận
phản biện) [124] Công trình này sử dụng 150 ví dụ điển hình về những lập
Trang 16luận trong các cuộc tranh biện ua đó, tác giả phân tích làm nổi bậc tư duy phản biện và chỉ ra những mấu chốt sai lầm, ngụy tạo trong những ngụy biện Việt Nam, việc nghiên cứu về lập luận chưa nhiều nhưng cũng gặt hái được những thành công bước đầu Hai tác giả nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này là Đỗ Hữu Châu [3], [6] và Nguyễn Đức Dân [15], [17], [23] Trần Thị
Giang đã thực hiện luận án tiến sĩ Phương thứ n trong tiể th yết ổ
điển Tr ng Q ố à hương Tây [35] Lê Tô Thúy uỳnh nghiên cứu về
Ng n ng à hương há n trong tr nh ãi há ý (luận văn thạc sĩ)
[53]; Phạm Thị Ngọc Thủy viết n há ý - bình diện ng dụng họ (luận văn thạc sĩ) [65] Năm 2013, Phạm Thị Ngọc Thủy và Đào Thị Vân đã xây dựng giáo trình Kỹ năng nghiên ứ à n giảng ở trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Đào Mục Đích viết Ng n ng à hương há
n (trên cứ liệu phê bình văn học bằng tiếng Việt (luận văn thạc sĩ) [30]
uan điểm lập luận là lô- gích phi hình thức được Nguyễn Đức Dân trình bày
trong giáo trình Nh m n -gí h hình thứ à -gí h hi hình thứ NXB Đại học uốc gia Hà Nội [22] Mới đây nhất, trong báo cáo Giới thiệ -
gí h hi hình thứ trình bày tại Hội thảo ngôn ngữ học quốc tế 2013 ở Hà
Nội, tác giả này cũng đã nhấn mạnh lý thuyết lập luận, lý thuyết hội thoại, tu
từ học và ngữ dụng học nói khái quát là thuộc về lô-gích phi hình thức
4 P ng p p ng i n c u
Để thực hiện luận án này một mặt, chúng tôi sử dụng các phương pháp của ngôn ngữ học truyền thống Cách tiếp cận cấu trúc - hệ thống được sử dụng khá phổ biến trong quá trình phân tích các hiện tượng ngôn ngữ đề cập Câu được phân tích theo quan điểm chủ vị như nhiều nhà nghiên cứu Việt ngữ học đã trình bày Có thể xem [48], [50], [59]… Câu là một đơn vị ký hiệu theo quan điểm của Peirce [113], Morris [112] Mỗi ký hiệu S đều qui chiếu vào một đối tượng D nào đó, mặc dù D (designatum) có thể không thực sự tồn tại Nhưng đối tượng I khi tiếp nhận S thì luôn lý giải là có D Khi người chủ của con chó vỗ tay (S) nhằm ra lệnh cho con chó nhảy vào bụi cây đuổi con
Trang 17chồn (D), ông ta có thể tin rằng trong bụi cây đó không có con chồn nhưng con chó vẫn tin là có con chồn trong đó và nó thực hiện hành động nhảy vào
bụi cây Khi mà D có thực thì nó trở thành t biể thị (denotatum) Nếu như
ký hiệu nào cũng có designatum thì không nhất thiết nó sẽ có denotatum
uá trình semiosis (hay là ký hiệu học vận hành):
Từ bộ ba quan hệ (S, I, D) có thể trừu tượng hoá thành những cặp quan
hệ lưỡng phân để nghiên cứu:
(i) Cặp (S, D) - mối quan hệ của ký hiệu S với đối tượng mà nó tr Đó
là phạm vi ngữ nghĩa của quá trình semiosis, gọi là ngh họ (semantics)
(ii) Cặp (S, I) - mối quan hệ của ký hiệu S với người lý giải I Đó là
phạm vi ngữ dụng của quá trình semiosis, gọi là dụng họ (pragmatics)
(iii) Cặp (S, S) - mối quan hệ hình thức giữa các ký hiệu Đó là phạm vi
kết học (cú pháp) của quá trình semiosis, gọi là há họ (syntactics hay
syntax)
Luận án này quan tâm tới nghĩa và sự dùng, tức là quan tâm tới hai cặp (S, D) và (S, I)
Theo ý nghĩa đó, chúng tôi tập trung phân tích các hiện tượng ngôn ngữ
đã thành hiện thực (văn bản) và cả những thói quen giao tiếp truyền thống như thường thấy
Mặt khác, tiếp cận yêu cầu đặt ra của luận án là quan sát các lập luận để phác thảo sơ đồ tư duy Xác định ngôn ngữ là chiếc v vật chất nhưng bản thân ngôn ngữ vẫn là mục đích, nên phương pháp của ngôn ngữ học được sử dụng nhất quán như đã trình bày Phần bản chất của vấn đề tư duy trong các lập luận cần kết hợp ngữ nghĩa với các phương pháp của toán học rời rạc và ngôn ngữ của lô-gích hình thức (the languages o logic) Theo Guttenplan [89], nhờ loại ngôn ngữ này, tức lô-gích mệnh đề và lô-gích vị từ, mà người ta nhận ra những lý do sâu xa hơn (deeper reason) mối quan hệ giữa ngôn ngữ
Trang 18và cấu trúc Theo quan điểm “truyền thống”, như trình bày của Ducrot [76]
trong công trình Dire et ne pas dire (nói và không nói) và Hoàng Phê [49],
nghĩa của câu gồm có phần được nói ra, tức là hiển ngôn; và phần không được nói ra, tức là hàm ngôn Hàm ngôn gồm tiền giả định (presupposition) và một
số yếu tố khác Chúng tôi nói tiền giả định là một khái niệm “truyền thống” vì khái niệm này được Frege đưa ra từ năm 1892, tức đã hơn 120 năm [81] Khi
nghiên cứu về ng ngh họ tạo sinh tiền giả định và một số khái niệm khác liên quan được Lako trình bày trong Natural logic (Lô-gích - của ngôn ngữ -
tự nhiên) [102] Hàm ngôn, theo quan niệm của Grice [86] là lô-gí h ủ
ng n ng tự nhiên Trong đó bao gồm hàm ý quy ước (conventional
implicature) và hàm ý hội thoại (conversational implicature)
Nội dung bao quát được trình bày trong luận án là lập luận Thông thường, lập luận xuất hiện trong chuỗi phát ngôn có liên kết mật thiết với nhau một cách hệ thống và mạch lạc Vì vậy, trong luận án này chúng tôi
cũng sử dụng phương pháp hân tí h diễn ng n (discourse analysis)
Khi ánh xạ các lập luận, chúng tôi sử dụng phương pháp sơ đồ, mô hình hoá nhằm phác hoạ một số mô thức tư duy thể hiện trong ngôn ngữ lập luận
Đó là công việc cần thiết để mạng lưới các luận cứ, tiền đề, kết luận của một
hệ lập luận được hiển thị rõ ràng hơn Việc sơ đồ hoá trong nghiên cứu ngôn ngữ, đặc biệt là trong lý luận ngôn ngữ trở nên có ích cho những quan sát đối với các hiện tượng được đề cập Luận án có một phần nội dung liên quan đến thao tác này
Gi trị k oa c và gi trị t c tiễn của u n n
Về mặt khoa học, luận án đóng góp một phần trong lý luận ngôn ngữ nói chung và lý luận về lập luận của ngôn ngữ tự nhiên nói riêng Trên thực tế, ngay ở phương pháp tiếp cận cũng có thể là một phương diện đáng quan tâm khi mà các công cụ hình thức được áp dụng có thể giúp làm sáng t nhiều vấn
đề Kết quả luận án cũng là mục đích mà tác giả đặt ra trong nỗ lực tìm hiểu
Trang 19cấu trúc tư duy khi được hiện thực hoá thành ngôn ngữ Từ đó, góp thêm ý kiến xác đáng cho việc nghiên cứu ngôn ngữ ở phương diện hành chức thông qua thao tác ánh xạ một lập luận và chuỗi lập luận Vấn đề này theo chúng tôi được biết là khá quan trọng trong hoạt động giao tiếp, không chỉ của ngôn ngữ tự nhiên mà còn của ngôn ngữ hình thức, ngôn ngữ máy và trí tuệ nhân tạo
Về mặt thực tiễn, luận án ngay từ khi triển khai đã hướng đến các lập luận trong hoạt động giao tiếp của ngôn ngữ tự nhiên Đó là phương diện có ích cho hành chức ngôn ngữ Trước hết, lập luận là một hoạt động thường trực của con người trong bất kỳ môi trường nào Lại càng có ý nghĩa trong xã hội hiện đại Nói năng hiệu quả, lập luận hiệu quả nghĩa là tư duy mạch lạc và ngược lại Nó cho thấy có sự kiểm soát trong quá trình tư duy Nếu luận án được tham khảo cho việc nghiên cứu, biên soạn và phổ biến khoa học lập luận vào giảng dạy trong nhà trường là xem như chúng tôi đạt được một phần mục đích đặt ra Chúng tôi cũng hy vọng được ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế đời sống cũng như trong công tác nghiên cứu đơn ngành và đa ngành
Cố nhiên, để làm được điều đó, chúng tôi biết sẽ còn nhiều nội dung, nhiều khái niệm liên quan cần được nghiên cứu để làm sáng t Nên sau luận án này, chúng tôi vẫn tiếp tục theo đuổi mục đích được đặt ra
Có một thực tế trong xã hội hiện nay là lý thuyết lập luận chưa được chú
ý nhiều để ứng dụng vào các lĩnh vực đời sống Ngay cả một số hoạt động chất vấn trong các kỳ họp của uốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đôi khi cũng còn nhiều vấn đề mà báo chí đã phản ánh Đó là nhiều lần người có trách nhiệm chưa trả lời đúng trọng tâm cho đại biểu của nhân dân Chung qui cũng từ việc nói năng, lập luận thiếu cơ sở, thiếu thuyết phục Trong một đơn
vị mà người người đại diện không có khả năng trình bày mạch lạc một vấn đề thì rất nguy hại Nhân lên một cộng đồng, một quốc gia thì tính nghiêm trọng tăng đến nhiều lần Cũng bởi vậy mà từng có lúc người đứng đầu cơ quan quyền lực cao nhất nước đã yêu cầu nâng cao chất lượng trong hoạt động chất
Trang 20vấn và trả lời chất vấn Đó hẳn cũng không ngoài một kỳ vọng cho những cán
bộ đầu ngành về cách tư duy đủ tầm, đủ chất trong lập luận khi nhận diện một vấn đề mà xã hội đặt ra và yêu cầu giải quyết
Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng lập luận là rèn luyện tư duy Hiện nay, chúng ta nói nhiều đến tư duy phản biện nhưng thực tế chưa có một tài liệu nào trình bày hệ thống về phương pháp của nó
6 Cấu tr c của u n n
Ngoài phần m đ ết n và tài iệ th m hảo như thông lệ, luận án
gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan - Từ -gí h đến n, liên quan tới những
khái niệm chung nhất về tư duy, ngôn ngữ và lập luận đó nhấn mạnh tới vai trò của lô-gích đối với sự phát triển của lý thuyết lập luận Vì hiện nay lập luận được phát triển rất mạnh và trở thành một bộ phận quan trọng của lô-gích phi hình thức
- Chương 2: Lô-gí h à n: Nh ng ấn đề ơ bản Đây là chương trung tâm của luận án Phần thứ nhất của chương này trình bày vấn đề
n trong ng n ng tự nhiên Lập luận được biểu hiện thành sơ đồ như thế
nào là đối tượng của phần thứ hai: Ng ngh à hương há sơ đồ hoá
Trang 21CHƯƠNG 1
T NG QUAN: TỪ LÔ-GÍCH ĐẾN LẬP LUẬN
1.1 T duy à t n t i
Có một mệnh đề nổi tiếng của nhà triết học Pháp René Descartes: “Je
pense, donc je suis” (Tôi tư duy, vậy thì tôi tồn tại - I think, therefore I am)
1.1.1 Quan điểm mar ism về t duy và con ng i
Những vấn đề triết học về sự tồn tại tư duy nơi con người là một nội dung lớn trong lịch sử triết học nhân loại Trong nền triết học trước Marx đã hình thành hai quan điểm đối lập nhau về quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh Theo quan điểm duy vật, điển hình là Feuerbach L (180 -1872), con người là bộ phận tinh túy và phát triển cao nhất của giới tự nhiên, nhưng
đã mắc sai lầm khi phủ nhận con người như một thực thể năng động, tích cực trong quan hệ với thế giới xung quanh
Ngược lại, các nhà triết học duy tâm trong lịch sử triết học phương Tây lại chú trọng góc độ hoạt động lý tính của con người Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là Plato ( 29-3 7 TCN) thời cổ đại Hy Lạp, Decartes R (1596-1650) trong nền triết học Pháp thời cận đại và Hegel trong nền triết học cổ điển Đức
Do không đứng trên lập trường duy vật, các nhà triết học này đã lý giải bản chất lý tính của con người và tư duy từ góc độ siêu nhiên Với Plato, đó là bản chất bất tử của linh hồn thuộc thế giới ý niệm tuyệt đối; với Decartes, đó là bản tính phi kinh nghiệm (apriori) của lý tính; với Hegel (1770-1831) đó chính là bản chất lý tính tuyệt đối
Nhìn chung, các quan điểm triết học trước Marx còn một hạn chế cơ bản
là phiến diện trong phương pháp tiếp cận lý giải các vấn đề triết học về con người Cũng do vậy mà trong thực tế lịch sử đã tồn tại lâu dài quan niệm trừu tượng về bản chất con người và những quan niệm phi thực tiễn trong lý giải nhân sinh, xã hội cũng như các phương pháp hiện thực nhằm giải phóng con
Trang 22người Những hạn chế đó đã được khắc phục và vượt qua bởi quan niệm duy vật biện chứng của triết học Marx-Lenin về con người
Khi khắc phục sai lầm của hai quan điểm này, Marx coi xã hội là sự tiếp tục của tự nhiên dưới một hình thức khác, coi con người không chỉ không tách ra kh i giới tự nhiên mà còn hoà nhập vào giới tự nhiên; đồng thời coi
nền tảng của quan hệ giữa con người với xã hội và giới tự nhiên là thự tiễn -
hoạt động vật chất có định hướng, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Chính thực tiễn - hoạt động bản chất của con người đã sáng tạo ra con người hiện đại với tính nhân bản và trí tuệ ngày càng cao Và thông qua thực tiễn, con người hiện đại sáng tạo lại thế giới, nghĩa là biến giới tự nhiên thứ nhất thành giới tự nhiên thứ hai - sản phẩm do bàn tay
và khối óc con người làm ra, dành cho con người
1.1.2 Qu tr n n n t c
Trong hoạt động thực tiễn, tư duy của con người được hình thành, phát triển và bị lôi cuốn trở lại quá trình hoạt động đó ngày càng mãnh liệt Chúng giúp con người từng bước tách ra kh i hoạt động bản năng loài vật để trở thành người chủ nắm giữ vận mệnh của chính mình, trở thành chủ thể sáng tạo ra lịch sử của mình, tôn vinh mình trong vũ trụ
Nh n thứ là quá trình phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan
vào bộ óc con người Đó là quá trình xâm nhập sâu rộng của lý trí con người vào thế giới xung quanh để tìm hiểu đối tượng uá trình nhận thức của con người được hình thành từ trong hoạt động thực tiễn, có thể phát triển độc lập
so với hoạt động thực tiễn, nhưng cuối cùng lại quay về phục vụ cho hoạt động thực tiễn Lenin đã khái quát quá trình này thành nguyên lý cơ bản của
nhận thức luận duy vật: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, à từ
tư d y trừ tượng đến thự tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận
thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan [44, tr.179] Như vậy, xét
Trang 23về cấp độ phản ánh, nhận thức được chia thành nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, hay còn được gọi là trực quan sinh động và tư duy trừu tượng
Là cấp độ thấp của quá trình nhận thức, nh n thứ ảm tính phản ánh
một cách cụ thể, sinh động nhưng hời hợt, bề ngoài những đặc điểm, tính chất riêng rẽ của đối tượng nhận thức khi có sự tác động trực tiếp của chúng lên giác quan chúng ta Với những hình thức cơ bản là cảm giác, tri giác, biểu tượng…, nhận thức cảm tính có nguồn gốc sâu xa trong phản ánh tâm lý động vật Vì vậy, nhận thức cảm tính không chỉ có ở con người mà còn có ở động vật cao cấp Tuy nhiên ở con người, nó luôn gắn liền với nhận thức lý tính
Là cấp độ cao của quá trình nhận thức, nh n thứ ý tính phản ánh một
cách trừu tượng, khái quát, gián tiếp những mối liên hệ, bản tính, quy luật sâu
sắc, bên trong của đối tượng nhận thức khi chúng ta suy nghĩ về chúng và
dùng ngôn ngữ để diễn đạt chúng Với những hình thức cơ bản là khái niệm, phán đoán, suy luận , nhận thức lý tính (tư duy) là sản phẩm cao cấp của vật chất cấp cao, được hình thành và phát triển từ trong hoạt động thực tiễn xã hội gắn liền với hoạt động thực tiễn lao động và giao tiếp ngôn ngữ của con
người Trong hoạt động thực tiễn - nhận thức, con người là chủ thể thật sự của
tư duy Tuy nhiên quá trình tư duy không chỉ diễn ra trong bộ óc con người -
tư duy tự nhiên - mà còn xảy ra trong các thiết bị do bàn tay và khối óc con người làm ra như máy tính - tư duy nhân tạo
Trong hoạt động thực tiễn sống động của mình, con người là một sinh thể có tư duy để nhận biết, để khám phá thế giới Là một trong những yếu tố tinh thần cơ bản trong hoạt động thực tiễn của con người, tư duy góp phần tách con người ra kh i giới tự nhiên; đồng thời còn giúp con người hoà nhập trở lại với giới tự nhiên, hoà đồng với thế giới xung quanh Nhờ tư duy mà con người ngày càng trở thành một sinh thể thực tiễn rất năng động và đầy năng lực sáng tạo
Trang 241.2 Ngôn ngữ và ô-gích
một khía cạnh nào đó có thể cho rằng, về cơ bản, tồn tại một số biểu thức ngôn ngữ có cấu trúc của lô-gích Cũng như tính đúng đắn trong một biểu thức ngôn ngữ cũng gần giống với giá trị chân lý trong một biểu thức lô-gích Nhưng lô-gích và ngôn ngữ có những điều không thuộc về nhau Trên thực tế, cấu trúc hình thức của một biểu thức lô-gích khác xa với cấu trúc bề mặt của một biểu thức ngôn ngữ Từ đó dẫn đến việc suy diễn cũng rất khác nhau Tuy nhiên, cả hai đều liên quan mật thiết đến tư duy
1.2.1 T duy và ngôn ngữ
Một trong những chức năng quan trọng của ngôn ngữ là tư duy Tư duy
và ngôn ngữ là không thể chia cắt, không thể tách rời
Với bản tính gián tiế tư duy đưa nhận thức vượt qua ranh giới cảm
tính hạn hẹp xâm nhập vào thế giới xung quanh Tư duy nhận thức của con người không chỉ dừng lại ở các đối tượng cụ thể, đơn giản mà còn nhận thức
được các đối tượng trừu tượng, phức tạp Nhờ bản tính trừ tượng mà tư duy
có thể phản ánh những thuộc tính chung nhất của các đối tượng, nâng từ các
cá thể đơn lập lên thành lớp các đối tượng cùng bản chất, cùng đặc điểm Cách phản ánh như vậy giúp con người phát hiện ra được quy luật của thế giới
Tư duy luôn thống nhất ới ng n ng bởi vì ngôn ngữ là lớp v vật chất
của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Các hình thức cơ bản của tư duy như khái niệm, phán đoán, suy luận đều gắn liền với những hình thức cơ bản của ngôn ngữ như từ, câu, đoạn uá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của tư duy Cùng với lao động, ngôn ngữ đã có vai trò quyết định trong quá trình chuyển hoá vượn thành người Ngôn ngữ tự nhiên gắn liền với tư duy tự nhiên diễn ra trong bộ
óc người; ngôn ngữ nhân tạo gắn liền với tư duy nhân tạo diễn ra trong máy tính Sự ra đời và phát triển của ngôn ngữ dù dưới dạng tín hiệu hay kí hiệu, tự
Trang 25nhiên hay nhân tạo đều làm cho tư duy ngày càng có khả năng bao quát khi nhận thức về thế giới
Con người có quan hệ với thế giới xung quanh không phải bằng tư duy
mà bằng thực tiễn Tuy nhiên, để hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới có hiệu quả, con người cần phải khám phá ra các quy luật, nhận thức được bản chất của các hiện tượng xảy ra trong thế giới, và sử dụng những hiểu biết đó như một sức mạnh tinh thần để tiến hành hoạt động thực tiễn sáng tạo lại thế giới
Từ trong hoạt động thực tiễn, con người tiến hành hoạt động nhận thức Để nhận thức sâu sắc, con người cần phải thông qua các thao tác trừu tượng và khái quát hoá, xây dựng các khái niệm và phán đoán, tiến hành các suy luận,
phối hợp các thao tác này lại với nhau để áp dụng tìm ra chân lý uá trình đó
luôn đòi h i ở con người cần có được một tư duy đúng đắn
Tư d y đúng đắn là một trong những cội nguồn của sức mạnh tinh thần
góp phần sáng tạo ra giới tự nhiên thứ hai dành cho con người, cải tạo xã hội
và đưa con người vượt lên những mông muội, trở thành sinh vật đặc biệt nhất Muốn phát huy hết sức mạnh tinh thần đó của tư duy, trước hết phải nắm vững hình thức, quy luật của tư duy, sau đó vận dụng chính xác chúng trong từng hoạt động nhận thức, hoạt động tác động tự nhiên (lao động) Theo nghĩa
đó, con người không chỉ là sản phẩm cao cấp của thế giới vật chất, mà còn là chủ thể của quá trình lao động, nhận thức, tích lũy kiến thức, cải tạo xã hội, phát triển không ngừng
1.2.2 H n t c của t duy - v v t c ất ngôn ngữ
Triết học duy vật biện chứng luôn khẳng định rằng, thực tại khách quan -thế giới vật chất được tư duy con người phản ánh, chụp lại, sao chép lại Thực tại khách quan tồn tại dưới dạng một hệ thống các sự vật, hiện tượng, quá trình Tất cả các đối tượng, phần tử trong thế giới khách quan có những mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp, chằng chịt và phức tạp Chúng vận động không ngừng và tuân theo các quy luật khách quan tương ứng Sự ủy thác của
Trang 26thế giới khách quan cho tư duy, để nhận thức biến thế giới tự nhiên thông qua lăng kính chủ quan, hình thành nên thế giới thứ hai làm thành sự đứng im tương đối của sự vật, hiện tượng Nhưng thế giới khách quan luôn vận động
và biến đổi không ngừng, còn tư duy của con người luôn phải năng động, sáng tạo Nên nhận thức về thế giới không phải là sự đứng im vĩnh viễn Nhận thức về thế giới bằng tư duy qua hai giai đoạn cảm tính và lý tính, nhờ đó nâng tầm tư duy để khám phá sâu sắc hơn về thế giới và ngược lại Đó là sự tác động biện chứng Chúng ta có thể coi tư duy là tư tưởng nói chung, còn tư tưởng là tư duy về đối tượng cụ thể
Tư tư ng là ý nghĩ đã được định hình rõ rệt trong bộ óc con người (suy
nghĩ sâu sắc) dùng để phản ánh một đối tượng có phẩm chất xác định (sự vật, hiện tượng, quá trình cụ thể, trong một mối quan hệ, điều kiện cụ thể)
Hoạt động thực tiễn chính là nguồn gốc của tư duy Tri thức của con người phản ánh thực tại, mà trước hết là phản ánh thực tại khách quan, tạo
thành nội d ng của tư duy Đó không gì khác hơn là hình ảnh của thế giới
khách quan được phản ánh chủ quan Trong đời sống tinh thần của con người chúng không tồn tại hỗn độn mà tồn tại theo những hệ thống nhất định Các
hệ thống này tập hợp những mảng/phần tử của thế giới tạo thành những cấu trúc đặc trưng Cách thức sắp xếp nội dung của tư duy như thế được gọi là
hình thức của tư duy - cấu trúc lô-gích của tư tưởng Về cơ bản, chúng chỉ là
cách thức liên kết, sắp xếp các hiểu biết đã được định hình rõ trong bộ óc con người lại với nhau Để phản ánh chính xác về một đối tượng của thế giới khách quan, tư duy của con người cũng cần nhiều giai đoạn, nhiều hình thức Con đường nhận thức thế giới đi từ thực tế khách quan đến tư duy trừu tượng Và khi cần giải quyết một trường hợp cụ thể thì lại truy xuất từ tư duy trừu tượng
ra thực tế khách quan Đó là con đường của sự nhận thức biện chứng, đưa hiểu biết của con người đến gần với chân lý
Ngôn ngữ với vai trò là hiện thực trực tiếp của tư duy, vừa là công cụ giao tiếp vừa là công cụ để tư duy Cho nên, ngôn ngữ có vai trò hết sức to lớn đối
Trang 27với hoạt động nhận thức Có thể nói, không có ngôn ngữ thì nhận thức cũng không thể có được, vì thiếu những phương tiện vật chất của ngôn ngữ thì không thể có tư duy Tư tưởng không tồn tại tách rời ngôn ngữ
Hình thức tư duy, kết cấu lô-gích của tư tưởng không phải mang tính võ đoán, cũng không là sản phẩm do một thế lực siêu nhiên nào tạo thành như quan niệm của các nhà duy tâm Nó là sản phẩm của những mối quan hệ ổn định, lâu dài từ các thành phần trong thế giới khách quan, được con người nhận thức được qua thực tiễn lao động Tư duy, và cả ngôn ngữ, không phải được quy định bởi các khế ước Tư duy phát triển một cách tự nhiên và ngày càng hoàn thiện nhờ nảy sinh những nhận thức, đúc kết mới trong quá trình lao động
Nhờ chú trọng nghiên cứu hình thức của tư duy mà lô-gích hình thức xây dựng được phương pháp hình thức hoá Phương pháp này góp phần vạch ra kết cấu lô-gích của tư tưởng, đồng thời cho phép sử dụng một hệ thống ký hiệu riêng - ngôn ngữ hình thức hoá - để ghi lại kết cấu lô gích và thực hiện các thao tác lô-gích trên kết cấu đã thu được
Một nội dung tư duy/tư tưởng có thể tồn tại trong các hình thức/kết cấu lô-gích khác nhau Chúng ta dễ dàng xác định được những hình thức của tư duy/kết cấu lô-gích tư tưởng khác nhau tương đương nhau nhờ vào các quy luật tư duy/quy luật lô-gích của tư tưởng, tức nhờ vào những mối liên hệ bản chất, tất yếu, khách quan chi phối các hình thức của tư duy/kết cấu lô-gích của
tư tưởng để đảm bảo cho tư duy phù hợp với thực tại/tư tưởng phản ánh đúng đối tượng được tư tưởng
uy luật tư duy/quy luật lô-gích của tư tưởng mang tính khách quan Do
đó, dù con người sống ở bất kỳ thời đại nào, thuộc bất kỳ giai tầng, dân tộc nào, có địa vị xã hội gì… đều suy nghĩ theo những quy luật tư duy như nhau, thực hiện các thao tác lô-gích theo những quy tắc như nhau để đạt chân lý Vì vậy, Lenin đã nhận xét: "Những hình thức lô-gích và những quy luật lô gích
Trang 28không phải là cái v trống rỗng mà là hản ánh của thế giới khách quan"
Chính "thực tiễn của con người lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần được in vào
ý thức của con người bằng những hình tượng lô-gích, những hình tượng này
có tính vững chắc của một thiên kiến, có một tính chất công lý, chính vì (và chỉ vì) sự lặp lại hàng nghìn triệu lần ấy" [44, tr.191, 234]
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ với tư duy rất quan trọng Đến nỗi, Humboldt [93] tin rằng tất cả các ngôn ngữ đều có tính năng phổ dụng, hình thành từ quy luật của tư duy, được chia sẻ bởi tất cả mọi người Nhưng không
có ngôn ngữ thì không thể duy trì sự suy nghĩ Bởi vì chỉ có thông qua ngôn ngữ, mỗi đối tượng của thực tại khách quan mới làm thành một khái niệm - đơn vị cơ bản trong con đường nhận thức lý tính Tuy nhiên, ngôn ngữ không phải là một đối tượng cố định bên trong tính chất tinh thần, nó là công cụ
(Humboldt sử dụng từ Hy Lạp là ergon) có liên quan đến sự sáng tạo liên tục, làm nảy sinh các hoạt động (tiếng Hy Lạp energeia) Sự sáng tạo này được
giới hạn trong một ngôn ngữ đặc biệt được tiên định bởi hình thức cấu trúc bên trong
1.3 L p u n: Từ ô-gíc n t c tới ô-gíc p i n t c
Con người luôn dùng đến lập luận (argumentation) Lập luận có tầm quan trọng đặc biệt Ngay từ thế kỷ thứ V trước Công nguyên, nó đã được chú
ý nghiên cứu Đầu tiên là chuyện tranh cãi trong những vụ kiện cáo trước toà
án Có lẽ, văn bản đầu tiên đề cập tới phương thức lập luận là một tài liệu về
“phương pháp lý lẽ” khi nói trước toà do Corax và học trò của mình là Tisias viết như đã nói phía trước
Dưới đây, chúng tôi trình bày quá trình đi từ lập luận theo lô-gích hình thức tới lập luận theo lô-gích phi hình thức
1.3.1 Mi u tả, n n địn , ý ẽ và p u n
Không ít người còn mơ hồ về những vấn đề liên quan đến lập luận Thậm chí cả tác giả viết sách giáo khoa dạy trong trường trung học phổ thông
Trang 29hiện nay cũng còn mắc những lầm lẫn đáng tiếc Về điều này có thể xem bài
viết Nh ng ấn đề n trong sá h giáo ho của Nguyễn Đức Dân [26]
Vì vậy, chúng tôi xin được phân biệt bước đầu khái niệm miê tả nh n
định ý ẽ và n Con người tư duy để nhận thức thế giới và dùng ngôn
ngữ để biểu hiện tư duy Người ta miê tả những gì quan sát thấy
(1) “Ngoài kia, qua một lớp vườn hoang là cánh đồng bao la Trẻ con thả diều, người lớn thong thả dạo mát Những nàng con gái nhởn nhơ Dải thắt lưng lụa bạch lất phất trong gió hoàng hôn Mặt trời mùa thu lặng lẽ chìm
xuống sau cánh đồng lúa” (Tô Hoài)
đoạn văn trên Tô Hoài đã miêu tả
(2) “Đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại sẫm đen hơn nữa Giờ chỉ còn ngọn đèn con của chị Tý, và cái bếp lửa của bác Siêu chiếu sáng một vùng đất cát, trong cửa hàng, ngọn đèn của Liên, ngọn đèn vặn nh , thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa Tất cả phố xá trong huyện bây giờ đều thu nh lại nơi hàng nước của chị Tý” (Thạch Lam) Trong đoạn văn của Thạch Lam vừa có miêu tả, vừa có nhận định, vừa
có lập luận Câu đầu của Thạch Lam là một lập luận với lý lẽ “cái gì quen thì không sợ”, khái quát của lập luận này là lý lẽ được đúc kết thành tục ngữ
“G n hù gọi bụt bằng nh” Trong câu cuối, Thạch Lam đưa ra một nh n
định Dù câu không chứa từ nh n định nh n xét đánh giá nhưng vẫn là nhận
định
Có những đoạn văn hoàn toàn chỉ có những nhận định, nhận xét:
(3) Các đại biểu nhận định: “Báo cáo của chính phủ quá công thức, lặp
đi lặp lại, không có sự cải tiến căn bản, không bám sát đời sống thực tiễn, không phân tích chính xác tình hình nên khó đưa ra các giải pháp Thông tin
do các báo cáo của chính phủ cung cấp cho đại biểu không sát với tình hình thực tế, số liệu không có tính thuyết phục, đánh giá quá sơ lược, các đại biểu
Trang 30khó có thể góp ý cho chính phủ, nhân dân và công luận khó hình dung hết được khó khăn của nền kinh tế” (Lê Kiên và Mai Hương - tổng hợp theo báo cáo của Đoàn thư ký uốc hội tại kỳ họp thứ 5, uốc hội khoá VIII - TT, 30.5.2013)
( ) Đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TP.HCM) nh n xét: “Tôi thấy những
con số nêu trong báo cáo của chính phủ hời hợt, không trung thực, không phản ánh được tình hình” (TT, 23.5.2013)
Một tít báo có thể là một đánh giá: Khó hăn tr m trọng hơn báo áo
[của Chính phủ trình kỳ họp thứ 5 uốc hội khoá VIII] (tít, TT, 23.5.2013) Căn cứ cho những nhận định, nhận xét là gì?
(i) Là những quy luật lô-gích Suy ra một phương thức có từ xa xưa là
dùng lô -gích hình thứ để nêu nhận định
(ii) Là những quy định trong hiến pháp, pháp luật Dùng các lý lẽ theo t
định Đây cũng là những lý lẽ thuộc lô-gích hình thức
(iii) Là những tri thức liên quan đến nh n thứ iến thứ của con người
Đây là những lý lẽ mang đặc trưng xã hội và con người, chúng thuộc lô-gích phi hình thức
Những “suy ra” theo quy luật lô-gích, theo quy định trong hiến pháp,
pháp luật, theo những tri thức là những n
1.3.2 L p u n t eo ô-gíc n t c
Hình thức lập luận kinh điển và lâu đời nhất là dựa vào phép suy luận của lô-gích hình thức Mô hình của nó là tam đoạn luận (phép suy luận ba đoạn)
- Những lập luận theo suy luận một tiền đề, hai tiền đề (còn gọi là tam
đoạn n) Từ thời cổ đại, Aristote đã nêu ra những lập luận kiểu này Có
bốn loại hình tam đoạn luận được chia thành 2 kiểu (xem [18])
Ví dụ 1.1: Kiểu Ferio của loại hình I (từ phán đoán phủ định chung và
phán đoán khẳng định riêng, suy ra phán đoán phủ định riêng):
Trang 311) Không một kẻ ăn bám nào có ích cho xã hội;
2) Một số người hiện nay là kẻ ăn bám
Từ hai phán đoán trên suy ra:
3) Một số người hiện nay không có ích cho xã hội
Ví dụ 1.2: Kiểu Dimatis của loại hình IV (từ phán đoán khẳng định
riêng và phán đoán khẳng định chung, suy ra phán đoán khẳng định riêng):
1) Một số chính trị gia là những tên cơ hội
2) Mọi tên cơ hội đều đáng khinh
Từ hai phán đoán trên suy ra:
3) Một số người đáng khinh là những chính trị gia
- Những lập luận theo suy luận trong lô-gích mệnh đề, lô-gích vị từ Mỗi tính chất của phép kéo theo trong lô-gích mệnh đề là phép suy luận một tiền đề
Ví dụ 1.3: Tam đoạn luận với lượng hoá tổng quát và phép kéo theo
(trong lô-gích vị từ): [( x) [a(x) b(x)] a(y)] b(y)
Từ công thức trên chúng ta có thể lập luận như sau:
1) Cơ quan nào có dính tới tiền bạc là cơ quan đó có tham nhũng
2) Cơ quan này dính tới tiền bạc
Từ hai phán đoán trên suy ra:
3) Cơ quan này có tham nhũng
1.3.3 L p u n t eo ô-gíc p i n t c
Thuở ban đầu, lập luận được coi là một lĩnh vực thuộc phạm vi của
th t hùng biện - một “nghệ thuật nói năng”, được trình bày trong T từ họ
(Rhetoric) của Aristote Tiếp sau đó, sự lập luận cũng được trình bày trong các phép suy luận lô-gích, trong thuật nguỵ biện hay những cuộc nghị luận,
Trang 32tranh cãi ở toà án Tuy nhiên lô-gích hình thức không đủ phản ánh, giải thích được những lập luận đa dạng, phong phú như thường thấy trong cuộc sống Nửa sau thế kỷ XX, lý thuyết lập luận được quan tâm trở lại Mở đầu cho thời
kỳ này là những công trình của Perelman C., Olbrechts - Tyteca [114] và của
Toulmin S [121] Sau đó là De ogiq e à I’ rg ment tion (Từ lô-gích tới
sự lập luận) của Grize [87] Trong mấy chục năm qua, lĩnh vực nghiên cứu về
lý thuyết lập luận đã có sự phát triển và chuyển biến mạnh mẽ từ lập luận theo lô-gích hình thức sang lập luận theo lô-gích phi hình thức (in ormal argumentation)
Những công trình của hai tác giả Pháp Ducrot O [76] và Anscombre J
Sự n trong ng n ng [66] và Lô-gí h ấ trú sự hát ng n: Nh ng bài giảng ề hoạt động ng n ng (Logique, structure, énonciation Lectures sur le langage, Minuit, 1989) đã đưa ra những kiến giải mới, căn bản và độc
đáo về lý thuyết lập luận trong ngôn ngữ học đấy, các tác giả chú ý tới hiện tượng đa thanh (polyphony), phân biệt người nghe với người tiếp nhận, người
nói với chủ ngôn, chú ý tới những ết tử và tá tử trong lập luận Hướng
nghiên cứu này đã gặt hái được nhiều kết quả thú vị, bất ngờ và hiện nay được rất nhiều người quan tâm
Lô-gí h hi hình thứ của lập luận được phản ánh trong những cách tiếp
cận rất khác nhau
Về phương diện ngôn ngữ, lập luận có thể được nhìn nhận như một hành
vi ngôn ngữ (speech act) hoặc như một dạng hoạt động ngôn ngữ (Grize,
[87]) Có quan điểm ng dụng - biện hứng (pragma - dialectics views) của
hai nhà ngôn ngữ học Hà Lan Frans van Eemeren và Rob Grootendorst uan điểm này lần đầu tiên được đưa ra năm 198 Hai công trình đặc biệt quan trọng để lại dấu ấn được giới ngôn ngữ học, cả các nhà lô-gích học, rất quan
tâm và tham chiếu khi nghiên cứu về lĩnh vực này là Argumentation,
communication and fallacies: A pragma - dialectical perspective (Lập luận,
thông tin và những suy luận sai lầm: Một viễn cảnh ngữ dụng - biện chứng),
Trang 331992 12 năm sau công trình này được trình bày đầy đủ và hệ thống trong A
systematic theory of argumentation: The pragma - dialectical approach (Một
lý thuyết hệ thống về lập luận: Cách tiếp cận ngữ dụng - biện chứng về lập luận), 200 Dựa trên những nguyên lý siêu lý thuyết (meta-theoretical principles), lý thuyết ngữ dụng - biện chứng trở thành một bộ phận của tranh biện phê phán (critical discussion) Lý thuyết này là mô hình lý tưởng để xử
lý các diễn ngôn lập luận như một sự tranh luận mà ở đó cấu trúc và ý nghĩa của nó như một lời giải đáp có lý trực tiếp cho những quan điểm khác biệt
Đây là lý thuyết dùng để phân tích và đánh giá mức độ hiệu quả của lập luận trong thực tiễn ngôn từ Không giống như những cách tiếp cận lô-gích chặt chẽ vốn thường nhấn mạnh tới lập luận như một sản phẩm hoặc những cách tiếp cận thông tin thuần túy (ở đó chú ý tới lập luận như một quá trình) Cách tiếp cận ngữ dụng - biện chứng được phát triển để nghiên cứu chỉnh thể của lập luận như một hoạt động diễn ngôn Vậy nên, lý thuyết ngữ dụng - biện chứng nhìn nhận sự lập luận như một phức hợp hành vi ngôn ngữ, xuất hiện như một bộ phận của những hoạt động ngôn ngữ tự nhiên và có những mục đích thông tin đặc thù
Các mô hình lập luận được coi như một công cụ tốt để tranh biện Giáo
sư David Zarefsky của Đại học Northwestern đã viết quyển sách nổi tiếng về lĩnh vực này Chỉ trong vòng 10 năm, cuốn sách có 12 lần tái bản Đó là công
trình Argumentation: The study of effective reasoning (Sự lập luận: Nghiên cứu về sự tranh biện hiệu quả), 2001
Lý thuyết lập luận gắn với lô-gí h hi hình thứ (informal logic) Ngay
từ năm 1978, Robert J Fogelin đã viết quyển sách Understanding arguments:
An introduction to informal logic (Sự lập luận được hiểu như là lô-gích phi
hình thức) Từ lần tái bản thứ tư vào năm 1991 có thêm Sinnott và Armstrong
W cộng tác Lần tái bản gần đây nhất là năm 2009, do Wadsworth Publishing
ấn hành uan điểm của Fogelin được nêu lên, rằng một trong những mục đích của lý thuyết lập luận là phải cho phép nghiên cứu tốt nhất mọi cấu trúc
Trang 34trừu tượng Thông qua đó phát hiện ra những nguyên lý cơ bản giúp phân biệt được những lập luận tốt và lập luận tồi
Mỗi lập luận được coi như một cách dùng ngôn ngữ - hoạt động ngôn từ, trong đó có hoạt động luận cứ (activity of arguing)
Khi đề cập đến lô-gích phi hình thức, người ta thường đề cao vai trò của các mô thức lập luận vốn đã được nâng lên và vượt kh i sự ràng buộc bởi một
mô hình chuẩn tắc của lô-gích hình thức Vậy nên, nội dung này thường là sự
mở đầu của lý thuyết lập luận Nói cách khác, lô-gích phi hình thức là một bộ phận trong hệ thống những công trình rộng lớn hơn trên thế giới nghiên cứu
về lý thuyết lập luận Đáng chú ý là những công trình của Johnson năm 1966
Informal logic and critical thinking (Lô-gích phi hình thức và tư duy phản
biện) và Blair năm 2002 Handbook of the logic of argument and inference
(Hợp tuyển về lô-gích của những lập luận và suy luận)
Trong quá trình lập luận, nhiều người phạm những kiểu sai lầm khác
nhau Có những công trình đề cập tới những s i m trong n (fallacies) Công trình Fallacies của Charles Leonard Hamblin xuất bản năm 1970 được xếp vào hàng kinh điển viết về chủ đề này Tạp chí Informal logic dành
số , năm 2011 (vol 31) giới thiệu và ghi nhận những đóng góp của Hamblin [91] Trong đó gồm những bài viết liên quan đến nhiều kết quả nghiên cứu
quan trọng của ông
Một công trình kinh điển nổi tiếng khác là Logic and contemporary rhetoric (Lô-gích và tu từ học hiện đại) của Kahane H [98] xuất bản lần đầu
tiên vào năm 1971 Công trình này nghiên cứu về lập luận và đặc biệt về những kiểu sai lầm trong lập luận Cuốn sách cung cấp rất nhiều ví dụ dẫn từ truyền hình, báo chí, quảng cáo và nhất là những phát ngôn, tranh luận của các chính trị gia Hoa Kỳ bấy giờ Người ta coi đây là một quyển sách rất hấp dẫn và là tài liệu được tham khảo phổ biến trong các nghiên cứu về lập luận cũng như được tìm hiểu nhiều trong giới sinh viên các khoa luật, triết học
Trang 35Sách được tái bản có bổ sung cả chục lần Mỗi lần như vậy đều được tác giả cập nhật những ví dụ về thực tế tranh biện trong các kỳ bầu cử và cả những cuộc tranh luận nảy lửa của lưỡng viện Hoa Kỳ Đây là một công trình cần đọc với những ai quan tâm tới sai lầm trong suy luận, tới lập luận, tới tư duy phản biện
Năm 1989, Walton Douglas N cho công bố công trình Informal logic: A
handbook for critical argument (Lô-gích phi hình thức: uyển sách về những
lập luận phản biện), Cambridge University Press ấn hành [124] Sách này dựa trên 150 ví dụ mẫu và những yếu tố sai lầm khác trong quá trình lập luận Nội dung được trình bày theo cách tiếp cận nhẹ nhàng (không hình thức) về những lập luận phê phán để độc giả dễ đọc Nhờ vậy thu hút rất nhiều người đọc và được xếp hạng bốn sao
Có hướng nghiên cứu về tư duy lập luận dựa trên kết quả quan trắc và
phương pháp của tâm lý học Chẳng hạn, công trình Argumentative thinking:
An Introduction to the special issue on psychology and argumentation (Tư
duy lập luận: Cách nhìn đặc biệt từ tâm lý và biện luận) của Lance J RIPS,
2009
Lập luận theo lô-gích phi hình thức là những lập luận theo tri thức về
ng n từ về phong tục, tập quán nói riêng và tri thức nền về xã hội nói chung
1.3.3.1 Lập luận theo tri thức ngôn từ
Đó là những lập luận liên quan đến những tri thức về tiền giả định (TGĐ) về hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại theo cách hiểu của Grice [86] Hai ví dụ về lập luận liên quan tới TGĐ:
Ví dụ 1.4:
SP1 (Diễm Nương): - Nàng hãy buông tha chúng tôi đi!
SP2: - Nàng vừa nói là Văn Khang hết rồi mà
SP1: - Đúng vậy, Văn Khang chết rồi
Trang 36SP2: - Thế là nàng đã ùng người đàn ng há giết Văn Khang chăng? (Phim Tân Bao Thanh Thiên, Trảm Diễm Nương)
Vì sao SP2 suy ra SP1 (Diễm Nương) đã ùng người đàn ng há giết
Văn Khang? Do từ “chúng tôi” trong lời SP1
Thật vậy, từ “chúng tôi” có TGĐ là có ít nhất hai người Không phải hai người bất kỳ mà là hai người có quan hệ với nhau uan hệ thân thiết nhất là quan hệ vợ chồng Trong ngữ cảnh, Diễm Nương là vợ Văn Khang Nhưng SP2 biết Văn Khang đã chết nên mới chất vấn: “Nàng vừa nói là Văn Khang
hết rồi mà” Nghe SP1 (Diễm Nương) xác nhận, SP2 suy luận:
1) Văn Khang còn trẻ, kh e mạnh mà chết, tức là bị giết Cái chết này tất liên quan đến Diễm Nương?
2) SP1 nói “chúng tôi” tức là Diễm Nương và một người đàn ông khác
có quan hệ với nhau Từ đây dẫn tới một khẳng định: Diễm Nương và một người đàn ông khác đã giết Văn Khang
Ví dụ 1.5: Giám đốc tuyên bố trong một cuộc họp:
SP1: - Để thiết lập lại kỷ cương cơ quan, từ nay i đi àm m ộn sẽ bị nghỉ
iệ
dưới có tiếng vọng lên:
SP2: - Dạ, thế sau đó ai sẽ thay anh làm giám đốc ạ?
Câu h i của SP2 “Sau đó ai sẽ thay anh làm giám đốc ạ?” có TGĐ “anh - người vừa nói, tức SP1 - là giám đốc” Cụm từ “ai sẽ thay anh” suy ra “anh
sẽ bị nghỉ việc - không còn làm giám đốc” (b) Do vậy, theo phép suy luận tam đoạn lấy điều kiện cần làm điều kiện đủ, suy ra: Anh - giám đốc - là người đi muộn
Ra trước toà tranh cãi, từ thời cổ đại người ta đã thấy cùng một hiện
tượng, cùng một sự iện n ó thể ó nh ng ết n há nh :
Có tai nạn xảy ra trong một võ đường:
Trang 37A: Ai chịu trách nhiệm?
B: Là người đã phóng lao
C: Không đúng Chính nạn nhân, người không tuân thủ nội quy võ đường phải chịu trách nhiệm
Những lý lẽ liên quan đến kinh nghiệm về hành vi ứng xử của con người
cũng không là lý lẽ của lô-gích hình thức Đó là kiểu lý lẽ ó ẽ - lý lẽ xác suất
- như những lập luận trong lô-gích tình thái (modal logic), lô-gích mờ (fuzzy
logic)… như sau:
1 Thường thì (có lẽ) kẻ mạnh đã tấn công kẻ yếu (lý lẽ ó ẽ ở cấp độ
1)
2 Nhưng kẻ yếu biết điều đó, nên tin rằng người ta sẽ nghi ngờ kẻ mạnh là người có lỗi
3 Vậy, ó ẽ chính kẻ yếu đã tấn công kẻ mạnh trước, nên ó ẽ chính
kẻ yếu là người mắc lỗi (lý lẽ ó ẽ ở cấp độ 2)
4 Mà kẻ mạnh lại biết rằng kẻ yếu đã suy luận “người ta sẽ nghi ngờ kẻ mạnh là người có lỗi, nên kẻ yếu đã chủ động tấn công, và có lẽ người ta tin
rằng kẻ yếu là người mắc lỗi” Vậy, ó ẽ chính kẻ mạnh là người có lỗi (lý lẽ
ó ẽ ở cấp độ 3)
Và phương pháp suy luận ó ẽ cứ thế tiếp tục Ngày nay kiểu lý lẽ thuộc
phạm vi của lô-gích phi hình thức này vẫn được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu
Trong khoa học về trí tuệ nhân tạo hiện nay có những công trình về
lô-gích của sự lập luận cho những suy luận ó thể/ ó ẽ như trên vừa nêu Chẳng hạn công trình A logic of argumentation for reasoning under uncertainty của
các tác giả Krausel Paul, Simon Ambler, Morten Elvang-Gøransson và John Fox [101]
Trang 381.3.3.2 Lập luận theo tri thức xã hội
Đó là những lập luận liên quan tới tri thức về văn hoá của cộng đồng, kinh nghiệm tâm lý xã hội và cá nhân
Ví dụ 1.6:
Nghe người mai mối dạm h i cô cho Vân Hạc, cô Ngọc e thẹn không
nói gì Cụ Tú bố cô Ngọc kết luận: “Nó xấ hổ tứ à nó th n đấy” ( ề
chõng, Ngô Tất Tố) Đây là lập luận dựa trên lý lẽ liên quan tới tâm lý - văn
hoá của người Việt thời xưa: trước một đám dạm h i mình, nếu người con gái
e thẹn không nói gì tức là đã đồng ý
Ví dụ 1.7:
- SP1: Anh thấy chiếc xe này thế nào?
- SP2: Nếu là đồng hồ thì chắc nó không phải là đồng hồ Thụy Sĩ
- SP1: Này, nếu không biết thì đừng có chê bừa
Câu trả lời của SP2 dựa theo một phán đoán về quan hệ điều kiện - kết quả Phần kết quả trong câu trên là “không phải b” Từ tri thức nền “Đồng hồ Thụy Sĩ có chất lượng tuyệt hảo”, ta suy ra câu trả lời của SP2 có nghĩa “nếu
là đồng hồ thì nó là đồng hồ hạng 2” Theo tam đoạn luận suy luận theo điều kiện đủ, chúng ta suy ra b, tức là “nó không phải là đồng hồ Thụy Sĩ”, mà là đồng hồ hạng 2 Nói cách khác, câu của SP2 có hàm ý chiếc xe này không có chất lượng tuyệt hảo SP1 coi đó là một lời chê nên đã phản ứng lại
Ví dụ 1.8:
“Pick, Im! Tao sẽ bắn mày hoặ tao sẽ bán mày cho mấy người Hoa” (phim Dick) Đây là lời của Dick, tên nhân vật ám chỉ Tổng thống Nixon, mắng con chó tên là Pick trong phim Dick, một bộ phim về vụ Watergate)
Lô-gích của hàm ý trong câu này như sau: Đây là một phán đoán tuyển, hoặc
“tao sẽ bắn mày” hoặc “bán mày cho người Hoa”, cả hai đều dẫn tới kết quả
“mày sẽ chết”
Trang 39Vì sao “bán mày cho người Hoa” lại suy ra hàm ý “mày sẽ chết”? Vì
người Hoa ăn thịt hó Họ không mua chó về làm cảnh như người phương
Tây không ăn thịt chó, mà để giết thịt Tức là, hoặc a hoặc b đều dẫn tới kết quả “mày sẽ chết”
Lý lẽ trong những suy luận trên đây, một bộ phận rất quan trọng của lập luận, liên quan tới TGĐ, tới hàm ý ngôn ngữ và hàm ý hội thoại, tới tri thức nền, những điều không có trong lô-gích hình thức truyền thống Chúng thuộc
lô-gí h ủ ng n ng tự nhiên hay một lô-gí h hi hình thứ
Ngôn ngữ tự nhiên có sẵn một hệ thống phong phú các lý lẽ, lại thêm những điều kiện về văn hoá, truyền thống, kinh nghiệm của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng nói năng đúc kết được trong quá trình lao động, giao tiếp xã hội Tất cả trở thành những thành tố quan trọng trong kho tàng lý lẽ đặc trưng Trong hầu hết lập luận, không nhất thiết người nói phải sử dụng các phương thức suy luận tam đoạn, lại cũng không nhất thiết phải dùng đến các phép biến đổi của bộ công cụ lô-gích mệnh đề Môi trường giao tiếp cho phép anh ta tham chiếu trên mọi phương diện thuận lợi nhất để tạo ra những lập luận có độ tin cậy cao mà phần lớn các phương diện đó thuộc lô-gích phi hình thức
1.3.3.3 Nguỵ biện trong lập luận
Trong tranh cãi, để giành phần thắng, người ta có thể ng ỵ biện hoặc
đưa ra những lý lẽ sai trái, tạo thành những ngộ biện Lập luận cũng quan tâm tới hai vấn đề này Thời cổ đại người ta nghiên cứu những ngộ biện hình thức Hiện nay có những nguỵ biện liên quan đến lô-gích phi hình thức
Một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về sự lập luận đã xuất
hiện trong tác phẩm Th t tr nh n của Prôtago, một học giả nguỵ biện nổi tiếng thời cổ Hy Lạp ( 81 - 11 TCN) Trong tác phẩm này có chuyện Phép
ng ỵ biện ủ Ê át hay là Tr nh ãi ề sự trả tiền (theo [17]) Chuyện như
sau:
Trang 40Có một người là Êvátl đến Prôtago xin học phép nguỵ biện Thầy và trò
quy định với nhau rằng trò sẽ trả học phí làm hai lần và lần thứ hai Ê át sẽ
trả s hi nh t r toà n đ tiên à thắng iện Học xong, Êvátl không
chịu ra cãi ở toà lần nào cả Vì vậy, Prôtago quyết định kiện Êvátl Ông nói với Êvátl rằng:
- Dù toà án có quy định anh không phải trả hay phải trả tiền cho tôi thì anh vẫn phải trả Này nhé, nếu anh được kiện thì theo quy định giữa chúng ta, anh sẽ phải trả tiền cho tôi; còn như anh thua kiện thì theo quy định của toà, anh vẫn phải trả tiền
Êvátl, anh học trò đã học được phép nguỵ biện, đáp:
- Thưa thầy, trong cả hai trường hợp tôi đều không phải trả Vì rằng nếu
toà bắt tôi phải trả, nghĩa là tôi thua kiện ngay lần đầu tiên, thì theo q y định với thầy, tôi sẽ không phải trả; còn như tôi được kiện, nghĩa là theo q y định
của toà, tôi cũng sẽ không phải trả
đây, anh học trò đã cố tình vi phạm luật đồng nhất trong tư duy nhằm đánh tráo khái niệm để thực hiện sự nguỵ biện Êvátl đã hai lần đánh tráo từ
q y định Trong câu đầu, toà q yết định phải trả thì anh ta đánh tráo thành sự
q y định gi h i th y trò câu sau, toà ho nh thắng iện anh bèn nói toà
q y định để thay thế cho sự q y định gi h i th y trò
Lời ông thầy cũng là nguỵ biện, đánh tráo từ q y định
Nguỵ biện hình thành bằng cách dùng lý lẽ dẫn dắt người đối tượng theo những quy tắc suy luận hợp lý trong lô-gích hình thức và cố tình vi phạm tại một điểm nào đó mà người nghe ít ngờ nhất để dẫn tới một kết luận trái ngược với sự thật, lẽ thường Phép nguỵ biện liên quan đến những cuộc tranh luận, hình thành những chuỗi lập luận và quyết định thắng thua không phải là
giá trị chân lý mà là ai đã phải từ bỏ n điểm của mình Có những khảo cứu
về lập luận liên quan đến sự nguỵ biện Trong thuật nguỵ biện luôn có một luận cứ nào đó mà giá trị lô-gích của nó là không thoả đáng