LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNGDẠY HỌC ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 1 Khi bước vào Lớp 1 trẻ phải thực hiện một loạt hoạt động có ý thức mới mẻ như đến lớp các em phải ngồi nghe
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN MỸ ĐỨC
Môn: TIẾNG VIỆT
Tên tác giả : ĐỖ THỊ THANH HẢI Chức vụ : Giáo viên
NĂM HỌC :2012-2013
Trang 22.1.3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.3.2 Các nội dung cụ thể trong đề tài
2.2 Phương pháp nghiên cứu - Kết quả nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2 Kết quả nghiên cứu thực tiễn
2.2.2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
2.2.2.2 Thực trạng - Đánh giá thực trạng
2.2.2.3 Đề xuất biện pháp
2.2.2.4 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất
2.2.2.5.Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề ra
3 Kết luận - Kiến nghị
4 Danh mục tài liệu tham khảo
222235344455577777888131921
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trang 3LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY HỌC ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 1
Khi bước vào Lớp 1 trẻ phải thực hiện một loạt hoạt động có ý thức mới
mẻ như đến lớp các em phải ngồi nghe giảng bài, cô giáo kiểm tra bài, các emlàm theo yêu cầu của giáo viên …Những thay đổi này làm cho một số em tronggiờ học vẫn thường rụt rè, bỡ ngỡ dẫn đến đọc không to, đọc lạc giọng hoặc cònham chơi các trò chơi có tính tự do ngay trong giờ học
Những đặc điểm tâm sinh lý trên đây đòi hỏi giáo viên ở Lớp 1 cân phảitạo hứng thú học tập cho các em nhất là khi dạy học vần Mặt khác lại cần cóphương pháp giảng dạy thích hợp như vận dụng các trò chơi học tập
1.1.1.2.Đặc điểm hoạt động nhận thức của trẻ
Bước vào tuổi đi học tri giác của học sinh Lớp 1 đã khá phát triển so vớilớp Mẫu giáo Song các em vẫn chưa phân biệt được chính xác các đối tượngđược tri giác
1.1.2 Cơ sở thực tiễn:
Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập Về mặt phát âm mỗi âm tiết gắn vớimột thanh điệu về cấu tạo âm tiết Tiếng Việt là một tổ hợp âm thanh có tổ chứcchặt chẽ cách miêu tả âm tiết phù hợp với cảm thức tự nhiên của con người Vìvậy người việt dễ dàng nhận thức ra âm đầu, vần và thanh điệu của các âm tiếtĐặc điểm này của âm tiết Tiếng Việt ảnh hưởng rất nhiều đến việc chọn cácphương pháp thích hợp để dạy cho học sinh đi từ âm đến chữ trong quá trìnhHọc vần Khi đọc đã nảy sinh một hiện tượng là đối với học sinh miền Bắcthường không đánh vần được các âm quặt lưỡi Chính sự phát âm này đã gây ra
sự lẫn lộn, nhầm lẫn khi học chữ
Mặt khác Khi học Tiếng Việt Lớp 1, hiện tượng phổ biến là học sinh đọcđược cả tiếng nhưng không rõ được các bộ phận của tiếng, không phân biệtđược sự khác nhau giữa các tiêng ,các vần ,giữa các con chữ Nguyên nhân là
do khả năng phân tích yếu nên chưa phát hiện được sự khác nhau về chi tiết củacác chữ, tiếng, vần Chính vì vậy tối đã suy nghĩ nghiên cứu các biện pháp
“nâng cao chất lượng đọc cho học sinh Lớp 1”
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Giúp học sinh phần nào tháo gỡ những khó khăn do sự phát triển tâm sinh
lý chưa đầy đủ để học sinh có phương pháp học đọc, chiếm lĩnh tri thức một
Trang 4cách có hệ thống, khoa học, phát triển năng lực trí tuệ Bên cạnh đó góp phần hỗtrợ phần nào cho giáo viên trong việc dạy đọc ở Lớp 1 một cách tích cực gópphần nâng cao hiệu quả đọc
Hơn nữa giúp học sinh có hứng thú học Tiếng Việt nhằm xoá đi mặc cảm
về sự tự ti của bản thân để hoà mình vào tập thể, đón nhận tiếp thu kiến thứcmột cách hào hứng, tự giác, đúng hướng
Cũng qua quá trình thực hiện bài tập nghiên cứu này, tôi muốn có trongtay một vốn kinh nghiệm phục vụ cho việc dạy học sau này
1.3 Thời gian, địa điểm
1.3.1 Thời gian nghiên cứu
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu đề tài.
1.3.3.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu.
Lựa chọn phương pháp dạy học nâng cao chất lượng đọc cho học sinh Lớp 1.
1.3.3.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu:
Lớp 1A- Trường tiểu học Đốc Tín
1.3.3.3 Giới hạn về khách thể khảo sát.
28 học sinh - Lớp 1A - Trường Tiểu học Đốc Tín
1.4 Đóng góp mới về mặt lý luận, về mặt thực tiễn:
Dựa vào quan sát thực tế học sinh Lớp 1A tôi thấy: Trình độ nhận thứccủa học sinh trong cùng một độ tuổi bị chênh lệch đa số các em còn mải chơi.Các em học còn mang tính trực quan sinh động Chính vì vậy, khi dạy học sinhđọc, đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng toàn bộ phương pháp dạy họchiện đại Đồng thời người giáo viên phải truyền thụ kiến thức cho học sinh mộtcách gần gũi với các em nhất, gây sự say mê hứng thú học môn Tiếng Việt
Chất lượng học tập của các em hiện nay đòi hỏi cao, kết quả học tập rõrệt các em có ý thức học tập, luôn học bài, làm bài đầy đủ trước khi đến lớp Bêncạnh đó một số em chưa có ý thức trong việc học hành, dành ít thời gian ôn bài,việc tiếp thu kiến thức còn hạn chế, dẫn đến tình trạng rỗng kiến thức
Mặt khác phương pháp dạy "Lấy học sinh làm nhân vật trung tâm, chủ
đạo trong học tập, còn giáo viên chỉ là người gợi mở, hướng dẫn" chưa áp dụng
triệt để mà hầu như giáo viên vẫn dùng phương pháp diễn giải, phần nào còn ápđặt Các em lười động não, chưa chịu tư duy, suy luận Do vậy, việc vận dụngkhắc sâu kiến thức, niềm say mê tìm tòi sáng tạo ở học sinh chưa khơi dậy đượckhả năng vận dụng chất xám ở học sinh
Song song với quá trình xem xét thực tế, tôi thấy việc "Lựa chọn phương
pháp dạy học nâng cao chất lượng đọc cho học sinh Lớp 1" cũng như việc sử
Trang 5dụng phương pháp "Lấy học sinh làm nhân vật trung tâm" Để giảng dạy đựơc áp
dụng hoàn toàn lấy hoạt động học tập của học sinh là hoạt động chủ đạo dưới sự
tổ chức hướng dẫn của giáo viên Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh sau đóhướng dẫn cách làm, làm mẫu cho học sinh thực hiện nhiệm vụ được giao theoquy trình Nếu cần giáo viên giao thêm bài tập cho học sinh làm bài ở nhà.Chính vì vậy mà học sinh ở đây có một vốn kiến thức cao, có kỹ năng học tậptốt hơn Tuy nhiên, còn có nhiều mặt hạn chế đó là việc sử dụng phương pháptrò chơi Tiếng Việt chưa được phong phú Cần thay đổi các hình thức chơi chophù hợp
2 PHẦN NỘI DUNG
2.1.Những nội dung lý luận có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu 2.1.1.Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cùng với sự phát triển của xã hội, khả năng nhận thức của học sinh cũng
có những bước phát triển rõ rệt Vì vậy, vấn đề đổi mới phương pháp dạy TiếngViệt nói riêng được các nhà giáo dục cũng như nhiều giáo viên quan tâm Đã
có rất nhiều đề tài nghiên cứu về nhiều lĩnh vực trong việc giảng dạy tiếng việt
ở Tiểu học và trong số đó không ít người nhiều sáng kiến mang lại hiệu quả cao
trong việc giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học.
Thông qua tiết Tập đọc , việc dạy đọc góp phần kích thích sự phát triển
tư duy của học sinh Các yếu tố hình học sẽ giúp các em nhận thức và phân tíchtốt hơn thế giới xung quanh Không ít giáo viên đã nhận thức được điều này,nhưng do điều kiện nên chưa có giáo viên nào nghiên cứu vấn đề này Đây cũng
là vấn đề mà các nhà sư phạm cần quan tâm Với đề tài: ""Lựa chọn phương pháp
dạy học nâng cao chất lượng đọc cho học sinh Lớp 1" là một vấn đề mới, nên tôi
quyết tâm nghiên cứu vấn đề này
2.1.2 Cơ sở lý luận
Một trong những tiêu chí đánh giá tính khoa học của bộ môn Tiếng Việt
là mức độ hoàn thiện các phương pháp dạy học môn Tiếng Việt cũng nhưphương pháp dạy học bộ môn khác Sự đổi mới của xã hội dẫn đến yêu cầu caođối với chất lượng dạy và học trong nhà trường đối với việc đào tạo nhân lực,nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật đòi hỏiphải đổi mới nội dung và phương pháp dạy học.Chính vì điều đó tôi mạnh dạnđưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy các yếu tố hình học ởLớp 1.Cụ thể là :
Biện pháp là: Cách làm đối với việc nâng cao chất lượng dạy đọc cho
học sinh lớp 1
Nâng cao chất lượng là: Đưa chất lượng dạy đọc lên mức cao.
Trong quá trình nghiên cứu lịch sử vấn đề và các cơ sở lí luận vấn đề
"Lựa chọn phương pháp dạy học nâng cao chất lượng đọc cho học sinh Lớp 1".
Tôi nhận thấy rõ hơn về vai trò của môn môn Tiếng Việt đặc biệt "phần vần "
giúp các em nhận biết Thế giới xung quanh và học tốt các môn học khác
2.1.3.Điều tra thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.1.3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 6- Nhiệm vụ về lý luận: Một số vấn đề về hoạt động học của học sinh và
biện pháp nâng cao chất lượng dạy đọc cho học sinh Lớp 1
- Nhiệm vụ thực tiễn: Tìm hiểu thực trạng biện pháp nâng cao chất
lượngdạy đọc cho học sinh lớp 1
2.1.3.2 Các nội dung cụ thể trong đề tài:
2.1.3.2.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Lớp 1
Đối với học sinh tiểu học thì đặc điểm tâm sinh lý cần được đặc biệt quantâm Nó thể hiện ở sự say mê tìm tòi phương pháp giải khi gặp một vầnkhó Đặc biệt nó còn thể hiện ở thái độ tập trung, chăm chú nghe giảng bài tronggiờ đọc, nhất là khi học đến phần đọc thành tiếng Do đó trong công tác giáo dụcngười giáo viên phải chú ý đến đặc điểm lứa tuổi học sinh Đối với lứa tuổi Lớp
1 vừa qua trường mầm non bước sang bậc Tiểu học mọi sự vật bên ngoài củacác em còn nhiều bỡ ngỡ, có những điều mới lạ Bậc học Tiểu học các giờ họcnhiều hơn, kiến thức được nâng cao hơn, hoạt động vui chơi không phát triển,xuống hàng thứ yếu sau hoạt động học tập Điều đó ảnh hưởng đến hệ thần kinhcủa các em
Đặc điểm tâm lý còn biểu hiện đặc trưng nhân cách của học sinh Tiểu họcnhất là Lớp 1, các em vẫn còn hồn nhiên ngây thơ nhiều khả năng phát triển.Với các em cấp 1 mang nặng màu sắc cảm tính, cùng quá trình phát triển tâm lý,tình cảm đó được phát triển trên cơ sở nhận thức ngày càng đúng đắn Lứa tuổicác em dễ tin, tin vào thầy cô mình, tin vào sách, tin những điều nhà trường, giađình dạy dỗ, giáo dục
Trẻ say mê học tập chưa phải đã nhận thức được trách nhiệm với xã hội
mà chủ yếu là những động cơ mang tính chất tình cảm như trẻ học được điểmtốt, được thầy cô khen, được bạn mến, bố mệ yêu, học tốt được danh hiệu cháungoan Bác Hồ Ở lứa tuổi học sinh tiểu học hoạt động vui chơi vẫn không thểthiếu đặc biệt với Lớp 1
Ở lứa tuổi này các em đã có nhận thức riêng lẻ khá phát triển đặc biệt làthị giác Xong trẻ mới chỉ nhận biết và gọi tên hình dạng, màu sắc của sự vật,xác định mối tương quan gần và ngắn về không gian tri giác của học sinh Lớp 1còn có nhiều điểm giống trẻ mẫu giáo ( Quan sát những sự vật có mầu sắc hấpdẫn, số lượng chi tiết) trẻ chú ý đến chi tiết ngẫu nhiên, chưa có khả năng quansát tinh tế, chi giác thiếu mục đích, kế hoạch rõ ràng
Trong nhận thức thế giới ở lứa tuổi này nhất là học sinh lớp 1chuyển từtính cụ thể trực quan khi tư duy và tưởng tượng sang tính trìu tượng, khái quát,tưởng tượng của các em phong phú hơn với tuổi mẫu giáo Xong quá trình đócòn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh tưởng tượng chưa được gọt giũa, còn haythay đổi chưa được bền vững
Lứa tuổi các em dễ cảm xúc trước thế giới, các sự vật và hiện tượng cụthể hấp dẫn, lời triết lý khô khan, thiếu hình ảnh sinh động, khó gây cảm xúc ởtrẻ Trẻ Lớp 1 thể hiện cường độ cảm xúc mạnh mẽ dễ xúc động, khó làm chủtình cảm của mình, tình cảm của các em chưa bền vững Quá ttrình học tập đượcđiều khiển có ý thức, các em thường hay ghi nhớ máy móc, thường học đúngtừng câu, từng chữ, chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghiã, chưa biết sử dụng
sơ đồ lôgíc
Trang 72.1.3.2.2, Mục tiờu Tiếng Việt ở Lớp 1.
Học sinh biết nghe –núi –đọc –viết
-Nghe:biết sự khỏc nhau của cỏc õm ,cỏc thanh và kết hợp của chỳng,
nhận biết sự thay đổi về độ cao, ngắt, nghỉ hơi nghe hiểu lời hướng dẫ,yờucầu Nghe hiểu một cõu chuyện ngắn gắn với học sinh Lớp 1
-Núi :Núi đủ to ,rừ ràng thành cõu
-Đọc :Biết đọc thành tiếng ,biết cầm sỏch đọc đỳng tư thế ,đọc đỳng và trơn
tiếng ,hiểu nghĩa cỏc từ ngữ thụng thường
-Viết :Tập chộp,bước đầu tập nghe viết chớnh tả ,biết trỡnh bày một bài chớnh
tả ngắn
2.1.3.2.3, Nội dung chương trỡnh sỏch giỏo khoa Tiếng Việt 1
Phần học vần cú 103 bài (83 bài thuộc tập một và 20 bài thuộc tập hai )Cỏc bài học vần cú 3 dạng cơ bản
-Làm quen với õm và chữ
-Dạy –học õm ,vần mới
2.1.3.2.4, Những khú khăn của học sinh khi học đọc
Ngày nay mụn Tiếng Việt ở tiểu học, ngoài mục đớch là bồi dưỡng viếtcũn chỳ ý đến phỏt triển tư duy và bồi dưỡng phương phỏp đọc Chớnh vỡ vậycỏc em cú kiến thức và kỹ năng, kỹ xảo về đọc Lớp 1, một số học sinh đọc saiphương ngữ ,đọc ngọng
Trong cựng một lớp cú hai đối tượng khỏ và yếu, cỏc đối tượng này tiếpthu một lượng kiến thức đặt ra theo mục tiờu đào tạo Mà vấn đề đặt ra là làmsao để cỏc đối tượng tiếp thu kiến thức khụng bị chờnh lệch nhau Giỏo viờn cầnquan tõm chỳ ý đến trẻ nắm kiến thức chậm hơn Giao bài tập cần phự hợp vớiđối tượng học sinh
Kết luận : Qua quỏ trỡnh nghiờn cứu nhiệm vụ và một số nội dung của đề
tài, tụi cũng nhận thấy rừ hơn vai trũ của mụn học vần đối với học sinh Lớp 1núi riờng, học sinh tiểu học núi chung Gúp phần phỏt triển tư duy cho học sinh
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU, KẾT QUẢ NGHIấN CỨU
2.2.1 Phương phỏp nghiờn cứu:
Để nghiên cứu và thực nghiệm đề tài này tôi căn cứ vào các tài liệu chuẩn nh:
Chuẩn kiến thức kĩ năng Tiếng Việt 1
Phơng pháp dạy các môn học ở Lớp 1
Mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt 1-Sách giáo viên
Tiếng Việt - Sách giáo khoa
Một số tài liệu khác
Trang 8Trong quá trình thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp quan sát
-Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp luyện tập thực hành
2.2.2 Kết quả nghiên cứu thực tiễn.
2.2.2.1.Đặc điểm của địa phương
Đốc Tín là một xã nông nghiệp của huyện Mỹ Đức, người dân nơi đâysống chủ yếu bằng nghề nông Do đó ít có điều kiện để chăm lo đến việc học tậpcủa co em mình Chính vì vậy trình độ hiểu biết của họ rất hạn chế ,không cóđiều kiện để giúp đỡ các con trong lúc gặp khó khăn trước một bài toán khó nào
đó Nói tóm lại học là người thiếu sự quan tâm đến việc học tập của con em
mình
2.2.2.2 Vài nét về đặc điểm của trường Tiểu học Đốc Tín
Trường Tiểu học Đốc tín là một trường Tiểu học của xã Đốc Tín , là ngôitrường có bề dày thành tích, đội ngũ giáo viên có bề dày kinh nghiệm giảng dạy
Là trường đầu tiên trong huyện (bậc Tiểu học) đạt trường chuẩn Quốc gia giaiđoạn 1, chuẩn bị công nhận giai đoạn 2 Luôn được sự quan tâm của các cấp, cácngành Năm học 2010 - 2011 nhà trường tiếp tục đầu tư vào các phong trào, tậptrung xây dựng mũi nhọn, xây dựng nề nếp trong giáo viên và học sinh Làm đề
án xây dựng trường trọng điểm
Ngoài sự quan tâm của các cấp các ngành còn có sự quan tâm của hội cha
mẹ học sinh luôn luôn động viên các phong trào của nhà trường từng bước đilên
Học sinh của trường hầu hết các em đều ngoan, rất thích tham gia vào cáchoạt động học tập có tính chất động, sôi nổi có nhiều người tham gia
Một số em được cha mẹ quan tâm nhưng cũng chỉ có một phần nhỏ, tỉ lệ
em có cha mẹ tham gia các đoàn thể xã hội chiếm một phần rất nhỏ, phần nhiềucha mẹ các em làm ruộng Chính vì vậy mà việc học ở nhà của các em không aigiám sát và kèm cặp một cách khoa học, một số em còn thiếu đồ dùng học tậpnhư: Thước kẻ, bút chì Điều này không nhỏ ảnh hưởng đến tình hình học tậpcủa học sinh
2.2.2.3 Đặc điểm của lớp nghiên cứu
Lớp 1a có 28 học sinh, các em đều ở cùng một thôn nên đây là điều kiệnthuận lợi để các em trao đổi, học hỏi lẫn nhau
Ngay từ đầu năm học Ban giám hiệu đã tiến hành dự giờ, thăm lớp, kiểmtra chất lượng bộ môn - phân loại - tìm hiểu nguyên nhân những điểm yếu vàcác mặt còn hạn chế trong khối Lớp 1 Cần nâng cao chất lượng Tiếng Việt vì cónhiều nguyên nhân: Sự phát triển nhận thức của học sinh cùng lứa tuổi khôngđồng đều, hoạt động tư duy có những nét riêng với từng em, việc lĩnh hội kiếnthức trước đó không đầy đủ, thiếu vững chắc, thái độ học tập còn nhiều thiếu
Trang 9sót, sức khoẻ chưa tốt và đời sồng vật chất còn nhiều khó khăn, học tập ở nhàkhông được chú ý
Về phía giáo viên: Nhịp độ giảng dạy quá nhanh, phương pháp giảng dạychưa hợp lý, tinh thần trách nhiệm của giáo viên với việc học tập của học sinhchưa đầy đủ
Những nguyên nhân trên tác động tổng hợp làm cho hứng thú học kém,học sinh thiếu tự tin, không cố gắng vươn lên, kết quả học tập không ổn định
Biết được các nguyên nhân đó trước thực trạng đặt ra đòi hỏi người giáoviên phải tự xem xét qúa trình giảng dạy của mình cũng như thường xuyên theodõi học sinh Muốn vậy người giáo viên phải tự đặt câu hỏi cho chính bản thânmình, phải tìm hiểu nguyên nhân đó là do đâu
Đây là việc làm vô cùng khó khăn, khó khăn hơn nữa là việc tìm hiểu xemnên áp dụng biện pháp sao cho phù hợp nhất ( Do đó cần áp dụng hài hoà cácphương pháp giảng dạy và giáo dục)
Từ khi triển khai chương trình thay sách, trường chúng tôi luôn tổ chứccác buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ thăm lớp, đánh giá chất lượng tất cả cácmôn để xây dựng các tiết mẫu Sau đó nhận xét bổ xung rút kinh nghiệm về cácphần đã làm được và phần nào còn hạn chế để rút ra cách dạy tốt nhất giúp họcsinh học đọc bài tốt
2.2.2.4 Biện pháp khi dạy học vần
Trong xã hội loài người, giao tiếp bằng chữ được thực hiện từ khi có chữviết Đối với mỗi con người ,giao tiếp bằng chữ viết chỉ được thực hiện từ khibắt đầu biết đọc, biết viết, tức là từ khi bắt đầu đi học
Ở nhà trường công việc giảng dạy và giáo dục phần lớn dựa vào sách sách
là người thầy thứ hai của học sinh.Từ khi đến trường đứa trẻ bắt đầu tiếp xúc với sách vở, chữ viết, bắt đầu làm quen với một hình thức giao tiếp mới :Giaotiếp bằng chữ viết Đó là một bước ngoặt trong cuộc đời
Để dạy học ở các lớp Tiểu học Cụ thể với Lớp 1 là học vần, tập đọc thì yêucầu đối với giáo viên là phải đọc mẫu và hướng dẫn cho học sinh tập đọc bằngnhiều phương pháp khác nhau
Xuất phát từ nội dung, yêu cầu, chương trình cũng như thực tế dạy và họcđọc của địa phương Qua dự giờ cũng như trao đổi kinh nghiệm giảng dạy vớiđồng nghiệp và để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục toán học, tôi mạnh dạn
đề xuất các biện pháp cụ thể sau:
* Thứ nhất:Giáo viên cần sử dụng phương pháp trình bày trực quan hợp lý
Đây là phương pháp cho học sinh quan sát vật thực, tranh ảnh, việc làm mẫucủa giaó viên
-Giáo viên phải dựa vào đắc điểm tâm sinh lý của trẻ tiểu học, nhận thức sựvật từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, các em quen trực giác toàn bộ
sự vật, nhìn tổng thể sự vật
-Cách dạy :Cho học sinh xem tranh ảnh với nội dung từ khóa :
ví dụ Khi dạy bài uê,uy thì
+Cho học sinh xem tranh về tàu thủy khi dạy vần uy
+Cho xem tranh thật (hoa huệ )khi dạy vần uê
Trang 10+Cho các em nghe giọng đọc, nhìn khuôn miệng của giáo viên khi đànhvần
-Tác dụng :
+Với cách dạy này sẽ tiết kiệm được lời giải dài dòng
+Học sinh hiểu bài nhanh
+Phương pháp này dùng đúng mức, không kéo dài sẽ đem lại kết quả cao
* Thứ hai : Giáo viên cần dùng phương pháp phân tích tổng hợp
Đây là cách dạy tách ra các hiện tượng ngôn ngữ theo các cấp
độ :Từ ,tiếng, vần, âm và lại ghép các yếu tố ngôn ngữ đã tách đó trở lại dạngban đầu
-Cơ sở khoa học :Ở lứa tuổi lên 6 trẻ em đã có khả năng nhận thức được sự vậtbằng cả hai con đường phân tích và tổng hợp các hình ảnh
-Cách dạy :Dạy cho học sinh tập phân tích tổng hợp khi giảng bài mới
Ví dụ :Dạy bài uê-uy
+Từ khóa là hoa huệ, tàu thủy
+Giáo viên tách tiếng huệ, thủy và hỏi tiếng mới trong 2 từ trên, sau đó khihọc sinh phát hiện, lấy bìa che các tiếng đã biết (tàu ,hoa)chỉ để lại 2 tiếng mới Tách vần uê-uy
Dùng bìa che tiếng hoa ,tàu hỏi tiếng mới học
Sơ đồ gạch ngang :u-ê(vần uê do u-ê ghép lại )
Sơ đồ hình trám uê
u ê
uêSau khi tổng hợp lại :đọc :âm đến vần (u-ê –uê)Vần đến tiếng (hờ -uê-huê-nặng huệ )
Tiếng đến từ (hoa huệ )Cuối cùng cho học sinh đọc trơn vần ,tiếng và từ -Tác dụng :Với phương pháp này học sinh nắm chắc bài học, tiếp thu kiến thức
có hệ thống, chủ động, không thuộc vẹt
* Thứ ba:Sử dụng phương pháp hỏi đáp
Đ ây là phương pháp dạy học có sự tham gia của học sinh vào việc tìm hiểubài, được tiến hành trên cơ sở các câu hỏi của thầy và sự trả lời của học sinh đểtìm ra tri thức mới
-Cơ sở khoa học :Học sinh Lớp 1 thích tìm hiểu cái mới từ đó hướng các em vàohoạt động có ý thức, có mục đích Tìm hiểu âm vần, tiếng , từ cần học trong bàimới
-Cách dạy :Giáo viên cần chuẩn bị tốt một hệ thống câu hỏi hướng vào nội dungcần tìm hiểu trong bài học, giúp các em tập trung suy nghĩ trả lời
Có thể hỏi để tìm từ khóa, tiếng khóa trong bài học mới
Có thể hỏi để phân tích từ, tiếng và tổng hợp tiếng, từ
Tác dụng :
+Giúp học sinh tham gia vào việc tìm hiểu bài mới một cách tự giác, tíchcực ,chủ động
Trang 11+Các em chóng thuộc bài, hào hứng học tập
+ Lớp học sinh động
+Giáo viên nắm được trình độ học tập của học sinh, có biện pháp thích hợptrong giảng dạy
+Phát triển lời nói cho học sinh
*Thứ tư :Dùng phương pháp luyện tập thực hành
Đây là phương pháp học tập dưới sự chỉ đạo của giáo viên ,học sinh tập vậndụng tri thức đã học nhằm rèn luyện kĩ năng ,kĩ sảo và củng cố kiến thức
-Cơ sớ khoa học :Tâm lí cho thấy rằng muốn có kĩ năng, kĩ xảo, con người phảitrải qua luyện tập, thực hành: Nhất là trẻ em thì càng phải luyện tập thực hànhnhiều những gì đã học
-Cách dạy
+Cho tập đọc, tập phân tích từ, tiếng, tập viết ngay sau khi học bài mới
+Nội dung luyện tập đa dạng, phong phú, từ dễ đến khó, từ đa dạng đến phứctạp
+Cho các em xử dụng nhiều giác quan :mắt nhìn, miệng đọc, tay viết
-Các dụng :Với phương pháp này sẽ giúp các em hiểu sâu, nhớ lâu và vận dụngtốt bài học
*Thứ năm :dùng phương pháp trò chơi học tập
Đây là một trò chơi có mục đích học tập Đó là một dạng hoạt động dạy họcđược tiến hành thông qua các trò chơi hấp dẫn với học sinh Lớp 1
-Cơ sở khoa học: Phương pháp này rất phù hợp với học sinh trẻ nhỏ: Học màchơi, chơi mà học “Vì lứa tuổi Lớp 1 khả năng tập trung chú ý của các em cònrất kém, Các em lại ưa hoạt động
-Cách dạy: Sau khi giảng bài mới, luyện tập xong, giáo viên hướng dẫn học sinhchơi trò chơi đã được giáo viên chuẩn bị chu đáo
Ví dụ cho học sinh chơi trò chơi khi học bài c+kéo co
Cho các em chơi kéo co, vừa vui, vừa chóng nhớ bài học, tổ nào thắng cả lớphoan hô, giáo viên thưởng phấn, nhãn vở
+Các trò chơi có thể là: Chơi đố chữ, thi chỉ đúng, chỉ nhanh chữ trên bảnglớn ,thi ghép vần
-Tác dụng: Trẻ em được học tập và hoạt động một cách chủ động ,gìơ họcvui ,trẻ em hứng thú học tiếng, không căng thẳng,mệt mỏi
b.5:Biện pháp khi dạy tập đọc Lớp 1
Khi sang tập đọc lớp một thì sao ?Theo tôi để giúp các em quen dần vớiphân môn tập đọc ,các em đọc bài tốt thì phải có kĩ thuật đọc
Cụ thể :*Phải đọc rõ tiếng ,rõ lời ,đúng âm vần tiếng và thanh điệu trước họcsinh
Ví dụ :Cái nón đọc thành cái lón là sai chuẩn (lẫn lộn n/l).Do đó giáo viênphải hướng dẫn cho các em khi đọc tiếng nón cần đè lưỡi và bật hơi ra và phátthành tiếng nói
*Phải ngắt giọng đúng chỗ :
Giáo viên dùng gạch chéo để ngắt giọng
Trang 12Ví dụ :Trong các thửa ruộng /hàng lúa xanh tươi rập rờn theo chiều gió//xa xa/có đám lúa giống mới đã ngả màu vàng //cánh đồng trông đẹp như một tấmthảm
Ở vị trí dấu phẩy, ý nghĩa câu văn chưa hoàn chỉnh, lời văn còn tiếp tục nênkhi đọc ngắt giọng ngắn (kí hiệu một gạch chéo ) Ở vị trí dấu chấm, lời nói đãchọn vẹn, khi đọc ngắt giọng dài hơn (kí hiệu hai gạch chéo )
Khi đọc các văn bản thơ ca, việc ngắt giọng trong khi đọc không chỉ phụthuộc bởi dấu câu mà còn phải căn cứ vào nhịp điệu của thơ ca
Ví dụ khi dạy học sinh đọc thơ đường luật, thì mỗi câu thường là ngắt nhịp 4/3
Ví dụ : Ao thu lạnh lẽo /nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu /bé tẻo teo,
Sóng biếc theo làn /hơi gợn tí ,
Lá vàng trước gió/sẽ đưa vèo
Đối với thơ lục bát thường ngắt nhịp rất linh hoạt ,phải tùy theo tiết tấu của câuthơ để dạy học sinh ngắt nhịp cho phù hợp
Ví dụ : Việt Nam/ đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa/đâu trời đẹp hơn
Cánh cò /bay lả /rập rờn ,
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn /sớm chiều
*Phải có ngữ điệu đọc phù hợp tùy vào từng bài là giáo viên phải thể hiện
được thái độ:vui ,buồn, hờn giận, lo lắng
Ví dụ:Khi đọc bài cái trống trường em, ba khổ thơ đầu giọng đọc mang sắc thái
buồn, chậm rãi, thể hiện tâm trạng của trống trong những ngày hè Khổ thơcuối ,giọng đọc mang sắc thái vui tươi, rộn ràng :
Cái trống trường emMùa hè cũng nghỉSuốt ba tháng liềnTrống nằm ngẫm nghĩ
Buồn không hả trốngTrong những ngày hèBọn mình đi vắngChỉ còn tiếng ve?
Cái tróng lặng imNghiêng đầu trên giá Chắc thấy chúng em
Nó mừng vui quá !
Kìa trống đang gọi :Tùng !Tùng !Tùng !Tùng !Vào năm học mới
Giọng vang tưng bừng