1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

tài liệu slide chuyên đề về phân tích hành vi nhà đầu tư và chiến lược giao dịch chứng khoán

21 651 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu chuyện đề về phân tích hành vi nhà đầu tư, chiến lược giao dịch chứng khoán giúp nhà đầu tư hiểu lí thuyết về tính hiệu quả của thị trường chứng khoán, lí thuyết về cảm tính của nhà đầu tư, các nguyên lí của tài chính hành vi bao gồm lí thuyết triển vọng, lí thuyết tiếc nuối, lí thuyết quá tự tin, lí thuyết mâu thuẫn đạo đức, lí thuyết đám đông, và bài thực hành phân tích và đầu tư chứng khoán

Trang 1

VÀ CHIẾN LƯỢC GIAO DỊCH

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

14-2

ý nghĩa của việc nghiên cứu hành vi

• Đối với các nhà đầu tư

Phần lớn các nghiên cứu về hành vi của nhà đầu tư

tập trung vào việc kiểm định tính hiệu quả của thị

trường chứng khoán từ đó nhận dạng các nhân tố

“không bình thường” dẫn đến các hành vi của nhà

đầu tư cũng như kiểm định giả thiết các nhà đầu tư

trên thị trường là các nhà đầu tư theo lý trí và tuân

thủ theo thuyết vị lợi kỳ vọng

Yếu tố cảm tính của nhà đầu tư được hiểu là thái độ

và quan điểm về đầu tư Một số nghiên cứu gần đây

về tài chính hành vi cho thấy yếu tố cảm tính củanhà đầu tư có những tác động đáng kể lên sự thayđổi về giá chứng khoán (Delong, Shleifer, Summers

và Waldman, 1990; Lee, Shleifer và Thaler 1991)

• Thái độ đối với rủi ro và doanh lợi của nhà đầu tư

• Tâm lý đầu tư “ngắn hạn”

• Tinh thần lạc quan về thị trường

• Yếu tố tự tin trong đầu tư

• Các đánh giá, nhận xét về giá chứng khoán trên thị

trường

Trang 2

• Hai loại tư duy thông dụng là quy nạp, diễn dịch Quy nạp là từ các trường hợp riêng biệt, khác nhau rút ra cái chung (giống nhau) Diễn dịch là từ cái chung vận dụng vào các trường hợp riêng.

14-6

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

Cảm xúc

• Là loại cảm do não sinh ra, khác cảm giác

do các giác quan sinh ra.

Có hai loại cảm xúc: xác định rõ được

(thường thuộc về tình cảm) và loại không

xác định rõ được

• Loại xác định rõ được như: sung sướng,

khổ cực, giận dữ, ghen tị, xấu hổ, ngạc

nhiên

• Loại không xác định rõ được dùng để phát

hiện các dấu hiệu, các thông tin.

• Động lực thúc đẩy ít sẽ làm cho con người

ta trì trệ Động lực thúc đẩy cần đúng hướng

và ở mức cao (nhưng không lấn át tư duy).

• Khả năng tập trung chú ý tăng sẽ khiến tính

tự chủ tăng.Vì vậy, kích thích hợp lý để động lực tăng, dĩ nhiên là vừa đủ để không vượt quá khả năng chịu đựng của con người.

14-8

Trang 3

• Giới hạn khả năng kinh doanh chênh

lệch giá trên thị trường tài chính.

mà họ đầu tư vào Ngoài ra, trong một số trường hợp, dựa trên kinh nghiệm hay nhận thức sẵn có,

họ cũng mắc phải những “lệch lạc trong nhận thức”

(cognitive biases).

• Những nghiên cứu về các hành vi không hợp lý tiêu biểu trong thị trường tài chính là kết hợp giữa tâm lý học, mà chủ yếu là trường phái tâm lý nhận thức (cognitive psychology) với trường phái tâm lý hành vi (behavioral psychology) 14-10

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

Hành vi không hợp lý

• Phụ thuộc vào kinh nghiệm hay thuật toán

(Heuristics):dựa dẫm quá nhiều vào các quy tắc

đôi khi sẽ dẫn đến sai lầm, đặc biệt là khi các

điều kiện bên ngoài thay đổi Và đặc biệt là người

ta thường đề cao hiệu quả của những quy tắc

đơn giản, gần gũi và dễ nhớ

• Lệch lạc do tình huống điển hình

(Representativeness): thường được diễn tả một

cách đơn giản là xu hướng không quan tâm

nhiều đến những nhân tố dài hạn, mà thường đặt

nhiều quan tâm đến những tình huống điển hình

• Bảo thủ (conservatism) Khi điều kiện thay đổi

(thông tin mới về triển vọng nền kinh tế chẳng hạn), người ta có xu hướng chậm phản ứng với những thay đổi đó, và gắn nhận định (anchoring) của mình với tình hình chung trong một giai đoạn dài hơi trước đó.

• Quá tự tin (overconfidence) Có nhiều nghiên

cứu tâm lý học trên thị trường tài chính cho thấy các nhà đầu tư tỏ ra quá tự tin.

14-12

Trang 4

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

Hành vi không hợp lí

• Định nghĩa hẹp (narow framing) cô lập một

khái niệm hay phân tích một vấn đề trong một

khuôn khổ hạn hẹp, tách biệt, và cố gắng đưa

ra quyết định tối ưu cho khuôn khổ hạn hẹp

ấy, thay vì cho toàn cục.

• Tính toán bất hợp lý (mental accounting) Đây

là một dạng của định nghĩa hẹp Chúng ta có

xu hướng tách riêng các quyết định mà đúng

ra phải được kết hợp lại với nhau vào các tài

khoản ảo trong trí tưởng tượng của chúng ta

(metal account) và tối đa hoá lợi ích từng tài

• Lý thuyết tiếc nuối

• Lý thuyết quá tự tin

• Lý thuyết mâu thuẫn đạo đức

• Lý thuyết tâm lý đám đông

14-14

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

Lý thuyết triển vọng

• Lý thuyết triển vọng thừa nhận rằng những

cá nhân đánh giá những thay đổi trong hoàn

cảnh của họ theo lợi ích hay thiệt hại của họ

dựa theo một số điểm nhất định.

• Bằng chứng chỉ ra rằng những cá nhân đó

đã quan tâm quá nhiều vào việc làm thế nào

để tránh thiệt hại chứ không hề quan tới

việc làm sao để tăng thêm lợi ích;

họ tin vào thông tin của họ và cho rằng, giá cổ phiếu hiện đã phản ánh đầy đủ thông tin này.

• Khi cảm thấy đã đạt được lợi nhuận mong muốn thì sẽ bán cổ phiếu đi để kiếm lời mà không phân tích khả năng tăng thêm lợi nhuận.

14-16

Trang 5

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

Lý thuyết tiếc nuối

• Lý thuyết tiếc nuối lý thuyết tiếc nuối giúp giải

thích vì sao các nhà đầu tư thường nắm giữ

mãi các khoản lỗ và cứ lỗ liên tục.

• Bởi con người luôn có khuynh hướng cảm

thấy khổ sở, đau buồn sau khi phạm phải một

sai lầm trong phán đoán Nhà đầu tư luôn

nghĩ rằng, những cổ phiếu bị lỗ sẽ nhanh

chóng tốt trở lại, họ sợ phải nuối tiếc khi bán

lỗ cổ phiếu Vì thế, khi đối mặt với tình trạng

thua lỗ, họ càng kỳ vọng vào lợi nhuận trong

tương lai và thể hiện sự liều lĩnh của mình Lý

thuyết này lý giải cho xu hướng “giữ cổ phiếu

lỗ quá lâu”. 14-17 NguyÔnĐøc HiÓn, PhD © Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

Lý thuyết quá tự tin

• Nhà đầu tư thường xem bản thân họ tốt hơn những nhà đầu tư khác, đánh giá cao bản thân hơn những gì người khác đánh giá, và

họ thường phóng đại những hiểu biết của mình Những nhà đầu tư quá tự tin đã được chứng minh rằng, họ giao dịch nhiều hơn những nhà đầu tư khác Sự quá tự tin làm tăng các hoạt động giao dịch bởi vì nó là lý do khiến nhà đầu tư sẵn sàng về quan điểm của

họ, không cần tham khảo thêm những quan điểm thích đáng của những nhà đầu tư khác.

14-18

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

Lý thuyết quá tự tin

• Sự quá tự tin cũng làm tăng tính không

đồng nhất trong niềm tin của nhà đầu tư.

Nhà đầu tư quá tự tin cho rằng, hàng động

của họ ít rủi ro hơn các nhà đầu tư khác

cảm nhận Những nhà đầu tư quá tự tin

nhiều khi hiểu sai giá trị thông tin họ nhận

được, không những tính chính xác của

thông tin mà còn hiểu sai cả ý nghĩa của

thông tin.

14-19

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

Lý thuyết mâu thuẫn đạo đức

• Lý thuyết này cho rằng, mâu thuẫn về nhận thức chỉ phát sinh khi thua lỗ Bởi vì con người thường khó chấp nhận mình bị lỗ, còn khi lời thì họ thích nói nhiều về điều đó hơn.

Họ không chấp nhận sai lầm mà thường tìn lý

lẽ để biện hộ và níu kéo lấy hi vọng Do đó, khi nhà đầu tư này bị thua lỗ, thay vì họ thừa nhận “tôi đầu tư bị lỗ” thì họ lại nghĩ “việc đầu tư của tôi sẽ tốt trở lại” Lý thuyết này giải thích nguyên nhân các nhà đầu tư càng lún sâu vào các khoản đầu tư lỗ thay vì thừa nhận và đầu tư vào những loại cổ phiếu mới.

14-20

Trang 6

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

Lý thuyết tâm lý đám đông

• Làm theo đám đông không chỉ giới hạn với những

nhà đầu tư chưa có kinh nghiệm mà việc là theo

đám đông xuất hiện trực tiếp đến những tình

huống không chắc chắn và mơ hồ Khi một tình

huống ra quyết định trở nên không chắc chắn thì

ảnh hưởng hành vi và quan điểm của đám đông sẽ

làm cho các cá nhân trở nên chắc chắn hơn.

• Tâm lý đám đông luôn tồn tại trong quá trình ra

quyết định của con người cũng như nhà đầu tư,

không phân biệt có kinh nghiệm hay không Và lý

thuyết ảnh hưởng đám đông càng thấy rõ khi nhà

đầu tư buộc phải đưa ra các quyết định nhanh

chóng, chưa có đầy đủ thông tin cần thiết. 14-21

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

14-24

Mô hình

Trang 7

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

14-27

Kết quả kiểm định mô hình

Dependent Variable: VNINDEX_LN_D-VNINDEX_LN_D(-1)

Method: Least Squares

Date: 03/31/06 Time: 18:42

Sample(adjusted): 3 1091

Included observations: 1089 after adjusting endpoints

VNINDEX_LN_D -VNINDEX_LN_D(-1) = C(1) + C(2)*VNINDEX_LN_D(-1)

Coefficient Std Error t-Statistic Prob

C(1) 0.000456 0.000432 1.054499 0.2919

C(2) -0.556352 0.027170 -20.47655 0.0000

R-squared 0.278359 Mean dependent var -1.63E-05

Adjusted R-squared 0.277695 S.D dependent var 0.016764

S.E of regression 0.014248 Akaike info criterion -5.662587

Sum squared resid 0.220662 Schwarz criterion -5.653417

Log likelihood 3085.278 Durbin-Watson stat 1.886811

nhiên trong giá chứng khoán Kiểm định hệ số phươngsai được thực hiện bởi Long (2003) và Hiển (2006) chothấy các hệ số phương sai đều có xu hướng tăng và lớnhơn 1, điều này bác bỏ giả thuyết về thị trường hiệu quả

ở mức độ yếu Ngoài ra, kết quả kiểm định Run Test (vớin1 = 538, n2=547, n3 = 5, trong đó n1, n2, và n3 tươngứng là các tham số phản ánh số các quan sát tăng giá,giảm giá, và không thay đổi trong chuỗi giá chứng

bỏ giả thiết giá chứng khoán là ngẫu nhiên

Trang 8

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

14-29

Các kết quả kiểm định khác

• Vương và Trần (2001) tiến hành kiểm định về sự vận

động rủi ro trên TTCKVN và kết luận không tồn tại xu

hướng random walk, các thông tin xấu tác động mạnh

lên thị trường, trong khi các thông tin tốt không có tác

động bù trừ

• Hoàng (2002, 2003), Long (2003), Hiển (2006) kiểm định

hiệu ứng GARCH trên dãy doanh lợi chứng khoán trong

các thời kỳ khác nhau.Các kết quả định lượng đều cho

thấy thị trường bị ảnh hưởng mạnh bởi các dòng thông

tin, trong đó tác nhận mạnh nhất là sự thay đổi biên độ

giao động giá và các chính sách từ phía UBCKNN

• Hà (2003) và Hiển (2006) kiểm định về hiệu ứng tuần

trên dãy doanh lợi chứng khoán và kết luận không có

dấu hiệu mạnh mẽ của hiệu ứng tuần Hà (2003) kiểm

định và kết luận không có các hiệu ứng ngày nghĩ lễ

trong dãy doanh lợi chứng khoán

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

14-30

Yếu tố cảm tính trong hành vi của nhà đầu tư

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

14-31

Phương pháp luận

• Để nhận dạng và phân tích các yếu tố cảm tính của nhà

đầu tư trên TTCK Việt Nam, tác giả đã tiến hành điều tra

và phỏng vấn ngẫu nhiên các nhà đầu tư cá nhân

• Nội dung phỏng vấn và điều tra được thiết kế dựa theo

phương pháp thực hiện bởi Shiller’s (1999), Kahmen và

Tversky (1979), và Vandana Singhvi (2001), tập trung

vào 2 vấn đề chính:

• (1) Xem xét thái độ và hành vi của nhà đầu tư đối với

rủi ro và doanh lợi trong quá trình ra các quyết định

đầu tư;

• (2) Đo lường các nhân tố tác động lên yếu tố cảm

tính của nhà đầu tư (bao gồm các nhân tố thuộc về

thị trường; các nhân tố thuộc về bản thân các chứng

khoán; và các nhân tố thuộc về bản thân các nhà đầu

14-32

Kiểm định 1: Tính “ngại rủi ro” của nhà đầu tư

• Tình huống 1: Giả định ông (bà) đã mua 1 chứng khoán

1 tháng trước đây với giá 50.000 đồng Hôm nay, giáchứng khoán đó là 40.000 đồng Ông (Bà) đang cânnhắc xem có nên bán chứng khoán đó và chịu lỗ 10.000đồng hay tiếp tục nắm giữ trong 1 tháng với giả định vàocuối tháng tới, có tình huống sau:

• 50% xác suất xảy ra với giá chứng khoán giảm xuốngcòn 30.000 đồng

• 50% xác suất xảy ra với giá chứng khoán tăng lên,đạt mức 50.000 đồng

• Giả sử không có các chi phí về giao dịch hay thuế Vớicác thông tin trên, Ông (Bà) sẽ lựa chọn phương án đầu

tư nào trong 2 phương án sau:

• Phương án A: Bán chứng khoán ngày và chịu lỗ

10.000 đồng

• Phương án B: Nắm giữ chứng khoán trong 1 tháng

tới

Trang 9

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

14-33

Kiểm định 1: Tính “ngại rủi ro” của nhà đầu tư

• Tình huống 2: Giả định ông (bà) đã mua 1 chứng khoán

1 tháng trước đây với giá 50.000 đồng Hôm nay, giá

chứng khoán đó là 60.000 đồng Ông (Bà) đang cân

nhắc xem có nên bán chứng khoán đó hay tiếp tục nắm

giữ trong 1 tháng với giả định vào cuối tháng tới, có tình

• Giả sử không có các chi phí về giao dịch hay thuế Với

các thông tin trên, Ông (Bà) sẽ lựa chọn phương án đầu

tư nào trong 2 phương án sau:

• Phương án A: Bán chứng khoán và thu lời 10.000

đồng

• Phương án B: Nắm giữ chứng khoán trong 1 tháng NguyÔnĐøc HiÓn, PhD © Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

14-34

Kiểm định 2: Tâm lý đầu tư ngắn hạn

• Tình huống 3: Giả định ông (bà) sở hữu cổ phiếu của công

ty XYZ Theo đánh giá của ông (bà) công ty có triển vọngphát triển về dài hạn Hiện nay, giá cổ phiếu này giảm vìthông tin về kết quả kinh doanh quý không khả quan Ông(Bà) có tiếp tục mua cổ phiếu này hay không?

• Tình huống 4: Hiện nay, ông (bà) không sở hữu cổ phiếuXYZ nhưng theo đánh giá của ông (bà), công ty này có triểnvọng phát triển về dài hạn Tuy nhiên, giá chứng khoán nàyđang giảm vì thông tin về kết quả kinh doanh quý không khảquan Ông (Bà) có tiếp tục mua cổ phiếu này hay không?

• Tình huống 5: Hãy tưởng tượng ông (bà) đã trả 200.000đồng để mua vé xem 1 vở kịch Trên đường đến nhà hát,ông (bà) phát hiện ra rằng mình đã làm mất vé Ông (bà) cósẵn lòng mua 1 tấm vé khác hay không?

• Tình huống 6: Hãy tưởng tượng ông (bà) đang trên đườngđến nhà hát xem 1 vở kịch mà chưa mua vé (giá vé là200.000 đồng) thì phát hiện ra bị mất 200.000 đồng Lúc đó,ông (bà) có sẵn sàng mua vé xem kịch hay không?

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

14-35

Đo lường yếu tố cảm tính

• Khi đo lường yếu tố cảm tính của nhà đầu tư, chúng tôi

tập trung đo lường 3 nội dung chính: (1) Sự lạc quan của

các nhà đầu tư (câu hỏi A1 và A2); (2) Quan điểm nhìn

nhận, đánh giá của nhà đầu tư về giá và diễn biến về giá

các loại chứng khoán trên thị trường (câu hỏi A3 và A4);

và (3) Sự tham gia của nhà đầu tư (câu hỏi A5 và A6)

• Để xác định các nhân tố tác động lên yếu tố cảm tính

của nhà đầu tư, chúng tôi chia thành 3 nhóm nhân tố:

nhóm 1 gồm 25 nhân tố thuộc về thị trường; nhóm 2

gồm 30 nhân tố khác nhau thuộc về bản thân các chứng

khoán, và nhóm 3 gồm 12 nhân tố khác nhau thuộc về

bản thân nhà đầu tư có thể tác động lên quyết định đầu

tư Mỗi chỉ tiêu đều có 7 mức độ để người trả lời lựa

chọn, từ 1 là không quan trọng (hoặc không hoàn toàn

đồng ý) đến 7 là rất quan trọng (hoàn toàn đồng ý) NguyÔnĐøc HiÓn, PhD © Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

14-36

Kết quả đo lường yếu tố cảm tính của nhà đầu tư

Trang 10

© Bé m«n TTCK, Viện NH-TC

NguyÔnĐøc HiÓn, PhD

14-37

Thứ nhất: về thái độ và hành vi của nhà đầu tư

đối với rủi ro và doanh lợi (Tình huống 1,2)

• Đối với tình huống 1, có 69% nhà đầu tư

chọn phương án B và 31% chọn phương án

A Đối với tình huống 2, có 56% nhà đầu tư

chọn phương án A và 44% chọn phương án

B Kết quả trên cho thấy, nhà đầu tư trên

TTCK Việt Nam không hoàn toàn tuân theo

thuyết kỳ vọng hợp lí, các nhà đầu tư chấp

nhận rủi ro trong tình huống 1 nhưng lại “ngại

rủi ro” trong tình huống 2

• Trả lời tình huống 3 và 4, có 54% nhà đầu tư trênTTCKVN hiện đã sở hữu cổ phiếu XYZ sẽ tiếp tục mua

cổ phiếu XYZ nhưng đối với các nhà đầu tư hiện chưa

sở hữu cổ phiếu XYZ có đến 78% nhà đầu tư sẵn sàngmua cổ phiếu

• Kết quả trả lời tình huống 5 và 6 có sự khác biệt rõ rệt

Trong tình huống 5, có 58% nhà đầu tư sẵn sàng mua

vé mới vào xem kịch, còn tình huống 6 có đến 71% nhàđầu tư sẵn sàng mua vé vào xem dù biết mình đã bị mất200.000 đồng.Kết quả này cảng khẳng định, nhà đầu tưkhông phải là các nhà đầu tư theo lý trí, không tuân thủtheo lý thuyết lợi ích kỳ vọng (expected utility theory)

Các hành vi đầu tư xuất phát từ các yếu tố tâm lý, thuộc

về cảm tính chứ không hoàn toàn dựa trên lý chí

ở mức 2 Đối với nhận xét A2, có 69,32% trả lời đồng ý ở mức 4 đến 7, chỉ có 3.98% phản đối ở mức 1 và 9.09% phản đối ở mức 2

• Về đánh giá của nhà đầu tư về TTCKVN Kết quả trả lời các

nhận xét A3 và A4 cho thấy, phần lớn các nhà đầu tư đềucho rằng, giá của các chứng khoán trên TTCKVN đangđược đánh giá cao hơn so với giá trị tính toán dựa trêncác phân tích cơ bản( = 5.49, có 84.67% trả lời ở mức 4-7)

Điều này cho thấy, việc xác định giá chứng khoán trênTTCKVN đã thoát ly khá xa khỏi các phân tích cơ bản Nhàđầu tư không dựa trên các phân tích cơ bản để quyết địnhđầu tư Đối với nhận xét A4, có đến 46.02 phản đối ở mức 1-

3, chỉ có 25% đồng ý ở mức 5-7 Điều này cho thấy mức độlạc quan về diễn biến giá chứng khoán trong tương lai Kếtluận này ủng hộ các nhận xét về sự phát triển quá nóng,mang tính bong bóng về giá các chứng khoán trên TTCKVN

Ngày đăng: 12/11/2014, 22:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w