1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu đề tài về thực trạng hàng hóa công cộng và nâng cao hiệu quả sử dụng hàng hóa công cộng tại việt nam

30 6K 83
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 57,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu đề tài về thực trạng hàng hóa công cộng và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hàng hóa công cộng tại Việt Nam đưa ra lí thuyết chung về hàng hóa công cộng, các mô hình cung cấp hàng hóa công cộng điển hình, thực trạng về hàng hóa công cộng tại việt nam từ đó đưa ra các biện pháp đổi mới trong cung cấp hàng hóa công cộng

Trang 1

Đề tài:

HÀNG HÓA CÔNG CỘNG

Trang 2

Mục lục

A Lời nói đầu

B Nội dung

I Lý thuyết về hàng hóa công cộng (HHCC)

1 Khái niệm và thuộc tính cơ bản của HHCC

2 Phân biệt các loại hàng hóa

2.1 HHCC thuần túy và hàng hóa cá nhân (HHCN) thuần túy

2.2 HHCC thuần túy và không thuần túy

2.3 Một số lưu ý về khái niệm HHCC

3 Nguyên nhân ra đời HHCC

4 Cung cấp HHCC

4.1 Các mô hình cung cấp HHCC điển hình trên thế giới

4.1.1 Mô hình “Nhà nước cung ứng tài chính và Nhà nước tổ chức cungcấp HHCC”

4.1.2 Mô hình “Khu vực tư cung ứng tài chính và khu vực tư tổ chứccung cấp HHCC”

4.1.3 Mô hình “Nhà nước và khu vực tư nhân cùng liên kết cung ứng tàichính và tổ chức cung cấp HHCC”

4.1.4 Mô hình “Lấp chỗ trống”

4.2 Cung cấp HHCC và vấn đề tổn thất phúc lợi xã hội

4.2.1 Cung cấp HHCC thuần túy

4.2.2 Cung cấp HHCC không thuần túy

4.2.2.1 Cung cấp HHCC có thể loại trừ bằng giá

Trang 3

1.2 Nghiên cứu cơ bản ở Nhật Bản và Mỹ

1.3 Chi tiêu cho quốc phòng của thế giới

2 Ở Việt Nam

2.1 Một số HHCC điển hình

2.1.1 Giáo dục

2.1.2 Y tế

2.1.3 Giao thông vận tải

2.1.4 Bưu chính viễn thông

2.1.5 Một số HHCC khác

2.2 Thực trạng chung

2.2.1 Hiệu quả cung cấp HHCC thấp

2.2.2 Bộ máy hành chính còn nhiều bất cập

2.2.3 Thiếu hụt ngân sách trong cung cấp HHCC

III Đổi mới cung cấp HHCC

1 Sự cần thiết phải đổi mới cung cấp HHCC

2 Biện pháp đổi mới cung cấp HHCC

2.1 Đẩy mạnh sự tham gia của khu vực phi nhà nước trong cung cấpHHCC

2.2 Cải thiện chất lượng HHCC của khu vực Nhà nước

2.3 Tăng cường giám sát của cộng đồng đối với việc hoạch định chínhsách và đảm bảo chất lượng dịch vụ công

C Kết luận

Trang 4

A LỜI NÓI ĐẦU

Thất bại của thị trường là những trường hợp mà thị trường cạnh tranhkhông thể sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ ở mức hiệu quả xã hội Có 5 loại thấtbại thị trường là:

đủ hơn về HHCC và sự cần thiết của Chính phủ trong cung cấp và quản lýHHCC

I Lý thuyết về HHCC

1 Khái niệm và thuộc tính cơ bản của HHCC

Theo Paul Samuelson( người Mỹ đầu tiên nhận giải Nobel năm 1970) thì,hàng hóa công cộng là những loại hàng hóa mà chi phí để nhận dịch vụ từ nóđối với mỗi người là bằng 0, không thể cấm mọi người cùng sử dụng

Theo Joseph Stighlitz( giáo sư đại học Columbia, nhận giải Nobel năm2001), hàng hóa công cộng là những loại hàng hóa mà việc một cá nhân này

Trang 5

đang hưởng thụ lợi ích do hàng hóa đó tạo ra không ngăn cản những người kháccùng đồng thời hưởng thụ lợi ích của nó.

Còn trang web doanhnhanhanoi.net thì định nghĩa: Hàng hóa công cộng là

có hai đặc tính quan trọng Thứ nhất là nó không thể phân bổ theo khẩu phần để

sử dụng Thứ hai là người ta không sử dụng nó theo khẩu phần

Khái niệm chung nhất là: Hàng hóa công cộng là hàng hóa có 2 thuộc

tính cơ bản là không có tính cạnh tranh và không có tính loại trừ:

-Không có tính cạnh tranh nghĩa là khi có thêm một người cùng sử dụng hàng

hóa công cộng sẽ không làm giảm lợi ích tiêu dùng của những người tiêu dùnghiện có Có thể hiểu hàng hóa công cộng có thể đáp ứng được lợi ích của nhiềungười không hạn chế số người sử dụng Thực tế, vấn đề lợi ích của hàng hóacông không phải lúc nào cũng như nhau đối với nhiều người mà nó phụ thuộcvào điều kiện, hoàn cảnh của người sử dụng hàng hóa này, họ có thể khai thácđược nhiều hoặc ít lợi ích từ nó, cũng có thể là do sự khác nhau trong nhu cầucủa họ

-Không có tính loại trừ được hiểu ngầm là về mặt kỹ thuật là không thể hoặc

là chi phí rất tốn kém để ngăn ngừa những người khác cùng sử dụng loại hànghóa này Có thể hiểu là người tiêu dùng không bị cản trở khi có nhu cầu về nó

Có những hàng hóa công cộng mà chi phí để duy trì hệ thống quản lý nhằm loạitrừ bằng giá (gọi là chi phí giao dịch) rất tốn kém, ví dụ chi phí để duy trì hệthống các trạm thu phí trên đường cao tốc,…thì có thể sẽ hiệu quả hơn nếu cungcấp nó miễn phí và tài trợ bằng thuế

Đây cũng là 2 thuộc tính cơ bản nhất của HHCC thuần túy

2 Phân biệt các loại hàng hóa

2.1 HHCC thuần túy và hàng hóa cá nhân (HHCN) thuần túy.

Trang 6

Tất nhiên là hàng hóa cá nhân không có 2 đặc tính này Các bạn có thểthấy rất rõ nếu so sánh 2 hàng hóa Ví dụ nhà ở là hàng hóa cá nhân thì cái nhà

đó đã là của bạn thì người khác không được quyền sử dụng nếu không được bạnđồng ý (đây là tính cạnh tranh), bạn có quyền không cho người khác vào (đây làtính loại trừ) Còn công viên là hàng hóa công cộng, trong cùng 1 lúc có rấtnhiều người trong công viên nhưng bạn vẫn có thể tập thể dục hoặc đi dạo màkhông làm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác, và nhân viên công viên cũngkhông thể cho người khác vào mà không cho bạn vào

2.2 HHCC thuần túy và HHCC không thuần túy

Như định nghĩa ở trên thì hàng hóa công cộng là hàng hóa có 2 thuộc tính

cơ bản là tính không cạnh tranh và tính không loại trừ Hàng hóa công cộng nàomang đầy đủ 2 đặc tính trên thì là hàng hóa công cộng thuần túy Một lượnghàng hóa công cộng khi cung cấp cho 1 cá nhân thì lập tức có thể tiêu dùng bởitất cả các cá nhân khác trong cộng đồng ví dụ như :quốc phòng, đài phát thanh,đèn chiếu sáng đường,…Ngược lại là hàng hóa cá nhân thuần túy thì nó chỉ tạo

ra lọi ích cho người mua nó chứ không phải bất kỳ ai Nói cách khác hàng hóa

cá nhân thuần túy có tính cạnh tranh trong tiêu dùng, vừa dễ dàng loại trừ tất cảnhững ai không sẵn sàng thanh toán theo mức giá thị trường

Vì hàng hóa công cộng thuần túy không có tính cạnh tranh trong tiêu dùngnên với một lượng hàng hóa công cộng thuần túy nhất định, chi phí biên đểphục vụ thêm một người sử dụng bằng 0 Tuy nhiên chi phí biên để sản xuấtHHCC vẫn lớn hơn 0 vì để sản xuất thêm HHCC đòi hỏi tốn nguồn lực của xãhội

Trong thực tế rất ít hàng hóa công cộng thỏa mãn một cách chặt chẽ haithuộc tính nói trên và HHCC chỉ có 1 trong 2 thuộc tính trên được gọi là HHCCkhông thuần túy Chúng được coi là trung gian giũa HHCC thuần túy và hànghóa cá nhân thuần túy Có 2 loại HHCC không thuần túy là HHCC có thể tắcnghẽn và HHCC có thể loại trừ bằng giá

Trang 7

HHCC có thể tắc nghẽn là những hàng hóa mà khi có thêm nhiều người sử dụng thì có thể gây ra sự ùn tắc hay tắc nghẽn khiến lợi ích cưa những người tiêu dùng trước đó bị giảm sút.

Chi phí để phục vụ cho những người tăng thêm sau một giới hạn nhất địnhkhông còn bằng 0 nữa mà bắt đầu tăng lên Điểm giới hạn đó gọi là điểm tắcnghẽn Một hàng hóa công cộng có thể là HHCC thuần túy vào thời điểm nàynhưng lại là HHCC có thể tắc nghẽn vào thời điểm khác Ví dụ như ghế đátrong công viên vào những ngày bình thường sẽ là HHCC thuần túy vì nó đủchỗ cho những người có nhu cầu ngồi Tuy nhiên vào những ngày lễ như 14/2vừa qua hay như mùng 8/3, 20/10 rất nhiều đôi muốn đi chơi công viên vớinhau vì thế nên tính cạnh tranh để có ghế đá giữa các đôi muốn ngồi tâm sự sẽtăng lên, chắc chắn ghế đá sẽ hết chỗ như vậy làm giảm lợi ích của những ngườitrong công viên và xảy ra hiện tượng tắc nghẽn

Hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá, hay gọi tắt là HHCC có thể loại trừ, là những hàng hóa công cộng mà lợi ích của chúng có thể định giá Việc đi lại có thể loại trừ bằng giá, nhờ việc đặt các trạm thu phí hai bên

đầu cầu…

2.3 Một số lưu ý về khái niệm HHCC

Từ khái niệm HHCC nêu trên có một số khía cạnh quan trọng cần lưu ý

• HHCC được mọi người tiêu dùng với khối lượng như nhau nhưng khôngnhất thiết phải đánh giá giá trị của các HHCC đó ngang nhau Đối với một loạiHHCC thuần túy như ngọn hải đăng, những chủ tàu có hàng hóa giá trị lớn sẽđánh giá cao giá trị của ngọn hải đăng hơn so với những chủ tàu có hàng hóa rẻtiền

• HHCC thuần túy là một dạng đặc biệt của ngoại ứng tích cực Nói cụ thể,khi một người tạo ra một hàng hóa mà tất cả những người khác trong cộng đồngđều được nhận tác động tích cực của nó thì người ấy đã tạo ra được một HHCCthuần túy

Trang 8

• Ranh giới phân định một hàng hóa là HHCC không phải là tuyệt đối, nó

có thể thay đổi theo điều kiện thị trường và tình trạng công nghệ Có nhiềuHHCC không có tính loại trừ chỉ là do sự lạc hậu về công nghệ Khi điều kiệntiên tiến hơn, cho phép tìm ra những cách thức loại trừ đơn giản và rẻ tiền thìHHCC đó sẽ trở thành HHCC có thể loại trừ Ví dụ như chương trình truyềnhình khi truyền qua song là miễn phí nhưng hiện nay khi truyền qua hệ thốngdây cáp thì người sử dụng phải trả tiền mới có thể xem truyền hình qua hệ thốngcáp này

• Có rất nhiều thứ không được coi là hàng hóa thông thường vẫn mang đầy

đủ thuộc tính của HHCC như an ninh xã hội, môi trường trong sạch…

• HHCC không nhất thiết phải do khu vực công sản xuất và HHCN khôngnhất thiết phải do khu vực tư nhân sản xuất Trong thực tế, có rât nhiều HHCN

do chính phủ cung cấp như các khu nhà tập thể, dịch vụ y tế cá nhân do bệnhviện công thực hiện, giáo dục công… Ngược lại, có nhiều HHCC do khu vực tưnhân sản xuất như các dự án cơ sở xây dựng cơ sở hạ tầng theo hình thức BOT.Đây là hình thức mà các hãng tư nhân đầu tư thực hiện dự án, vận hành kết quả

dự án trong một thời gian để thu hồi vốn và lợi nhuận xong sau đó chuyển giaocho nhà nước tiếp tục vận hành

3 Nguyên nhân ra đời HHCC

Có thể thấy HHCC là hàng hóa hữu ích cho xã hội, không thể hoặc rất khókhăn để chia nhỏ hàng hóa thành từng đơn vị tiêu dùng (khẩu phần) và lợi íchtiêu dùng HHCC chỉ có thể hưởng thụ chung giữa tất cả mọi người, việc ngườinày tiêu dùng không làm giảm lợi ích thụ hưởng của người khác Vì vậy nókhông dễ gì ngăn cản những cá nhân không đóng góp tài chính để cung cấp tiêudùng chúng, khi đó họ trở thành “kẻ ăn không” Điều này đặc biệt khó khăn nếukhu vực tư nhân đứng ra cung cấp hàng hóa này vì họ không có khả năng cưỡngchế các cá nhân phải trả tiền sử dụng HHCC mà họ cung cấp Trong khi đóChính phủ có thể khắc phục phần nào được vấn đề ăn không này bằng cách

Trang 9

buộc cá nhân phải đóng góp bắt buộc thông qua đóng thuế, rồi sử dụng thuế thuđược để tài trợ cho việc sản xuất và cung cấp HHCC.

4 Cung cấp HHCC

4.1 Các mô hình cung cấp HHCC điển hình trên thế giới 4.1.1 Mô hình " Nhà nước cung ứng tài chính và Nhà nước tổ chức cung ứng HHCC”

Ở mô hình này, Nhà nước bỏ vốn ra tạo lập, tiến hành hoạt động sản xuất,cung ứng HHCC trên cơ sở kế hoạch Nhà nước giao, theo cơ chế bao cấp (lãinộp ngân sách nhà nước, lỗ sẽ được Nhà nước bù lỗ) Chủ thể trực tiếp cungứng là doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Với cơ chế này, mặc dù DNNN vẫnmang lại một số hiệu quả kinh tế, nhưng xét về bản chất, đó không phải là hoạtđộng kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu hoàn thành kế hoạch đãđược giao và được đảm bảo mọi điều kiện cần thiết để hoạt động, kể cả việc tiêuthụ sản phẩm theo địa chỉ giao nộp đã được Nhà nước ấn định Cơ chế này đãtừng được áp dụng phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước xã hội chủ nghĩa(XHCN) khác trước đây, khi phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, baocấp Hiện nay, trên những nét tổng thể và cơ bản, cơ chế này vẫn còn được ápdụng ở một vài nước như Cuba, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên

4.1.2 Mô hình " Khu vực tư cung ứng tài chính và khu vực tư tổ chức cung cấp HHCC”

Mô hình này là hình thức cung ứng trong đó Nhà nước dành phần lớn (nếukhông muốn nói là “hầu hết”) việc cung ứng HHCC cho khu vực tư trực tiếpsản xuất và cho xã hội Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhânđược phát triển mạnh mẽ, ngay cả trong lĩnh vực “công” Mô hình này đượctriển khai ở nhiều nước, điển hình như ở Mỹ, số lượng DNNN rất hạn chế vànếu có, chỉ chủ yếu tập trung trong lĩnh vực sản xuất, cung ứng HHCC “Mộttrong những điểm khác nhau chủ yếu giữa Mỹ và nhiều nước Tây Âu là Chính

Trang 10

phủ có vai trò hạn chế với danh nghĩa là người sản xuất HHCC”[1] Thế nhưng,Chính phủ Mỹ lại có tác động lớn đối với các quyết định sản xuất và cung cấpcác HHCC thông qua sự điều tiết bằng thuế, đơn đặt hàng hoặc trợ giá để có thểlàm thay đổi hành vi của các doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Việc hạch toánkinh tế đối với các HHCC do các DNNN sản xuất và cung cấp không phải dựatrên sự điều tiết của giá cả thị trường Do không có giá thị trường để đánh giánhững mặt hàng này, HHCC phải được đánh giá theo chi phí đầu vào làm rachúng Ở Mỹ, các DNNN chủ yếu là các doanh nghiệp công ích, hoạt độngkhông nhằm mục tiêu lợi nhuận Số lượng các doanh nghiệp loại này khôngnhiều, nên các công ty tư nhân đảm nhận cung ứng phần lớn các HHCC cho xãhội Ngoài các công cụ điều tiết vĩ mô để điều chỉnh hành vi của các DNTN sảnxuất và cung ứng HHCC như thuế, đơn đặt hàng, trợ giá , Chính phủ Mỹ còn

có chính sách mua HHCC của các hãng tư nhân để đáp ứng nhu cầu cho xã hội

4.1.3 Mô hình “Nhà nước và khu vực tư nhân cùng liên kết cung ứng tài chính và cung ứng HHCC”

Theo mô hình này, cả Nhà nước và tư nhân đều có thể liên kết, hợp tác sảnxuất, cung ứng HHCC cho xã hội Cùng với sự khuyến khích khu vực tư đầu tưvào các lĩnh vực của nền kinh tế, Nhà nước cũng muốn có một số doanh nghiệpcủa mình như là một công cụ điều tiết trực tiếp việc sản xuất, cung ứng một sốHHCC quan trọng mà Nhà nước thấy cần thiết Mô hình này được tiến hành phổbiến ở New Zealand, Singapore… Trong nền kinh tế này thường xuất hiện cáchình thức cung ứng chủ yếu sau:

Một là, hình thức "Nhà nước cung ứng tài chính và khu vực tư nhân tổ

chức cung ứng HHCC” Toàn bộ kinh phí đảm bảo phục vụ cho cung ứng đềuđược Nhà nước đảm nhận chi trả Điều khác biệt ở đây là chủ thể trực tiếp tổchức cung ứng cho xã hội không phải là DNNN mà là doanh nghiệp thuộc khuvực tư Ví dụ, để làm một con đường theo nhu cầu xã hội và chủ trương của[1]

Trang 11

Nhà nước, Nhà nước có thể kêu gọi các DNTN, tổ chức đấu thầu, đặt hàng vàdoanh nghiệp trúng thầu sẽ nhận kinh phí từ ngân sách nhà nước và tiến hành

xây dựng con đường đó

Hai là, hình thức “Khu vực tư nhân cung ứng tài chính và Nhà nước cung

ứng HHCC” Đây là hình thức được áp dụng để cung ứng những loại HHCCthường gắn liền với đời sống dân sinh mà DNNN có thể được nhân dân (ngườitrực tiếp thụ hưởng) chọn (thông qua đấu thầu, đặt hàng…) trực tiếp đứng ra tổchức cung ứng Điều đáng chú ý là tài chính phục vụ cho việc tổ chức xây dựngcung ứng do người dân đảm nhiệm chi trả cho doanh nghiệp Trên cơ sở số tàichính đó, doanh nghiệp sẽ tổ chức cung ứng Hình thức này thường được vậndụng ở những địa bàn người thụ hưởng có mức sống thuận lợi, khá đồng đều vàlĩnh vực hoạt động phù hợp Ví dụ như ở một số địa bàn dân cư, người dân cóthể bàn bạc, thoả thuận cùng thống nhất góp tài chính và kêu gọi một doanhnghiệp thuộc sở hữu nhà nước (DNNN) mà người dân tin tưởng đặt hàng hoặc

tổ chức đấu thầu làm các con đường trong khu dân cư

Ba là , hình thức “Nhà nước và khu vực tư nhân cùng đầu tư (góp) vốn

cùng cung ứng HHCC” Đây là hình thức cung ứng HHCC dựa trên nguyên tắcbình đẳng giữa các nhà đầu tư, trong đó có Nhà nước Trong mối quan hệ này,Nhà nước đóng vai trò là một nhà đầu tư, thành viên hay cổ đông công ty Cácthành viên (cổ đông…) này cùng góp vốn, cùng hưởng lợi và chịu trách nhiệm

về hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp mà mình tham gia

4.1.4 Mô hình " lấp chỗ trống”

Cung ứng HHCC có đặc trưng rất cơ bản là khả năng tìm kiếm lợi nhuậnrất khó khăn, nếu như không muốn nói là không có lợi nhuận Vì lẽ đó, doanhnghiệp của hầu hết các quốc gia, đặc biệt là của khu vực tư, thường khôngquan tâm đến các lĩnh vực hoạt động thuộc khu vực công mà sản phẩm làm racung ứng cho xã hội là HHCC kể cả/mặc dù pháp luật của quốc gia đó vẫnthừa nhận, cho phép hay khuyến khích các doanh nghiệp thuộc khu vực tư có

Trang 12

quyền đầu tư, cung ứng Vì lý do đó, Nhà nước với tư cách là một là tổ chứcđặc biệt của quyền lực công - có đủ tư cách đại diện cho một quốc gia, đủ tàichính và trách nhiệm thực hiện chức năng, vai trò xã hội của mình - phải đứng

ra cáng đáng, thực hiện vai trò, sứ mệnh để xã hội phát triển an toàn, bìnhthường, tích cực, lành mạnh bằng cách thực hiện cung ứng HHCC thay thế cácdoanh nghiệp thuần tuý khác

Mô hình "lấp chỗ trống” được hình thành, phát triển và đề cập đến nhiều,đặc biệt ở các nước phát triển nền kinh tế thị trường xã hội như Đức, Pháp,Thuỵ Điển… Ở các quốc gia này, DNNN có mặt chủ yếu để “lấp chỗ trống”trong sản xuất, cung ứng HHCC mà các DNTN không làm vì các lý do trên

4.2 Cung cấp HHCC và vấn đề tổn thất phúc lợi xã hội

4.2.1 Cung cấp HHCC thuần túy.

Một trong những khó khăn khi cung cấp HHCC là không có một thị trường

để trao đổi mua bán hàng hóa này giống như thị trường tư nhân Chúng ta có thểcung cấp HHCC, như vậy có thể nói ta có thể vẽ được đường cung đối vớiHHCC nhưng lợi ích và mức giá mà mỗi người sẵn sàng trả cho lợi ích màHHCC mang lại là rất khó để đo lường Nhà kinh tế học Thụy Điển ErikLindahl đã đưa ra một mô hình nhằm tạo ra một mô hình nhằm tạo ra một giảipháp theo kiểu thị trường cho HHCC thuần túy Theo mô hình này, việc xácđịnh mức độ sẵn sàng chi trả của các cá nhân cho HHCC, Chính phủ có thể xácđịnh được một cơ chế đánh thuế tối ưu theo mức độ lợi ích mà cá nhân nhậnđược từ HHCC Cân bằng Lindahl được xác định tại điểm giao giữa đường cung

về HHCC và mức thuế người dân sẵn sàng trả cho lợi ích mình được hưởng từHHCC

Cân bằng Lindahl cho thấy một tập hợp giá Lindahl và mức cung cấpHHCC hiệu quả được tất cả các thành viên trong xã hội nhất trí và tự nguyệnđóng góp Tuy nhiên, áp dụng nguyên tắc đóng góp tự nguyện đòi hỏi tất cả cácthành viên bỏ phiếu một cách trung thực theo đúng lợi ích biên mà họ nhận

Trang 13

được từ HHCC mang lại Nếu người A có thể đoán trước số tiền tối đa màngười B sẵn sàng trả cho HHCC thì anh ta sẽ cố gắng buộc người B phải đếngần sự phân bổ đó bằng cách bộc lộ nhu cầu của mình về HHCC thấp hơn thực

tế Tương tự, người B có động cơ như thế, hành vi tính toán của các cá nhân cóthể ngăn cản việc đạt được một mức HHCC hiệu quả

Ở một mức độ cực đoan, nếu cá nhân nhận thấy rằng việc mình có trả tiền

để được tiêu dùng HHCC thuần túy hay không không ảnh hưởng tới việc hưởngthụ lợi ích của HHCC đó thì lúc đó họ đã trở thành những kẻ ăn không Kẻ ănkhông là những người tìm cách hưởng thụ lợi ích của HHCC mà không đónggóp một đồng nào cho chi phí sản xuất và phân phối HHCC đó

Nếu chỉ có một số ít người muốn trở thành kẻ ăn không thì thị trường vẫncung cấp được hàng hoá này mà không cầ Chính phủ Trong thực tế, ở nhữngcộng đồng nhỏ, mọi người hầu như đã biết hết nhau, việc che giấu lợi ích cánhân là rất khó thì dư luận xã hội là một biện pháp rất tốt để cá nhân đóng gópđầy đủ cho HHCC Vì thế ở các thôn xóm nhỏ hoặc các khu tập thể, ta vẫn thấy

cá nhân có thể tự thỏa thuận với nhau về mức đóng góp cho các công trình côngcộng như đường làng, ngõ xóm, các công trình cui chơi cho trẻ em, đường điện,đường nước…

Tuy nhiên, khi cộng đồng càng lớn thì việc che giấu ý muốn cá nhân càng

dễ dàng, sự phát hiện và trừng phạt của xã hội đối với những kẻ ăn không càngkhó khăn thì động cơ trở thành kẻ ăn không càng lớn Nếu tất cả các cá nhântrong cộng đồng đều chọn chiến lược hành động như những kẻ ăn không thì kếtcục sẽ không có HHCC nào được cung cấp Điều này đặc biệt khó khăn khi tưnhân đứng ra cung cấp HHCC, vì họ không có khả năng cưỡng chế các cá nhânphải trả tiền sử dụng HHCC mà họ cung cấp Đây cũng chính là lý do khiến khuvực tư nhân không muốn tham gia cung cấp HHCC thuần túy

Chính phủ có thể khắc phục được vấn đề này bằng cách buộc các cá nhânphải đóng góp bắt buộc thông qua thuế

Trang 14

4.2.2 Cung cấp HHCC không thuần túy.

4.2.2.1 Đối với những HHCC có thể loại trừ bằng giá

Với những HHCC có thể loại trừ bằng giá thì quan điểm chung là nên dùnggiá để loại trừ bớt việc tiêu dùng nhằm tranh gây ra tắc nghẽn, đồng thời đảmbảo các cá nhân sẽ sử dụng hiệu quả hàng hóa này

Tuy quan điểm này là đúng đối với những hàng hóa nhanh bị tắc nghẽn,nhưng nó có thể vẫn gây tổn thất phúc lợi cho xã hội nếu việc tiêu dùng hànghóa đó chưa đạt đến điểm tắc nghẽn Lý do là khi chưa đến điểm tắc nghẽnnghĩa là việc tiêu dùng chúng không có tính cạnh tranh và vẫn tạo ra phúc lợi xãhội

(Lưu ý: Q e và Q* đều chỉ lượng cầu cân bằng, E là giao điểm của đường cầu và trục tung, A là giao điểm của đường cầu và đường giá)

Công suất thiết kế qua cầu là Q c thì điểm tắc nghẽn là Qc Nếu số lượt quacầu tối đa là Qm thì không có hiện tượng tắc nghẽn, tức là chi phí phục vụ thêmmột lượt qua cầu là bằng 0

Nếu việc qua cầu được thực hiện miễn phí thì số lượt qua cầu sẽ đạt Qm vàlợi ích thu được từ toàn bộ cây cầu là toàn bộ tam giác OEQm Nhưng nếu mộthãng tư nhân đứng ra xây dựng và thu phí qua cầu tại mức P* thì số lượt quacầu là Q* Một số lượt qua cầu mà lợi ích biên lớn hơn chi phí biên sẽ không

Trang 15

được thực hiện (Qm – Q*), cho dù hãng tư nhân thu được một doanh thu từ phíbằng diện tích OP*AQ* Tổn thất phúc lợi đối với xã hội là diện tích tam giácAQ*Qm.

Có thể nói, nếu hàng hóa mà chi phí của việc cung cấp bằng 0 thì hàng hóa

đó nên được cung cấp miễn phí, còn chi phí để sản xuất ra chúng có thể đượctrang trải thông qua các nguồn thu khác, ví dụ từ thuế…

4.2.2.2 Đối với những hàng hóa mà việc loại trừ rất tốn kém.

Trường hợp thứ hai ta xem xét ở đây là những hàng hóa công cộng có thểtắc nghẽn, do đóc nên loại trừ bớt việc tiêu dùng để tránh tình trạng tắc nghẽn,nhưng chi phí để thực hiện việc loại trừ này quá lớn khiến chính phủ phải chấpnhận cung cấp công cộng hàng hóa này Gọi tất cả các chi phí liên quan đến

việc điều hành một hệ thống giá cả để loại trừ việc tiêu dùng HHCC là chi phí giao dịch Đó là toàn bộ những chi phí cần thiết để hoàn thành một giao dịch

kinh tế, chẳng hạn chi phí để duy trì hệ thống trạm thu phí trên đường cao tốc

( Hình 2.15 giáo trình trang 94)

Xét một ví dụ về việc đi lại trên đường cao tốc trường hợp này được mô tảtrong hình sau Trục hoành thể hiện số lượt người đi lại trên đường đó trong mộtngày, trục tung thể hiện mức giá Việc đi lại trên đường cao tốc có thể gây tắcnghẽn, tức là chi phí biên cảu việc cung cấp sẽ lớn hơn 0 trước khi đạt mức tiêudùng tối đa Điều này được mô tả bằng việc Qc (công suất thiết kế cảu conđường) nhỏ hơn Qm (mức tiêu dùng tối đa khi việc đi lại trên đường là miễnphí) Như vậy, mức tiêu dùng tối ưu nên dùng lại ở Q*, khi chi phí biên bắng lợiích biên

Nếu chính phủ cung cấp công cộng dịch vụ này thì tổn thất mà xã hội phảigánh chịu là phẩn diện tích EFQm Đây là phẩn tổn thất xảy ra do tiêu dùng quámức Để tránh phần tổn thất này, cần dùng một cơ chế loại trừ bằng giá nào đó,chẳng hạn đặt trạm thu phí ở tất cả các ngả đường dẫn vào con đường này Tuy

Ngày đăng: 12/11/2014, 21:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.8. Tổng hợp vốn thực hiện đầu tư phát triển ngành GTVT - Tài liệu đề tài về thực trạng hàng hóa công cộng và nâng cao hiệu quả sử dụng hàng hóa công cộng tại việt nam
Bảng 1.8. Tổng hợp vốn thực hiện đầu tư phát triển ngành GTVT (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w