Để thực thi chính sách tiền tệ, thực hiện chức năng và vai trò của mình, ngân hàng nhà nước NHNN đã sử dụng hàng loạt các công cụ tiện tệ như: tỉ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất, nghiệp vụ
Trang 1Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh
Đề tài tài chính tiền tệ:
ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH VẬN DỤNG CÁC CÔNG CỤ TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
SV thực hiện : PHẠM PHÚ THỨ - LA02
TRẦN NGÔ MINH HÙNG - LA02
Trang 218/12/2007
Trang 3MỤC LỤC
1.TÌM HIỂU SƠ LƯỢC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA CÁC CÔNG CỤ TIỀN TỆ ……… trang 1
2.TÌNH HÌNH HIỆN NAY VỀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC CÔNG CỤ TIỀN
TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI……….………… trang 2
3.NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG THỜI GIAN TỚI……… ……trang 12 4.NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG
CỤ TIỀN TỆ TRONG NHNN HIỆN NAY……….trang 14
Trang 4Để thực thi chính sách tiền tệ, thực hiện chức năng và vai trò của mình, ngân hàng nhà nước (NHNN) đã sử dụng hàng loạt các công cụ tiện tệ như: tỉ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở, tỉ giá hối đoái … Thế nhưng mỗi công cụ có cơ chế vận hành riêng và luôn có ưu và nhược điểm khác nhau Do đó, tùy thuộc vào điều kiện thực tế của nền kinh tế để sử dụng chúng một cách phù hợp, hiệu quả
1 TÌM HIỂU SƠ LƯỢC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA CÁC CÔNG
CỤ TIỀN TỆ
A) Dự trữ bắt buộc
Là phần tiền gửi mà các NH trung gian phải đưa vào dự trữ theo luật định Mức dự trữ bắt buộc cao hay thấp phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc – do NHNN quy định – cao hay thấp Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là
tỷ lệ phần trăm trên lượng tiền gửi mà các NH trung gian huy động được, phải để dưới dạng dữ trữ Như vậy, mỗi NH chỉ được vay số tiền còn lại sau khi đã trừ phần dự trữ bắt buộc Qua đó, với việc tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc NHNN có thể hạn chế hoặc bành trướng khối tiền tệ mà hệ thống NH có khả năng cung ứng cho nền kinh tế Một cách khái quát NHNN tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì NHNN có thể làm giảm hoặc tăng hệ số tạo tiền của hệ thống NH trung gian, và kết quả là khối tính dụng mà các NH trung gian có thể cung ứng có thể tăng hoặc giảm Nhìn chung dự trữ bắt buộc là công cụ mang tính chất hành chính của NHNN, NHNN nắm điều tiết mức cung tiền tệ của NH trung gian cho nền kinh tế, thông qua hệ số tạo tiền
B) Lãi suất
Là giá cả của quyền sữ dụng vốn, việc thay đổi lãi suất kéo theo việc biến đổi của chi phi tín dụng, từ đó tác động đến việc thu hẹp hay
mở rộng khối tín dụng trong nền kinh tế Do đó, lãi suất là một trong những công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ Thực tế cho thấy, tùy theo điều kiện thực tế và trình độ phát triển của thị trường tài chính, NHNN có thể sử dụng công cụ lãi suất để điều hành chính sách tiền tệ
C) Thị trường mở
Công cụ thị trường mở phản ánh NHNN mua hoặc bán chứng từ
có giá trên thị trường tài chính công cộng nhằm đạt mục tiêu điều chỉnh lượng tiền lưu thông Các chứng từ có giá mà các NHNN thường sử dụng để tiến hành nghiệp vụ thị trường mở là các chứng khoán kho bạc, bởi vì thị trưởng cũa những chứng khoán này rất lỏng và có dung lượng kinh doanh lớn
Trang 5D) Tỷ giá hối đoái
Là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt giá trị giữa hai đồng tiền nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bắng một số lượng đơn vị tiền tệ nước khác
E) Hạn mức tính dụng
Bằng công cụ hạn mức tính dụng NHNN quy định cho các ngân hang trung gian một hạn mức tăng tín dụng tối đa Như vậy, biện pháp này cho phép NHNN ấn định trước khối tín dụng phải cung cấp cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định Đây là một biện pháp mạnh có hiệu lực đang kể tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, cung cầu tính dụng luôn luôn biến đổi không ngừng do đó, công cụ này ít được áp dụng
2 TÌNH HÌNH HIỆN NAY VỀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC CÔNG CỤ TIỀN TỆ CỦA NHNN VÀ NH THƯƠNG MẠI (NHTM)
A) Dự trữ bắt buộc
Từ 30/7/2003 đến nay, NHNN đã ba lần điều chỉnh tỉ lệ dự trữ bắt buộc theo hướng tăng dần
Ví dụ tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi VND không kỳ hạn và có
kỳ hạn dưới 12 tháng tăng từ 2% đến 5% và hiện là 10%/tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc Việc nâng tỉ lệ dự trữ bắt buộc trong tình hình tốc độ tăng dư nợ tín dụng 6 tháng đầu năm đã có dấu hiệu "nóng" (15% so cuối năm 2006) là điều cần thiết, nhưng việc tăng đột ngột mức dự trữ gấp 2 lần mức cũ trong bối cảnh các NHTM đang tạm thời thừa một lượng vốn khả dụng VND khá lớn là một khó khăn không nhỏ cho các NH và ảnh hưởng đến tính thanh khoản của nền kinh tế
Theo NH Công thương Việt Nam, việc tăng dự trữ bắt buộc đồng nghĩa với việc tăng giá vốn của các NHTM, các NH phải lựa chọn phương án giảm lãi suất huy động hoặc tăng lãi suất cho vay
Hiện nay việc cạnh tranh giữa các NH rất gay gắt, chủ yếu bằng mức lãi suất Đối với các khách hàng tốt, khách hàng trung bình việc tăng lãi suất cho vay rất khó được chấp nhận Như vậy, nếu cứ tăng lãi suất cho vay, NH sẽ đối mặt với việc giảm thị phần tín dụng hoặc chấp nhận thêm một lượng khách hàng kém hơn có rủi ro cao hơn
Tăng dự trữ bắt buộc với biên độ lớn (gấp 2 lần) gây áp lực khá lớn đến hoạt động kinh doanh của các NHTM Các NH sẽ khó tính đến
Trang 6việc giảm lãi suất huy động theo thoả thuận tại hiệp hội phiên họp tháng 5.2007 Ngược lại, giống như các năm trước khi nhu cầu vốn cho nền kinh tế thường tăng vào quý III thì rất có thể các NH lại phải tăng lãi suất huy động và đồng thời tăng lãi suất cho vay
Hiệu quả kinh doanh của các NH gặp khó khăn và các DN giảm sức cạnh tranh vì vốn vay NH vẫn chiếm tỉ trọng rất lớn trong vốn kinh doanh của DN Vì những lý do trên, một số NH đã kiến nghị NHNN tuỳ tình hình thực tế trong từng thời điểm để xem xét điều chỉnh lại mức tăng dự trữ bắt buộc ở mức hợp lý, phù hợp hơn
B) Lãi suất
Hiện nay sự cạnh tranh về lãi suất giữa các NH là một vấn đề rất nóng bỏng hiện nay Không phải đến bây giờ, khi mà cuộc đua lãi suất bước vào cao trào thì mọi người mới để ý Thực ra, vào năm 2002, khi quy định trần lãi suất được dỡ bỏ để các NH được cạnh tranh tự do hơn, có những cảnh báo cho rằng nếu NHNN Việt Nam không có những giải pháp hữu hiệu thì khó tránh khỏi việc cạnh tranh lãi suất không lành mạnh, gây phương hại cho nền kinh tế
Có nhiều lý do tác động đến sự kiện này và một trong những nguyên nhân chính xuất phát từ hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ hiện nay
Hình dung một cách đơn giản, nếu xem những người có tiền nhàn rỗi như những “cái cây” giữ nước trên núi, những người cần vay vốn như những “cánh đồng” cần nước tưới, các NH như những “dòng
sông”, thì NH trung ương (NHTW) sẽ như một “hồ chứa nước” đóng vai
trò điều tiết dòng chảy của tất cả các sông để có một lượng nước vừa đủ
Nhìn chung, để làm được vai trò điều tiết của mình, ngoài việc có
một lượng nước dữ trữ đủ lớn (cung tiền, ngoại tệ dữ trữ…) với một hệ thống cửa thông, van xả hợp lý (lãi suất, thị trường mở…), cái hồ còn
phải làm sao đó để các dòng sông có thể khai thác một cách tốt nhất
(nếu không nói là toàn bộ) lượng nước (nguồn vốn) những cái cây đang
giữ
Khi thiếu nước cung cấp cho những cánh đồng, do đã tận dụng triệt để các nguồn nước, thì sông sẽ hỏi vay nước từ hồ Lúc này, quyết định sẽ thuộc về cái hồ Nếu thấy những cánh đồng thực sự cần thêm
nước cho việc phát triển cây trồng (kích thích tăng trưởng kinh tế) thì họ
sẽ mở van tăng thêm nước (hạ lãi suất, tăng cung tiền) cho các dòng
sông
Trang 7Ngược lại, khi thấy nguy cơ do nước quá nhiều có khả năng gây ra
ngập lụt (lạm phát) họ sẽ giảm hoặc khóa van lại, thậm chí tìm cách thu hút bớt nước từ các dòng sông (tăng lãi suất, giảm cung tiền), tích trữ
vào hồ để dùng khi cần thiết
Đây chính là chức năng và vai trò của NHTW Điều này cũng giải thích tại sao ở các nước có một NHTW mạnh, điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả thì mỗi động thái của họ đều được mọi người trông đợi,
dự đoán do nó có ảnh hưởng rất lớnđến nền kinh tế
Khi lượng nước trong hồ không đủ lớn, cơ chế điều tiết nguồn nước không hợp lý, công bằng và lượng nước trong các cây đã khai thác hết thì đương nhiên các dòng sông sẽ tìm cách lấy bớt nước của
những dòng sông khác bằng cách trả một giá (lãi suất) cao hơn.
Phản ứng hợp lý của các dòng sông là tăng giá để giữ nước của mình Lúc này, tổng lượng nước dường như không tăng thêm, nhưng những cánh đồng, người vay cuối cùng, phải trả chi phí cao hơn cho một nguồn nước tương tự
Đây chính là cuộc đua lãi suất của các NH Việt Nam hiện nay mà tác động nhãn tiền của nó làm cho rủi ro của các NH lớn hơn, chi phí sản xuất gia tăng và nền kinh tế sẽ phải lãnh đủ
Cuộc đua này cho thấy công cụ điều tiết tiền tệ, nhất là công cụ lãi suất của NHNN dường như không có tác dụng là bao
Hơn thế, bằng chứng thực tế đã chứng minh điều này Với một quyết định thay đổi lãi suất của mình, NHTW Mỹ hay Châu Âu đã tác động đến cả nền kinh tế thế giới NHTW Singapore, Thái Lan hay Malaysia tác động ngay lên nền kinh tế của họ, thậm chí có thể ảnh hưởng sang nước láng giềng Nhưng những quyết định về lãi suất của NHNN Việt Nam dường như chẳng có tác dụng gì
Vì vậy cái mà ta cần hiện nay chính là cần một NHNN đủ mạnh
Mục tiêu quan trọng nhất của các NHTM là lợi nhuận Việc chạy đua lãi suất của họ là điều đương nhiên Những cuộc đua như vậy không thể tránh được bằng thỏa thuận lãi suất Hơn nữa, làm như vậy
sẽ vi phạm luật cạnh tranh Giải pháp hữu hiệu nhất là nâng cao năng lực và khả năng điều hành chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam sao cho mỗi khi họ đưa ra các quyết định của mình lập tức có tác động ngay đến nền kinh tế
Một NHTW mạnh có tính độc lập cao so với chính phủ là một trong những nền tảng cơ bản nhưng cũng là công cụ hữu hiệu để giảm thiểu những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường
Trang 8Đến nay, NHNN đã hỗ trợ cho thị trường hơn 10.000 tỷ đồng và lãi suất đã dừng phổ biến ở mức 8%/năm Chúng tôi nhận thấy tình hình vốn khả dụng đã trở lại bình thường và lãi suất cũng đã dần ổn định NHNN sẽ linh hoạt, tiếp tục theo dõi để kiểm soát tốc độ của tổng lượng tiền thanh toán để phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát và hỗ trợ phát triển kinh tế
Việc cung 10.000 tỷ đồng nói trên sẽ không ảnh hưởng đến lạm phát vì NHNN chỉ hỗ trợ vốn thanh toán tạm thời, ngắn hạn để ổn định thị trường, đồng thời cũng có những biện pháp để hút tiền về Trong những ngày tới, theo diễn biến của thị trường, NHNN sẽ tiếp tục linh hoạt thực hiện các phiên chào mua, chào bán tín phiếu cũng như sử dụng các công cụ khác để làm sao ổn định lượng vốn khả dụng ở mức bình thường cũng như kiểm soát tổng lượng tiền thanh toán
C) Thị trường mở
Khối lượng giao dịch nghiệp vụ thị trường mở tăng mạnh, qua đó tăng khả năng điều tiết của công cụ này đến vốn khả dụng của các TCTD cũng như đến các điều kiện của thị trường tiền tệ Tổng doanh
số giao dịch năm 2004 là 61,936 tỷ đồng, bằng 292% so với năm trước, tăng cao hơn nhiều so với những năm trước đây (năm 2003 là 136%, năm 2002 là 127%) Khối lượng giao dịch bình quân mỗi phiên tăng mạnh: năm 2004 là 500 tỷ đồng/phiên, trong khi năm 2003 là 197 tỷ đồng/phiên, 2002 là 105 tỷ đồng/ phiên, năm 2001 là 82 tỷ đồng/ phiên
Tỷ trọng doanh số mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở trên tổng doanh số cho vay của NHNN (bao gồm cầm cố chiết khấu giấy tờ có giá, hoán đổi ngoại tệ và nghiệp vụ thị trường mở) năm 2004 tiếp tục tăng lên khoảng 81% so với các năm trước (năm 2003 là 75%, năm 2002 là 39% và năm 2001 là 37%) Điều này cho thấy nghiệp vụ thị trường mở trở thành kênh hỗ trợ vốn chủ yếu và ngày càng quan trọng của NHNN
Định kỳ giao dịch được tăng cường để đáp ứng kịp thời vốn khả dụng, đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ Từ tháng 11/2004, NHNN đã tăng định kỳ giao dịch lên 3 phiên/ tuần (năm 2002 là 2 phiên/tuần,
2001 là 1 phiên/ tuần và năm 2000 là 1 phiên/10 ngày) Bên cạnh đó, NHNN còn mở các phiên giao dịch đột xuất hoặc các phiên giao dịch hàng ngày vào những dịp giáp Tết để đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán, không để xảy ra tình trạng mất khả năng thanh toán cũng như chậm trả đối với khách hàng Nhờ đó, hoạt động NH được diễn ra bình
ổn, củng cố uy tín của hệ thống NH
Kỳ hạn giao dịch được điều chỉnh linh hoạt phù hợp với nhu cầu điều tiết linh hoạt vốn khả dụng của các TCTD theo mục tiêu CSTT
Trang 9Ngoài kỳ hạn chủ yếu từ 15-30 ngày, trong một số phiên NHNN còn chào mua với thời hạn ngắn 7 ngày để đáp ứng khả năng thanh toán Các thủ tục giao dịch nghiệp vụ thị trường mở tiếp tục được cải tiến, cơ chế hoạt động tiếp tục được hoàn thiện Năm 2004, NHNN đã ban hành Quy chế lưu ký giấy tờ có giá tại NHNN ban hành kèm theo Quyết định số 1022/2004/QĐ-NHNN ngày 17/8/2004 Đây là cơ sở pháp lý tạo điều kiện cho các TCTD thực hiện thống nhất việc lưu ký các giấy tờ có giá phục vụ cho các giao dịch trên thị trường tiền tệ Ngoài ra, NHNN đã mở tài khoản lưu ký giấy tờ có giá tại Trung tâm giao dịch chứng khoán để tạo điều kiện cho việc lưu ký các giấy tờ có giá phát hành trên thi trường chứng khoán được thuận lợi, đơn giản hơn
Thiếu linh hoạt
Hoạt động thị trường mở vẫn còn bất cập trong đặt thầu, xét thầu; các thủ tục về đăng ký, lưu ký giấy tờ có giá, thủ tục về lập hợp đồng
và đôi khi vẫn phải áp dụng lãi suất chỉ đạo trong các phiên giao dịch
Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa lãi suất nghiệp vụ thị trường mở cũng như các lãi suất của SBV nói chung với lãi suất thị trường còn chưa thực sự gắn kết Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở cũng vẫn còn bất cập trong đặt thầu, xét thầu Các thủ tục về đăng ký, lưu ký giấy
tờ có giá, thủ tục về lập hợp đồng mua bán giấy tờ có giá, quy trình giao dịch qua mạng chưa thực sự đơn giản hoá
NHNN cũng cho rằng, hạn chế khác nữa của nghiệp vụ thị trường
mở còn do cơ sở hạ tầng thông tin, đường truyền chưa đáp ứng được
so với yêu cầu thực tế Vì thế, thời gian giao dịch còn kéo dài, có lúc bị tắc nghẽn
Kênh bơm tiền hiệu quả
Tuy nhiên, nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam còn mới và các yếu tố tích cực vẫn được các thành viên trong Hội nghị đánh giá cao Phó Thống đốc NHTW - ông Nguyễn Đồng Tiến - cho biết, qua 5 năm thực hiện, nghiệp vụ thị trường mở bước đầu đã phát huy vai trò điều tiết vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng Khối lượng giao dịch nghiệp
vụ thị trường mở theo cả 2 chiều mua và bán giấy tờ có giá tăng mạnh qua các năm
Trong 6 tháng đầu năm, SBV đã tổ chức 68 phiên giao dịch ,với khối lượng trúng thầu đạt 51.711 tỷ, tăng 171% so với cùng kỳ năm trước
Mỗi phiên giao dịch thường có 5-7 thành viên đặt thầu, bao gồm cả NHTM nhà nước, NHTM cổ phần và chi nhánh NH nước ngoài
Trang 10Bên cạnh đó, tỷ trọng doanh số mua qua nghiệp vụ thị trường mở trong tổng doanh số hỗ trợ vốn của NHNN qua các kênh (cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá, nghiệp vụ thị trường mở và hoán đổi ngoại tệ) ngày càng tăng (từ khoảng 45% năm 2001 lên 75% năm 2003 và 80% từ năm 2004 đến nay)
Đến nay, đã có rất nhiều tổ chức tín dụng tham gia nghiệp vụ thị trường mở, bao gồm cả NHTM nhà nước, NHTM cổ phần, NH liên doanh, chi nhánh NH nước ngoài
Theo đánh giá của SBV, nghiệp vụ thị trường mở tiếp tục trở thành kênh chủ yếu để SBV bơm tiền ra nền kinh tế và thu tiền về từ lưu thông, góp phần quan trọng điều hoà vốn khả dụng của các NHTM với
số lượng thành viên tham gia đặt thầu, số phiên và khối lượng giao dịch đều tăng hơn trước
Để hỗ trợ nguồn vốn ngắn hạn cho các NH, bên cạnh nghiệp vụ thị trường mở, SBV đã thực hiện tái cấp vốn cho các NH Riêng nghiệp vụ chiết khấu 6 tháng đầu năm , các NHTM đã sử dụng khoảng 85% hạn mức chiết khấu được SBV phân bổ
D) Tỷ giá hối đoái
Hiện nay, việc hoạch định chính sách tiền tệ; trong đó việc xác định cho được định hướng cho chính sách tỷ giá hối đoái của đất nước đang gặp phải không ít khó khăn, nhất là sau khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO Những khó khăn đó thường thể hiện:
Những diễn biến khó lường về những thay đổi trong chính sách phát triển kinh tế của các nước trên thế giới; đặc biệt là với những nước có tiềm lực kinh tế mạnh nhất Những thay đổi này lại gắn liền với những thay đổi về đường lối quân sự, chính trị và ngoại giao của các nước; nhất là những nước có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu Thời gian gần đây, đi đôi với những khủng hoảng chính trị tại những nước “dầu hoả” là sự biến động liên tục của giá dầu mỏ, giá vàng làm cho giá của USD liên tục biến động
Sự diễn biến phức tạp của giá USD trên thị trường thế giới đã làm cho không ít quốc gia trên thế giới lúng túng trong chính sách tỷ giá hối đoái của mình; đặc biệt với những nước có chính sách gắn đồng bản tệ của
họ với USD Sự tăng, giảm giá của USD phụ thuộc vào chính sách lãi suất của Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) Lưu ý rằng, FED đặc biệt quan tâm đến chính sách lãi suất; xem lãi suất như là một công cụ tiền
tệ quan trọng bậc nhất trong chính sách tiền tệ quốc gia Với quan niệm rằng, lãi suất huy động và cho vay của USD không chỉ trong vai trò của