1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh quảng trị

128 3,6K 36

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đang hoạt động tại tỉnh Quảng Trị và hoạt động của các tổ chức này đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, công tác quản lý nhà nước

Trang 1

ĐẶNG QUANG TOÀN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ

TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2014

Trang 2

ĐẶNG QUANG TOÀN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ

TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, với sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trần Trọng Đức, Học viện Hành chính Quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh

Tư liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Luận văn không sao chép của bất kỳ một công trình nghiên cứu nào

Tác giả

Đặng Quang Toàn

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, các Nhà Khoa học, các Thầy giáo, Cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia và Cơ sở Đào tạo của Học viện Hành chính Quốc gia tại miền Trung đã cung cấp cho tôi những tri thức quý báu trong quá trình học tập, nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Trần Trọng Đức, Học viện Hành chính Quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh, người đã trực tiếp và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Chân thành cảm ơn Văn phòng Tỉnh ủy, Phòng Đối ngoại UBND tỉnh, Sở Ngoại vụ, Sở Kế hoạch – Đầu tư tỉnh Quảng Trị, các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã hết lòng giúp đỡ, động viên, khích lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi có được kết quả ngày hôm nay

Mặc dù rất tâm huyết với đề tài và đã có rất nhiều cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót; kính mong quý Thầy Cô giáo tiếp tục chỉ dẫn, bạn bè, đồng nghiệp góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn

Người thực hiện

Đặng Quang Toàn

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các biểu đồ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài luận văn 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 9

4.1 Đối tượng nghiên cứu 9

4.2 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9

5.1 Phương pháp luận 9

5.2 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 9

7 Kết cấu của luận văn 10

Chương 1 11

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI 11

TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ 11

1.1 Một số vấn đề lý luận về tổ chức phi chính phủ 11

1.1.1 Khái niệm tổ chức phi chính phủ trên thế giới và ở Việt Nam 11

1.1.1.1 Khái niệm tổ chức phi chính phủ theo các nước trên thế giới 11

1.1.1.2 Khái niệm tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam 12

1.1.2 Tính chất của các tổ chức phi chính phủ .13

1.1.3 Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trên thế giới và tại Việt Nam 15

1.1.3.1 Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trên thế giới 15

1.1.3.2 Vai trò của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam 16

1.1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của các tổ chức phi chính phủ 18

1.1.5 Phân loại các tổ chức phi chính phủ 19

1.1.5.1 Phân loại theo loại hình hoạt động 19

1.1.5.2 Phân loại theo phạm vi hoạt động 20

1.1.5.3 Phân loại theo hình thức tổ chức 20

1.1.5.4 Phân loại theo lĩnh vực hoạt động 21

1.1.6 Cách thức viện trợ các tổ chức phi chính phủ 23

Trang 6

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài

24

1.2.2 Chủ thể quản lý 26

1.2.3 Khánh thể quản lý 26

1.2.4 Đối tượng quản lý 27

1.2.5 Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với công tác phi chính phủ nước ngoài 27

1.2.6 Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 29

1.2.7 Vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 30

1.3 Nội dung và phương thức quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ 34

1.3.1 Xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 35

1.3.2 Tổ chức thực hiện thể chế quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam 37

1.3.3 Giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 40

1.3.4 Tổng kết và đánh giá hoạt động tổ chức phi chính phủ 42

1.4 Kết luận Chương 1 43

Chương 2 44

THỰC TRẠNG CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VÀ CÔNG TÁC 44

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ 44

TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ 44

2.1 Quan hệ giữa Việt Nam và các tổ chức phi chính phủ 44

2.2 Quan hệ giữa tỉnh Quảng Trị và các tổ chức phi chính phủ 45

2.2.1 Sự đóng góp của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đối với tỉnh Quảng Trị 46

2.2.2 Phân loại các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Quảng Trị 47

2.2.3 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 50

2.3 Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại tỉnh Quảng Trị .53

2.3.1 Xây dựng tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 53

2.3.2 Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 56

Trang 7

2.3.3.1 Quản lý nhà nước về sự hiện diện và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Quảng Trị 57 2.3.3.2 Quản lý nhà nước về việc tiếp nhận và sử dụng nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ 59 2.3.3.3 Quản lý cán bộ, nhân viên làm việc cho các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 61 2.3.3.4 Quản lý thông tin liên quan đến hoạt động của các tổ phi chính phủ nước ngoài .62 2.3.3.5 Hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra và xử lý 62 2.3.3.6 Hoạt động tổng kết và đánh giá 642.4 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 652.4.1 Những mặt mạnh trong quá trình quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 65 2.4.2 Những mặt yếu trong quá trình quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài .692.5 Kết luận chương 2 77Chương 3 78GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI 78CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ 783.1 Dự báo xu thế phát triển của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại tỉnh Quảng Trị 783.2 Quan điểm định hướng chung về quản lý hoạt động phi chính phủ nước ngoài 793.2.1 Quan điểm định hướng chung về quản lý hoạt động phi chính phủ nước ngoài của Đảng cộng sản Việt Nam 79 3.2.2 Quan điểm định hướng quản lý hoạt động phi chính phủ nước ngoài tại Quảng Trị 813.3 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 823.3.1 Nhóm giải pháp đối với trung ương 82 3.3.1.1 Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý phù hợp với tình hình mới 82

Trang 8

3.3.2 Nhóm giải pháp đối với tỉnh Quảng Trị 86

3.3.2.1 Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh 86

3.3.2.2 Nâng cao nhận thức về hoạt động phi chính phủ nước ngoài 88

3.3.2.3 Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và cơ chế phối hợp 89

3.3.2.4 Chỉ đạo rà soát, ban hành các văn bản pháp luật phù hợp thực tế tại tỉnh Quảng Trị 90

3.3.2.5 Nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi các văn bản pháp luật 91

3.3.2.6 Nâng cao hiệu quả hoạt động dự đoán, lập kế hoạch 92

3.3.2.7 Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động thu hút tài trợ của các tổ chức phi chính phủ 94

3.3.2.8 Đào tạo bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực .96

3.3.2.9 Nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra, giám sát 99

3.3.2.10 Nâng cao hiệu quả hoạt động tổng kết, đánh giá 103

3.4 Kết luận chương 3 104

KẾT LUẬN 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 9

IMF : International Monetary Fund

(Quỹ tiền tệ quốc tế) KTXH : Kinh tế - xã hội

LHQ : Liên hiệp quốc

ODA : Oficial Development Assistance

(Viện trợ phát triển chính thức) PCP : Phi chính phủ

PCPNN : Phi chính phủ nước ngoài

QLNN : Quản lý nhà nước

Sở KH-ĐT : Sở Kế hoạch – Đầu tư

UBND : Ủy ban Nhân dân

VHXH : Văn hóa - xã hội

WB : World Bank (Ngân hàng thế giới)XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 10

Hình 2.1 Biểu đồ thống kê quốc tịch các tổ chức PCPNN tại Quảng Trị 47 Hình 2.2 Biểu đồ thống kê lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCPNN 49 tại Quảng Trị 49 Hình 3.1 Biểu đồ thống kê số lượng các Dự án PCPNN ở Quảng Trị 5 năm qua 79

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Tỉnh Quảng Trị nằm trên tọa độ địa lý từ 16018 đến 17010 vĩ độ Bắc,

106032 đến 107034 kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, phía Nam giáp huyện Phong Điền và A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Đông giáp Biển Đông và phía Tây giáp tỉnh Savanakhet và Salavan, nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào

Năm 2012 dân số trung bình của tỉnh là 608.142 người Toàn tỉnh có 136.743

hộ gia đình, bình quân 4,4 nhân khẩu/hộ Dân số thành thị có 170.073 người, chiếm 28,31% Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,05% năm 2007 và 1,12% năm 2010 Bình quân mỗi năm dân số trung bình toàn tỉnh tăng thêm khoảng 5.000 - 6.000 người Mật độ dân số toàn tỉnh là 126,7 người/km2,thuộc loại thấp so với các tỉnh, thành khác trong cả nước Dân cư phân bố không đều giữa các vùng lãnh thổ, tập trung đông ở các thành phố, thị xã, các huyện đồng bằng như thị xã Quảng Trị: 316 người/km2, thành phố Đông Hà: 1.163 người/km2, trong khi đó huyện Đakrông chỉ

có 30 người/km2, Hướng Hoá 68 người/km2 [51] Sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các vùng gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây dựng các công trình hạ tầng giao thông, điện, nước, thủy lợi, trường học, trạm y tế

Toàn tỉnh có 10 đơn vị hành chính bao gồm thị xã Quảng Trị và 08 huyện

là Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, Hướng Hóa, Đakrông, huyện đảo Cồn Cỏ và thành phố Đông Hà là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Cơ sở hạ tầng, kinh tế, kỹ thuật của tỉnh hầu như đã bị phá hủy hoàn toàn trong thời gian chiến tranh Cho đến nay, hậu quả chiến tranh để lại còn hết sức nặng nề đối với tỉnh Quảng Trị Toàn tỉnh có trên 34,000 người khuyết tật trong đó có hơn 13,000 nạn nhân chất độc da cam (hơn 2,1% tổng dân số) [22, tr.1] Kể từ năm

1975 đến cuối năm 2010, toàn tỉnh có 7.075 người là nạn nhân bom mìn chiếm 1,12% dân số [15, tr.8] Đối với một tỉnh thuần nông như Quảng Trị thì đây là một cản trở rất lớn trên con đường phát triển KTXH

Trang 12

Những năm qua, cùng với xu thế đổi mới và mở cửa của cả nước, công cuộc phát triển KT-XH của Quảng Trị đã đạt được những thành tựu đáng kể trên mọi lĩnh vực: quy mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể, các lĩnh vực văn hóa xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao Mặc dù vậy, Quảng Trị vẫn còn là một tỉnh còn gặp nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh để lại hết sức nặng nề với hơn 82% diện tích đất bị ô nhiễm bom mìn [38] Hàng năm lại thường xuyên ảnh hưởng bão lụt Nghị quyết Đại

hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2010 – 2015 cũng nhìn nhận “Chất lượng

tăng trưởng của nền kinh tế chưa cao, thiếu bền vững Cân đối ngân sách còn gặp nhiều khó khăn Công tác quy hoạch chưa bao quát toàn diện, thiếu tính chiến lược dài hạn Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ Thu hút đầu tư còn khó khăn Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân còn một số hạn chế, khó khăn; kết quả xoá đói giảm nghèo thiếu bền vững” [36, tr.2]

Đời sống của một số bộ phận nhân dân nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp rất nhiều khó khăn Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh năm 2010 chỉ đạt 845 USD/năm, [36], trong lúc đó thu nhập bình quân đầu người năm 2010 của cả nước là 1.273 USD Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh vẫn đang ở mức 20 % (theo tiêu chí mới) Trong bối cảnh đó, để đẩy mạnh phát triển kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân, việc thu hút các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là các nguồn vốn từ các tổ chức quốc tế có ý nghĩa quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH địa phương

Quảng Trị là một tỉnh có sớm có nhiều hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài Từ tổ chức phi chính phủ Hà Lan ban đầu vào giúp tỉnh tái thiết chiến tranh ngay sau khi giải phóng (Ủy ban y tế Việt Nam – Hà Lan), tại thời điểm hiện tại Quảng Trị có trên 40 tổ chức phi chính phủ nước ngoài

Trang 13

hoạt động trên địa bàn tỉnh, trong đó có 15 văn phòng dự án (PTVN, SODI, RENEW, MAG, CPI, PLAN, MCNV, GCSF, ROP, WVI Hải Lăng, WVI Triệu Phong, WVI Hướng Hóa, Dự án DBU, Dự án ICCO ở Đakrông và Medipeace/Hàn Quốc)

Với số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đang hoạt động tại tỉnh Quảng Trị và hoạt động của các tổ chức này đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức này đòi hỏi được hoàn thiện và thống nhất toàn diện Tuy nhiên về mặt lý luận cũng như thực tiễn còn tồn tại nhiều vấn đề cần nghiên cứu, hoàn thiện như thể chế quản lý nhà nước chưa đầy đủ, chưa thống nhất, đồng bộ, chưa phù hợp với thực tiễn công tác quản lý nhà nước về tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh; tổ chức bộ máy quản lý các

tổ chức PCPNN chưa được kiện toàn; nhân sự chưa đảm bảo tính chuyên môn nghiệp vụ; cơ chế quản lý chưa thống nhất từ trung ương đến địa phương…

Qua tìm hiểu một số tài liệu nghiên cứu về hiệu quả, vai trò, lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCPNN Hiện tại, chưa có tài liệu nghiên cứu chính thức nào nghiên cứu về thực trạng hoạt động và công tác QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Chính vì vậy, việc cần phải nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động này, kết hợp với việc đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động các tổ chức phi chính phủ tại Quảng Trị hiện nay và từ đó đề ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Quảng Trị là rất cần thiết và mang tính thời sự

Xin giới thiệu với quý Thầy, quý Cô cùng các Giảng viên và bạn đọc nội

dung nghiên cứu về đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh Quảng Trị” nhằm mục đích nghiên cứu thực trạng

công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ đang hoạt động tại tỉnh Quảng Trị và từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ

Trang 14

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Ở Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ được nhiều tác giả xếp vào phạm trù xã hội công dân (xã hội dân sự) gồm một dải rộng các tổ chức: Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thuộc hệ thống chính trị; các tổ chức xã hội – nghề nghiệp; các hiệp hội kinh tế; các hợp tác xã; các tổ chức của các giới; các

tổ chức từ thiện, nhân đạo, hữu nghị; các tổ chức phi chính phủ Nhiều tác giả đã

có những nghiên cứu xã hội dân sự về thể chế xã hội và vai trò của tổ chức này trong phát triển kinh tế xã hội như các tác giả Hoàng Chí Bảo, Thang Văn Phúc, Nguyễn Viết Vượng, Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh Dinh, Đào Chí Úc

Trong các nghiên cứu xã hội dân sự, nổi bật là tác phẩm: “Xã hội dân sự ở Việt Nam: Di chuyển từ lợi nhuận sang chủ đạo” của tác giả Thân Thị Thiên Hương và Gita Sabharwal tháng 7 năm 2005 Bài báo này trình bày một cách nhìn tổng quan về xã hội dân sự tại Việt Nam và bắt đầu bằng cách định nghĩa xã hội dân sự

Nhằm tìm hiểu vai trò, tính chất, loại hình hoạt động, lĩnh vực hoạt động, công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN, tôi đã nghiên cứu một số tài liệu nghiên cứu về các tổ chức PCP, các công trình nghiên cứu

về các tổ chức phi chính phủ được tổng hợp như sau:

1/ Đề tài “Nâng cao hiệu quả Quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam” do học viên Nguyễn Thị Thanh Loan

thuộc Học viện Hành chính – Chính trị Quốc gia, khóa học 1999-2002, thực hiện với sự hướng dẫn của TS Thang Văn Phúc

2/ “Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội” do học viên Cần Việt Anh thuộc Học viện

Hành chính – Chính trị Quốc gia, khóa học 2005-2008 thực hiện

3/ “Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” do học

viên Thaviphone Sihathep quốc tịch Lào thuộc Học viện Hành chính Quốc gia, khóa học 2011-2013 thực hiện

Trang 15

4/ “Báo cáo về công tác vận động viện trợ và quản lý hoạt động của các

tổ chức phi chính phủ nước ngoài” do Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Trị thực hiện từ

tỉnh Quảng Trị thực hiện năm 2010

7/ Báo cáo tổ chức Phi chính phủ quốc tế quan hệ đối tác và sự phát triển 12/2009 (Trung tâm dữ liệu Tổ chức Phi chính phủ) với nội dung miêu tả

tổng quan về hoạt động đã được các nhóm làm việc tại Trung tâm dữ liệu các Tổ chức Phi chính phủ thực hiện năm 2009

8/ Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo (tiểu luận tại Website: www.kilobooks.com ) nhìn nhận tổ chức phi chính phủ là một lực lượng quan trọng trong lĩnh vực cứu trợ nhân đạo và phát triển xã hội nhằm cải thiện cuộc sống của những người nghèo, những người bị thiệt thòi trong xã hội, các nạn nhân bị thiên tai và chiến tranh giúp tự phát triển một cách bền vững

9/ Tăng cường hiệu quả của tổ chức Phi chính phủ Việt Nam (trang

thông tin điện tử Đảng Cộng Sản 02/11/2010) với nội dung đánh giá các tổ chức

phi chính phủ quốc tế đều được xem như là mũi nhọn để đưa văn hóa của quốc gia đến khắp khu vực và ra toàn cầu, đằng sau đó là các lợi ích kinh tế kèm theo Vậy ở Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ đã được phát triển như thế nào và đang có vai trò như thế nào? Làm thế nào để tăng hiệu quả hoạt động của những tổ chức đó đang là vấn đề được quan tâm

Xã hội đang biến đổi sâu sắc và nhanh chóng, xác định vai trò của các tổ chức phi chính phủ như thế nào cho phù hợp và hiệu quả Sức hút của tổ chức phi chính phủ đối với cá nhân? Tại sao người ta tham gia vào các tổ chức phi chính phủ tất cả đã được đặt lên bàn thảo luận Và đó cũng là một trong những nội dung mà

“Dự án tăng cường năng lực cho các tổ chức phi chính phủ Việt Nam” đặt ra

Trang 16

10/ Hiệu quả từ các dự án phi chính phủ, Báo Đồng Nai 02/4/2012 nêu

các hoạt động các dự án phi chính phủ được triển khai trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong những năm qua chủ yếu tập trung vào vấn đề an sinh xã hội như: hỗ trợ vay vốn, xây dựng nhà tình thương, trường học, cấp học bổng cho học sinh nghèo, khám chữa bệnh, nuôi dạy trẻ mồ côi Các dự án phi chính phủ đã góp phần giúp trẻ mồ côi, khuyết tật cải thiện điều kiện sống, giảm bớt mặc cảm để hòa nhập cộng đồng; cải thiện cơ sở vật chất ngành giáo dục; giúp người nghèo,

hộ nghèo có điều kiện vươn lên trong cuộc sống Bà Phan Thị Mỹ Thanh, Phó chủ tịch UBND tỉnh cho rằng thời gian tới các cơ quan chức năng của tỉnh cần tích cực hơn nữa trong việc tranh thủ các dự án đầu tư của tổ chức phi chính phủ nước ngoài vào sự phát triển của địa phương

11/ Đa dạng hóa công tác vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài, Báo Cao Bằng Online 12/3/2014 đánh giá nguồn lực viện trợ của các tổ chức

PCPNN đã góp phần thực hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phát triển KT -

XH của tỉnh Nhận thức rõ vai trò, hiệu quả tác động của các nguồn vốn này, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Cao Bằng đã đẩy mạnh công tác vận động, thu hút các nguồn viện trợ PCPNN….Để tiếp tục thu hút nhiều hơn nữa nguồn viện trợ

từ công tác PCPNN, trong thời gian tới, ngành Ngoại vụ tỉnh sẽ phối hợp với các ngành hữu quan tham mưu cho tỉnh tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chương trình xúc tiến vận động viện trợ, tăng cường trao đổi, liên lạc với các cá nhân, tổ chức Phi chính phủ trong và ngoài nước, đẩy mạnh giao lưu, hợp tác với Đại sứ quán các nước và các tổ chức đã có nhiều năm hoạt động tại Cao Bằng, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức phi chính phủ chung vai cùng chính quyền địa phương hỗ trợ các địa bàn khó khăn của tỉnh, thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo và các lĩnh vực khác như hỗ trợ về xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn, giáo dục, y tế, nông, lâm nghiệp, chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, nạn nhân chất độc da cam…, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao năng lực cộng đồng đóng góp vào sự phát triển KT - XH của tỉnh

Trang 17

12/ Tổ chức phi chính phủ nước ngoài với hoạt động vì giảm nghèo ở Việt Nam (1996-2008), tác giả ThS Chử Thu Hà, khoa Văn hóa dân tộc, Đại

học Văn hóa Hà Nội với nội dung đánh giá hoạt động các tổ chức phi chính phủ

ở Việt Nam cho công việc giảm nghèo và phát triển bền vững trong các mảng hoạt động lớn như nông nghiệp, lâm nghiệp, môi trường, phát triển cộng đồng cho đến những hoạt động có quy mô nhỏ như viện trợ trực tiếp tiền và nhu yếu phẩm cũng đều nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo

13/ Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam, tác

giả Đôn Tuấn Ngọc, Ban điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM) nêu thực trạng

và đánh giá hoạt động viện trợ của các tổ chức phi chính phủ từ năm 1994-2007

về các mặt hoạt động từ đó tìm ra xu hướng hoạt động cho các năm tiếp theo

14/ Bàn về thể chế quản lý các hội, tổ chức phi chính phủ của một số nước trên thế giới, Tiến sĩ Lưu Văn Minh, Tạp chí quản lý nhà nước số 183 (4-

2011) với nội dung: Hệ thống về thể chế quản lý các hội, tổ chức phi chính phủ của các nước trên thế giới khá đa dạng, phong phú về nội dung quản lý và hình thức thể hiện, tùy thuộc vào thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội

và truyền thống lịch sử, văn hóa, tôn giáo của mỗi nước, tuy nhiên, việc tham khảo kinh nghiệm quản lý các hội, tổ chức phi chính phủ các nước trong việc xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của các hội ở nước ta hiện nay là rất cần thiết

15/ Sự hợp tác của Việt Nam với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế Tác giả Phạm Bình Minh, tạp chí thông tin đối

ngoại số 2/2010 với nội dung: Nhằm thực hiện đường lối đối ngoại độc lập dân chủ, chính sách đối ngoại mở rộng đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc

tế, kết hợp công tác đối ngoại chặt chẽ của Đảng, ngoại giao của nhà nước và đối ngoại nhân dân, trong những năm qua Việt Nam đã ngày càng mở rộng quan hệ với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài Mối quan hệ này đã góp phần làm cho nhân dân thế giới hiểu biết sâu sắc hơn về đất nước, con người Việt Nam, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta, qua đó thúc đẩy quan hệ hợp tác với các chính phủ và nhân dân thế giới, đồng thời góp phần giải quyết một số

Trang 18

vấn đề kinh tế - xã hội, nhất là thực hiện xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa còn đang gặp khó khăn.

16/ Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam, Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử, Ủy ban Thường vụ quốc hội – Ban công tác đại biểu, 21/1/2014 đánh giá trong những năm qua, Việt Nam đã tranh

thủ được nguồn tài trợ phi chính phủ, tuy chỉ mới ở mức bình quân đầu người rất thấp nhưng đã góp phần giải quyết một số khó khăn về kinh tế, xã hội ở cơ sở và địa phương Trong tình hình có những khó khăn mới về nguồn tài trợ quốc tế trong những năm đầu của thế kỷ XXI, số lượng các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và giá trị viện trợ sẽ khó có thể tăng hơn Việc có duy trì hoặc nâng lên phần nào mức viện trợ hiện tại hay không tùy thuộc chủ yếu vào công tác vận động và quản lý viện trợ phi chính phủ

Theo tôi tìm hiểu và được biết hiện tại chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào đánh giá hoạt động quản lý của nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, nên tôi mong muốn được tìm hiểu công tác QLNN với các tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nhằm tìm hiểu công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đưa ra các khuyến nghị và đề xuất nhằm nâng cao công tác QLNN đối với các tổ chức này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đề tài luận văn nhằm mục đích nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ đang hoạt động tại tỉnh Quảng Trị và từ đó

đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ

Để thực hiện mục tiêu đó đề tài tập trung vào ba nhiệm vụ sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận và nội dung về Quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các tồ chức Phi chính phủ.

- Phân tích thực trạng quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh Quảng Trị hiện nay.

- Đề xuất những giải pháp, biện pháp, kiến nghị nhằm tăng cường Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh Quảng Trị.

Trang 19

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung vào nội dung QLNN đối với các tổ chức PCPNN được cấp phép hoặc có dự án đã được phê duyệt thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Hiện tại chỉ có các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác QLNN đối với các tổ chức PCPNN hoạt động trên địa bàn tỉnh

Đề tài chỉ tập trung vào công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN có trụ sở và/hoặc có hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong đó đi sâu vào phân tích tình hình thực tế công tác QLNN đối với các tổ chức PCPNN trong thời gian 5 năm trở lại đây, cụ thể từ năm 2009 đến năm 2013

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận Chủ nghĩa Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong quản lý nhà nước trong điều kiện xây dựng Chủ nghĩa

Mác-xã hội ở Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và các quan điểm của Đảng

về đối ngoại nhân dân và công tác phi chính phủ nước ngoài làm cơ sở lý luận

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cơ bản được áp dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài này là: phương pháp nghiên cứu lý thuyết và tài liệu, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp so sánh và phương pháp thống kê và kế thừa có chọn lọc những nghiên cứu khoa học trước

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn sẽ giúp cho ta hiểu rõ cách thức quản lý nhà nước của cơ quan liên quan đối với các hoạt động này đối với các tổ chức phi chính phủ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Trang 20

Với những kết quả của việc nghiên cứu, tổng hợp, đánh giá đề tài hy vọng sẽ đóng góp những biện pháp, giải pháp để các cơ quan quản lý nhà nước tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Quảng Trị:

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với công tác quản lý các tổ chức phi chính phủ của nhà nước

- Đánh giá thực trạng công tác QLNN trên lĩnh vực này tại tỉnh Quảng Trị hiện nay trên cơ sở đó làm rõ những vấn đề chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn

- Đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao thực tiễn công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh Quảng Trị

- Những đóng góp này góp phần làm tăng năng lực cũng như hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh Quảng Trị, qua đó góp phần xây dựng một nền ngoại giao nhân dân vững mạnh, hiệu quả, thân thiện

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc làm ba chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ

Chương 2: Thực trạng các tổ chức phi chính phủ và công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh Quảng Trị

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các

tổ chức phi chính phủ tại tỉnh Quảng Trị

Trang 21

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ 1.1 Một số vấn đề lý luận về tổ chức phi chính phủ

1.1.1 Khái niệm tổ chức phi chính phủ trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1.1 Khái niệm tổ chức phi chính phủ theo các nước trên thế giới

Thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ”, theo tiếng Anh thường gọi là Non Governmental Organization (viết tắt là NGO), theo tiếng Pháp là Organisation Non Gouvernementale (viết tắt là ONG) chính thức xuất hiện lần đầu tiên tại Châu Âu vào đầu thế kỷ XX Cụm từ này sau đó đã được sử dụng phổ biến hơn

từ khi tổ chức Liên hiệp quốc được thành lập vào năm 1945

Có khá nhiều khái niệm khác nhau về tổ chức phi chính phủ Một số nước coi tất cả các tổ chức không thuộc về chính phủ là tổ chức PCP; trong khi đó ở một số nước khác các tổ chức PCP là những chủ thể có tư cách pháp nhân, các tổ chức không thuộc chính phủ như các Viện, các tổ chức tư nhân, công cộng hoặc các Quỹ Dưới đây là một số định nghĩa về tổ chức PCP được quan tâm và sử dụng trong thực tiễn nhiều nhất:

- Theo tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank) các tổ chức PCP được xác định là những nhóm tổ chức tư nhân theo đuổi các hoạt động để giảm bớt đau khổ, thúc đẩy các lợi ích của người nghèo, bảo vệ môi trường, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản hay đảm nhiệm việc phát triển cộng đồng Với cách sử dụng rộng rãi hơn thì thuật ngữ “Tổ chức Phi chính phủ” có thể áp dụng cho các

tổ chức phi lợi nhuận mà hoạt động của chúng hoàn toàn hoặc phần lớn độc lập với chính phủ Giá trị của các tổ chức PCP chủ yếu thể hiện qua hoạt động viện trợ từ thiện và các dịch vụ tình nguyện Cho dù trong hai thập kỷ trở lại đây hoạt động PCP ngày càng trở nên chuyên nghiệp hơn nhưng các nguyên tắc lòng vị tha và tự nguyện vẫn là đặc điểm chủ yếu của tổ chức phi chính phủ

- Còn theo định nghĩa đưa ra trong Hiến chương của Liên hiệp quốc, là cách định nghĩa được nhiều quốc gia áp dụng hơn cả, thì “Tổ chức Phi chính phủ

là thuật ngữ dùng để chỉ một tổ chức, hiệp hội, quỹ VHXH, ủy hội từ thiện, tập

Trang 22

đoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác mà theo pháp luật không thuộc khu vực Nhà nước và không hoạt động vì lợi nhuận Nghĩa là khoản lợi nhuận nếu

có, không thể phân chia theo kiểu chia lợi nhuận Tổ chức này không bao gồm các nghiệp đoàn, đảng phái chính trị, hợp tác xã phân chia lợi nhuận, hay nhà thờ hoặc chùa”

Tóm lại, có thể thấy tổ chức phi chính phủ theo cách hiểu một cách phổ quát chung nhất là các tổ chức Hội, Quỹ VHXH, Hội từ thiện, các tổ chức phi vụ lợi, phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác theo luật pháp không thuộc khu vực nhà nước tham gia vào các hoạt động hỗ trợ phát triển và hoạt động không vì lợi nhuận Nghĩa là, mọi khoản lợi nhuận nếu có thì không được và không thể phân phối theo kiểu chia lợi nhuận

Tuy nhiên, không phải tất cả các nước trên thế giới đều hoàn toàn thống nhất với nhau về mặt định nghĩa pháp lý cũng như trong cách gọi về tổ chức phi chính phủ Tùy theo đặc thù và tính chất cần nhấn mạnh mà ở các nước khác nhau lại sử dụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ các tổ chức phi chính phủ Chẳng hạn ở Pháp, đó là Tổ chức kinh tế - xã hội (Économie Sociale); ở Mỹ thì gọi là Tổ chức phi lợi nhuận hay Tổ chức tự nguyện cá thể (Private Voluntary Organizations); Đối với Anh, đó là Hội từ thiện công (Public Charities); Đối với Đức, chỉ đơn giản gọi là Hiệp hội (Verbände); trong khi đó Trung tâm nghiên cứu toàn cầu thúc đẩy sự tham gia của công dân (The Center for Study of Global Governance) lại thường sử dụng thuật ngữ Tổ chức xã hội dân sự (Civil Society Organization)

1.1.1.2 Khái niệm tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia đang trên con đường đổi mới, việc phát huy, tận dụng các nguồn lực để phát triển là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước Trong đó nguồn lực phát huy sức mạnh toàn dân, thực hiện xã hội hóa, và tận dụng sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè, các tổ chức trên thế giới là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm xây dựng

Trang 23

một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh

Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện các chủ trương và chính sách đối ngoại rộng mở, Nhà nước đã thu hút ngày càng nhiều tổ chức phi chính phủ nước ngoài đến Việt Nam Hầu hết các tỉnh, thành phố, đặc biệt là các tỉnh trung du, miền núi, các vùng dân tộc ít người đếu có các dự án của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài như: chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, chương trình nước sạch nông thôn, vốn tín dụng quay vòng cho phụ nữ nghèo, xây dựng trường tiểu học, trường mẫu giáo, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng năng lực, cảnh báo và ứng phó thiên tai….Mặc dù kết quả của những trợ giúp này còn khiêm tốn, nhưng nó đã góp một phần với chính phủ và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh với nghèo đói, bệnh tật và cũng giúp chúng ta có nhận thức đúng hơn

Tổ chức phi chính phủ là một tổ chức được hình thành mang tính độc lập tương đối với chính phủ, hoạt động phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật dưới sự quản lý của nhà nước

1.1.2 Tính chất của các tổ chức phi chính phủ

Tổ chức phi chính phủ đã tồn tại hàng trăm năm trên thế giới dưới nhiều dạng khác nhau Nguồn gốc xa xưa của các tổ chức PCP vốn là những nhóm nhỏ làm từ thiện Tiêu chí hoạt động của các tổ chức này là cứu trợ nhân đạo đối với nạn nhân chiến tranh, thiên tai và nghèo đói, không phân biệt chính kiến và địa

dư Có thể nói rằng loại hình tổ chức này là được thành lập một cách tự nguyện

và hợp pháp, không thuộc bộ máy hành chính nhà nước và không nhằm mục đích lợi nhuận Tùy theo tên gọi khác nhau các tổ chức phi chính phủ cũng có

Trang 24

những đặc trưng và tính chất riêng của mình Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy hầu hết các tổ chức PCP đều có một số tính chất chính như sau:

- Tính xã hội Tổ chức phi chính phủ chỉ xuất hiện từ khi con người có ý

thức được về sức mạnh tập thể, sức mạnh của sự hợp tác với nhau giữa các nhóm người, giữa các cộng đồng người Khi xã hội càng phát triển, dân chủ trong xã hội càng được nâng cao thì tính năng động, tích cực của con người càng được nâng cao, thúc đẩy nhu cầu gắn bó với nhau trong một tổ chức hòa hợp tâm lý, hòa hợp lợi ích Những tác động đó khiến tính xã hội của các tổ chức phi chính phủ càng đậm nét hơn

- Tính tự nguyện Hầu hết các tổ chức phi chính phủ được lập ra từ sự tự

nguyện của các thành viên và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện Tính tự nguyện được thể hiện qua việc các thành viên tự giác thực hiện các nhiệm vụ của

tổ chức mà thường không đòi hỏi bất kỳ điều kiện nào Sự tự nguyện có thể là hình thức đóng góp về thời gian, công sức hay về của cải vật chất Tính tự nguyện của các tổ chức phi chính phủ bền vững tới mức nó trở thành một trong những nguyên tắc hoạt động nội bộ và quan hệ đối ngoại của các tổ chức PCP

- Tính độc lập Các tổ chức PCP thường được hình thành và hoạt động

mang tính độc lập tương đối với chính phủ Chúng tuy được cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, nhưng lại không lệ thuộc vào các cơ quan đó và hoạt động theo sự quản lý điều hành của những người sáng lập; tự trang trải về kinh phí trên nguyên tắc độc lập với chính phủ và nằm trong trong khuôn khổ chung của xã hội

- Tính không vụ lợi bản thân Mục tiêu hoạt động của các tổ chức phi

chính phủ hết sức đa dạng tùy theo loại tổ chức cụ thể Tuy nhiên, đích hướng tới của hầu hết các tổ chức phi chính phủ không phải là nâng cao giá trị bản thân của

tổ chức phi chính phủ mà hướng tới các giá trị khác như giúp đỡ mọi người, đem lại lợi ích cho xã hội

- Tính phi lợi nhuận Mục đích của hoạt động của các tổ chức PCP

thường không phải vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận và đây cũng là một đặc điểm nổi bật của các tổ chức PCP so với các tổ chức khác Mặc dù để tồn tại có

Trang 25

một số tổ chức PCP thực hiện các hoạt động kinh doanh có thu lợi nhuận, nhưng cần hiểu đó là khoản lợi nhuận để duy trì và phát triển tổ chức theo mục đích tôn chỉ khi thành lập và khoản lợi nhuận đó được dùng để thực hiện các mục tiêu tổ chức đã đề ra chứ không phải để chia cho các thành viên hay để phục vụ cho tổ chức.

- Tính linh hoạt Trong khi bộ máy của các cơ quan nhà nước thường rất

cồng kềnh, nhiều tầng nấc và theo quy định chặt chẽ thì các tổ chức PCP lại thường có hình thức tổ chức bộ máy rất đa dạng, linh hoạt tùy theo đặc thù riêng của mình Ngoài ra, tổ chức bộ máy và hoạt động của các tổ chức PCP thường nhỏ gọn, linh hoạt và ít mang tính quan liêu

- Tính đa dạng về hình thức Các tổ chức PCP thường có nguồn gốc,

cách thức hoạt động, cách huy động nguồn ngân sách hoạt động rất đa dạng và không theo một khuôn mẫu chung nhất định nào

- Tính đa dạng về nội dung hoạt động Nội dung hoạt động của các tổ

chức PCP cũng rất đa dạng và phức tạp Tổ chức PCP không chỉ hoạt động trên các lĩnh vực từ thiện nhân đạo mà còn tham gia trong nhiều lĩnh vực khác như xây dựng thiết chế, bảo vệ môi trường, cố vấn kỹ thuật, cứu trợ thiên tai, bão lụt…

- Tính phối hợp trong hoạt động Một số tổ chức PCP hầu hết đều không

hoạt động độc lập mà thường phải hoạt động thông qua chính quyền các cấp hoặc qua các tổ chức hội đoàn, quần chúng

1.1.3 Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trên thế giới và tại Việt Nam 1.1.3.1 Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trên thế giới

Rõ ràng là bên cạnh những nỗ lực của chính phủ và các tổ chức quốc tế, các tổ chức PCP cũng đóng góp một phần công sức đáng kể trong quá trình phát triển KTXH, cải thiện cuộc sống của những người nghèo và những người bị thiệt thòi trong xã hội

Tiếng nói của các tổ chức PCP đối với các vấn đề thuộc mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế ngày càng được các nước và các tổ chức quốc tế lớn như LHQ, Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) và đặc biệt các tổ chức

Trang 26

ngân hàng, tài chính thế giới như WB và IMF quan tâm Tính đến năm 2006 đã có gần 2,870 tổ chức NGO có quy chế tham khảo ý kiến với Hội đồng Kinh tế - Xã hội (gọi tắt là ECOSOC của LHQ) so sánh với năm 1946 chỉ có 41 tổ chức được Hội đồng cho hưởng qui chế; năm 1993 có 978; năm 1997 có 1,356 Theo quy định, số các tổ chức phi chính phủ này được phát biểu, tham gia thảo luận tại các cuộc họp của ECOSOC và đưa ra những đề mục quan tâm vào chương trình nghị sự của cơ chế này hoặc các tiểu ban trực thuộc Hội đồng Năm 1986, UNDP thành lập riêng một vụ chuyên theo dõi và phối hợp hoạt động với các tổ chức phi chính phủ WB hàng năm đều tổ chức các Hội nghị tư vấn với tổ chức phi chính phủ Sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ trên các diễn đàn khác về kinh tế, xã hội và phát triển ngày một tăng, đồng thời tổ chức những diễn đàn riêng của mình song song với những hội nghị quốc tế Với tiếng nói của mình, các tổ chức PCP đã đóng góp đáng

kể vào sự thành công của nhiều hội nghị quốc tế lớn trong những năm qua như Hội nghị Thế giới về Phụ nữ, Hội nghị Thế giới về Dân số và Phát triển, Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển xã hội, Hội nghị Thế giới về Môi trường

1.1.3.2 Vai trò của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các tổ chức PCP nước ngoài cũng ngày càng nhận được sự quan tâm của chính phủ và nhân dân Việt Nam Vai trò đóng góp của các tổ chức PCPNN trong quá trình phát triển KTXH của Việt Nam ngày càng được khẳng định, Cụ thể như sau:

Một là, tạo ra nguồn lực góp phần ổn định và phát triển xã hội Muốn

phát triển xã hội cần phải tìm mọi cách thức để huy động được mọi nguồn lực trong xã hội Đặc biệt trong hoàn cảnh nền kinh tế chưa phát triển, nhà nước chưa có đủ điều kiện về mọi mặt, nhất là về tài chính thì vai trò của các tổ chức PCPNN sẽ càng trở nên quan trọng Giá trị nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ tuy không lớn nếu so với các nguồn khác, nhưng cũng đã phần nào hỗ trợ Việt Nam giải quyết một số vấn đề khó khăn như chương trình xóa đói giảm nghèo, tăng cường kiến thức, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thu nhập của người dân…Nhiều dự án viện trợ của các tổ chức PCPNN không chỉ giúp giải quyết

Trang 27

các vấn đề khó khăn chung mà còn góp phần quan trọng vào quá trình phát triển bền vững của địa phương Ngoài ra, do hình thức viện trợ của các tổ chức PCPNN thường là đưa trực tiếp đến đối tượng thụ hưởng nên đã thực sự giúp được đối tượng cần sự hỗ trợ là những người nghèo, thiệt thòi trong xã hội

Hai là, giúp nâng cao nhận thức, năng lực cho người dân và các thành viên Bên cạnh những đóng góp về vật chất và hiện vật, các tổ chức PCPNN

cùng các tình nguyện viên của mình còn có các hỗ trợ khác như hướng dẫn kỹ thuật, đào tạo và chuyển giao kinh nghiệm Từ việc tham gia quản lý và thực hiện các dự án các đối tác Việt Nam đã không chỉ tranh thủ được nguồn vốn, kỹ thuật mà còn học hỏi được kinh nghiệm tổ chức, điều hành hoạt động và quản lý của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, nâng cao kỹ năng chuyên môn, trình

độ hiểu biết và phương pháp làm việc của mình

Các tổ chức PCPNN còn có vai trò tích cực trong việc phát huy tính năng động, tăng cường kiến thức, khả năng tự quản lý của người dân Có thể nói, việc tham gia các dự án và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài là một môi trường xã hội rèn luyện tính chủ động, sáng tạo cho người dân

Ba là, giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước Các tổ chức PCPNN qua

các hoạt động của mình cũng đã tạo điều kiện để người dân phản ánh được những nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của mình, qua đó giúp nhà nước có những chủ trương, chính sách và biện pháp quản lý đúng và phù hợp với thực tiễn xã hội

Nhiều chương trình, dự án của các tổ chức phi chính phủ đã có hỗ trợ tích cực trong việc hoạch định các chính sách và hoàn thiện các văn bản quản lý nhà nước của Việt Nam trên lĩnh vực đó Nhất là các chương trình dự án liên quan đến vấn đề bình đẳng giới, bảo vệ quyền của phụ nữ, trẻ em

Bốn là, mở rộng quan hệ hợp tác và tham gia hội nhập khu vực và thế giới Các tổ chức phi chính phủ nước ngoài do đặc điểm, tính chất và mục tiêu

hoạt động đã tạo ra sự hợp tác đa phương và song phương giúp các nước có điều kiện mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực Ngày nay, nhiều Hội nghị quan trọng của Liên hiệp quốc, Hội nghị khu vực hoặc liên khu vực hay các diễn đàn quốc tế khi được tổ chức thì đều có các diễn đàn song hành của các tổ

Trang 28

chức phi chính phủ Trong quá trình xây dựng chính sách, chính phủ các nước phát triển đã hình thành cơ chế tham vấn và lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức phi chính phủ Do đó, nếu biết cách tranh thủ tốt thì thông qua các hoạt động của mình, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài sẽ góp phần tăng cường hiểu biết và

mở rộng quan hệ hữu nghị của nhân dân các nước với Việt Nam, đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, áp đặt chống Việt Nam Đồng thời, giúp chúng ta tuyên truyền một cách hiệu quả, làm cho nước ngoài hiểu đúng hơn và khuyến khích, mời gọi thêm nhiều tổ chức PCPNN khác có các chương trình dự án hỗ trợ Việt Nam phát triển KTXH

1.1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của các tổ chức phi chính phủ

Ngay từ thời cổ đại, khi xây dựng quan niệm về “Nhà nước cộng hòa lý tưởng” nhà triết học người Hy Lạp Platon đã đề cập đến việc thanh toán sự đói rét,

sự nghèo khổ Do đó, có thể nói hoạt động từ thiện, nhân đạo đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử, tuy nhiên, chúng chỉ mang tính tổ chức từ vài trăm năm trở lại đây

Trên phương diện lịch sử, có thể nói loại hình hoạt động phi chính phủ được chính thức thừa nhận khi Hiến pháp của Cộng hòa Pháp chấp thuận quyền được lập hội nhằm mục đích cứu trợ trẻ em bơ vơ, người tàn tật và người già không nơi nương tựa Ban đầu hoạt động của các tổ chức này được coi là phi chính phủ với hàm ý là hoạt động không vụ lợi vì mục đích từ thiện, nhân đạo và không dính líu gì đến quyền lực cũng như công quỹ của nhà nước chứ không phải là hoạt động nằm ngoài vòng kiểm soát của nhà nước

Nhân tố mang tính quốc tế đầu tiên xuất hiện trong hoạt động PCP là sự thành lập của Hội Chữ thập đỏ Quốc tế vào năm 1864 tại Thụy Sỹ để giúp đỡ các nạn nhân của chiến tranh Tuy chưa phải là một tổ chức đa quốc gia hay biểu hiện như một tập đoàn tầm cỡ, nhưng tính chất tương thân tương ái và bất vụ lợi của Hội Chữ thập đỏ Quốc tế đã thu hút sự tham gia nhiệt tình của chính phủ nhiều nước và nhanh chóng lan tỏa phát triển hệ thống chi nhánh của mình tại nhiều quốc gia khác Sau đó, các tổ chức Caritas Switzland được thành lập ở Thụy Sỹ năm 1901 hay “Quỹ cứu trợ nhi đồng Anh” (Save the Children Fund)

Trang 29

được thành lập ở Anh Quốc vào năm 1919 có thể được xem là các tổ chức PCP lớn đầu tiên ra đời với mục đích giúp đỡ, cứu trợ các nạn nhân trong chiến tranh, thiên tai ở nước sở tại

Tuy nhiên, càng về sau hoạt động của các tổ chức phi chính phủ ngày càng mở rộng đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới thứ II Không còn đơn thuần là những hoạt động tương thân tương ái như nguồn gốc ban đầu, hoạt động của các

tổ chức phi chính phủ ngày càng được thực hiện một cách có tổ chức hơn, tính

xã hội ngày càng cao và hình thức hoạt động ngày càng đa dạng, phong phú hơn Tồn tại dưới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau, các tổ chức phi chính phủ có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới Số lượng các tổ chức phi chính phủ ngày càng gia tăng, nhiều người cho rằng ước tính số tổ chức phi chính phủ quốc tế đang hoạt động có thể có không ít hơn 5 vạn tổ chức Số lượng các tổ chức phi chính phủ tại các quốc gia còn cao hơn nhiều chẳng hạn như Ấn Độ có khoảng 3.3 triệu tổ chức, Nga có 277.000 tổ chức, Indonesia có tới gần 20.000 tổ chức

1.1.5 Phân loại các tổ chức phi chính phủ

1.1.5.1 Phân loại theo loại hình hoạt động

Hiện có ba loại hình tổ chức phi chính phủ phổ biến đang hoạt động trên thế giới, đó là:

- Các tổ chức phi chính phủ mang tính chất quốc gia (National Governmental Organizations, gọi tắt là NNGOs) là tổ chức mà các thành viên đều mang một quốc tịch Các tổ chức này xuất hiện trên thế giới rất sớm Phạm

Non-vi hoạt động chủ yếu phục vụ cho từng cộng đồng, hoạt động trong phạm Non-vi một nước Về số lượng, NNGOs chiếm đa số tuyệt đối

- Các tổ chức phi chính phủ mang tính chất quốc tế (International Governmental Organizations, gọi tắt là INGOs) là tổ chức mà các thành viên của

Non-nó mang nhiều quốc tịch khác nhau sáng lập ra Về số lượng, INGOs ít hơn nhiều so với NGOs Phạm vi hoạt động của INGOs rộng khắp trên thế giới, nhưng INGOs phải tuân theo luật pháp của nước nhận sự hợp tác

Trang 30

- Các tổ chức phi chính phủ mang tính chất chính phủ (Governmental Governmental Organizations, gọi tắt là GONGOs) là các tổ chức do chính phủ lập

Non-ra hoặc một tổ chức phi chính phủ nào đó hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách của chính phủ Ví dụ: Chương trình phát triển DED của Đức; SNV của Hà Lan

1.1.5.2 Phân loại theo phạm vi hoạt động

Theo phạm vi hoạt động, chúng ta có ba loại hình PCPNN hoạt động tại Việt Nam là:

- Các tổ chức PCPNN mang tính chất quốc gia là tổ chức mà các thành viên đều mang một quốc tịch Các tổ chức này xuất hiện trên thế giới rất sớm Phạm vi hoạt động chủ yếu phục vụ cho từng cộng đồng, hoạt động trong phạm

vi một nước Tại Việt Nam các tổ chức dạng này chiếm số lượng đa số tuyệt đối

Ví dụ như các tổ chức USAID, NPA, Oxfam Anh Quốc

- Các tổ chức PCPNN mang tính chất quốc tế là tổ chức mà các thành viên của nó mang nhiều quốc tịch khác nhau sáng lập ra Về số lượng, các tổ chức dạng này ít hơn nhiều so với các tổ chức PCP quốc gia, tuy nhiên, phạm vi hoạt động của họ rộng khắp trên thế giới, và họ phải tuân theo luật pháp của nước nhận sự hợp tác Tính chất hoạt động của các tổ chức dạng này thường rất chuyên nghiệp, có trụ sở làm việc, biên chế bộ máy, đội ngũ nhân viên đông đảo

và làm việc rất chuyên nghiệp Ví dụ các tổ chức Handicap Quốc tế, OXFAM quốc tế, Plan International, Save the Children, World Vision…

- Các tổ chức PCPNN mang tính chất chính phủ là các tổ chức do chính phủ lập ra hoặc một tổ chức phi chính phủ nào đó hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách của chính phủ Ví dụ các tổ chức Viện Giáo dục Quốc tế (IIE); cơ quan phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA) …

1.1.5.3 Phân loại theo hình thức tổ chức

Nếu phân loại theo hình thức tổ chức thì chúng ta có các dạng phi chính phủ nước ngoài chính sau:

- Các Quỹ văn hóa – xã hội: Các tổ chức dạng này thường không trực tiếp triển khai các dự án viện trợ nhân đạo hoặc dự án phát triển mà chủ yếu hoạt động

Trang 31

trong các lĩnh vực thuộc kiến trúc thượng tầng như văn hóa, giáo dục, cải cách về thể chế, đào tạo phát triển con người … hoặc tài trợ cho các tổ chức phi chính phủ nước ngoài khác tiến hành các dự án phù hợp với tôn chỉ, mục đích của họ Các quỹ VHXH nói chung có ngân sách lớn, hoạt động ở nhiều nước và có ảnh hưởng khá lớn đối với chính phủ nước họ Tại Việt Nam số lượng các tổ chức dạng này chiếm tỷ lệ không nhiều như Ford Foundation, Clinton Foudation

- Các tổ chức phi chính phủ có nguồn gốc tôn giáo Các tổ chức này do các

tổ chức tôn giáo lập ra hoặc phần lớn nguồn viện trợ của các tổ chức này do các tổ chức tôn giáo, các giáo dân đóng góp Tại Việt Nam số lượng các tổ chức phi chính phủ nước ngoài có nguồn gốc tôn giáo cũng chiếm tỷ lệ khá cao Ví dụ như các tổ chức Tầm nhìn thế giới (WVI), tổ chức Dịch vụ cứu trợ công giáo (CRS)…

- Các tổ chức PCPNN không trực tiếp viện trợ Các tổ chức dạng này thường đứng ra thực hiện dự án nhưng nguồn ngân sách hoạt động không phải của tổ chức mà do tổ chức đó vận động, quyên góp từ chính phủ hoặc các tổ chức phi chính phủ nước ngoài khác Các tổ chức dạng này thường có bộ máy làm việc chuyên nghiệp, có kinh nghiệm điều hành dự án hoặc có đội ngũ tình nguyện viên lớn Ví dụ tổ chức Hỗ trợ nạn nhân bom mìn Tromsoe, Na Uy, tổ chức USAID, tổ chức VAP, Hoa Kỳ (Vietnam Assistance Project)…

- Phần còn lại và chiếm đa số là các tổ chức dạng nhỏ hoặc trung bình Các tổ chức dạng này thường có bộ máy nhỏ gọn, ít nhân viên chuyên nghiệp

mà đa phần là tình nguyện viên Đây là lực lượng chủ yếu đang hoạt động trên thế giới cũng như tại Việt Nam Tuy không có nguồn ngân sách và tầm ảnh hưởng lớn nhưng các hiệu quả đem lại của các tổ chức PCPNN dạng này là khá thiết thực

1.1.5.4 Phân loại theo lĩnh vực hoạt động

Phân loại theo lĩnh vực hoạt động thì các tổ chức PCPNN hoạt động tại Việt nam gồm các nhóm chính sau:

- Các tổ chức hoạt động trên lĩnh vực y tế: Các tổ chức này thường thực hiện các hoạt động nhằm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho một số đối tượng cụ thể; khuyến khích các hành vi có lợi cho sức khỏe; hỗ trợ nghiên

Trang 32

cứu các bệnh, phương pháp phòng ngừa, chữa trị bệnh; hỗ trợ giúp nâng cao năng lực, điều kiện kỹ thuật, trang thiết bị y tế của các đối tác thụ hưởng…Ví dụ các tổ chức Phẫu thuật nụ cười (OS), Orbis

- Các tổ chức hoạt động trên lĩnh vực HIV/AIDS thường là hỗ trợ chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS, các đối tượng bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và các lĩnh vực liên quan đến HIVAIDS Ngày càng có nhiều tổ chức hoạt động trên lĩnh vực này như Quỹ Clinton, Handicap International

- Nhóm tổ chức hoạt động trên lĩnh vực trẻ em: Các tổ chức này thường thực hiện các hoạt động hỗ trợ, chăm sóc trẻ em (nhất là trẻ em khuyết tật, trẻ

mồ côi, trẻ em đường phố và trẻ có hoàn cảnh khó khăn) bằng nhiều hình thức như hỗ trợ kinh phí nuôi dạy trẻ, giúp trẻ có điều kiện học văn hóa; tổ chức dạy nghề cho trẻ giúp trẻ hội nhập cộng đồng; tuyên truyền, vận động chính sách và

hỗ trợ thành lập dịch vụ xã hội nhằm giúp các nhóm trẻ cần sự bảo vệ Ví dụ các

tổ Plan International, tổ chức Bảo vệ trẻ em (Save the Children), tổ chức Tầm nhìn thế giới (World Vision)

- Nhóm tổ chức hoạt động trên lĩnh vực giáo dục, dạy nghề: Các tổ chức dạng này thường tài trợ các hoạt động đào tạo, dạy nghề, hỗ trợ trang bị kiến thức về một nghề nghiệp nhất định nào đó như sửa chữa xe máy, sửa chữa điện

tử, nghề may, nghề mộc, nấu ăn… nhằm giúp những người có hoàn cảnh khó khăn, người khuyết tật và thất nghiệp có điều kiện học nghề, tìm việc làm để tăng thu nhập Hiện có một số tổ chức hoạt động trên lĩnh vực này như tổ chức Quỹ phúc lợi xã hội Eden, Hội hỗ trợ người tàn tật (VNAH), các dự án hỗ trợ nạn nhân bom mìn như dự án CPI, Dự án RENEW

- Nhóm các tổ chức hoạt động trên lĩnh vực tín dụng hỗ trợ vốn: Hình thức chính thường là tổ chức tập huấn cách sử dụng và quản lý nguồn vốn, cho vay vốn nhằm tạo điều kiện cho các hộ gia đình nghèo tăng thu nhập Nguyên tắc chung là các tổ chức phi chính phủ nước ngoài sẽ không thu hồi lại vốn mà chuyển nó cho đối tác Việt Nam sau khi kết thúc dự án để tiếp tục cho các đối

Trang 33

tượng khác vay hoặc dùng vốn đó để thực hiện một hoạt động khác trong địa phương Như tổ chức DOVE Fund, tổ chức VVMF.

- Các tổ chức hoạt động trên lĩnh vực hỗ trợ nâng cao năng lực: Đây là lĩnh vực hoạt động khá mới mẻ bên cạnh việc viện trợ về vật chất Các tổ chức phi chính phủ nước ngoài sẽ giúp các cơ quan, tổ chức của Việt Nam tăng cường khả năng tổ chức, quản lý hoạt động Hình thức hoạt động chính của dạng này là chuyển giao kỹ thuật, tổ chức tập huấn, tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm qua đó giúp nâng cao năng lực của đối tác

- Các tổ chức hoạt động trên các lĩnh vực khác như nông nghiệp, bảo vệ

và quản lý tài nguyên thiên nhiên, phát triển cộng đồng, phụ nữ…

Ngoài ra còn có một số hình thức phân loại khác như phân loại theo quốc tịch, theo tính chất và quy mô nguồn vốn hay theo khu vực hoạt động cũng thường được sử dụng khi sắp xếp, phân loại các tổ chức phi chính phủ nước ngoài

1.1.6 Cách thức viện trợ các tổ chức phi chính phủ

Viện trợ phi chính phủ được thể hiện dưới ba hình thức chủ yếu là:

• Viện trợ thông qua các chương trình, dự án (viện trợ để thực hiện các

chương trình/dự án)

• Viện trợ phi dự án (viện trợ bằng tiền hay hiện vật)

• Viện trợ khẩn cấp trong trường hợp có thiên tai hoặc tai hoạ khác

Khác với nguồn viện trợ ODA, viện trợ NGO là loại viện trợ không hoàn lại, mang tính nhân đạo và phát triển, có thủ tục nhanh gọn và đơn giản Đa số các dự án thường có quy mô không lớn và thời gian hoạt động không dài nhưng thường đáp ứng kịp thời, sát với nhu cầu và phù hợp với khả năng quản lý, sử dụng của nơi nhận viện trợ Hiện nay, nhiều nước phát triển đã dành một phần viện trợ hỗ trợ ODA cho các nước đang phát triển thông qua các tổ chức phi chính phủ Số tiền viện trợ thông qua tổ chức phi chính phủ khá lớn, ngày một tăng và trên thực tế đã hỗ trợ đáng kể cho các chương trình KTXH của các nước đang phát triển Các tổ chức PCP còn nhận sự hỗ trợ tài chính từ các tổ chức tôn giáo, từ các quỹ từ thiện tư nhân, từ quyên góp với nhiều hình thức khác nhau

Trang 34

Khối lượng viện trợ của các tổ chức PCP cho các nước đang phát triển ngày càng tăng cùng với sự gia tăng về lĩnh vực hợp tác của các tổ chức này Hoạt động của các tổ chức PCP đã chuyển theo hướng giảm viện trợ nhân đạo và tăng viện trợ phát triển bền vững Các tổ chức PCP ngày càng đóng vai trò đáng kể trong đời sống KTXH, giáo dục, y tế, môi trường, nhân đạo tại nhiều nước trên thế giới Các tổ chức PCP đang tham gia sâu vào nhiều lĩnh vực như xoá đói giảm nghèo, giúp đỡ phụ nữ, cứu trợ trẻ em, kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ môi trường

1.2 Quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài

Để nghiên cứu chuyên sâu và làm rõ hơn khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, trước hết cần phải nghiên cứu làm rõ thuật ngữ “Quản lý nhà nước”

Quản lý nhà nước là sự tác động có chủ đích của nhà nước vào các quan

hệ xã hội nhằm làm cho các quan hệ đó diễn ra theo chiều hướng tốt nhất cho sự phát triển đất nước và mỗi con người Nói cách khác QLNN là việc thực thi quyền lực nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh mọi quan hệ xã hội nhằm làm cho quốc gia phát triển ổn định và bền vững

QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước

và chứa đựng trong nó nhiều kỹ năng thuộc về quản lý Có thể thấy QLNN là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước

QLNN có những đặc điểm chung phản ánh bản chất của QLNN và không phụ thuộc vào chế độ chính trị hay trình độ phát triển của từng quốc gia: đó là hoạt động chấp hành và điều hành với đặc trưng là ra văn bản dưới luật mang tính pháp lý – quyền lực được bảo đảm bằng khả năng áp dụng cưỡng chế và đảm bảo về phương diện tổ chức bộ máy; mang tính tổ chức trực tiếp của nhà

Trang 35

nước, tính chính trị, tính dân chủ; là hoạt động chủ động, sang tạo, có cơ sở vật chất lớn.

Ở Việt Nam, QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Thực hiện QLNN phải tuân thủ những nguyên tắc riêng Những nguyên tắc này không phải là sản phẩm duy ý chí của một tổ chức hay một cá nhân nào

mà được hình thành trên cơ sở quy luật khách quan, trên kết quả nghiên cứu các điều kiện thực tế xã hội, trên bản chất chế độ chính trị, xã hội và trong thời gian, không gian và hoàn cảnh cụ thể

QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN là một bộ phận trong tổng thể hoạt động quản lý của nhà nước đối với nền KTXH của nước ta Cụ thể hơn, đó là một bộ phận của QLNN trên lĩnh vực đối ngoại Vì vậy, trước hết nó cũng mang những đặc điểm chung của hoạt động QLNN Bên cạnh đó, quản lý nhà nước về công tác phi chính phủ nước ngoài cũng có những đặc điểm riêng của mình

QLNN đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước, điều chỉnh hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam bằng quyền lực nhà nước Nói cách khác QLNN đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài là quá trình Nhà nước sử dụng các phương thức quản lý để tác động, điều chỉnh các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài diễn ra theo quy định

QLNN đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để một mặt, bảo đảm hoạt động của các tổ chức này theo đúng mục đích nhân đạo

từ thiện, phù hợp với luật pháp và yêu cầu phát triển KTXH của Việt Nam, mặt khác, bảo vệ lợi ích chính đáng của các tổ chức PCPNN trong quá trình hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, bảo đảm cho mối quan hệ giữa các tổ chức này với các bên đối tác Việt Nam được hài hòa

Trang 36

1.2.2 Chủ thể quản lý

Cũng như đối với các lĩnh vực khác, chủ thể của hoạt động quản lý trên lĩnh vực này là nhà nước Nhà nước, với hệ thống pháp luật và công cụ cưỡng chế, thay mặt nhân dân thực hiện công việc quản lý Nói một cách cụ thể hơn, chủ thể của hoạt động này chính là các cơ quan nhà nước liên quan, với đội ngũ cán bộ có thẩm quyền pháp lý và được sử dụng thẩm quyền ấy trong quá trình quản lý, được trao quyền quản lý, hướng dẫn chỉ đạo khách thể quản lý

1.2.3 Khánh thể quản lý

Khách thể của hoạt động quản lý này là mối quan hệ giữa các tổ chức phi chính phủ nước ngoài với các đối tác Việt Nam và ở một mức độ nào đó là giữa các tổ chức này với nhau Nhưng trước hết, khách thể của quản lý trên lĩnh vực này chính là tất cả những vấn đề liên quan đến hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam, bao gồm rất nhiều hoạt động cụ thể khác nhau, từ việc xuất nhập cảnh của công dân nước ngoài là nhân viên của tổ chức, tuyển dụng lao động Việt Nam vào làm việc cho các tổ chức PCPNN, cho đến việc xin giấy phép hoạt động, giấy phép mở văn phòng đại diện, văn phòng dự án… hay khảo sát thực địa, lập dự án, triển khai dự án, viện trợ tiền hàng… Có thể tổng quát những hoạt động đa dạng này vào thành những nhóm đối tượng chính đặt dưới sự quản lý của nhà nước như sau:

- Nhà nước quản lý sự hiện diện của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam; hướng dẫn đăng ký hoạt động cho các tổ chức này;

- Nhà nước quản lý hoạt động viện trợ phát triển các tổ chức phi chính phủ nước ngoài;

- Nhà nước quản lý nguồn viện trợ phi chính phủ;

- Nhà nước quản lý cán bộ, nhân viên hoạt động trong tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam;

- Nhà nước quản lý thông tin liên quan đến hoạt động của tổ chức PCPNN tại Việt Nam

Trang 37

1.2.4 Đối tượng quản lý

Đối tượng của QLNN trên lĩnh vực công tác phi chính phủ là các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Chiếu theo quy định của Nhà nước ta, đối tượng này bao gồm: các tổ chức phi chính phủ, các quỹ văn hóa xã hội, viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm giáo dục, hội đoàn và các hội hữu nghị được thành lập ở nước ngoài Đối tượng này có đặc thù riêng vì là tổ chức có tư cách pháp nhân nước ngoài và cá nhân

là người nước ngoài mà mục đích hoạt động đặc thù là từ thiện nhân đạo và phát triển cộng đồng

1.2.5 Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với công tác phi chính phủ nước ngoài

Quản lý nhà nước về công tác phi chính phủ nước ngoài là một bộ phận trong tổng thể hoạt động quản lý nhà nước của nước ta nói chung Chính vì vậy, lĩnh vực quản lý này cũng phải tuân thủ những nguyên tắc quản lý nhà nước xã hội chủ nghĩa, là những nguyên tắc cho thấy bản chất của xã hội chủ nghĩa của hoạt động quản lý nhà nước Cụ thể có những nguyên tắc cơ bản sau đây:

 Nguyên tắc nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý, Đảng lãnh đạo

Đảng đã xác định đây là vừa nguyên tắc cơ bản vừa là cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội trong đó có quản lý công tác phi chính phủ nước ngoài Nguyên tắc này đòi hỏi sự quản lý của Nhà nước phải coi trọng vai trò là chủ của nhân dân, đồng thời khẳng định sự lãnh đạo của Đảng, cũng là khẳng định định hướng xã hội chủ nghĩa Cụ thể nguyên tắc này yêu cầu: quản lý các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trước hết phải đảm bảo đúng đường lối, chính sách chỉ đạo của Đảng về đối ngoại nói chung và đối ngoại nhân dân nói riêng; phải đảm bảo

sự quản lý thống nhất ở tầm vĩ mô và chiến lược của nhà nước; phải đảm bảo sao cho tất cả vì nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân, phải tăng cường sự tham gia của nhân dân vào công tác quản lý, để người dân không chỉ đơn thuần là đối

Trang 38

tượng nhận viện trợ mà trở thành một bên đối tác trong cơ chế hợ tác ba bên: chính quyền – nhân dân – các tổ chức phi chính phủ nước ngoài

 Nguyên tắc tập trung dân chủ

Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, chỉ đạo mọi hoạt động tổ chức, sinh hoạt nội bộ và phong cách làm việc Tập trung và dân chủ là một thể thống nhất, không đối lập, không hạn chế nhau, theo đó Nhà nước giữ quyền thống nhất quản lý những vấn đề lớn, mang tính chiến lược, cơ bản trao cho trung ương, đồng thời giao quyền hạn và trách nhiệm giải quyết các vấn đề cụ thể cho các

Bộ, Ngành và địa phương để phát huy tính sang tạo, chủ động và linh hoạt của các cấp, các ngành, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Tập trung là

để tránh buông lỏng, thả nổi, lơ là quản lý dẫn đến các hiện tượng tự do chủ nghĩa, vô chính phủ, mất kiểm soát; dân chủ là để tránh thâu tóm quyền lực dẫn đến độc quyền, độc tài

 Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương

và vùng lãnh thổ

Nguyên tắc này đòi hỏi các lĩnh vực có sự tham dự của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài thì quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ phải phối hợp gắn bó với nhau Các bộ ngành và các địa phương có trách nhiệm chung trong việc hoàn thành nhiệm vụ quản lý mà nhà nước giao cho từng Bộ, Ngành cũng như cho từng địa phương để đạt được mục đích quản lý chung Giữ vững nguyên tắc này là đảm bảo tính hệ thống thứ bậc trên dưới của bộ máy nhà nước, đảm bảo được sự thống nhất giữa cơ cấu ngành với cơ cấu lãnh thổ

 Nguyên tắc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc này đòi hỏi việc quản lý công tác phi chính phủ nước ngoài phải dựa trên cơ sở pháp luật của nhà nước, không cho phép các cơ quan quản lý của nhà nước thực hiện việc quản lý một cách tùy tiện, theo cảm tính, theo ý muốn chủ quan Để thực hiện tốt nguyên tắc này phải đảm bảo ba điều kiện: Thứ nhất, phải xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về phi chính phủ nước ngoài nói riêng; Thứ hai, phải giáo dục pháp luật, tăng cường nhận thức và ý thức thuân thủ pháp luật cho cả các tổ chức phi chính phủ nước

Trang 39

ngoài và người dân; Thứ ba, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm dù là phía Việt Nam hay phía nước ngoài theo đúng những quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế

 Nguyên tắc công khai

Tổ chức hoạt động của nhà nước phải công khai, minh bạch Các chính sách, quy định của Nhà nước phải được công khai cho dân biết cũng như cho các

tổ chức phi chính phủ nước ngoài biết Nguyên tắc này lại càng đặc biệt quan trọng bởi quản lý các tổ chức phi chính phủ có liên quan rất nhiều đến quản lý tiền, hang viện trợ và một số quyền lợi kinh tế

1.2.6 Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài

Quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức PCPNN là một bộ phận trong tổng thể hoạt động quản lý nhà nước về đối ngoại nhân dân, vì vậy nó cũng mang những đặc điểm chung của hoạt động QLNN về đối ngoại và đối ngoại nhân dân

Có thể thấy quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài có một số đặc điểm chính như:

- Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị

Việc quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN trước hết phải đảm bảo đúng đường lối, chính sách chỉ đạo của Đảng về đối ngoại nói chung và đối ngoại nhân dân nói riêng; phải đảm bảo sự quản lý thống nhất, tăng cường sự tham gia của nhân dân trong công tác quản lý, phát huy cơ chế hợp tác ba bên: chính quyền – nhân dân vùng hưởng lợi – tổ chức phi chính phủ nước ngoài

Do vậy, QLNN đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài phải luôn song hành với hệ thống chính trị, phù hợp với các quyết sách chính trị của Đảng và Nhà nước

- Tính pháp quyền

Mọi hoạt động quản lý nhà nước phải đảm bảo nằm trong khuôn khổ quy định của pháp luật Việc quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN phải dựa

Trang 40

trên cơ sở pháp luật của Nhà nước và pháp luật được sử dụng làm công cụ chủ yếu để quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài.

- Tính thống nhất và linh hoạt

Quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức PCPNN phải dựa trên cơ

sở quy định chung của pháp luật; không cho phép các cơ quan quản lý của Nhà nước thực hiện việc quản lý một cách tùy tiện, theo cảm tính hay theo ý muốn chủ quan Do tính chất đa dạng, hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài liên quan đến rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hoá, an ninh, quốc phòng, ngoại giao nên quản lý nhà nước trên lĩnh vực này cần có sự thống nhất trong quản lý Bên cạnh đó, trong quá trình quản lý cũng cần có sự linh hoạt, giao một số quyền hạn và trách nhiệm qua đó tạo điều kiện cho các bộ, ngành và địa phương có thể chủ động, linh hoạt giải quyết một số vấn đề cụ thể nào đó Qua đó, phát huy tính sáng tạo, chủ động và quyền làm chủ của các cấp, các ngành

- Tính công khai, minh bạch

Các chính sách, quy định của Nhà nước về quản lý liên quan đến hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài cần phải được công khai, minh bạch Đây cũng là một đặc điểm quan trọng bởi quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài có liên quan rất nhiều đến quản lý nguồn tiền, hàng viện trợ và một số quyền lợi kinh tế

1.2.7 Vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài

Quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức PCPNN đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển KTXH của đất nước, vai trò đó thể hiện ở các điểm sau:

 Một là, quản lý nhà nước nhằm đảm bảo các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam

Cùng với việc thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương và đa dạng hóa các mối quan hệ số lượng các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ngày càng tăng lên Có thể thấy quan hệ với cộng đồng

Ngày đăng: 12/11/2014, 09:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Phạm Kiên Cường (Chủ biên), Giáo trình Quản lý Nhà nước đối với tổ chức Phi chính phủ nước ngoài, Học viện hành chính, Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật (2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý Nhà nước đối với tổ chức Phi chính phủ nước ngoài, Học viện hành chính, Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Nhà XB: Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật "(2012)
15. Dự án Phục hồi môi trường và Khắc phục hậu quả chiến tranh, Nghiên cứu tai nạn bom mìn và nhận thức – thái độ - hành vi đối với bom mìn sau chiến tranh, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tai nạn bom mìn và nhận thức – thái độ - hành vi đối với bom mìn sau chiến tranh
16. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
17. Học viện hành chính, Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính nhà nước (chương trình chuyên viên chính) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính nhà nước
18. Học viện hành chính, Giáo trình Quản lý học đại cương, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý học đại cương
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
19. Học viện hành chính, Giáo trình Quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
20. Nguyễn Thị Thanh Loan (2002), Nâng cao hiệu quan quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ quản lý hành chính công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quan quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Loan
Năm: 2002
22. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội (2010), Báo cáo tình hình thực hiện Đề án “Trợ giúp người tàn tật tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện Đề án “Trợ giúp người tàn tật tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2010
30. Thaviphone Sihathep (2013), Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Luận văn Thạc sỹ quản lý hành chính công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Tác giả: Thaviphone Sihathep
Năm: 2013
35. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 286/2006/QĐ-TTg, ngày 27/12/2006 ban hành “Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2006-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 286/2006/QĐ-TTg, ngày 27/12/2006 ban hành “Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2006
47. Đa dạng hóa công tác vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài, http://baocaobang.vn/Kinh-te/Da-dang-hoa-cong-tac-van-dong-vien-tro-phi-chinh-phu-nuoc-ngoai/23836.bcb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng hóa công tác vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài
48. Hiệu quả từ các dự án phi chính phủ, Báo Đồng Nai 02/4/2012, http://www.baodongnai.com.vn/chinhtri/201204/Hieu-qua-tu-cac-du-an-phi-chinh-phu-2143173/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả từ các dự án phi chính phủ
49. Hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam, Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử, Ủy ban Thường vụ quốc hội – Ban công tác đại biểu, http://ttbd.gov.vn/Home/Default.aspx?portalid=52&tabid=108&catid=515&distid=336150.Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, websitehttp://www.vietpeace.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam", Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử, Ủy ban Thường vụ quốc hội – Ban công tác đại biểu, http://ttbd.gov.vn/Home/Default.aspx?portalid=52&tabid=108&catid=515&distid=336150. "Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam
51. Niên giám thống kê tỉnh Quảng Trị, http://cucthongke.quangtri.gov.vn/niengiam/Default.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Trị
52. The Global Development Center, http://www.gdrc.org/ngo/wb-define. PHỤ LỤC Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Global Development Center
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng (1994), Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/9/1994 về mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân Khác
2. Ban chấp hành Trung ương Đảng (2003), Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 24 tháng 01 năm 2003 về công tác phi chính phủ nước ngoài Khác
3. Ban chấp hành Trung ương Đảng (2010), Quy chế về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại ban hành kèm theo Quyết định số 295-QĐ/TW ngày 23/3/2010 Khác
4. Ban chấp hành Trung ương Đảng (2011), Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 6/7/2011 về việc tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới Khác
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2001), Thông tư số 04/2001/TT-BKH ngày 05/06/2001 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 64/2001/QĐ-TTg ngày 26/04/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Biểu đồ thống kê quốc tịch các tổ chức PCPNN tại Quảng Trị - quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh quảng trị
Hình 2.1. Biểu đồ thống kê quốc tịch các tổ chức PCPNN tại Quảng Trị (Trang 57)
Hình 2.2 Biểu đồ thống kê lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCPNN - quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh quảng trị
Hình 2.2 Biểu đồ thống kê lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCPNN (Trang 59)
Hình 3.1. Biểu đồ thống kê số lượng các Dự án PCPNN ở Quảng Trị 5 năm qua - quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh quảng trị
Hình 3.1. Biểu đồ thống kê số lượng các Dự án PCPNN ở Quảng Trị 5 năm qua (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w