DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTNHNo&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội NHNN Ngân hàng nhà nước KT – X
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠMKHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Ở THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
KHOÙA LUAÔN TOÂT NGHIEÔP
Ngành học: GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ Giáo viên hướng dẫn: ThS Huỳnh Thị Hồng Hạnh
Huế, Khóa học 2010 - 2014
Trang 2đào tạo bậc đại học nhằm giúp sinh viên vận dụng những kiến thức lý thuyết đã học vào thực tiễn sản xuất, đồng thời qua đó tích lũy những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác chuyên môn sau khi tốt nghiệp.
Nay thời gian thực tập kết thúc đề tài đã hoàn thành cho phép tôi được gửi lời cảm ơn đến ban giám hiệu cùng toàn thể các Thầy, Cô giáo trường Đại Học Sư Phạm Huế đã tận tình giảng dạy và cho tôi nhiều kiến thức quý giá trong suốt bốn năm học.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo: ThS Huỳnh Thị Hồng Hạnh người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Nhân đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo, cán bộ trong UBND thị xã Hương Trà, và các cô chú trong Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn thị xã Hương Trà đã tạo điều kiện hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp số liệu giúp cho tôi hoàn thành đề tài.
Xin được bày tỏ lòng biết ơn tới bà con phường Hương Hồ, phường Hương An đã rất nhiệt tình cung cấp cho tôi những thông tin sát thực, kinh nghiệm quý báu để đề tài được hoàn thành.
Và cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn tới gia đình và tất cả các bạn
bè đã cổ vũ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Do thời gian thực tập ngắn, kiến thức và năng lực bản thân có hạn nên
đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 4 năm 2014
Sinh viên: Hồ Thị Mơ
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHNo&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội
NHNN Ngân hàng nhà nước
KT – XH Kinh tế xã hội
HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Ủy ban nhân dân
TLSX Tư liệu sản xuất
TCTD Tổ chức tín dụng
TDNT Tín dụng nông thôn
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
NNNT Nông nghiệp nông thôn
Trang 5A- MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau nhiều thập kỷ xây dựng và phát triển kinh tế, nền kinh tế nước ta đang dần dần khởi sắc: Tốc độ tăng trưởng ngày càng cao, lạm phát được kiềm chế, sản xuất phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt Hoà nhịp vào sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, hệ thống vốn tín dụng Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới, hiện đại hoá trong quản lý và hoạt động nghiệp vụ nhằm xứng đáng là Trung tâm của hệ thống tiền tệ quốc gia
Nhìn chung sau hơn 20 năm đổi mới, tuy nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật nhưng đời sống của người dân vẫn còn thấp, đặc biệt là người dân ở vùng nông thôn Trên thực tế nhiều vùng nông thôn vẫn còn nghèo nàn về cơ sở vật chất, kỹ thuật lạc hậu và kinh tế, văn hóa, xã hội còn hạn chế Do đó, Đảng và Nhà nước đã và đang thực hiện nhiều chính sách
để hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn mà đặc biệt là đối với các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn Nhiều hoạt động cả trên lý thuyết lẫn thực tiễn đã và đang tập trung vào tháo gỡ những khó khăn cho người nông dân trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, từ
đó cải thiện đời sống cho người nông dân, nông thôn Một trong những hoạt động đó là tập trung giải quyết những khó khăn đối với người nông dân về nguồn vốn tín dụng
Có thể nói, mặc dầu không phải là nhân tố quyết định nhưng vốn lại đóng vai trò quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Đối với người dân, vốn là điều kiện để
mở rộng và phát triển và đa dạng hóa các hoạt động sản xuất để từ đó nâng cao thu nhập
Trang 6Điều đáng nghi nhận là hiện nay người dân nông thôn đã có những thay đổi đáng kể trong khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng cũng như khả năng
sử dụng đồng vốn vay Họ cũng đã có những cải thiện đáng kể trong nhận thức của họ về tính toán, cân nhắc hợp lý giữa nhu cầu đầu tư và khả năng trả
nợ Do đó họ vừa chủ động được thời gian trả nợ ngân hàng vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế của đồng vốn Tuy nhiên, người dân nhìn chung vẫn còn khó khăn trong tìm kiếm nguồn vốn nhằm phát triển hoạt động sản xuất của họ
Hương Trà là một thị xã ở vùng đồng bằng thuộc của thị tỉnh Thừa Thiên Huế Đây là một xã thuần nông nên nguồn thu nhập chính của người dân chủ yếu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Đó cũng là lý do mà người dân rất khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn vốn cho các hoạt động sản xuất, bao gồm cả các hoạt động phi nông nghiệp cũng như hoạt động nông nghiệp Mặc dù hiện tại trên địa bàn thị xã đã có mặt nhiều tổ chức tín dụng như NHNo&PTNT, Ngân hàng chính sách xã hội, các tổ chức tín dụng khác…nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn của người dân, các hoạt động tín dụng đang gặp nhiều bất cập cả từ các tổ chức và từ phía người dân Do vậy, để tìm hiểu rõ hơn về các khó khăn và trở ngại đối với quá trình sử dụng nguồn vốn của người dân trên góc độ của chính bản thân họ và từ các nhà cung cấp tín dụng, tôi chọn
đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn tín dụng trong xây dựng
nông thôn mới ở Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
2 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nông dân từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nông dân trên địa bàn thị xã Hương Trà – tỉnh Thừa Thiên Huế
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 7Trên cơ sở các số liệu thực tế, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của các hộ dân trên địa bàn thị xã Hương Trà trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2013.Từ
đó, xây dựng một hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn tín dụng của người dân
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hiệu quả sử dụng vốn vay của các hộ dân ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn Thị xã Hương Trà
- Về thời gian: Quá trình phân tích chủ yếu tập trung vào giai đoạn 2010-2013
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng làm phương pháp luận của đề tài Đây là phương pháp luôn đặt sự vật, hiện tượng trong tổng thể, trong sự vận động của không gian và thời gian để nghiên cứu Dựa vào phương pháp này để xem xét, phân tích, đánh giá sự vật, hiện tượng một cách khách quan và khoa học
- Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Bên cạnh đó, Tôi tiến hành chọn điểm điều tra, căn cứ vào đặc điểm địa hình của thị xã Hương Trà, tôi chọn vùng đồng bằng
5 Giới hạn nghiên cứu
Do thời gian thực tập có hạn, trong khi đó số hộ dân vay vốn lại rất đông nên tôi chỉ chọn điều tra một trăm hai mươi hộ trên địa bàn thị xã Hương Trà
Trang 8Và do các hộ dân có thể vay từ nhiều nguồn khác nhau như từ kho bạc, từ người thân, vay nặng lãi hay vay ngân hàng…nhưng lại cùng đưa vào một hoạt động sản xuất nên tôi chỉ tập trung đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn
từ phía các hộ điều tra
Với thời gian thực tập có hạn, trình độ khả năng còn hạn chế Vì vậy nội dung của luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự giúp đỡ của thầy cô cùng các bạn
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hiệu quả sử dụng nguồn vốn tín dụng trong xây dựng nông thôn mới ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương II: Thực trạng sử dụng nguồn vốn tín dụng trong xây dựng nông thôn mới ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương III: Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận và hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay trong xây dựng nông thôn mới ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 9
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN TÍN DỤNG
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 Một số vấn đề lý luận về tín dụng và hiệu quả sử dụng nguồn vốn tín dụng trong xây dựng nông thôn mới ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Khái niệm tín dụng trên đây được thể hiện theo ba mặt cơ bản sau đây:
- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác
- Sự chuyển giao mang tính chất tạm thời
- Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức
Một quan hệ chỉ được gọi là tín dụng khi đầy đủ cả ba mặt trên
Một cách chung nhất, khái niệm tín dụng theo pháp luật ngân hàng Việt Nam ghi nhận rằng, tín dụng là quan hệ vay (mượn) dựa trên cơ sở tin tưởng
và tín nhiệm giữa bên cho vay (mượn) và bên đi vay (mượn) Theo đó bên cho vay chuyển giao một lượng vốn tiền tệ (hoặc tài sản) để bên vay sử dụng
có thời hạn Khi đến hạn bên vay có nghĩa vụ hoàn trả vốn (tài sản) ban đầu
và lãi suất
Trang 101.1.2 Bản chất và nguyên tắc của tín dụng
* Về bản chất của tín dụng, hoạt động này có các dấu hiệu đặc trưng sau:
- Quan hệ tín dụng thiết lập trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm Chủ thể tham gia vào quan hệ này gồm ít nhất là hai bên: bên cho vay và bên đi vay
- Tín dụng là quan hệ chuyển giao để sử dụng có thời hạn
- Hình thức pháp lý của hoạt động vay mượn giữa các bên được thể hiện thông qua hợp đồng vay tài sản Thông thường, tài sản này được biểu hiện dưới dạng một lượng tiền tệ nhất định Như vậy đối tượng của quan hệ tín dụng là vốn tiền tệ, trong một số trường hợp khác có thể là tài sản (tín dụng thuê mua)
- Vốn là một “hàng hóa” đặc biệt trong nền kinh tế thị trường Các quan
hệ tín dụng phát sinh từ nhu cầu về vốn của nền kinh tế
* Tín dụng phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản:
- Nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích
- Nguyên tắc hạn chế rủi ro, khắc phục tổn thất
- Nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi
- Nguyên tắc cho vay phải đảm bảo
1.1.3 Phân loại tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường tín dụng hoạt động rất đa dạng và phong phú Tùy theo tiêu thức phân loại mà tín dụng được phân thành nhiều loại khác nhau
- Thời hạn tín dụng: Căn cứ vào thời hạn tín dụng, tín dụng được chia
ra ba loại: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn
+ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cá nhân
Trang 11+ Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 – 5 năm, được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kĩ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.
+ Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, loại tín dụng này được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn
Tín dụng trung hạn và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định
và một phần tối thiểu cho hoạt động sản xuất
- Đối tượng tín dụng: Căn cứ vào đối tượng tín dụng, tín dụng được chia thành hai loại: tín dụng vốn lưu động và tín dụng vốn cố định
+ Tín dụng vốn lưu động là loại vốn tín dụng được sử dụng để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế, như cho vay để dự trữ hàng hóa, mua nguyên vật liệu cho sản xuất Tín dụng vốn lưu động thường được sử dụng
để cho vay bù đắp mức vốn lưu động thiếu hụt tạm thời Loại tín dụng này thường được chia ra các loại: cho vay dự trữ hàng hóa, cho vay chi phí sản xuất
và cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳ phiếu
+ Tín dụng vốn cố định là loại tín dụng được sử dụng để hình thành TSCĐ Loại này được đầu tư để mua sắm TSCĐ, cải tiến và đổi mới kĩ thuật
mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới Thời hạn cho vay là trung và dài hạn
- Mục đích sử dụng vốn: Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, tín dụng được chia ra làm hai loại: tín dụng sản xuất, lưu thông sản xuất hàng hóa và tín dụng tiêu dùng
+ Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại cấp phát tín dụng cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác để tiến hành sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa
Trang 12+ Tín dụng tiêu dùng: là hình thức cấp phát tín dụng cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Như mua sắm nhà cửa, xe cộ, các hàng hóa bền chắc
và cả những nhu cầu hàng ngày Tín dụng tiêu dùng có thể được cấp phát dưới hình thức bán chịu hàng hóa
- Chủ thể trong quan hệ tín dụng: Căn cứ vào tiêu thức này, thì tín dụng được chia thành các loại: tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng
+ Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa
+ Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các nhà doanh nghiệp và cá nhân
+ Tín dụng nhà nước: Là quan hệ tín dụng, mà trong đó nhà nước là người đi vay để đảm bảo các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước, đồng thời là người cho vay để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình trong quản lý kinh tế -xã hội và phát triển quan hệ đối ngoại
1.1.4 Đặc điểm và vai trò của vốn tín dụng trong xây dựng nông thôn mới 1.1.4.1 Đặc điểm của vốn tín dụng
Tín dụng phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả có
Trang 13+ Vai trò của vốn tín dụng trong quá trình phát triển kinh tế nông thônTrong nền kinh tế thị trường: Tín dụng là tập trung huy động nhiều nguồn vốn, gắn liền với sử dụng vốn có hiệu quả để đầu tư phát triển kinh tế nông thôn, tạo điều kiện tích luỹ vốn cho CNH - HĐH Tín dụng thực sự là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển cũng như mở rộng thương mại dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn Do đó tín dụng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn và được thể hiện như:
1 Góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tài chính nông thôn
Thị trường tài chính ở nông thôn là nơi giải quyết quan hệ cung cầu về vốn, nhằm thoả mãn nhu cầu phát triển kinh tế nông thôn Thị trường tài chính nông thôn bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ Trong thị trường này, ngân hàng nông nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng, vì nó có hệ thống chi nhánh hay văn phòng đại diện đến tận huyện, xã
2 Hoạt động tín dụng đã góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn, tư liệu sản xuất, khoa học công nghệ để phát triển kinh tế nông thôn
Trong nông thôn hiện nay, vốn tín dụng đã giúp hộ có khả năng giải quyết được khó khăn trong sản xuất kinh doanh và góp phần tăng thu nhập cho hộ Quy mô sản xuất của hộ càng lớn thì càng có khả năng đứng vững hơn trong cạnh tranh, bởi lẽ khi có vốn, người nông dân có thể áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, tăng sản lượng, tăng tỷ trọng hàng hoá và hạ giá thành sản phẩm Trên cơ sở đó, họ có khả năng dễ dàng trong việc tích tụ và tập trung vốn
3 Tín dụng đã góp phần tận dụng khai thác mọi tiềm năng về đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên
Tiềm năng về phát triển ở nông thôn nước ta là rất lớn, nếu được Nhà nước quan tâm đúng mức với những chính sách vĩ mô thích hợp, đặc biệt là nếu
có chính sách đầu tư tín dụng hợp lý, thì chắc chắn những khả năng tiềm tàng mà
Trang 14lâu nay chưa được sử dụng sẽ được động viên khai thác triệt để và phát huy hiệu quả Sức lao động được giải phóng kết hợp với đất đai được giao quyền sử dụng lâu dài cho từng hộ gia đình sẽ đóng góp ngày càng nhiều hơn, phong phú hơn hàng hoá nông sản thực phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu của đất nước.
4 Tín dụng đã góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho nông dân tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh
Trong điều kiện hiện nay, đời sống nông thôn còn gặp nhiều khó khăn,
cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu Muốn cải thiện tình hình đó phải tăng cường đầu tư vốn phát triển nông thôn Chính vì lẽ đó, vốn đầu tư của ngân hàng không những tham gia vào quá trình sản xuất bằng hình thức bổ sung vốn lưu động, mà còn là vốn đầu tư trung hạn và dài hạn nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến cho quá trình sản xuất Cùng với việc đầu tư xây dựng
và cải tạo những công trình trên Nhà nước còn cần đầu tư xây dựng các công trình phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ kỹ thuật để tạo ra những giống cây, con mới đưa vào sản xuất, từ đó tăng năng suất và đem lại hiệu quả kinh tế
5 Tín dụng tạo điều kiện phát triển ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong nông thôn
Chính việc xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng các xí nghiệp chế biến nông sản đã thu hút một số lượng lớn lao động dư thừa trong nông thôn, tạo việc làm cho họ Đồng thời dựa vào lợi thế so sánh của nước ta với khu vực
và thế giới, giữa các vùng khác nhau cần thiết phải duy trì và phát triển ngành nghề ở nông thôn Kinh tế hàng hoá càng phát triển thì sức mạnh cạnh tranh ngày càng lộ rõ, tất yếu dẫn đến phân hoá giàu nghèo ở nông thôn, có hộ sẽ phát triển thêm về nông nghiệp, có hộ sẽ rời khỏi nông nghiệp làm nghề khác như tiểu thủ công nghiệp, các nghề truyền thống Do đó các ngành nghề này
sẽ được phục hồi và phát triển
Trang 156 Tín dụng đã tạo cho người dân không ngừng nâng cao trình độ sản xuất, tăng cường hạch toán kinh tế đồng thời tạo tâm lý tiết kiệm tiêu dùng.
Hộ gia đình là một đơn vị kinh tế tự chủ, sản xuất kinh doanh lời ăn lỗ chịu Do vậy bắt buộc bản thân hộ gia đình muốn tồn tại và phát triển thì phải đáp ứng được những yêu cầu mới Trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão đòi hỏi người nông dân phải không ngừng nâng cao trình độ của mình Kết quả cuối cùng đã ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân
và gia đình họ Vì vậy ngoài việc hăng say lao động, họ phải áp dụng những quy trình kỹ thuật mới vào sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất
7 Tín dụng góp phần đảm bảo hiệu quả xã hội, nâng cao cuộc sống tinh thần vật chất cho người nông dân
Hoạt động tín dụng thực hiện tốt sẽ góp phần hạn chế nạn cho vay nặng lãi trong nông thôn Trước đây chính sách đầu tư tín dụng không được quan tâm thích đáng nên vốn cho nông dân được cung cấp chủ yếu thông qua thị trường tài chính không chính thức Việc cung ứng vốn tín dụng của ngân hàng cho những hộ sản xuất thiếu vốn, kể cả hộ giàu và hộ nghèo, đều đòi hỏi phải có tài sản thế chấp, đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích Như vậy đồng vốn của ngân hàng đã đi sâu vào tận cùng thôn ấp, thúc đẩy nông thôn phát triển, làm cho hộ nghèo trở nên khá hơn, hộ khá trở nên giàu hơn, đời sống các tầng lớp dân cư trong nông thôn được nâng cao
Tóm lại, tín dụng có vai trò quan trọng trong mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội nông thôn Để phát huy vai trò to lớn đó, nên sử dụng tín dụng như một công cụ đắc lực để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nông thôn
1.1.5.Những tiêu chí phản ánh hiệu quả của việc sử dụng vốn tín dụng
* Hệ thống chỉ tiêu về việc vay vốn
- Nhu cầu vay bình quân/hộ = Tổng số tiền hộ muốn vay
Tổng số hộ điều tra
Trang 16=> Chỉ tiêu này nói lên nhu cầu vốn vay bình quân của các hộ điều tra.
- Số tiền vay bình quân/hộ = Tổng số tiền vay của các hộ được vay Tổng số hộ điều tra
=> Chỉ tiêu này nói lên số tiền bình quân mỗi hộ điều tra vay được
- Tỷ lệ đáp ứng vốn vay = Số tiền các hộ được vay
Số tiền có nhu cầu vay
=> Đây là chỉ tiêu nói lên tỷ lệ đáp ứng vốn vay được bao nhiêu % so với nhu cầu
- Tỷ lệ vốn vay trong tổng vốn sản xuất = Số tiề n vay bình quân
- Ngân hàng Grameen ở Bangladesh 1
Ngân hàng Grameen (GB) là định chế tài chính nổi tiếng nhất thế giới
về tín dụng nông thôn GB có mạng lưới chi nhánh rộng khắp đến tận cấp cơ
sở, mỗi chi nhánh phục vụ từ 15 đến 22 làng Đối tượng phục vụ là các gia đình có chưa đến 0,2 ha đất Để vay được tín dụng, người trong những gia đình đủ tiêu chuẩn sẽ lập nhóm gồm năm người có hoàn cảnh kinh tế và xã hội gần giống nhau Thông thường, mỗi gia đình chỉ được phép có một người
1 Dựa theo Tilakaratna (1996).
Trang 17tham gia một nhóm Do đó, các thành viên của một gia đình hay thậm chí cả
bà con thân thuộc không thể nằm chung trong một nhóm Mỗi nhóm bầu một trưởng nhóm và một thư ký để chủ trì cuộc họp hàng tuần Sau khi nhóm được thành lập, một nhân viên ngân hàng sẽ đến thăm gia đình và kiểm tra tư cách của mỗi thành viên để lấy thông tin về tài sản, thu nhập, v.v…
Khoảng năm hoặc sáu nhóm sẽ lập nên một trung tâm trong cùng địa phương Từ các trưởng nhóm sẽ bầu ra Trưởng trung tâm, là người chịu trách nhiệm giúp các thành viên tìm hiểu về kỷ cương của ngân hàng, và chủ trì cuộc họp hàng tuần Tất cả các thành viên sẽ dự một khóa hướng dẫn kéo dài một tuần, mỗi ngày hai giờ Các nhân viên ngân hàng sẽ giải thích quy định của Grameen, quyền và nghĩa vụ của thành viên Sau khi kết thúc khóa học
và nếu đạt yêu cầu, mỗi người được cấp giấy chứng nhận là thành viên chính thức Trước khi đủ tiêu chuẩn vay tiền, mọi thành viên phải chứng tỏ tính thành thực và tính đoàn kết bằng cách tham dự tất cả các buổi họp nhóm trong ba tuần kế tiếp Trong thời gian này, nhân viên ngân hàng tiếp tục bàn
về quy định của Grameen, và giải đáp thắc mắc Các thành viên mù chữ cũng được dạy cách ký tên Các thành viên không cần phải đến trụ sở ngân hàng
để giao dịch Nhân viên ngân hàng đến với họ tại những buổi họp hàng tuần
để cấp tiền vay, thu tiền trả nợ, và vào sổ sách ngay tại trung tâm Có cả các nhân viên nữ để làm việc với khách hàng nữ
Tại mỗi cuộc họp hàng tuần, mỗi thành viên đóng góp một taka (Đơn
vị tiền tệ của Bănglađét) vào quỹ nhóm Ban đầu chỉ có hai thành viên được vay tiền Thêm hai người nữa được vay nếu hai người vay đầu tiên trả nợ đúng hạn trong hai tháng đầu tiên Người cuối cùng (thường là trưởng nhóm) phải đợi thêm hai tháng nữa cho đến khi những người vay tiền trước mình chứng tỏ là đáng tin cậy
Trang 18Mỗi khoản vay phải được trả dần hàng tuần trong vòng một năm Nếu một người vỡ nợ, những người khác trong nhóm sẽ không được vay Do đó,
áp lực của các thành viên trong nhóm là một yếu tố quan trọng bảo đảm mỗi thành viên sẽ trả nợ đầy đủ Ngoài việc đóng góp 1 taka mỗi tuần, mỗi thành viên khi vay được tiền phải đóng góp 5% tiền vay vào quỹ nhóm Các thành viên có thể vay mượn từ quỹ này với bất cứ mục đích gì, kể cả trả nợ ngân hàng hay tiêu dùng Nhờ đó, họ có thể hỗ trợ nhau trả nợ ngay cả lúc gặp hoàn cảnh khó khăn, và tránh dùng khoản vay ban đầu để tiêu dùng Tiền vay
từ quỹ nhóm cũng phải được trả hàng tuần Mỗi nhóm còn lập quỹ khẩn cấp với mức đóng góp bằng 4% tiền vay ngân hàng Quỹ này chỉ dùng để giúp thành viên trả nợ trong trường hợp cấp bách như có tử vong, bị mất cắp hay thiên tai; do vậy, quỹ này giống như một khoản bảo hiểm
Bằng các dịch vụ tiết kiệm-tín dụng linh hoạt, ngân hàng Grameen đã rất thành công trong việc tiếp cận được tầng lớp nghèo nhất (đặc biệt là phụ
nữ nông thôn không có tài sản), đạt tỉ lệ thu hồi nợ gần 100% và nâng cao vị thế kinh tế xã hội của khách hàng Grameen đặc biệt nhấn mạnh những khía cạnh xã hội và con người trong quá trình phát triển của người nghèo, chứ không chỉ dừng lại ở chương trình tiết kiệm-tín dụng thông thường Nhiều nghiên cứu đánh giá rằng Grameen cải thiện tính đoàn kết giữa các thành viên, nâng cao ý thức của họ, khuyến khích họ lập những trường học quy mô nhỏ và tổ chức các sự kiện thể thao cho con cái họ, loại bỏ tập tục của hồi môn, phòng chống những bệnh thường gặp như tiêu chảy và chứng quáng gà
ở trẻ em, và chống những bất công trong xã hội Phần lớn những cam kết này được nêu trong “16 quyết định” mà thành viên nào cũng thuộc làu, thể hiện quyết tâm xây dựng một cuộc sống đàng hoàng và một xã hội tươi đẹp hơn
- Hệ thống ngân hàng làng xã của Bank Rakyat Indonesia 2
2 Dựa theo Hardy et al (2002)
Trang 19Năm 1984, ngân hàng quốc doanh chuyên về phát triển nông nghiệp Bank Rakyat Indonesia (BRI) thành lập hệ thống Unit Desa (UD), tức là ngân hàng làng xã Tuy trực thuộc BRI, UD là đơn vị hạch toán độc lập có lãi, và toàn quyền quyết định chủ trương hoạt động kinh doanh.
Hệ thống UD dựa vào mạng lưới chân rết các đại lý tại các làng xã, hiểu biết rõ về địa phương và nắm thông tin về các đối tượng đi vay Các đại
lý này theo dõi hành động của người đi vay và thi hành các hợp đồng vay Ngoài ra, người đi vay phải được một nhân vật có uy tín tại địa phương (như cha đạo, thầy giáo, quan chức chính quyền) giới thiệu Phần lớn các khoản cho vay không cần thế chấp dựa trên giả định là uy tín tại địa phương đủ quan trọng để bảo đảm tránh vỡ nợ Hơn nữa, có nhiều chương trình khuyến khích người đi vay trả nợ đúng hạn, ví dụ ai trả nợ sớm thì sẽ được hoàn trả một phần lãi Ngoài các chương trình cho vay hiệu quả, UD cũng có nhiều dịch
vụ tài chính khác Nổi bật nhất là dịch vụ tiết kiệm linh hoạt, với giờ giấc hoạt động thuận tiện cho khách, môi trường thân thiện, cho rút tiền không hạn chế, và nhiều biện pháp khuyến mãi như tiền thưởng và rút thăm
Kết quả là hệ thống UD đã tự lực được về tài chính, và bắt đầu có lãi lớn chỉ vài năm sau khi ra đời Ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 1997-1998, UD vẫn đứng vững, tăng số tiền gởi tiết kiệm trong khi tỉ lệ
vỡ nợ hầu như không tăng Đến năm 1999, UD có 2,5 triệu khách vay tiền,
và khoảng 20 triệu tài khoản tiết kiệm Hiện nay, UD có mặt trên toàn quốc với khoảng 3.700 ngân hàng làng xã
- Quỹ hợp tác nông thôn ở Trung Quốc 3
Các quỹ hợp tác nông thôn (RCF) kiểu mới ở Trung Quốc ra đời để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế nông thôn trong giai đoạn cải tổ nông nghiệp mạnh mẽ vào giữa thập niên 1980 RCF có tôn chỉ phục vụ “tam nông”: nông
3 Dựa theo Du Zhixiong (1998).
Trang 20thôn, nông nghiệp và nông hộ Có ba nguyên nhân chính dẫn đến việc hình thành các RCF kiểu mới Thứ nhất, sau khi Trung Quốc bãi bỏ thể chế tập thể, chuyển từ chế độ công xã nhân dân sang hệ thống trách nhiệm nông hộ, các nguồn quỹ của RCF kiểu cũ nhanh chóng bị thất thoát (ước tính khoảng
20 tỉ nhân dân tệ) do vậy có nhu cầu cải tiến phương pháp quản lý quỹ Thứ hai, cũng với cải tổ, để phát triển và điều chỉnh các phương thức sản xuất nông nghiệp, và đáp ứng việc phát triển các doanh nghiệp hương trấn, nhu cầu vốn ở nông thôn tăng lên đáng kể trong khi các ngân hàng quốc doanh không
đủ cung cấp Thứ ba, từ lâu hệ thống tài chính nông thôn của Trung Quốc vẫn theo chế độ kế hoạch tập trung và độc quyền, không phục vụ được nhu cầu phát triển kinh tế hàng hóa nông nghiệp với những đặc thù như chu kỳ sản xuất dài ngày và mức lợi nhuận thấp Kể từ khi áp dụng thí điểm vào năm
1984, và đặc biệt là kể từ năm 1991, RCF đã phát triển nhanh về danh mục đầu tư và quy mô kinh doanh, và trở thành một hoạt động quan trọng của thị trường vốn nông thôn ở Trung Quốc
- Liên kết các định chế tài chính và nhóm tương trợ ở ấn Độ4
Trong thập niên 1980, Ngân hàng quốc gia về nông nghiệp và phát triển nông thôn của ấn Độ (NABARD) thông qua 150.000 tổ chức cho vay đã cấp tín dụng có trợ cấp trị giá 2 tỉ USD cho 49 triệu hộ gia đình nông thôn Chương trình này có tỉ lệ trả nợ rất thấp, không đến được với nhiều người nghèo trong khi lại làm lợi cho những người có thể vay tiền qua các kênh khác Phương pháp tín dụng trợ cấp đã làm giảm mức huy động tiết kiệm và tính tự lực của các định chế tài chính vi mô
Kể từ năm 1987, NABARD áp dụng các nguyên tắc: (1) hoạt động thông qua các định chế hiện có – ngân hàng, nhóm tương trợ (self-help group), và tổ chức phi chính phủ (NGO); (2) giao quyền tự chủ cho tổ
4 Dựa theo Seibel (1998).
Trang 21chức Các tổ chức tham gia được toàn quyền quyết định điều khoản cho vay; (3) tổ chức tham gia tự phát triển vững mạnh bằng cách dùng chênh lệch lãi suất để trang trải chi phí; và (4) tự lực nguồn vốn bằng cách huy động tiết kiệm địa phương Từ năm 1992 đến 1997, số lượng các nhóm tương trợ tham gia chương trình tăng từ 255 lên đến 8.598; trong đó 13% kết nối trực tiếp với ngân hàng không cần sự hỗ trợ của NGO, 45% kết nối với ngân hàng với sự hỗ trợ của NGO, và 42% kết nối với các NGO đóng vai trò tung gian tài chính.
Ngân hàng Dự trữ ấn Độ (RBI) cho phép các ngân hàng cho vay đối với các nhóm tương trợ không đăng ký, và cho phép các nhóm tương trợ nhận tiền gởi tiết kiệm từ các thành viên của nhóm RBI cũng đã bỏ quản lý điều tiết lãi suất Mức chênh lệch lãi suất của các ngân hàng và NGO tham gia đạt trung bình 5,5% / năm Các nhóm tương trợ tính lãi suất 2% / tháng cho người đi vay cuối cùng (so với lãi suất thông thường 10% / tháng của người cho vay lãi),
và tái đầu tư lợi nhuận lãi suất vào quỹ cho vay của nhóm, nhờ đó tăng đáng kể khả năng tiếp cận tín dụng từ chính nguồn tiền nội bộ của mình
Dù vẫn còn ở quy mô hạn chế, chương trình này đã thể hiện nhiều điểm thành công đáng phát huy là làm: tăng đáng kể lượng tiết kiệm ở nông thôn; giảm 40% chi phí giao dịch ngân hàng; giảm đáng kể chi phí giao dịch cho người đi vay; và đạt tỉ lệ trả nợ gần 100%
- Dự án Tín dụng Sản xuất cho Phụ nữ Nông thôn ở Nepal 5
Năm 1982, với kinh phí của nhiều tổ chức viện trợ như IFAD, USAID, UNICEF và CIDA, Dự án Tín dụng Sản xuất cho Phụ nữ Nông thôn (PCRW) triển khai tại 5 khu vực hành chính, và đến nay lan rộng ra 49 trong số 75 khu vực hành chính của Nepal Đối tượng chính là những phụ nữ nghèo ở nông
5 Dựa theo Tilakaratna (1996).
Trang 22thôn, đặc biệt là các gia đình do phụ nữ làm chủ hộ và không có đất, cũng như những người thuộc các tầng lớp thấp nhất trong xã hội Dự án này có ba hoạt động chính: tín dụng, đào tạo và phát triển cộng đồng Nhìn chung, mục tiêu của dự án là tăng thu nhập cho người nghèo, giúp cộng đồng tham gia vào quá trình phát triển, tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận với hệ thống tín dụng chính thức bằng một cơ cấu bền vững.
Dự án này không có nguồn tài chính để cho vay trực tiếp, mà dựa vào luật ngân hàng Nepal quy định cho vay đối với những khu vực được ưu tiên,
và PCRW nằm trong diện đó Dự án kết nối phụ nữ nghèo nông thôn với các ngân hàng thương mại và quốc doanh hiện có, cùng với nhiều cơ quan ban ngành khác nhau của chính phủ để hỗ trợ chuyên môn và cơ sở hạ tầng Những gia đình có thu nhập bình quân đầu người ít hơn 2410 rupee (khoảng
30 USD) mỗi năm sẽ được cấp tín dụng; đây là ngưỡng khá cao vì có tới 40% gia đình có thu nhập chưa tới 4 rupee / ngày (1400 rupee / năm)
Các cán bộ phát triển phụ nữ (PTPN) đóng vai trò quan trọng trong dự
án này làm cầu nối giữa các ngân hàng và cơ quan đầu ngành với phụ nữ Những cán bộ này đảm nhận truyền bá thông tin và tổ chức phụ nữ thành nhóm đội Khi một phụ nữ trong nhóm muốn vay tiền, cán bộ PTPN sẽ đi cùng với người đó đến ngân hàng địa phương và bảo đảm với ngân hàng về
“tín chấp của nhóm” Sau đó, cán bộ PTPN giúp người này liên hệ với cơ quan đầu ngành để được hỗ trợ chuyên môn Cán bộ PTPN chịu trách nhiệm giám sát việc trả nợ, xác định các hoạt động sản xuất phù hợp để tạo thu nhập
và đánh giá tính khả thi của chúng
Mỗi nhóm có từ 4 đến 6 người, thường là chung đẳng cấp xã hội, trưởng nhóm được bầu chọn, và nhóm họp thường kỳ hàng tháng với cán bộ PTPN Ban đầu, họ chỉ được vay số tiền nhỏ để giảm rủi ro Mức vay trung bình là 2015 rupee, phần lớn các khoản vay có thời hạn từ 18 tháng đến 3 năm
Trang 23với thời gian ân hạn 6 tháng Lãi suất được trợ cấp tùy theo thời hạn, mức vay, và mục đích vay Đa số (80%) là vay để chăn nuôi.
Nhiều nghiên cứu khác nhau cho thấy PCRW có tỉ lệ trả nợ khá cao, từ 78% đến 93% Một nghiên cứu so sánh về các dự án phát triển tín dụng ở Nepal cho thấy PCRW có tỉ lệ trả nợ thuộc loại cao nhất nhờ sự giám sát chặt chẽ của các cán bộ dự án Tuy nhiên, các nghiên cứu có kết luận khác nhau
về việc huy động tiết kiệm Một nghiên cứu phê phán dự án này vì chỉ khuyến khích tiết kiệm bằng cách khấu trừ bắt buộc 5% tiền vay Một nghiên cứu khác tán thành việc thiết lập những hộp tiết kiệm để phụ nữ dành dụm, sau đó cán bộ PTPN sẽ thay mặt họ thường xuyên đem tiền gởi vào một ngân hàng địa phương Nghiên cứu này ước tính 65% phụ nữ có tiết kiệm, và các cán bộ phát triển tín dụng được xem là động cơ chính; tuy nhiên không rõ lượng tiết kiệm là bao nhiêu
Bắt đầu hoạt động năm 1982, đến nay, PCRW đã mở rộng đáng kể, giúp cho hơn 2.300 nhóm vay được hơn 30 triệu rupee, và hỗ trợ hơn 8.000 đối tượng trực tiếp Tuy không có số liệu cụ thể về tác động đối với thu nhập
và mức sống của người tham gia chương trình, nhưng tất cả các nghiên cứu cho thấy phụ nữ hưởng nhiều lợi ích từ chương trình này Những lợi ích khác gồm: mua sắm được nhiều hàng hóa tiêu dùng mà trước đây phụ nữ không có khả năng chi trả, dành dụm được tiền phòng khi nguy cấp và cho hội hè, tăng khả năng biết chữ và biết tính toán, cho con cái học hành và không còn sợ khi giao dịch với các định chế tài chính chính thức và cơ quan nhà nước
1.2.2 Kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu tín dụng nông thôn ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam
Qua quá trình tìm hiểu và phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về nông thôn ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam, có thể rút ra một số kết luận sau:
Trang 24- Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà mỗi nước có hình thức tín dụng nông thôn khác nhau.
Mỗi quốc gia đều phải hoạch định cho mình chính sách về thu hút, tạo vốn và sử dụng hiệu quả vốn tín dụng phù hợp với điệu kiện và hoàn cảnh cụ thể, cũng như chiến lược kinh tế- xã hội đã lựa chọn Các chính sách về tạo nguồn tín dụng rất đa dạng, không có mô hình duy nhất đúng cho mỗi quốc gia Tuy nhiên, hầu hết các nước trên thế giới đều có hệ thống tín dụng dành riêng cho phát triển nông thôn và đều có chung một mục tiêu là cung cấp đủ vốn cho sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân, an toàn lương thực, rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn
- Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết hệ thống tín dụng, nông thôn
Ở tất cả các nước đều định ra các quyết sách điều tiết nền kinh tế quốc dân thông qua việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô trong đó
có chính sách tiền tệ- tín dụng Các chính sách tài sản nông nghiệp, nông thôn đều có tác động trực tiếp khuyến khích các nhà đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, đầu tư của Chính phủ theo các chương trình xoá đói giảm nghèo trong nông thôn
- Xác định huy động vốn trong nước là chính, tranh thủ nguồn vốn viện trợ của nước ngoài, ổn định và phát triển các tổ chức tín dụng nông thôn
Các tổ chức tín dụng phục vụ cho nông thôn là đơn vị kinh tế, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tự hạch toán, đảm bảo thu hồi vốn, tăng trưởng vốn, cho vay với lãi suất ưu đãi hơn là đầu tư vào các ngành khác, đồng thời huy động nguồn vốn dư thừa, tiết kiệm trong dân cư để làm nguồn vốn cho vay chủ yếu của các tổ chức tín dụng
- Tín dụng ưu đãi là cần thiết cho nông thôn ở các nước đang phát triển
Trang 25Ở những nước đang phát triển, đời sống nông dân khó khăn, chính trị xã hội ở nông thôn không ổn định Người nông dân thiếu vốn sản xuất,
tỷ lệ hộ nghèo đói cao, việc cung cấp tín dụng ưu đãi cho nông dân là nhu cầu bức thiết, các chính phủ cần tăng cường nguồn vốn cho chương trình tín dụng ưu đãi vì chỉ có nó mới giúp cho hộ nông dân nghèo vay được vốn để sản xuất Đó cũng là điều kiện để xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn
Trang 26B NỘI DUNGCHƯƠNG II: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN VỐN TÍN DỤNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn tín dụng
2.1.1 Tình hình chung của thị xã Hương Trà
Thị xã Hương Trà có vị trí nằm ở phần trung tâm của tỉnh Thừa Huế, giáp thành phố Huế, có diện tích 51.853,4 ha (518,53 km²) và dân số 118.534 người Thị xã nằm giữa sông Hương và sông Bồ, có miền núi, đồng bằng và vùng duyên hải Tình hình kinh tế- xã hội của Thị xã được xây dựng
Thiên-và phát triển khá mạnh Thiên-và toàn diện trên các lĩnh vực theo hướng CNH - HĐH và Đô thị hoá Trong đó có 7 phường nội thị thuộc thị xã Hương Trà gồm: Phường Tứ Hạ; Phường Hương Văn; Phường Hương Xuân Phường Hương Vân; Phường Hương Chữ; Phường Hương An; Phường Hương Hồ Ngoài ra có 9 xã ngoại thị thuộc thị xã Hương Trà, gồm: xã Hương Toàn, xã Hương Vinh, xã Hương Phong, xã Hải Dương, xã Hương Thọ, xã Bình Điền,
xã Bình Thành, xã Hương Bình và xã Hồng Tiến
Thị Xã nằm gần thành phố Huế là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa lớn, có hệ thống giao thông tương đối tốt và ngày càng được hoàn thiện Đây là một trong những lợi thế mà Thị xã đã tận dụng được Nằm cách trung tâm Thành phố không xa nên xã các yếu tố đó đã cho phép Thị xã mở rộng và tiếp cận thị trường khá thuận lợi
Thị xã lại nằm trên các trục đô thị Huế - Khu công nghiệp Hương Sơ – Khu công nghiệp Tứ Hạ do đó tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế thị xã Vì khu công nghiệp Hương Sơ là khu công nghiệp lớn nhất của thị xã
Trang 27nên đã phần nào giải quyết được công ăn việc làm cho người dân trong thị xã Hiện nay số hộ lao động phi nông nghiệp ở thị xã tăng lên cũng là vì họ đã tìm được việc làm ở khu công nghiệp Điều này đã giải quyết được lao động
dư thừa và nhàn rỗi trong xã
Bên cạnh đó, xuyên suốt thị xã có đường Quốc lộ 1A đi qua, đường sắt, đường tránh Huế…đã tạo điều kiện cho thị xã và các xã, phường trong thị xã giao lưu với thị trường Huế và các địa phương khác
2.1.2 Điều kiện tự nhiên của thị xã Hương Trà
Thị xã Hương Trà thuộc vùng sâu trũng, cách trung tâm thành phố Huế 7km về phía Đông Ranh giới của Thị xã được xác định:
Phía Đông giáp thành phố Huế, thị xã Hương Thủy và huyện Phú Vang
Phía Tây giáp huyện Phong Điền và huyện A Lưới
Phía Nam giáp thị xã Hương Thủy và huyện A Lưới
Phía Bắc giáp huyện Quảng Điền và Biển Đông
Thị xã Hương Trà luôn chịu ảnh hưởng chung của thời tiết khí hậu nhiệt gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt
- Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, mùa này thường hay có gió Lào
- Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, mùa này thường hay mưa bão lũ lụt
- Vụ Đông Xuân sản xuất nông nghiệp bắt đầu từ tháng 12 đến nữa tháng 5 năm sau
- Vụ Hè Thu sản xuất bắt đầu từ cuối tháng năm đến nữa tháng 8 (tránh
lũ lụt)
2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội của thị xã Hương Trà
Thị xã Hương Trà là một xã thuần nông, hộ nông nghiệp chiếm trên
70% tổng số hộ dân trong thị xã ( Nguồn: Giới thiệu về thị xã Hương Trà, Uỷ
ban Nhân dân) Vì thế kinh tế của thị xã chủ yếu là phát triển về mặt nông
nghiệp Năm 2013, trong điều kiện phát triển KT – XH còn nhiều khó khăn
Trang 28thách thức do tác động của suy giảm kinh tế, thời tiết có nhiều thay đổi bất thường, dịch bệnh ở người và ở gia súc diễn ra phức tạp khó lường làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế- xã hội, trong khi đó chi phí đầu tư lớn, giá thành sản phẩm thấp dẫn đến hậu quả kinh tế không cao.
Cơ sở hạ tầng là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu cho sự tồn tại và phát triển kinh tế cũng như đời sống sinh hoạt của nhân dân Do đó, trong những năm vừa qua Thị xã luôn chú trọng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng khá tốt, coi đó là nhiệm vụ, chiến lược lâu dài của nhân dân toàn thị xã
đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhất là các công trình xây dựng mới phục vụ cho giáo dục, y tế và sản xuất nông nghiệp
- Về giao thông: Thị xã có đường Quốc lộ 1A dài từ Tứ Hạ đến xã Hương Bình Hệ thống đường này đã được rải nhựa Riêng mạng lưới đường liên thôn cũng đã được bê tông hóa hoàn toàn 100% Điều này tạo sự thuận lợi cho việc giao thông đi lại và phát triển kinh tế của thị xã
- Về thủy lợi: Nước cung cấp cho ngành trồng trọt và nuôi trồng thủy sản trên toàn xã là nguồn nước từ con sông Bồ thuộc xã Hương Toàn Nhìn chung vấn đề nước tưới phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt ở đây đã được đảm bảo diễn ra liên tục
- Về điện, cơ khí và dịch vụ:
+ Điện: Để hoàn thành tốt mục tiêu “Điện, đường, trường, trạm” thị xã
đã thực hiện tốt việc điện khí hóa nông thôn nhằm phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Hiện nay thị xã đã có 100% số hộ dùng điện Tuy nhiên nguồn điện ở đây được sử dụng phục vụ sinh hoạt là chính còn phục vụ cho sản xuất chiếm tỷ lệ không đáng kể
+ Cơ khí: Toàn thị xã có 14 xe khách nội tỉnh, 47 xe cải tiến dùng để
chở hàng, 87 máy xe xát( Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội thị xã
Hương Trà năm 2013) Nhìn chung tình hình trang bị cơ khí của thị xã còn
Trang 29nghèo nàn nhưng cũng phần nào đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân.
+ Dịch vụ: Về thông tin liên lạc thì thị xã chỉ có một bưu điện trung tâm của thị xã được lắp đặt hệ thống mạng điện thoại còn hiện nay hầu như nhân dân trong thị xã đã trang bị điện thoại cố định và điện thoại di động cũng rất phổ biến
- Về trao đổi hàng hóa: Thị xã có chợ bán nằm ngay giữa trung tâm thị xã
là nơi mua bán trao đổi hàng hóa chủ yếu của nhân dân trong các xã với nhau
- Về giáo dục: Thị xã có 25 trường tiểu học và 16 trường trung học cơ
sở Trường được xây dựng kiên cố đảm bảo đủ bàn ghế, lớp học và khuôn viên trường thoáng mát cho học sinh Thị xã còn có 34 trường mẫu giáo để phục vụ nhu cầu học tập cho con em trong thị xã Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho con em trong thị xã,thị xã đã không ngừng tăng cường đầu tư xây dựng cơ
sơ vật chất, trang thiết bị dạy và học, đổi mới công tác quản lý giáo dục và phương pháp giảng dạy, chú trọng nâng cao chất lượng dạy và học
- Về y tế: Toàn thị xã có một trung tâm y tế nằm ngay giữa trung tâm thị xã nên rất thuận tiện cho việc đi lại và khám chữa bệnh cho người dân Hiện nay công trình trạm mới cũng đang được tiến hành xây dựng và sắp đến lúc hoàn thành Công trình trạm mới được xây dựng kiên cố và đầy đủ những trang thiết bị cần thiết phục vụ cho nhu cầu khám sức khỏe của người dân
- Về dân số kế hoạch hóa gia đình: Công tác truyền thông dân số, vận động lồng ghép chăm sóc sức khỏe sinh sản và KHHGĐ được chú trọng Tỷ
lệ phát triển dân số tự nhiên và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm Tuy nhiên tình trạng trọng nam khinh nữ của người dân vẫn còn xảy ra
- Về VHVN – TDTT: Công tác tuyên truyền phổ biến các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chủ trương, nhiệm vụ phát triển KT – XH trên địa bàn được duy trì thường xuyên Thực
Trang 30hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” Trong năm Ban văn hóa thông tin đã phối hợp với các ban ngành, đoàn thể tổ chức lễ hội đua ghe truyền thống Việc thực hiện quy ước làng văn hóa
và cơ quan văn hóa trong năm đã được thực hiện và duy trì giữ vững 7 phường, 2 cơ quan đạt chuẩn văn hóa, xây dựng khu dân cư không có tội phạm, tệ nạn xã hội, không vi phạm trật tự an toàn giao thông
2.1.4 Tình hình nhân khẩu của các hộ điều tra
Theo số liệu điều tra, số nhân khẩu bình quân của các hộ là 5 người/hộ,
và số lao động trung bình ở mỗi hộ >2 lao động Hộ có số nhân khẩu cao nhất
là 12 người và số lao động cao nhất trong những hộ điều tra là 8 lao động Theo kết quả điều tra, nhiều hộ gia đình bên cạnh nguồn lao động sẵn có trong gia đình thì khi vào mùa họ tiến hành thuê thêm người làm thêm phụ giúp việc đồng án như: làm cỏ, xới, cắt lúa, suốt,… Bên cạnh đó, hộ có số nhân khẩu thấp nhất là 2 người và số lượng lao động thấp nhất là 1 người Phần lớn những hộ này có ít người lao động thì một phần diện tích đất của họ
ít và nếu có nhiều diện tích đất thì họ sẽ thuê người làm thêm khi vào mùa vụ
Bảng 1: Nhân khẩu và lao động
ĐVT : người Trung bình Cao nhất Thấp nhất
(Nguồn: Số liệu điều tra thực tế của tôi năm 2013)
Qua bảng 1 ta thấy, tỷ lệ lao động bình quân của các hộ dân trong vùng điều tra khoảng 60% tổng số nhân khẩu của hộ, và đây là những lao động sẽ tạo nguồn thu nhập cơ bản cho các hộ dân và lực lượng lao động càng nhiều
Trang 31sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận được các nguồn vốn vay Mặc dù trong thời gian qua số người lao động rời bỏ ruộng vườn lên thành thị làm việc cho các nhà máy công nghiệp ngày càng đông song hiện nay lực lượng lao động tại địa phương vẫn còn đủ để đáp ứng nhu cầu lao động nông nghiệp trong huyện
Số người phụ thuộc bình quân của hộ điều tra > 2 người, chiếm 40% số nhân khẩu của nông hộ; số người phụ thuộc nhiều nhất ở những hộ được điều tra là 8 người Tỷ lệ người phụ thuộc cao có thể sẽ làm giảm khả năng tiếp cận nguồn vốn vay của nông hộ
(Nguồn:Số liệu điều tra thực tế của tôi năm 2013)
Tuổi của chủ hộ nằm trong khoảng từ trên 45 tuổi đến 60 tuổi chiếm 50% tổng số hộ được điều tra; chủ hộ có độ tuổi trên 60 tuổi chiếm 14,17%; các nhóm tuổi còn lại được trình bày qua bảng Qua điều tra thực tế cho thấy, phần lớn những hộ có độ tuổi trên 45 thì tài sản của hộ có giá trị cao hơn so với những chủ hộ trẻ tuổi vì những hộ lớn tuổi có thời gian tích luỹ tài sản nhiều hơn Và những hộ có giá trị tài sản cao sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp cận các khoản vay ở Ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác
để đáp ứng kịp thời nguồn vốn sản xuất Lao động ở nông thôn được đánh giá
có trình độ thấp, và trình độ học vấn của chủ hộ cao hay thấp sẽ làm hạn chế
Trang 32khả năng tiếp cận thông tin về các nguồn vốn vay, về kỹ thuật sản xuất hay khả năng tính toán để sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay
(Nguồn: Số liệu điều tra thực tế của tôi năm 2013)
Số liệu điều tra cho thấy, chủ hộ có trình độ học vấn ở cấp 1 chiếm tỷ lệ cao nhất (39,16%); trình độ của chủ hộ ở cấp 2 chiếm 34,17% và trình độ học vấn ở cấp 3 chiếm tỷ lệ 14,16% Bên cạnh đó, tỷ lệ chủ hộ mù chữ chiếm 12,5%
và đối với những hộ này sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc làm thủ tục để có thể tiếp cận được nguồn vốn vay từ Ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác
Nhìn chung các hộ dân tại 2 phường Hương Hồ và Hương An vẫn còn nghèo nên trình độ học vấn của họ vẫn còn thấp biểu thị qua việc chủ yếu chủ
hộ là có trình độ học vấn đến cấp 1 là chủ yếu Đây là một trong những trở ngại để người nông dân vươn lên làm giàu
Trang 33Năng lực của
Tư chất và đạo đức
Tình trạng sức khỏe
Thành thạo quy trình sản xuất
Quan hệ với các tổ chức đoàn thể Trình độ học vấn,kỹ thuật
Sự ủng hộ của gia đình Năng lực điều hành sản xuất
Tinh thần học hỏi, chuyên cần