1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần sinh thái học - sinh học 12, trung học phổ thông

88 514 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các kiến thức sinh học trong chương trình THPT được trình bày theo thứ tự các cấp độ tổ chức sống TCS, từ hệ nhỏ đến các hệ trung lên các hệ lớn: Tế bào TB → Cơ thể CT → Quần thể QT → Qu

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục 1

Danh mục bảng 3

Danh mục biểu đồ, hình 4

Danh mục sơ đồ 5

Danh mục viết tắt 6

PHỤ LỤC

Trang 2

DANH MỤC BẢNG

Trang 3

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

Trang 4

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay, nhân loại đang sống trong thế kỉ XXI, thế kỉ của đỉnh cao trí tuệ, với sự bùng nổ của thông tin khoa học, công nghệ Tri thức đã trở thành một tư liệu sản xuất quan trọng và đóng vai trò quyết định với sự thành công trong tăng trưởng

và phát triển kinh tế - xã hội Cùng với xu thế chung của toàn cầu, đất nước ta cũng tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa và mở rộng quan hệ quốc tế Do đó, nước

ta trong thời kì đổi mới phải hướng tới đào tạo những con người lao động có kiến thức, năng động, sáng tạo, với năng lực tư duy và hành động độc lập Để đạt được mục tiêu trên thì giáo dục đóng một vai trò rất quan trọng và đổi mới giáo dục là yêu cầu bức thiết Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học là khâu đột phá quyết định việc nâng cao chất lượng đào tạo theo yêu cầu thời đại

Tổ chức dạy học ôn tập là một vấn đề không phải mới, nhưng cũng không hề

cũ Bài ôn tập đóng một vai trò hết sức quan trọng, bởi giúp học sinh có một cái nhìn khái quát, thống nhất có tính hệ thống những kiến thức đã học, giúp học sinh

có điều kiện xâu chuỗi kiến thức, mở rộng và khắc sâu tri thức, nhờ đó mà học sinh nắm vững hệ thống kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, phát triển năng lực nhận thức và năng lực tham gia các hoạt động thực tiễn Song để có được một tiết ôn tập tốt, hiệu quả, ngày càng đòi hỏi sự đầu tư nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo cao hơn nữa

Chương trình sinh học ở Trung học Phổ thông (THPT) được xây dựng theo quan điểm của sinh học hiện đại, đó là dựa trên lý thuyết về các cấp độ tổ chức của thế giới sống Các kiến thức sinh học trong chương trình THPT được trình bày theo thứ tự các cấp độ tổ chức sống (TCS), từ hệ nhỏ đến các hệ trung lên các hệ lớn: Tế bào (TB) → Cơ thể (CT) → Quần thể (QT) → Quần xã (QX) → Hệ sinh thái (HST)

→ Sinh quyển (SQ) Vì vậy, kiến thức khái niệm (KN) về các cấp độ TCS chính là các đơn vị cấu trúc cơ bản trong chương trình sinh học ở bậc THPT, là kiến thức cốt lõi, nền tảng để khâu nối các phân môn sinh học trong chương trình tạo nên một hệ thống kiến thức chặt chẽ về thế giới sống

Phần Sinh thái học đề cập đến cấp độ tổ chức trên cơ thể, với nhiệm vụ hệ thống hoá kiến thức về mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường sống, giữa sinh

Trang 7

vật với sinh vật, từ cấp độ cá thể đến cấp độ QT - QX - SQ Những dấu hiệu bản chất của hệ thống sống thể hiện đặc trưng ở mỗi cấp độ tổ chức trên cơ thể được nghiên cứu một cách toàn diện ở phần này, thể hiện rõ nét ở chương II “Quần thể sinh vật”, chương III “Quần xã sinh vật” và chương IV “Hệ sinh thái, sinh quyển và sinh thái học với việc quản lý nguồn lợi thiên nhiên” Mục tiêu của chương trình là khái quát được những dấu hiệu bản chất của tổ chức sống ở cấp độ trên cơ thể Tuy nhiên, các bài ôn tập của phần này được thiết kế theo hướng ôn tập chi tiết các kiến thức chính của các chương mà chưa khái quát, hình thành được các dấu hiệu bản chất của tổ chức sống ở các cấp độ trên cơ thể Nhiệm vụ của người GV là phải vận dụng tiếp cận hệ thống để gia công sư phạm thiết kế các bài ôn tập chương nhằm hình thành khái niệm sinh học đại cương về các cấp độ trên cơ thể với các dấu hiệu bản chất: Đặc điểm cấu trúc, đặc điểm chức năng là hệ mở luôn trao đổi vật chất và năng lượng, tự điều chỉnh, hệ luôn vận động phát triển; đáp ứng được mục tiêu của chương trình Trong thực tế dạy học, thực hiện nhiệm vụ này là tương đối khó khăn,

có nhiều trở ngại đối với GV (GV) và học sinh (HS)

Xuất phát từ những lý do trên, với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng

dạy học, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Nâng cao chất lượng dạy học bài ôn

tập chương phần Sinh thái học - Sinh học 12, trung học phổ thông”.

2 Mục đích nghiên cứu

Thiết kế và sử dụng các bài ôn tập chương phần Sinh thái học - Sinh học 12

nhằm nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập

3 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng tiếp cận hệ thống để thiết kế các bài ôn tập chương theo hướng

hệ thống hóa các dấu hiệu bản chất của tổ chức sống ở cấp độ quần thể, quần xã, sinh quyển và tổ chức hợp lý quá trình ôn tập sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học phần Sinh thái học, đáp ứng được mục tiêu của chương trình

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của bài ôn tập chương

4.2 Điều tra thực trạng việc sử dụng bài ôn tập chương trong dạy học sinh học 12, THPT

Trang 8

4.3 Phân tích mục tiêu, cấu trúc nội dung phần Sinh thái học làm cơ sở cho việc thiết kế bài ôn tập chương.

4.4 Vận dụng tiếp cận hệ thống để thiết kế bài ôn tập chương cho phần Sinh thái học sinh học lớp 12 THPT

4.5 Đề xuất hướng sử dụng bài ôn tập chương nhằm nâng cao chất lượng bài

ôn tập chương

4.6 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các bài ôn tập chương đã đề xuất

5 Đối tượng nghiên cứu

Các bài ôn tập chương phần Sinh thái học sinh học lớp 12

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu các tài liệu, giáo trình, sách báo, tạp chí, các website có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu các tài liệu về tiếp cận hệ thống làm cơ sở để vận dụng trong phân tích các dấu hiệu bản chất về các cấp độ TCS trên CT

- Nghiên cứu sách giáo khoa Sinh học 12, các sách chuyên ngành về Sinh thái học và các tài liệu về lý luận dạy học, phương pháp dạy học, tài liệu về bài ôn tập chương trong dạy học

6.2 Phương pháp điều tra và quan sát sư phạm

- Điều tra tình hình tổ chức ôn tập, củng cố trong dạy học Sinh học 12 của

GV bằng phiếu trưng cầu ý kiến

- Điều tra thực trạng việc ôn tập của học sinh bằng phiếu điều tra

- Trực tiếp dự giờ thăm lớp

- Phỏng vấn GV ở trường THPT dạy sinh học 12

6.3 Phương pháp chuyên gia

Gặp gỡ, trao đổi với các thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến đề tài

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Sử dụng phương pháp thực nghiệm chéo

+ Lớp thực nghiệm: tổ chức dạy các bài ôn tập, củng cố do chúng tôi thiết kế

Trang 9

+ Lớp đối chứng: tổ chức ôn tập theo phương pháp truyền thống.

- Các lớp thực nghiệm và đối chứng phải có kết quả học tập tương đương nhau,

do cùng một GV giảng dạy, đồng đều về nội dung kiến thức, điều kiện dạy học

6.5 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

- Xử lý số liệu thực nghiệm bằng thống kê toán học: Sử dụng một số công thức toán học để xử lí các kết quả điều tra và thực nghiệm sư phạm

i i 2

= ∑

n

X S

- Độ lệch chuẩn S (đo mức độ phân tán của số liệu quanh giá trị trung bình):

i

n X Xi n

%

X

S

CV (%) phản ánh mức độ dao động của các kết quả thu được:

CV trong khoảng 0 ÷ 10% : dao động nhỏ

CV trong khoảng 10 ÷ 30%: dao động trung bình

CV trong khoảng 30 ÷ 100%: dao động lớn

Nếu mức độ dao động nhỏ và trung bình thì kết quả thu được đáng tin cậy Nếu mức độ dao động lớn thì kết quả thu được ít tin cậy

- Đại lượng kiểm định td (kiểm định độ đáng tin cậy sai khác giữa 2 giá trị trung bình):

Trang 10

2 1

2 1 d

2 1

n n

n n S

X X

)1(

−+

−+

=

2 1

2 2 2

2 1 1

Sn1)S

- (nS

Trong đó:

Xi : Giá trị của từng điểm số (theo thang điểm 10)

ni : Số bài có điểm số Xi

2 ,

X

: Điểm số trung bình của 2 phương án TN và ĐC

n1, n2 : Số bài trong mỗi phương án

Sau khi tính được td , ta so sánh với giá trị tα được tra trong bảng phân phối Student với mức ý nghĩa α = 0,05 và bậc tự do f = n1 + n2 – 2

- Nếu td ≥ tα : Sự khác nhau giữa X1 vàX2 là có ý nghĩa thống kê

- Nếu td < tα : Sự khác nhau giữa X1 vàX2 là không có ý nghĩa thống kê

7 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu thiết kế và tổ chức bài ôn tập chương phần Sinh thái học - Sinh học 12 Nâng cao, THPT

8 Những đóng góp mới của đề tài

- Vận dụng tiếp cận hệ thống thiết kế các bài ôn tập chương để hình thành

các dấu hiệu bản chất của tổ chức sống ở các cấp độ trên cơ thể, phần Sinh thái học Sinh học lớp 12, THPT

- Đề xuất một số biện pháp tổ chức các bài ôn tập chương nhằm nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần Sinh thái học

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Thiết kế và sử dụng các bài ôn tập chương trong dạy học phần Sinh thái học - Sinh học 12, THPT

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 11

10 Lược sử vấn đề

Trong hoạt động dạy học, ôn tập có tác dụng rất quan trọng trong việc hoàn thiện kiến thức cho học sinh Ôn tập là dịp để củng cố những kiến thức đã học, hệ thống hóa lại kiến thức, nâng cao nhận thức, nâng cao trình độ hiểu biết của học sinh

Vì vậy, ôn tập là một khâu không thể tách rời của quá trình dạy học, những tri thức qua

ôn tập sẽ tiếp nhận một cách vững chắc, là cơ sở cho học sinh tiếp thu tri thức mới

10.1 Trên thế giới

Khi nghiên cứu vấn đề này, J.Mekeachia cho rằng, cần phải dạy cho học sinh chiến lược học tập, trong đó chiến lược ôn tập được coi là chiến lược quan trọng đảm bảo cho sự thành công trong học tập của học sinh Chiến lược ôn tập được thực hiện bằng hình thức: Lặp đi lặp lại nhiều lần, tóm tắt tài liệu, vẽ sơ đồ minh họa nội dung học tập

Jean – Marc Denomme và Madeleine Roy: “Người học khai thác cái mà anh

ta đã biết, với sự giúp đỡ của người dạy để nắm bắt và thu lượm tri thức mới”

Geoffrey Fetty, khi đề cập đến cách dạy ngày nay, tác giả cho rằng một trong các biện pháp dạy học tích cực là dạy cho học sinh cách nhớ, qua đó rèn luyện cho học sinh các kỹ năng ôn tập Theo tác giả, GV nên sử dụng một số hình thức ôn tập như: Tóm tắt bài học, đưa ra hệ thống câu hỏi ôn tập, kiểm tra ôn tập, làm việc theo nhóm, chơi trò chơi…

Theo Rober Fishes, vẽ sơ đồ nhận thức là một công cụ đắc lực trợ giúp trí nhớ, hiểu biết và phát triển khái niệm, bởi vì tất cả những gì cần phải nhớ chỉ là những ý tưởng chốt Vẽ sơ đồ nhận thức không chỉ là cho học sinh tiếp nhận thông tin mà còn cần phải suy nghĩ về thông tin ấy, giải thích nó và kết nối nó với cách cấu tạo mới tạo nên những hiểu biết về chúng

Ngoài ra, các tác giả khác như N.M Iacôlép, N.M Veczilin cũng cho rằng việc ôn tập là một trong những việc học tập cơ bản, nếu thiếu nó người học khó đạt được thành công trong học tập Cần phải có một hệ thống ôn tập để phát triển những khái niệm cơ bản

10.2 Ở Việt Nam

Vấn đề nghiên cứu, đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả bài ôn tập hoàn thiện tri thức đã được nhiều tác giả quan tâm: Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Quang Vinh, Trần Doãn Bách, Trần Bá Hoành, Đinh Quang Báo Qua nghiên cứu, các tác

Trang 12

giả đã chỉ ra được vai trò, ý nghĩa của việc ôn tập, các loại hình tổ chức ôn tập, những yêu cầu để tổ chức bài ôn tập có hiệu quả…

Gần đây, để đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng tích cực, các nghiên cứu ứng dụng tổ chức bài ôn tập tổng kết một lần nữa được chú ý Tiêu biểu là các công trình của Hoàng Thị Lợi (2006) : “Biện pháp rèn luyện kỹ năng ôn tập cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú” đề cập đến các biện pháp rèn luyện kĩ năng ôn tập như giải bài tập, xây dựng sơ đồ, xây dựng dàn ý tóm tắt, trả lời câu hỏi, lập bảng biểu, thảo luận nhóm; Đào Nguyên (2004) với nghiên cứu “Sử dụng phương pháp Graph kết hợp một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ ôn tập tổng kết hóa học 11 THPT ”, trong đó nhấn mạnh việc GV cần phải biết phối hợp các biện pháp dạy học tích cực một cách hợp lí để góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bài ôn tập tổng kết

Ngoài ra, các công trình nghiên cứu khác như Nguyễn Tin (2007): “Tổ chức các bài tổng kết chương trong dạy học sinh học 10 THPT”, Lê Hồng Điệp (2007):

“Vận dụng quan điểm hệ thống trong thiết kế và dạy học ôn tập chương phần sinh học tế bào lớp 10 THPT”, Nguyễn Thị Thùy Liên (2009): “Tổ chức dạy học bài tổng kết chương quán triệt quan điểm hệ thống để hình thành khái niệm cấp độ cơ thể trong sinh học 11 nâng cao”, Lê Như Thảo (2009): “Tổ chức hoạt động dạy học các bài ôn tập văn học sử ở trường THPT” Các nghiên cứu đều cho rằng, ôn tập có vai trò hết sức quan trọng đối với việc cũng cố, mở rộng, đào sâu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo Đồng thời qua đó mà điều chỉnh sửa chữa những thiếu sót trong học tập của người học

Tuy nhiên, hầu hết các tác giả mới chỉ dừng ở mức đưa ra khái niệm, chỉ ra các loại ôn tập và một số yêu cầu để hướng dẫn học sinh ôn tập có hiệu quả, còn việc tổ chức các bài tổng kết chương cho những nội dung cụ thể chỉ mới được tác giả Nguyễn Tin nghiên cứu

Trang 13

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Tiếp cận hệ thống

1.1.1.1 Khái niệm “hệ thống”

Khái niệm “hệ thống” là khái niệm (KN) cơ bản nhất của lý thuyết hệ thống

Có nhiều định nghĩa khác nhau về KN “hệ thống” Theo Ludwig von Bertalanffy (1956), “Hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng sự tương tác giữa các tổ phần tạo nên nó” KN “hệ thống” được V.P Cudơmin xác định như sau “hệ thống là một tập hợp những yếu tố liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ổn định và tính chỉnh thể, có những thuộc tính và những quy luật tổng hợp” Theo Hoàng Tụy, “Hệ thống là một tổng thể gồm nhiều yếu tố quan hệ và tương tác với nhau và với môi trường xung quanh một cách phức tạp" [5], [24], [33]

Như vậy, có thể định nghĩa: Hệ thống là một tập hợp các yếu tố, giữa chúng có

sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau và với môi trường bên ngoài theo những quy luật nhất định tạo nên một chỉnh thể với những thuộc tính tổng hợp, đặc trưng cho hệ thống

1.1.1.2 Tiếp cận hệ thống

Tiếp cận (approach) là cách đến gần một đối tượng để nghiên cứu, là hệ phương pháp để nghiên cứu một đối tượng Theo quan điểm của khoa học hiện đại thì bất kỳ một khách thể nào trong thế giới hiện thực cũng là một hệ thống (HT) Việc nghiên cứu khách thể với tính cách là một hệ thống đã dẫn đến sự hình thành

một hệ phương pháp mới gọi là tiếp cận HT Tiếp cận HT nghĩa là phải phân tích

cấu trúc và tổng hợp hệ thống một cách khoa học, phù hợp với quy luật tự nhiên Sự thống nhất giữa hai phương pháp phân tích cấu trúc và tổng hợp hệ thống là bản chất của phương pháp tiếp cận HT, trong đó điều cơ bản nhất là phải phân tích đối tượng nghiên cứu thành các yếu tố cấu trúc và tổng hợp các yếu tố đó lại trong một chỉnh thể trọn vẹn theo những quy luật của tự nhiên Phương pháp phân tích cấu trúc là thao tác tư duy đi từ cái toàn thể đến cái bộ phận thông qua xác định thành phần và cấu tạo của hệ thống, phương pháp tổng hợp hệ thống là thao tác tư duy đi

từ cái bộ phận đến cái toàn thể thông qua việc xác định cấu trúc và hệ thống Phân tích cấu trúc và tổng hợp hệ thống luôn gắn liền với nhau Tức là các yếu tố của hệ

Trang 14

thống luôn được xem xét trong một chỉnh thể thống nhất, thống nhất giữa các yếu tố trong hệ thống, thống nhất giữa các yếu tố của hệ thống với môi trường Hay nói cách khác, tiếp cận HT là sự thống nhất của tư duy phân tích và tổng hợp, đem lại cách nhận thức biện chứng về mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể Bản chất của tiếp cận HT không chỉ là tổng hợp mà còn là phân tích, hơn nữa là phân tích sâu Phân tích thuần tuý thì bị khuyết tật thấy cây mà không thấy rừng, tổng hợp thuần tuý thì bị khuyết tật là thấy rừng mà quên cây Chỉ có tiếp cận CT-HT mới vừa khắc phục được khuyết tật của phân tích thuần tuý và của tổng hợp thuần tuý, vừa thống nhất được hạt nhân của các cách tiếp cận khác nhau [5], [9], [10], [20], [24].

Để hiểu rõ bản chất của tiếp cận HT, chúng tôi phân tích những KN liên quan trực tiếp với nó, đó là:

- Hệ toàn vẹn là tập hợp những bộ phận gắn bó hữu cơ với nhau, luôn tương tác với nhau theo một quy luật riêng tạo thành một chỉnh thể thống nhất, nhờ đó làm nảy sinh một chất lượng mới mà vốn không chứa đựng trong các bộ phận cấu thành Chất lượng mới của hệ được gọi là tính toàn vẹn (tính toàn thể hay tính hợp trội, nổi trội)

- Cấu trúc của hệ là cách thức tương tác giữa các bộ phận cấu thành nên hệ thống và nó xác định đặc trưng về chất của hệ với tính cách là một chỉnh thể Cấu trúc của hệ quy định chất lượng của hệ

- Chức năng của hệ là phạm trù thể hiện hoạt động của hệ, nhờ đó đảm bảo cho sự tồn tại và tiếp tục phát triển của hệ thống; là phản ứng của hệ đối với môi trường, là khả năng của hệ thống trong việc biến đầu vào thành đầu ra Nếu rối loạn chức năng thì đó là dấu hiệu hệ thống bị trục trặc và là nguy cơ tan rã hệ thống

- Động lực phát triển của hệ thống: Sự tương tác trong hệ thống, giữa hệ thống với môi trường tạo cho hệ thống có khả năng tự thân phát triển Nguồn gốc biến đổi của hệ thống nằm ở bản thân hệ thống, mà trước hết là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập bên trong hệ thống [33]

Như vậy, tiếp cận HT là cách thức xem xét đối tượng nghiên cứu như một hệ toàn vẹn, có cấu trúc xác định và tự thân vận động, phát triển nhờ sự tương tác theo quy luật riêng của các bộ phận cấu thành nên hệ; chính nhờ sự tương tác này

đã phát sinh ra chất lượng mới, chất lượng toàn vẹn của hệ Tiếp cận HT thuộc loại

Trang 15

phương pháp triết học, tức là phương pháp chung nhất có thể vận dụng vào mọi lĩnh vực của nhận thức và thực tiễn

1.1.1.3 Khái niệm hệ thống sống

Thế giới sống là khác với hệ thống vô sinh ở những đặc điểm chủ yếu là tính

tổ chức cao, trao đổi chất, cảm ứng, sinh trưởng, phát triển và sinh sản Như vậy, có thể định nghĩa: Hệ thống sống là hệ mở, tự điều chỉnh, cân bằng động bảo đảm thích ứng với môi trường và luôn tiến hoá

Hệ thống sống được tổ chức theo nguyên tắc thứ bậc lệ thuộc, bao gồm các cấp độ tổ chức chính: TB → CT → QT → QX → SQ Mỗi hệ lớn gồm những hệ nhỏ, mỗi hệ nhỏ lại gồm những hệ nhỏ hơn Giữa các hệ nhỏ với nhau, giữa các hệ nhỏ với hệ lớn, cũng như giữa các hệ lớn với môi trường đều có những mối quan hệ phức tạp, tạo nên những đặc trưng của mỗi cấp độ tổ chức Như vậy, giới hữu cơ như những hệ thống có cấu trúc, gồm những thành phần tương tác với nhau và với môi trường thực hiện các chức năng sống, tạo nên khả năng tự thân vận động, phát triển của hệ thống

1.1.1.4 Đặc điểm chung của hệ thống sống

Các hệ thống sống ở các cấp độ tổ chức có những đặc điểm chung sau:

1 Hệ thống sống là hệ thống có tổ chức theo cấp độ thứ bậc, TCS cấp dưới làm nền tảng xây dựng nên TCS cấp trên Mỗi một cấp độ TCS vừa là hệ thống của các yếu tố có cấp độ hẹp hơn, đồng thời vừa là yếu tố của một hệ thống khác có cấp

độ rộng lớn hơn Mỗi cấp độ TCS, ngoài những đặc điểm riêng của mình, còn bao hàm các đặc điểm của cấp tổ chức thấp hơn và chịu sự điều khiển của cấp tổ chức cao hơn Cho nên, các cấp độ tổ chức của thế giới sống mang tính thứ bậc lệ thuộc hai chiều [33]

Ví dụ: QT có khả năng tự điều chỉnh, duy trì trạng thái cân bằng của mình bằng cách điều khiển trạng thái sinh lý của các cá thể trong QT Chẳng hạn, trong hoàn cảnh nguồn sống giảm, ở QT xuất hiện tín hiệu báo động Tín hiệu đó sẽ dẫn đến những thay đổi tương ứng về trạng thái sinh lý, tập tính của tất cả các thành viên trong QT, huy động mọi khả năng sinh học và sinh thái học, tự điều hoà, sao cho cân bằng với nguồn sống mới Ngoài ra, khả năng điều chỉnh của QT còn phụ thuộc vào các QT khác trong QX mà QT là một bộ phận cấu thành Vì vậy, khi

Trang 16

nghiên cứu, nếu cô lập QT khỏi hệ thống QX hay tách rời bộ phận ra khỏi hệ thống (cá thể với QT) thì không đủ cơ sở để hiểu đúng bản chất của QT.

2 Mỗi một cấp độ tổ chức của hệ thống sống là tập hợp gồm các bộ phận cấu thành, giữa chúng có sự liên hệ tác động qua lại với nhau và với môi trường một cách có tổ chức và trật tự, tạo nên tính chỉnh thể của hệ với chất lượng mới, chất lượng tổng hợp mà vốn không chứa đựng trong các bộ phận cấu thành

Ví dụ, khi các phân tử hữu cơ như prôtêin, axit nuclêic, lipit và cacbohiđrat tương tác với nhau tạo nên cấu trúc TB thì TB có được đặc điểm của sự sống như khả năng trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển, sinh sản và cảm ứng mà các phân

tử hữu cơ riêng biệt không có được

3 Hệ thống sống là hệ cấu trúc - chức năng Ở mọi cấp độ tổ chức của thế giới sống, cấu trúc và chức năng luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Cấu trúc của hệ thống được hình thành trên cơ sở tương tác của các bộ phận cấu thành, đảm bảo cho hệ thống thực hiện chức năng Sự liên hệ mật thiết giữa cấu trúc và chức năng có nguồn gốc từ chọn lọc tự nhiên, cho phép mỗi cấp độ TCS tiến hành các chức năng chuyên biệt trong một môi trường, nhờ đó mà tồn tại và phát triển

Ví dụ: Cấu trúc màng xenlulôzơ, hệ không bào phát triển ở TB thực vật là có liên quan đến đặc tính của thực vật sống tự dưỡng quang hợp; sống cố định, thân cành cứng chắc để vươn cao, toả rộng lấy ánh sáng, nước là yếu tố sống còn của chúng Cấu trúc dinh dưỡng của QX thông qua chuỗi và lưới thức ăn thể hiện hoạt động chức năng trao đổi chất và năng lượng, đặc biệt là chức năng tự điều chỉnh,

duy trì trạng thái cân bằng của TCS QX

4 Mọi cấp độ TCS từ thấp đến cao của thế giới sống đều là những hệ mở, nghĩa là có sự trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin với môi trường, nhờ đó mà tồn tại và phát triển

Ví dụ: Chu trình sinh địa hoá trong HST là biểu hiện của quá trình trao đổi chất và năng lượng giữa QX với sinh cảnh Mặt khác, “sống là quá trình tự điều chỉnh, thích nghi, tồn tại và phát triển ở các mức độ tổ chức khác nhau, từ TB đến SQ” Mọi cấp độ TCS từ thấp đến cao của thế giới sống đều có các cơ chế tự điều chỉnh đảm bảo duy trì và điều hoà sự cân bằng động của hệ thống Ví dụ: nồng độ

Trang 17

các chất trong CT người luôn được duy trì ở một mức độ nhất định, khi xảy ra mất cân bằng, các cơ chế điều hoà thần kinh và thể dịch hoạt động nhờ đó duy trì trạng thái ổn định Các cá thể trong QT, các QT trong QX, các QX trong SQ không chỉ có quan hệ với nhau mà còn cùng chịu tác động của ngoại cảnh (kể cả tác động của con người); mà sự tác động của ngoại cảnh lại rất không đồng đều lên mọi thành viên của QT, của QX nên sự cân bằng mà ta quan sát được trong tự nhiên tại một thời điểm luôn luôn có cơ hội bị phá vỡ Và các hệ sống với khả năng tự điều chỉnh lại thiết lập một trạng thái cân bằng mới Cho nên, hệ sống cân bằng trong vận động, vận động là bản chất, là phổ biến, cân bằng là tạm thời [33].

5 Mọi cấp độ TCS đều có giới hạn sinh thái nhất định Khả năng thích ứng, khả năng chịu đựng của các TCS là có hạn Trong một giới hạn nào đó, khi chịu một tác động từ bên ngoài, hệ sẽ phản ứng lại một cách thích nghi Nhưng nếu tác động quá lớn, vượt sức chịu đựng của hệ, hệ không tự điều chỉnh được và cuối cùng bị suy thoái rồi bị hủy diệt

6 Hệ sống luôn vận động phát triển Động lực chủ yếu quyết định sự tự thân vận động phát triển của hệ thống nằm ở bên trong hệ sống, đó chính là động lực bên trong Động lực này được hiểu là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập vốn có trong cùng một kết cấu của TCS Động lực bên ngoài là sự tác động qua lại giữa TCS với môi trường, là điều kiện cho sự phát triển

Tóm lại, tiếp cận HT khi nghiên cứu các cấp độ TCS là cách thức xem xét mỗi cấp độ TCS như là một hệ thống toàn vẹn, được tạo thành do sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành với nhau và với môi trường, tạo nên cấu trúc xác định để thực hiện các chức năng sống của hệ như trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường, đặc biệt là khả năng tự điều chỉnh duy trì trạng thái cân bằng động nhờ đó mà tồn tại và phát triển

Như vậy, tiếp cận HT chính là phương pháp luận để nghiên cứu quá trình hình thành KN về các cấp độ TC của hệ sống trong quá trình dạy học Từ đó, định hướng cho việc tổ chức thực hiện các khâu của quá trình dạy và học nói chung và trong khâu củng cố hoàn thiện kiến thức nói riêng

Trang 18

1.1.2 Bài lên lớp

1.1.2.1 Khái niệm bài lên lớp

Bài lên lớp là hình thức tổ chức cơ bản của quá trình dạy học, được diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định (tiết học) tại một địa điểm xác định với một số lượng học sinh nhất định, có trình độ phát triển cơ bản đồng đều [2]

Bài lên lớp là đơn vị cấu trúc nguyên tố cơ bản và trọn vẹn của quá trình dạy học, hạn chế về mặt thời gian Bài học là một hệ toàn vẹn, là một quá trình dạy học nguyên tố cơ bản và toàn vẹn Đây là quan điểm cơ bản chủ đạo để tiếp cận sâu cấu trúc của bài học [27]

Bài lên lớp gồm một dãy trọn vẹn những tuyến hành động có trình tự, đó là: gia công đề tài trực tiếp của bài học, ôn tập có hệ thống, củng cố những tri thức và

kĩ năng mà học sinh đã lĩnh hội chưa được vững ở các bài học trước, tiến trình tích luỹ tài liệu bằng từ ngữ, liên hệ với các bộ phận tiếp cận, cuối cùng là cả một loạt những tuyến nhỏ hơn trong đó có kỹ xảo riêng biệt của học sinh được rèn luyện một cách có trình tự [18]

1.1.2.2 Các kiểu bài lên lớp

Trong lý luận dạy học, có nhiều cách phân loại bài lên lớp dựa theo các quan điểm khác nhau: phân loại dựa vào đặc điểm của nội dung tài liệu giáo khoa, theo cấu trúc, theo mục đích của lí luận dạy học và theo nguồn kiến thức

Theo GS Đinh Quang Báo, kiểu bài lên lớp được phân theo mục đích lý luận dạy học, còn dạng bài lên lớp được xác định bằng nguồn kiến thức hoặc bằng mức

độ hoạt động nhận thức của học sinh thì bài lên lớp được chia thành 3 kiểu:

* Kiểu 1: Bài lên lớp nghiên cứu tài liệu mới

* Kiểu 2: Bài lên lớp hoàn thiện tri thức, kĩ năng, kĩ xảo

* Kiểu 3: Bài lên lớp kiểm tra và đánh giá [2]

Bài ôn tập thuộc kiểu bài hoàn thiện tri thức, kĩ năng, kĩ xảo

1.1.2.3 Bài lên lớp hoàn thiện tri thức, kĩ năng, kĩ xảo

* Mục đích yêu cầu

- Hiểu sâu sắc những kiến thức đã học; rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thông qua các bài ôn tập

Trang 19

- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự lực ứng dụng một cách phức hợp kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và biết chuyển tải chúng vào những tình huống mới.

- Đưa kiến thức đã lĩnh hội vào một hệ thống nhất, duy nhất và lĩnh hội chính

hệ thống đó Đây là đưa cái bộ phận vào cái toàn vẹn [27]

* Chức năng của bài lên lớp hoàn thiện tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.

Bài lên lớp hoàn thiện tri thức giúp học sinh củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, tạo khả năng cho GV sửa chữa những sai lầm lệch lạc trong tri thức của học sinh, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát huy tính tích cực độc lập tư duy cũng như phát triển năng lực nhận thức, chú ý cho học sinh Ngoài ra còn giúp học sinh mở rộng đào sâu, khái quát hoá, hệ thống hoá tri thức đã học, làm vững chắc những kỹ năng,

kỹ xảo đã được hình thành

Bài lên lớp hoàn thiện tri thức là một quá trình giúp học sinh xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, bổ sung và chỉnh lý thông tin, tổ chức lại thông tin, vận dụng thông tin đã lĩnh hội qua đó củng cố, mở rộng, đào sâu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đó được lĩnh hội, phát triển trí nhớ, tư duy của học sinh Thông qua bài lên lớp hoàn thiện tri thức, HS ôn tập lại kiến thức Ôn tập là quá trình người học xác nhận lại thông tin, bổ sung và chỉnh lý thông tin, tổ chức thông tin, vận dụng thông tin đã lĩnh hội; qua đó mà củng cố, mở rộng, đào sâu tri thức, kỹ năng kỹ xảo đã được lĩnh hội,phát triển trí nhớ, tư duy của HS Ôn tập có thể thực hiện dưới nhiều hình thức nhưng chủ yếu là ở hai hình thức sau:

- Ôn tập trên lớp: đây là hình thức được thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV, khi GV trình bày tài liệu mới, nếu việc tiếp thu kiến thức mới dựa trên

cơ sở của những kiến thức đã được tiếp thu Cũng có khi việc ôn tập được thực hiện ngay sau khi GV trình bày tài liệu mới, nhằm củng cố kiến thức HS vừa được lĩnh hội, chốt lại những kiến thức cơ bản, cốt lõi của bài học Hình thức ôn tập này có thể được tiến hành bằng cách đưa ra câu hỏi để HS trả lời hoặc làm bài tập ôn tập có tính hệ thống hóa, tổng kết những kiến thức cơ bản của bài học, chương học

- Ôn tập ngoài giờ lên lớp: Hình thức này thường được diễn ra ngay sau khi nghe giảng, HS tự ôn tập dưới sự hướng dẫn gián tiếp của GV thông qua hệ thống câu hỏi và các bài tập mang tính định hướng HS thực hiện việc ôn tập của mình bằng cách đọc lại bài học hoặc bằng cách tái hiện lại nội dung bài học như cấu trúc

Trang 20

các phần, các mục, nội dung của từng đề mục Sau đó trả lời các câu hỏi của GV hoặc trong sách giáo khoa (SGK) hoặc tự đặt ra câu hỏi để trả lời Đồng thời cần tìm đọc những tài liệu có liên quan để mở rộng và đào sâu những kiến thức đã học Trong quá trình ôn tập HS có thể trao đổi với bạn về kết quả ôn tập của mình, sau

đó có thể ghi chép lại toàn bộ nội dung ôn tập bằng cách tóm tắt bài học, xây dựng dàn ý, sơ đồ, bảng biểu bằng cách xây dựng đáp án trả lời câu hỏi hay bằng cách vận dụng kiến thức của bài học

Tóm lại, việc ôn tập của HS có thể diễn ra ở trên lớp hoặc diễn ra ở ngoài lớp dưới sự hướng dẫn và quản lý của GV [11], [14], [38]

* Các bước tổ chức thực hiện bài lên lớp hoàn thiện tri thức

- Tổ chức lớp

- Định hướng mục đích, nhiệm vụ của bài học

- Tổ chức cho học sinh hệ thống hoá, khái quát hoá trên cơ sở đã chuẩn bị ở nhà và theo sự hướng dẫn của GV, xây dựng nên những bản tổng kết, các sơ đồ, bảng biểu

- Tổng kết bài học: GV đánh giá kết quả và nhận xét tinh thần thái độ làm việc

- Hướng dẫn làm việc ở nhà (nếu có)

1.1.3 Các biện pháp tổ chức bài lên lớp ôn tập chương

Trong quá trình hình thành và phát triển khái niệm, GV phải luôn xem trọng vấn đề ôn tập tổng kết chương Thực chất của việc ôn tập tổng kết là hệ thống hóa nội dung theo một logic nhất định

Hệ thống hoá là biện pháp sắp xếp các thông tin về các đối tượng, hiện tượng nghiên cứu theo một logic nhất định nhờ đó phản ánh đầy đủ về đối tượng đó

Hệ thống hoá chỉ được thực hiện trên cơ sở thông tin đã được xử lí qua phân tích, tổng hợp Hệ thống hoá có thể diễn đạt bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau: bảng biểu, sơ đồ logic dạng bản đồ khái niệm, sơ đồ tư duy, sơ đồ hình vẽ, phim

1.1.3.1 Biện pháp sử dụng bảng biểu [12], [34]

Bảng trong dạy học là dạng bảng kê nêu rõ, gọn theo thứ tự nhất định một nội dung nào đó Có nhiều dạng bảng song đề tài chỉ tập trung nghiên cứu dạng phổ biến là bảng so sánh Bảng là dạng ngôn ngữ có khả năng khắc phục những khó khăn mà ngôn ngữ khác không làm được

Trang 21

► Những ưu thế vượt trội của bảng như:

- Cho phép trình bày rõ, gọn một nội dung có mối quan hệ phức tạp như đối chiếu so sánh các đối tượng, thống kê các tư liệu, các đặc điểm về một số đối tượng

- Tránh được tình trạng manh mún khi trình bày nội dung bài học, cho phép liên kết kiến thức, hệ thống hóa nội dung

- Thiết lập được bảng, HS được rèn luyện nhiều kỹ năng (KN) tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hoá, khái quát hoá, trừu tượng hoá

► Các bước thiết lập bảng so sánh - đối chiếu:

Dùng biện pháp logic so sánh để tiến hành thiết lập bảng theo các bước sau:

- Xác định lớp của các đối tượng đem so sánh

- Căn cứ vào khái niệm giống để tìm dấu hiệu giống nhau cơ bản nhất của các đối tượng

- Liệt kê các cặp dấu hiệu tương ứng để xác định tiêu chí so sánh

- Trên cơ sở các cặp dấu hiệu tìm ra đặc điểm khác nhau giữa các đối tượng

- Xác định tiêu chí bản chất, có ý nghĩa để rút ra được kết luận

1.1.3.2 Biện pháp so sánh - ẩn dụ (biện pháp liên hệ tương đồng ) [1], [15], [21], [33]

Ẩn dụ là cách gọi tên một sự vật này bằng tên một sự vật khác, giữa chúng

có mối quan hệ tương đồng, là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau

Liên hệ tương đồng là phép thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng khác loại dựa trên cơ sở sự liên tưởng đồng nhất hoá chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng Nhờ vậy, chúng ta dễ dàng hiểu rõ hơn về các khái niệm trừu tượng, những đặc tính khó có thể quan sát, nhận thấy được của mọi sự vật, hiện tượng

Mỗi sự vật, hiện tượng vốn có nhiều đặc điểm, thuộc tính Do vậy cùng một

sự vật, hiện tượng có thể được tư duy liên tưởng đồng nhất hoá với nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau tuỳ theo đặc điểm, thuộc tính nào cùng có ở chúng được chọn

để làm cơ sở cho sự đồng nhất hoá

Trang 22

Chính các loại đặc điểm, thuộc tính khác nhau cùng có ở các sự vật, hiện tượng…được chọn làm cơ sở cho sự đồng nhất hoá chúng trong tư duy đã tạo nên các kiểu ẩn dụ khác nhau Đây chính là cơ sở tạo ra hiện tượng đa nghĩa của ẩn dụ

Tóm lại, liên hệ tương đồng không đơn giản là phép so sánh ngầm mà chính

là câu bao hàm xếp loại thuộc cấu trúc bề sâu của tư duy Bản chất của liên hệ

tương đồng là sự thay thế tên gọi dựa trên sự đồng nhất hoá các sự vật, hiện tượng,

tính chất… khi tư duy liên tưởng của con người phát hiện ra ở chúng ít nhất cùng có một nét hay một đặc điểm nào đó

Sử dụng biện pháp liên hệ tương đồng hợp lí sẽ giúp cho HS chủ động, sáng tạo lĩnh hội kiến thức, hình thành và phát triển kĩ năng học tập, phẩm chất tư duy và góp phần hình thành nhân cách của HS trong dạy học sinh học

► Những ưu điểm khi sử dụng biện pháp liên hệ tương đồng trong dạy học:+ Gây hứng thú học tập cho HS bằng các tình huống có vấn đề được xây dựng có yếu tố sử dụng tương đồng

+ Tăng cường tính trực quan trong dạy học bởi dùng những khái niệm đã biết

ở HS để tiếp nhận những khái niệm mới và trừu tượng

+ Tăng cường tính liên hệ với thực tiễn bởi việc sử dụng các tri thức của cuộc sống làm tương đồng, giúp HS hiểu dễ dàng hơn kiến thức mới và trừu tượng

Năm 1991, Glynn đã đưa ra mô hình dạy học tương tự và mô hình này được gọi với cái tên: Mô hình T - W - A (The teaching - With - Analogies) Mô hình này bao gồm các bước sau đây:

+ Giới thiệu kiến thức cần dạy (kiến thức đích)

+ Khơi dậy vốn hiểu biết của HS về tình huống tương đồng

+ Nhận biết các đặc điểm kiến thức dùng làm tương đồng (kiến thức nguồn).+ Tìm ra các dấu hiệu tương đồng giữa các kiến thức nguồn và kiến thức đích.+ Rút ra kết luận về kiến thức đích

Mối quan hệ của 3 thành tố trên được thể hiện như sau:

Dấu hiệu tương ứng Kiến thức nguồn Kiến thức đích

Trang 23

1.1.3.3 Biện pháp sử dụng sơ đồ tư duy [4], [19]

Sơ đồ tư duy là biểu hiện của tư duy mở rộng, là một kỹ thuật họa hình đóng vai trò chiếc chìa khóa vạn năng để khai phá tiềm năng của bộ não Sơ đồ tư duy chính là công cụ ghi chú hiệu quả huy động triệt để công suất làm việc của bộ não mang lại hiệu quả ghi nhớ tối ưu nhất trong thời gian ngắn nhất

Nguyên lý hoạt động của sơ đồ tư duy theo nguyên tắc liên tưởng “ý này gợi

ý kia” của bộ não Các bạn có thể tạo một sơ đồ tư duy ở dạng đơn giản theo nguyên tắc phát triển ý: Từ một chủ đề tạo ra nhiều nhánh lớn, từ mỗi nhánh lớn lại tỏa ra nhiều nhánh nhỏ và cứ thế mở rộng ra vô tận

► Lợi ích của việc giảng dạy với sơ đồ tư duy:

+ Gợi hứng thú cho người học một cách tự nhiên, nhờ đó giúp học sinh tiếp thu nhiều hơn và tích cực hơn

+ Làm cho bài học cũng như cách trình bày bài học ngẫu hứng, sáng tạo và lý thú hơn Đồng thời có thể bổ sung ghi chú bài giảng một cách dễ dàng, nhanh chóng

+ Biểu thị nội dung thích hợp dưới hình thức rõ ràng, dễ nhớ và thể hiện được mối liên hệ giữa các sự kiện, nhờ đó giúp người học hiểu sâu hơn về chủ đề

► Các quy tắc trong sơ đồ tư duy:

● Nhấn mạnh:

+ Luôn sử dụng một hình ảnh trung tâm, mỗi hình ảnh trung tâm dùng ít nhất

ba màu, nên sử dụng sự tương tác ngũ quan Trong sơ đồ tư duy nên dùng hình ảnh

ở mọi nơi, có thể thay đổi kích cỡ ảnh, chữ in và dòng chữ chạy, cách dòng có tổ chức, thích hợp

● Liên kết:

+ Nên dùng mũi tên để chỉ các mối liên hệ cùng nhánh hoặc khác nhánh Bên cạnh

đó, có thể dùng màu sắc hoặc ký hiệu để liên kết các nội dung có liên quan với nhau

● Mạch lạc:

+ Mỗi dòng nên chỉ có một từ khóa, nên sử dụng kiểu chữ in thẳng đứng Sơ

đồ tư duy luôn được bố trí nằm theo chiều ngang, vạch liên kết và các từ luôn cùng

độ dài, các vạch liên kết nối liền nhau và các nhánh chính luôn nối với ảnh trung tâm, ảnh đượcvẽ thật rõ ràng

Trang 24

● Tạo phong cách riêng:

+ Phản ánh được các mạng lưới và lối tư duy độc đáo trong bộ não riêng có ở mỗi người

● Cách bố trí:

+ Trình tự phân cấp hoặc đánh số

► Quy trình vẽ sơ đồ tư duy:

+ Bước 1: Vẽ chủ đề trung tâm

+ Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ

+ Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ+ Bước 4: Hãy để trí tưởng tượng bay bổng, có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn

► Những lưu ý khi sử dụng sơ đồ tư duy:

+ Màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh Tuy nhiên, chúng

ta không cần phải sử dụng quá nhiều màu sắc mà có thể chỉ cần dùng một hai màu mình thích và muốn tiết kiệm thời gian

+ Nếu chúng ta thấy mất quá nhiều thời gian để tô đậm màu trong một nhánh, chúng ta có thể gạch chéo, đánh dấu cộng, hay chấm bi trong đó, như vậy sẽ rất mới mẻ và tốn ít thời gian

+ Nên vẽ nhiều nhánh cong hơn là đường thẳng để tránh sự buồn tẻ, tạo sự mềm mại, cuốn hút

+ Khi chúng ta sử dụng những từ khóa riêng lẻ, mỗi từ khóa đều không bị ràng buộc, do đó nó có khả năng khơi dậy các ý tưởng mới, các suy nghĩ mới + Nếu trên mỗi nhánh chúng ta viết đầy đủ cả câu thì như vậy chúng ta sẽ dập tắt khả năng gợi mở và liên tưởng của bộ não Não sẽ mất hết hứng thú khi tiếp nhận một thông tin hoàn chỉnh Vì vậy, trên mỗi nhánh chúng ta chỉ viết một, hai từ khóa mà thôi Khi đó, chúng ta sẽ viết rất nhanh và khi đọc lại, não của chúng ta sẽ được kích thích làm việc để nối kết thông tin và nhờ vậy, thúc đẩy năng lực gợi nhớ

và dần dần nâng cao khả năng ghi nhớ của chúng ta

+ Nên thường xuyên sử dụng sơ đồ tư duy khi làm việc nhóm và hệ thống kiến thức đã học trong các môn học ở trường, đặc biệt là khi ôn tập cho các kỳ thi

Trang 25

(dù là thi hay học đều sử dụng tốt) Sơ đồ tư duy cũng giúp học sinh và các thầy cô tiết kiệm thời gian làm việc ở nhà và trên lớp rất nhiều với các phần mềm sơ đồ tư duy trên máy mà các em có thể làm tại nhà và gửi email cho các thầy cô chấm chữa trước khi lên lớp.

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Để có cơ sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi đã tiến hành quan sát sư phạm, trao đổi với các GV đang trực tiếp giảng dạy môn Sinh học và các em HS thuộc khối lớp 12 của trường THPT Thanh Chương I, Trường THPT Nguyễn Sỹ Sách -

Tỉnh Nghệ An và phát phiếu thăm dò điều tra (Phụ lục số 01).

Qua điều tra chúng tôi thu được một số thông tin như sau:

1.2.1 Việc tổ chức bài tổng kết chương của GV

Chúng tôi tiến hành điều tra tình hình tổ chức bài ôn tập tổng kết chương phần Sinh thái học sinh học 12 của 38 GV dạy Sinh học Kết quả như sau:

Bảng 1.1 Tình hình tổ chức bài ôn tập tổng kết chương

Số

TT Thời gian tổ chức

Mức sử dụng Thường

xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng

2 Sau mỗi phần của

Theo bảng 1.1 cho ta thấy GV thường xuyên tổ chức bài ôn tập tổng kết chương vào cuối mỗi học kỳ (94,7%); còn sau mỗi phần của chương trình (15,8%);

và sau mỗi chương hầu hết GV không sử dụng (0,0%), thỉnh thoảng (18,4%)

Như vậy, việc tổ chức bài ôn tập tổng kết chương GV chỉ thực sự tập trung vào cuối mỗi học kỳ Điều này làm cho việc nắm kiến thức của chương tạo tiền đề cho việc lĩnh hội kiến thức nội dung chương tiếp theo gặp nhiều khó khăn Đặc biệt, các chương trong phần Sinh thái học có mối quan hệ hữu cơ giữa các cấp độ tổ chức sống trên cơ thể

Bên cạnh đó, chúng tôi còn tìm hiểu về các biện pháp mà GV tổ chức ôn tập cho học sinh Kết quả như sau:

Trang 26

Bảng 1.2 Việc áp dụng các biện pháp tổ chức bài tổng kết chương

Số

TT Các biện pháp tổ chức ôn tập

Mức sử dụng Thường

xuyên

Thỉnh thoảng Hiếm khi

8 Tổ chức cho HS thảo luận 11 28,9 7 18,4 12 31,6 8 21,1

9 Giới hạn một số bài cho

10 Tổ chức trò chơi ô chữ 0 0 2 5,3 5 13,2 31 81,5

Theo bảng 1.2 cho thấy, việc GV sử dụng biện pháp để tổ chức ôn tập cho học sinh cụ thể như sau: Thường xuyên sử dụng hình thức hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi (84,2%), hướng dẫn học sinh đọc sách giáo khoa và tài liệu tham khảo (68,4%), hướng dẫn học sinh giải bài tập (55,2%), bổ túc kiến thức cho học sinh (63,1%), hiếm khi hệ thống hóa kiến thức cho học sinh bằng sơ đồ, bảng biểu

Trang 27

(52,6%) Các biện pháp khác như: hướng dẫn học sinh xây dựng dàn ý tóm tắt, tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm, trò chơi ô chữ ít được GV sử dụng.

Qua phân tích thực trạng ở trên, chúng tôi nhận thấy việc tổ chức bài ôn tập tổng kết chương của GV chưa có sự đầu tư gia công, quan tâm đúng mức so với yêu cầu đổi mới của việc dạy học ngày nay

1.2.2 Việc ôn tập của học sinh

Chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng việc ôn tập của học sinh ở 2 trường THPT Thanh Chương I, Trường THPT Nguyễn Sỹ Sách Tỉnh Nghệ An với số lượng học sinh điều tra 200 học sinh Kết quả như sau:

Bảng 1.3 Các hình thức ôn tập của học sinh

Số

TT Các hình thức ôn tập

Mức sử dụng Thường

xuyên

Thỉnh thoảng

Không

sử dụng

1 Học thuộc lòng trong vở ghi 174 87,0 36 13,0 0 0,0

2 Tái hiện lại bài học bằng cách

6 Trả lời các câu hỏi ôn tập 138 69,0 44 22.0 18 9,0

8 Đọc thêm tài liệu tham khảo 27 13,5 61 30,5 112 56Qua bảng 1.3 chúng ta nhận thấy việc ôn tập của học sinh chủ yếu là học thuộc lòng trong vở ghi (87%), trả lời các câu hỏi ôn tập (69%) Các hình thức ôn tập khác ít được sử dụng như: tái hiện lại bài giảng bằng cách ghi dàn ý (13,5%); hệ thống hoá kiến thức bằng sơ đồ (9,0%); bảng biểu (11%); thảo luận với bạn (17,5%); đọc thêm tài liệu tham khảo (13,5%)

Như vậy, qua kết quả khảo sát trên phiếu và qua trao đổi dự giờ học của học sinh chúng tôi thấy việc ôn tập của học sinh chủ yếu là hình thức học thuộc lòng

Trang 28

trong vở ghi, trả lời các câu hỏi ôn tập thiếu tính khái quát hóa Vì vậy, học sinh phần lớn chưa hiểu bản chất của vấn đề, kiến thức thu được còn vụn vặt, thiếu tính

hệ thống

Với cách ôn tập như trên, hoạt động học tập của học sinh không thể đạt được chất lượng và hiệu quả cao Do vậy, việc tổ chức cho học sinh ôn tập bằng các biện pháp tích cực là hết sức cần thiết

TIỂU KẾT CHƯƠNG I

Qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài chúng tôi nhận thấy:

- Trong quá trình dạy – học, việc HS có lĩnh hội được kiến thức một cách vững chắc và sâu sắc hay không phụ thuộc rất nhiều vào khâu ôn tập, hệ thống hóa kiến thức cơ bản đã học qua từng bài trong chương, từng chương trong chương trình Vì vậy, bài lên lớp hoàn thiện tri thức có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động học tập của học sinh Khi tổ chức ôn tập chương cho HS cũng là lúc GV có điều kiện kiểm tra trình độ hiểu và nắm vững kiến thức của HS, đồng thời thấy rõ những

lỗ hổng, những sai sót về mặt kiến thức mà sửa chữa, uốn nắn và bổ sung

- Bài ôn tập chương phần Sinh thái học có thể được tổ chức bằng các biện pháp: xây dựng sơ đồ, thiết lập sơ đồ tư duy, thiết lập bảng hệ thống hay dùng biện pháp liên hệ tương đồng

- Qua khảo sát thực trạng tổ chức bài tổng kết chương phần Sinh thái học ở một số trường THPT tỉnh Nghệ An cho thấy: Việc tổ chức bài ôn tập chương cho

HS, GV phần nhiều sử dụng biện pháp trả lời câu hỏi, hướng dẫn học sinh đọc SGK, bổ túc kiến thức cho học sinh, hiếm khi hệ thống hóa kiến thức cho học sinh bằng sơ đồ, bảng biểu Trong khi các biện pháp nhằm giúp HS hệ thống hóa kiến thức theo hướng hình thành khái niệm về các cấp tổ chức trên cơ thể thì ít được GV

sử dụng

Từ những vấn đề trên, chúng tôi thấy cần xác định những biện pháp khả thi

để tổ chức bài ôn tập chương nhằm hình thành cho HS khái niệm ở cấp độ tổ chức trên cơ thể

Trang 29

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG CÁC BÀI ÔN TẬP CHƯƠNG

TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI 2.1 Phân tích mục tiêu, cấu trúc nội dung các chương phần Sinh thái học

và cơ chế gây ra sự biến đổi và khả năng duy trì trạng thái cân bằng của chúng

- HS nắm vững các kiến thức ứng dụng: bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ cân bằng sinh thái, ứng dụng trong đời sống sản xuất

* Về kỹ năng

- Phát triển năng lực quan sát: Thông qua việc xác lập mối quan hệ giữa sinh vật với từng yếu tố sinh thái mà phát triển khả năng quan sát, nhận biết, nêu được các nhận xét rồi xác lập mối quan hệ

- Phát triển năng lực phân tích và tổng hợp: Sinh thái học là khoa học về mối quan hệ giữa môi trường và các cấp độ tổ chức sống khác nhau Có nghĩa là phải xét các mối quan hệ với các cấp độ tổ chức sống từ bộ phận đến cái toàn thể, từ cái toàn thể nhỏ đến cái toàn thể lớn hơn Khi nghiên cứu các bộ phận không chỉ để biết các đặc điểm riêng mà còn tìm ra những đặc điểm chung để hợp thành cái toàn thể, qua

đó mà phát triển năng lực tổng hợp Nhưng khi xét cấp độ tổ chức cao hơn, đồng thời phải nghiên cứu các thành phần cấu tạo nên nó, nếu từng thành phần nhỏ thay đổi, làm cho cấp độ lớn hơn cũng bị thay đổi, đó là phát triển năng lực phân tích

- Phát triển năng lực khái quát hóa: Khi nghiên cứu mỗi hiện tượng sinh thái, không phải dừng lại ở mức nắm hiện tượng, mà qua một số hiện tượng cùng loại để làm tư liệu dẫn đến kết luận khái quát Từ những quy luật sinh thái, từ khái niệm cân bằng sinh thái, khái niệm chuỗi thức ăn , cụ thể hóa bằng những dấu hiệu trong

Trang 30

những điều kiện khác nhau, quá trình vận dụng nguyên lí khái quát vào trong những trường hợp cụ thể sẽ hình thành khả năng cụ thể hóa.

* Về thái độ

- Hình thành và phát triển quan điểm hệ thống: Khi xét một vấn đề phải xem

nó nằm trong một hệ thống, nếu tách khỏi hệ thống thì nó sẽ biến đổi, không còn như hệ thống của nó

- Hình thành và phát triển quan điểm biện chứng: Bất kì một yếu tố nào trong môi trường cũng có mối quan hệ chặt chẽ và đa dạng với những yếu tố khác, nên nghiên cứu hiện tượng nào cũng phải xét nó trong mối quan hệ qua lại với những yếu tố khác, nghĩa là xét mối quan hệ nhiều nhân một quả, do vậy khi một yếu tố trong môi trường thay đổi là cả hệ thống thay đổi

- Hình thành và phát triển thái độ, hành vi bảo vệ môi trường: Thông qua nguyên lí cân bằng sinh học mà làm cho hệ thống ở trạng thái cân bằng động, nếu thay đổi một yếu tố nào đó, làm cho hệ thống mất cân bằng, trải qua quá trình diễn biến để lập một cân bằng mới, quá trình này có thể dẫn đến hệ quả có lợi cũng có thể gây tác hại lớn Để đảm bảo hệ cân bằng thì nguyên tắc chung là hệ được tạo nên bởi nhiều thành tố đó là đa dạng sinh học, do vậy cần tạo sự đa dạng sinh học trong hệ sinh thái tự nhiên hay nhân tạo, duy trì các yếu tố cần thiết, để tạo cho hệ vận động phát triển bền vững Có những hành động tham gia thiết thực vào việc bảo

vệ môi trường, chống gây ô nhiễm, đảm bảo chất lượng cuộc sống cộng đồng

2.1.2 Cấu trúc và nội dung phần Sinh thái học

* Cấu trúc phần Sinh thái học - Sinh học 12

Phần Sinh thái học gồm có 4 chương:

- Chương I: Cơ thể và môi trường

- Chương II: Quần thể sinh vật

- Chương III: QX sinh vật

- Chương IV: Hệ sinh thái, Sinh quyển và Sinh thái học với quản lí tài nguyên thiên nhiên

Có thể khái quát cấu trúc nội dung phần Sinh thái học bậc THPT theo sơ đồ sau [2]

Trang 31

Các nhân tố sinh thái

Hình 2.1 : Logic cấu trúc nội dung chương trình Sinh thái học – THPT.

Sơ đồ trên phản ánh tính hệ thống của các cấp độ tổ chức sống, được tổ chức theo nguyên tắc thứ bậc tương quan với nhau Giữa chúng có mối quan hệ tương hỗ với nhau và với môi trường thể hiện qua các nội dung về kiến thức khái niệm, quá trình và những quy luật sinh thái cơ bản

* Nội dung phần Sinh thái học - Sinh học 12

● Nội dung phần Sinh thái học được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.1: Nội dung phần Sinh thái học.

Môi trường

Các cấp độ

tổ chức sống

Trang 32

Chương I: Cơ thể

và môi trường

47 – 49 - Khái niệm môi trường, các nhân tố sinh thái

và quy luật tác động, giới hạn sinh thái, ổ sinh thái

- Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái lên đời sống sinh vật

Chương II: Quần

thể sinh vật

51 - 54 - Khái niệm và dấu hiệu bản chất của QT sinh vật

- Mối quan hệ của các cá thể trong QT

- Các đặc trưng cơ bản của QT (mật độ, sự phân bố cá thể, tỉ lệ giới tính, nhóm tuổi và kích thước QT)

- Các dạng biến động số lượng, nguyên nhân gây ra biến động, cơ chế điều hòa số lượng để trở về trạng thái cân bằng của QT sinh vật

Chương III: QX

sinh vật

55 – 58 - Khái niệm QX sinh vật

- Các đặc trưng cơ bản của QX

- Các mối quan hệ của các loài trong QX

- Mối quan hệ dinh dưỡng thông qua chuỗi và lưới thức ăn

- Khái niệm, nguyên nhân dẫn đến diễn thế sinh thái, các dạng diễn thế sinh thái, xu hướng biến đổi chính trong quá trình diễn thế sinh thái để thiết lập trạng thái cân bằng

Chương IV: Hệ

sinh thái, SQ và

Sinh thái học với

quản lí tài nguyên

thiên nhiên

60 – 64 - Khái niệm, các thành phần của một hệ sinh

thái và cách phân loại các hệ sinh thái

- Các chu trình sinh - địa – hóa trong hệ sinh thái

- Sự vận chuyển của dòng năng lượng trong hệ sinh thái Khái niệm về hiệu suất sinh thái

- Khái niệm SQ, các khu sinh học

- Tìm hiểu về các dạng tài nguyên thiên nhiên

- Khái quát các hoạt động của con người đến

Trang 33

+ Nhóm khái niệm về cấu trúc của các cấp tổ chức sống:

* Cấp QT: mật độ QT, tỉ lệ đực và cái của QT, tỉ lệ tuổi của QT, sức sinh sản, sức tăng trưởng, phân bố cá thể, phát tán, biến động số lượng, cân bằng, cơ chế điều hòa mật độ

* QX: QT ưu thế, QT đặc trưng, độ đa dạng

+ Nhóm khái niệm về hoạt động chức năng của các cấp tổ chức sống:

* Cân bằng, cơ chế điều hòa mật độ, khống chế sinh học, cân bằng sinh học, diễn thế sinh thái, diễn thế nguyên sinh, diễn thế thứ sinh

* Hệ sinh thái, chuỗi thức ăn, lưới thức ăn, sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ, sinh vật phân giải, hình tháp năng lượng, chu trình sinh đại hóa, hiệu suất sinh thái + Nhóm khái niệm về môi trường sống:

* Môi trường, điều kiện sống, nơi sống, sinh cảnh, ổ sinh thái

* Nhân tố sinh thái, nhân tố vô sinh, nhân tố hữu sinh, nhân tố con người

+ Nhóm khái niệm về quan hệ:

* Quan hệ sinh vật với sinh vật, quần tụ cá thể, hỗ trợ, cộng sinh, hợp tác, hội sinh, cạnh tranh, đối địch, kí sinh, ức chế, cảm nhiễm

* Quan hệ sinh vật với môi trường, giới hạn chịu đựng,

- Kiến thức quy luật:

+ Các quy luật sinh thái cơ bản: Quy luật giới hạn sinh thái; Quy luật tác động tổng hợp của các nhân tố sinh thái; Quy luật tác động không đồng đều của các nhân tố sinh thái lên chức năng sống của cơ thể; Quy luật tác động qua lại giữa sinh vật với môi trường; Quy luật thể hiện sự thích nghi về mặt hình thái của sinh vật với nhiệt

Trang 34

độ môi trường; Quy luật hình tháp sinh thái; Quy luật diễn thế sinh thái; Quy luật chuyển hóa năng lượng trong hệ sinh thái; Quy luật cân bằng sinh học; Các chu trình sinh địa hóa.

- Kiến thức về phương pháp khoa học: Quan sát thiên nhiên; Thực nghiệm

trong phòng

- Kiến thức ứng dụng:

+ Ứng dụng kiến thức sinh thái để khai thác hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên sinh vật

+ Ứng dụng kiến thức sinh thái để nâng cao năng suất cây trồng và vật nuôi

+ Xây dựng quy hoạch sinh thái cho mọi chương trình sản xuất và đời sống

Như vậy, cấu trúc nội dung chương trình Sinh thái học được xây dựng theo quan điểm tiếp cận hệ thống Với cách sắp xếp cấu trúc nội dung như trên cho phép thiết kế các bài ôn tập, củng cố theo lôgic hợp lý, đảm bảo sự phát triển hệ thống khái niệm theo lôgic, làm cơ sở phối hợp các bài ôn tập củng cố theo hướng tích cực, giúp cho HS nhận thức được các kiến thức khái niệm, quá trình và các quy luật sinh thái Qua đó, giúp HS hiểu rõ hơn về thiên nhiên, vai trò của thiên nhiên để từ

đó có các biện pháp bảo vệ môi trường hợp lý

2.2 Thiết kế bài ôn tập chương phần Sinh thái học

2.2.1 Vận dụng tiếp cận hệ thống trong phân tích nội dung ôn tập về các cấp tổ chức sống QT, QX, SQ

Tiếp cận HT khi nghiên cứu các cấp độ TCS là cách thức xem xét mỗi cấp độ TCS như là một hệ thống toàn vẹn, được tạo thành do sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành với nhau và với môi trường, tạo nên cấu trúc xác định để thực hiện các chức năng sống của hệ như trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường, đặc biệt là khả năng tự điều chỉnh duy trì trạng thái cân bằng động nhờ đó mà tồn tại và phát triển

Tiếp cận hệ thống để hình thành khái niệm đại cương về các cấp tổ chức sống trên cơ thể chính là vạch ra được các dấu hiệu bản chất của tổ chức sống được thể hiện ở từng cấp độ tổ chức QT, QX và SQ Trên cơ sở đó, chúng tôi xác định được nội hàm của các khái niệm đại cương phức tạp về các cấp độ tổ chức sống trên

cơ thể như sau:

2.2.1.1 Nội hàm của khái niệm quần thể

Trang 35

- Thành phần: Tập hợp các cá thể cùng loài.

- Tính xác định về mặt không gian và thời gian: Phân bố trong một vùng địa

lý nhất định, vào một thời điểm nhất định

- Cấu trúc: Các cá thể cùng loài trong QT tương tác, gắn bó chặt chẽ với nhau bằng các mối quan hệ sinh học, đặc biệt là quan hệ sinh sản; và thích nghi với môi trường sống Mối quan hệ này là kết quả của một quá trình lịch sử dưới tác động của chọn lọc tự nhiên tạo nên một tổ chức thống nhất, thiết lập nên các đặc trưng cấu trúc mà cấp độ cá thể không có như: Mật độ, tỉ lệ đực cái, thành phần nhóm tuổi, thành phần kiểu gen Mỗi cấu trúc có một chức năng xác định (ví dụ: cấu trúc giới tính với chức năng đảm bảo khả năng sinh sản và hiệu quả sinh sản của QT), tương tác với nhau cùng thực hiện các chức năng sống của hệ

- Chức năng: Cũng như bất kỳ TCS nào, QT thực hiện hoạt động chức năng trao đổi chất và năng lượng với môi trường, sinh trưởng, phát triển và sinh sản, tăng sinh khối, duy trì sự tồn tại và vai trò của mình trong sinh giới Đặc biệt, QT có khả năng tự điều chỉnh duy trì trạng thái cân bằng động Các đặc trưng cấu trúc của QT như mật độ, tỉ lệ đực cái, thành phần nhóm tuổi có bản chất như là những hằng số sinh học được QT điều chỉnh duy trì sự ổn định của cả hệ thống Sự tự điều chỉnh của QT có giới hạn nhất định, nếu tác động quá lớn, vượt ra khỏi sức chịu đựng của

hệ, QT không thể tự điều chỉnh được và cuối cùng bị suy thoái và diệt vong

- QT có cấu trúc ổn định tương đối, trao đổi chất, tự điều chỉnh, cân bằng động đảm bảo thích ứng với môi trường Vì vậy, QT là một hệ toàn vẹn, tồn tại và phát triển tương đối ổn định trong không gian và theo thời gian, có mối quan hệ thứ bậc lệ thuộc với các cấp TCS bên dưới và bên trên nó

- QT là đơn vị tiến hoá Mỗi QT có một vốn gen riêng cùng các tần số gen đặc trưng Trong QT luôn luôn có nguồn biến dị di truyền, phản ánh trạng thái động của QT Bình thường tần số tương đối của các alen có khuynh hướng duy trì không đổi Nhưng trong thực tế, quá trình đột biến không ngừng diễn ra, quá trình chọn lọc

tự nhiên không ngừng tiếp diễn, làm cho vốn gen và thành phần kiểu gen của QT bị biến đổi Tuy cách ly một cách tương đối với các QT lân cận nhưng giữa các QT trong loài vẫn có khả năng trao đổi gen Như vậy, QT có khả năng biến đổi cơ cấu

di truyền (tần số alen và tần số kiểu gen) qua các thế hệ [33]

Trang 36

2.2.1.2 Nội hàm của khái niệm quần xã

- Thành phần: Tổ hợp các QT thuộc các loài khác nhau

- Tính xác định về mặt không gian và thời gian: Phân bố trong một vùng địa

lý xác định, vào một thời điểm nhất định

- Cấu trúc: QX không phải là tổ hợp của các loài bất kỳ Các QT khác loài trong QX tương tác, gắn bó chặt chẽ với nhau bằng các mối quan hệ sinh học, đặc biệt là quan hệ dinh dưỡng và thích nghi với môi trường sống Mối quan hệ này là kết quả của một quá trình lịch sử lâu dài, dưới tác động của chọn lọc tự nhiên, thiết lập nên các đặc trưng cấu trúc mà cấp độ QT không có như: thành phần loài, độ đa dạng, sự phân bố của các loài trong không gian, quan hệ dinh dưỡng của QX Mỗi một cấu trúc có chức năng nhất định Ví dụ: cấu trúc dinh dưỡng của QX thông qua chuỗi và lưới thức ăn có chức năng trao đổi chất và chuyển hoá năng lượng

- Chức năng: Cũng như bất kỳ TCS nào, QX thực hiện hoạt động chức năng trao đổi chất và năng lượng với môi trường, sinh trưởng và phát triển Chu trình tuần hoàn vật chất là biểu hiện của quá trình trao đổi chất và năng lượng giữa QX với sinh cảnh, thông qua quá trình “đồng hoá” - tổng hợp các chất hữu cơ, chủ yếu

từ năng lượng mặt trời do các sinh vật (SV) tự dưỡng thực hiện và quá trình “dị hoá”, nhờ vậy vật chất được tuần hoàn để năng lượng được chuyển hoá liên tục bảo đảm cho QX tồn tại và phát triển ổn định Đặc biệt, QX có khả năng tự điều chỉnh duy trì trạng thái cân bằng động Các đặc trưng sinh học của QX như: thành phần loài, độ đa dạng, sự phân bố của các loài trong không gian, quan hệ dinh dưỡng của QX có bản chất như là những hằng số sinh học được QX điều chỉnh duy trì sự ổn định của cả hệ thống Sự tự điều chỉnh của QX có giới hạn nhất định, nếu sự tác động vượt quá giới hạn, QX mất khả năng tự điều chỉnh và hậu quả là suy thoái và

bị phá huỷ

- QX có cấu trúc ổn định tương đối, thực hiện các chức năng sống trao đổi chất, tự điều chỉnh, cân bằng động đảm bảo thích ứng với môi trường Vì vậy, QX là một hệ toàn vẹn, tồn tại và phát triển tương đối ổn định trong không gian và theo thời gian, có mối quan hệ thứ bậc lệ thuộc với các cấp TCS bên dưới và bên trên nó

- QX có quá trình vận động phát triển DTST là quá trình phát triển tiến hoá của QX, trong đó có sự thay thế lần lượt của QX này bằng QX khác để có được QX

Trang 37

cuối cùng tương đối ổn định Trong quá trình diễn thế xảy ra những thay đổi lớn về cấu trúc thành phần loài, cấu trúc phân tầng, các mối quan hệ trong QX , đó chính

là quá trình giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ QX và giữa QX với môi

trường, đảm bảo sự thống nhất toàn vẹn giữa QX với môi trường [33]

2.2.1.3 Nội hàm của khái niệm sinh quyển

- Thành phần: Tất cả các SV sống trong các lớp đất, nước và không khí của Trái Đất

- Tính xác định về mặt không gian và thời gian: Phân bố trên Trái Đất, sâu tới 100m trong thạch quyển, toàn bộ thuỷ quyển tới đáy biển sâu khoảng 10 -11km

và lên cao tới 20km trong khí quyển, xuất hiện và phát triển khoảng 3,5 tỉ năm

- Cấu trúc: Tất cả SV trên Trái Đất tương tác, gắn bó chặt chẽ với nhau bằng các mối quan hệ sinh học, đặc biệt là quan hệ dinh dưỡng và thích nghi với môi trường sống Mối quan hệ này được thiết lập ngay khi sự sống và các nhóm SV xuất hiện, đồng thời trải qua một quá trình tiến hoá lâu dài và ngày càng hoàn thiện, thiết lập nên các nhóm SV phụ thuộc vào nhau một cách mật thiết về mặt sinh thái như thực vật và động vật ăn thực vật, những động vật và vi sinh vật sống cộng sinh với nhau, ký sinh - vật chủ, vật dữ - con mồi Chính mối tương tác này tạo nên các đặc điểm cấu trúc của SQ đó là đa dạng sinh học (đa dạng về gen, đa dạng về loài và đa dạng hệ sinh thái), cấu trúc dinh dưỡng (nhóm SV tự dưỡng, nhóm SV dị dưỡng), cấu trúc về các mối quan hệ sinh học Mỗi một đặc điểm cấu trúc có một chức năng nhất định Ví dụ: Nhóm SV tự dưỡng và nhóm SV dị dưỡng thực hiện chức năng tổng hợp vật chất và phân huỷ vật chất Hay đa dạng sinh học có vai trò rất lớn trong việc giữ cân bằng sinh thái của SQ, giữ cho khí hậu được ổn định, bảo vệ nguồn nước, đặc biệt đa dạng hệ sinh thái chính là cơ sở sinh tồn của sự sống cho cả Trái Đất, đảm bảo cho sự chu chuyển oxy và các nguyên tố dinh dưỡng khác trên toàn hành tinh

Trang 38

- Chức năng: Cũng như tất cả các cấp độ TCS khác, SQ là hệ mở, có quá trình trao đổi vật chất và năng lượng thông qua chu trình tuần hoàn vật chất và chuyển hoá năng lượng trên phạm vi toàn cầu SQ có quá trình “đồng hoá” hay còn gọi là quá trình tổng hợp vật chất (bằng phương thức quang hợp và hoá tổng hợp),

và quá trình “dị hoá” hay còn gọi là quá trình phân giải vật chất (nhờ quá trình hô hấp hiếu khí của tất cả các loài động thực vật, hô hấp kỵ khí hoặc lên men của các

vi sinh vật), nhờ vậy vật chất được quay vòng còn năng lượng được chuyển hoá Chu trình tuần hoàn vật chất và sự chuyển hoá năng lượng được duy trì bởi chính mối tương quan giữa hai quá trình này của sinh giới Và cũng chính nhờ sự hiện diện của chu trình này làm cho SQ có khả năng tự điều chỉnh, giữ cân bằng các chất

có trong môi trường (tỉ phần khí CO2, O2 trong khí quyển ), điều hoà cán cân nhiệt -

ẩm (nhiệt độ trên Trái Đất), điều tiết khí hậu toàn cầu, đảm bảo cho sự trường tồn,

sự đa dạng của tất cả các HST Hai quá trình này giúp cho SQ tồn tại phát triển, đạt đến trạng thái trưởng thành, cân bằng ổn định như ngày nay nếu không bị chính con người huỷ hoại

- Sự phát sinh và phát triển của sự sống qua các đại địa chất chính là quá trình lịch sử hình thành, phát triển tiến hoá của SQ Dấu hiệu nổi bật của tiến hoá ở cấp độ SQ là chu trình vật chất và biến đổi năng lượng diễn ra ngày càng ổn định và bền vững nhờ thiết lập được các hằng số sinh học như độ đa dạng, sự phức tạp của lưới và chuỗi thức ăn, tỉ phần các chất khí trong khí quyển , là quá trình tăng sinh khối, đa dạng hoá các TCS, mở rộng phạm vi tồn tại của sự sống SQ đã trải qua quá trình phát triển tiến hoá hàng tỷ năm và đạt được trạng thái cân bằng ổn định

như ngày nay [33].

Trên cơ sở hiểu sâu sắc nội hàm của các cấp tổ chức sống quần thể, quần xã, sinh quyển như đã phân tích trên, GV sẽ định hướng cho việc giảng dạy các khái niệm này trong quá trình dạy học Đặc biệt, trong khâu ôn tập, hoàn thiện kiến thức được thể hiện chủ yếu ở các bài ôn tập chương, GV cần quán triệt sâu sắc quan điểm này Trên cơ sở phân tích nội hàm của các khái niệm, đối chiếu với mục tiêu của chương trình, GV xác định được các biện pháp phù hợp để thiết kế các bài ôn tập chương sao cho khái quát hóa được các dấu hiệu bản chất của các cấp tổ chức sống trên cơ thể như đã phân tích trên

Trang 39

2.2.2 Quy trình thiết kế các hoạt động ôn tập chương phần Sinh thái học

Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn, chúng tôi đề xuất quy trình thiết kế các hoạt động ôn tập chương phần Sinh thái học theo các bước như sau:

Bước 4: Thiết kế bài ôn tập chương

Bước 1: Vận dụng tiếp cận hệ thống trong phân tích nội dung kiến thức của chươngBước 2: Xác định mục tiêu ôn tập

Bước 3: Lựa chọn biện pháp thiết kế bài ôn tập chương

Sơ đồ 2.2 Quy trình thiết kế các hoạt động ôn tập

► Quy trình được diễn đạt như sau:

Bước 1: Vận dụng tiếp cận hệ thống trong phân tích nội dung kiến thức của chương.

Vận dụng tiếp cận hệ thống xác định được nội hàm của các khái niệm đại cương phức tạp về các cấp độ tổ chức sống trên cơ thể nghĩa là chỉ ra được các dấu hiệu bản chất của tổ chức sống được thể hiện ở từng cấp độ tổ chức QT, QX và SQ

(Phần này đã được trình bày ở mục 2.2.1).

Trang 40

Bước 2: Xác định mục tiêu ôn tập

Mục tiêu không đơn thuần là chủ đề của hoạt động ôn tập mà chính là cái đích của hoạt động ôn tập cần đạt tới về mặt kiến thức, kĩ năng và thái độ

Mục tiêu về mặt kiến thức: Hình thành khái niệm sinh học đại cương về các

cấp độ trên cơ thể với các dấu hiệu bản chất: đặc điểm cấu trúc, đặc điểm chức năng

là hệ mở, tự điều chỉnh, hệ luôn vận động phát triển

Mục tiêu về mặt kỹ năng: Phát triển các kỹ năng tư duy, đặc biệt tư duy hệ

thống, các kỹ năng học tập, sáng tạo

Mục tiêu về mặt thái độ: HS nhận thức sâu sắc được rằng khi một cấp độ tổ

chức sống trên cơ thể bị thương tổn hay bị hủy diệt thì cả hệ thống sống trong đó có

cả con người bị thương tổn và đi đến hủy diệt Bảo vệ “sức khỏe” và sự toàn vẹn của các QT, QX, SQ cũng giống như bảo vệ sức khỏe và sự toàn vẹn của chính cơ thể sống con người chúng ta Từ đó, HS có được hành động bảo vệ môi trường một cách thiết thực

Bước 3: Lựa chọn biện pháp thiết kế bài ôn tập chương

Sau khi nghiên cứu về lí luận và thực tiễn dạy học, tham khảo các tài liệu, luận văn cùng hướng, để nâng cao chất lượng các bài ôn tập chương phần Sinh thái học, chúng tôi đã lựa chọn các biện pháp để thiết kế hoạt động ôn tập đó là biện pháp sử dụng bảng biểu, biện pháp sử dụng sơ đồ tư duy và biện pháp so sánh - ẩn

dụ (biện pháp liên hệ tương đồng)

Bước 4: Thiết kế bài ôn tập chương

Trên cơ sở các biện pháp đã lựa chọn, chúng tôi triển khai hoàn thiện nội dung của các biện pháp đó Trên cơ sở đó, xác định các bước tổ chức ôn tập của từng biện pháp

2.2.3 Các biện pháp thiết kế bài ôn tập chương nâng cao hiệu quả ôn tập

Trong quá trình hình thành khái niệm về các cấp tổ chức sống trên cơ thể,

GV phải luôn xem trọng vấn đề ôn tập tổng kết chương bởi các dấu hiệu bản chất của cấp tổ chức sống trên cơ thể được thể hiện chưa thật tường minh ở SGK Với mục đích nâng cao chất lượng tổ chức bài ôn tập tổng kết chương, đáp ứng được mục tiêu của chương trình là khái quát được những dấu hiệu bản chất của tổ chức sống ở cấp độ trên cơ thể, chúng tôi xác định sử dụng các biện pháp sau: Biện

Ngày đăng: 12/11/2014, 09:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Tuấn Anh (2000), “Rèn luyện khả năng khái quát hóa, đặc biệt hóa, tương tự cho học sinh trung học”, Tạp chí GV và Nhà trường, (30), tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện khả năng khái quát hóa, đặc biệt hóa, tương tự cho học sinh trung học”, "Tạp chí GV và Nhà trường
Tác giả: Lê Tuấn Anh
Năm: 2000
2. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (2001), Lý luận dạy học sinh học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học sinh học
Tác giả: Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
3. Đinh Quang Báo (chủ biên), Dương Minh Lam, Trần Khánh Ngọc, Nguyễn Văn An (2009), Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm sinh học – Trung học phổ thông, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm sinh học – Trung học phổ thông
Tác giả: Đinh Quang Báo (chủ biên), Dương Minh Lam, Trần Khánh Ngọc, Nguyễn Văn An
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2009
4. Tony &amp; Barry Buzan (Lê Huy Lâm dịch) (2010), Bản đồ tư duy, NXB tổng hợp, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ tư duy
Tác giả: Tony &amp; Barry Buzan (Lê Huy Lâm dịch)
Nhà XB: NXB tổng hợp
Năm: 2010
5. Nguyễn Phúc Chỉnh (2002), Vận dụng lý thuyết cấu trúc – hệ thống để nâng cao chất lượng dạy học Sinh học, Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Trường ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lý thuyết cấu trúc – hệ thống để nâng cao chất lượng dạy học Sinh học
Tác giả: Nguyễn Phúc Chỉnh
Năm: 2002
6. Hoàng Chúng (1983), Phương pháp thống kê toán học trong nghiên cứu khoa học giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong nghiên cứu khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1983
7. Phan Đức Duy, Nguyễn Khoa Lân, Nguyễn Bá Lộc, Biền Văn Minh, Đặng Thị Dạ Thủy (2005), Một số vấn đề dạy học sinh học ở trường THPT, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dạy học sinh học ở trường THPT
Tác giả: Phan Đức Duy, Nguyễn Khoa Lân, Nguyễn Bá Lộc, Biền Văn Minh, Đặng Thị Dạ Thủy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
8. Vương Tất Đạt (2000), Logic học đại cương, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic học đại cương
Tác giả: Vương Tất Đạt
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2000
9. Lê Hồng Điệp (2007), Vận dụng quan điểm hệ thống trong thiết kế và dạy học ôn tập chương phần sinh học tế bào lớp 10 THPT, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng quan điểm hệ thống trong thiết kế và dạy học ôn tập chương phần sinh học tế bào lớp 10 THPT
Tác giả: Lê Hồng Điệp
Năm: 2007
10. Đỗ Thị Hà (2002), Sử dụng tiếp cận hệ thống hình thành khái niệm Sinh thái học trong chương trình sinh học lớp 11 trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng tiếp cận hệ thống hình thành khái niệm Sinh thái học trong chương trình sinh học lớp 11 trung học phổ thông
Tác giả: Đỗ Thị Hà
Năm: 2002
11. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2001), “Phương pháp ôn tập luyện tập”, Tự học, (18), tr. 24 - 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp ôn tập luyện tập”, "Tự học
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh
Năm: 2001
12. Lê Thị Ngọc Hoa (2008), Hệ thống hóa nội dung khái niệm cấp độ cơ thể trong dạy học sinh học 11, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường ĐHSP, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống hóa nội dung khái niệm cấp độ cơ thể trong dạy học sinh học 11
Tác giả: Lê Thị Ngọc Hoa
Năm: 2008
13. Trần Bá Hoành, Trịnh Nguyên Giao (2002), Đại cương phương pháp dạy học sinh học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương phương pháp dạy học sinh học
Tác giả: Trần Bá Hoành, Trịnh Nguyên Giao
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
14. Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXB Trường ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB Trường ĐHSP
Năm: 2006
15. Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (1998), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
16. Nguyễn Văn Hồng (2006), “Sử dụng tương tự trong dạy học”, Tạp chí giáo dục, (137), tr. 29-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng tương tự trong dạy học”, "Tạp chí giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Năm: 2006
17. Ngô Văn Hưng (2005), Giới thiệu đề thi và đáp án thi chọn học sinh giỏi quốc gia môn Sinh, NXB Đại học Quốc Gia, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu đề thi và đáp án thi chọn học sinh giỏi quốc gia môn Sinh
Tác giả: Ngô Văn Hưng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia
Năm: 2005
18. N. M. Iacôlep (1978), Phương pháp và kỹ thuật lên lớp trong nhà trường phổ thông – tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp và kỹ thuật lên lớp trong nhà trường phổ thông – tập 1
Tác giả: N. M. Iacôlep
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1978
19. Adam Khoo (Trần Đăng Khoa và Uông Xuân Vy dịch) (2009), Tôi tài giỏi - bạn cũng thế, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi tài giỏi - bạn cũng thế
Tác giả: Adam Khoo (Trần Đăng Khoa và Uông Xuân Vy dịch)
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2009
20. Nguyễn Thị Thùy Liên (2009), Tổ chức dạy học bài tổng kết chương quán triệt quan điểm hệ thống để hình thành khái niệm cấp độ cơ thể trong dạy học sinh học 11 nâng cao THPT, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường ĐHSP, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học bài tổng kết chương quán triệt quan điểm hệ thống để hình thành khái niệm cấp độ cơ thể trong dạy học sinh học 11 nâng cao THPT
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Liên
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tình hình tổ chức bài ôn tập tổng kết chương - nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần sinh thái học - sinh học 12, trung học phổ thông
Bảng 1.1. Tình hình tổ chức bài ôn tập tổng kết chương (Trang 25)
Bảng 1.2. Việc áp dụng các biện pháp tổ chức bài tổng kết chương - nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần sinh thái học - sinh học 12, trung học phổ thông
Bảng 1.2. Việc áp dụng các biện pháp tổ chức bài tổng kết chương (Trang 26)
Bảng 1.3. Các hình thức ôn tập của học sinh - nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần sinh thái học - sinh học 12, trung học phổ thông
Bảng 1.3. Các hình thức ôn tập của học sinh (Trang 27)
Sơ đồ 2. - nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần sinh thái học - sinh học 12, trung học phổ thông
Sơ đồ 2. (Trang 31)
Bảng 2.2.  Các dấu hiệu bản chất của cấp tổ chức sống Quần thể Các dấu hiệu của cấp tổ - nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần sinh thái học - sinh học 12, trung học phổ thông
Bảng 2.2. Các dấu hiệu bản chất của cấp tổ chức sống Quần thể Các dấu hiệu của cấp tổ (Trang 41)
Bảng 2.4. Các dấu hiệu bản chất của cấp tổ chức sống Sinh quyển - nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần sinh thái học - sinh học 12, trung học phổ thông
Bảng 2.4. Các dấu hiệu bản chất của cấp tổ chức sống Sinh quyển (Trang 45)
Sơ đồ 2.4. Sơ đồ tư duy ôn tập chương Quần thể sinh vật - nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần sinh thái học - sinh học 12, trung học phổ thông
Sơ đồ 2.4. Sơ đồ tư duy ôn tập chương Quần thể sinh vật (Trang 53)
Sơ đồ 2.5. Sơ đồ tư duy ôn tập chương Quần xã sinh vật - nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần sinh thái học - sinh học 12, trung học phổ thông
Sơ đồ 2.5. Sơ đồ tư duy ôn tập chương Quần xã sinh vật (Trang 54)
Hình 2.1. Chủ đề trung tâm Quần xã sinh vật - nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần sinh thái học - sinh học 12, trung học phổ thông
Hình 2.1. Chủ đề trung tâm Quần xã sinh vật (Trang 65)
Bảng 2.6. Đặc điểm của quần thể sinh vật - nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần sinh thái học - sinh học 12, trung học phổ thông
Bảng 2.6. Đặc điểm của quần thể sinh vật (Trang 67)
Bảng 3.1. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra Lần - nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần sinh thái học - sinh học 12, trung học phổ thông
Bảng 3.1. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra Lần (Trang 78)
Bảng 3.3. Bảng phân phối tần suất luỹ tích - nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần sinh thái học - sinh học 12, trung học phổ thông
Bảng 3.3. Bảng phân phối tần suất luỹ tích (Trang 79)
Đồ thị 3.1. Đường luỹ tích - Trường THPT Nguyễn Sỹ Sách - nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần sinh thái học - sinh học 12, trung học phổ thông
th ị 3.1. Đường luỹ tích - Trường THPT Nguyễn Sỹ Sách (Trang 79)
Bảng 3.5. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra Lần - nâng cao chất lượng dạy học bài ôn tập chương phần sinh thái học - sinh học 12, trung học phổ thông
Bảng 3.5. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra Lần (Trang 80)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w