Sử dụng Bản đồ tư duy để dạy các tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết lịch sử ở trường THCS. Phần mở đầu: ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lí do chọn đề tài 1. Cơ sở lí luận: Việc giảng dạy các tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết lịch sử ở trường THCS là một mảng kiến thức khó, khô khan, ít hấp dẫn. Trong quá trình lựa chọn các tiết dạy để tham dự hội giảng, viết sáng kiến kinh nghiệm...đại đa số giáo viên thường ngại hoặc né tránh nội dung này. Mục tiêu, yêu cầu của các tiết dạy ôn tập, sơ kết, tổng kết là đòi hỏi học sinh không chỉ ghi nhớ kiến thức của cả một giai đoạn, một tiến trình lịch sử mà còn phải biết khái quát, tổng hợp kiến thức, biết liên hệ, so sánh từ đó rút ra quy luật và bài học lịch sử. Số tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết trong chương trình lịch sử chiếm tỉ lệ không nhiều song lại đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Học sinh có cái nhìn tổng thể về lịch sử hay không, có được mở rộng và khắc sâu kiến thức lịch sử hay không phụ thuộc vào việc học các nội dung ôn tập. Phương pháp dạy học lịch sử phổ biến hiện nay thường là giúp học sinh ghi chép thông tin bằng các kí tự, đường cong, con số. Với cách ghi chép này chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não – não trái mà chưa sử dụng kĩ năng bên não phải nơi giúp chúng ta xử lí các thông tin về màu sắc, nhịp điệu, không gian… Cách ghi chép thông thường khó nhớ được tổng thể cả vấn đề, dễ nhàm chán và nhanh quên. Sử dụng Bản đồ tư duy để dạy các tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết, học sinh có thể dễ dàng ghi chép thông tin của bài học bằng hệ thống sơ đồ mở đơn giản, dễ vẽ, dễ thể hiện, phù hợp với mọi trình độ nhận thức của các em đồng thời cũng phát huy được khả năng sáng tạo của người học. Đây là cách ghi chép mới kết hợp giữa mạch kiến thức với nét vẽ, hình ảnh, màu sắc nên kích thích được trí tò mò, sức tưởng tượng của học sinh, giúp các em nắm chắc được nội dung bài học, có khả năng tổng hợp, khái quát cao đồng thời nhớ rất lâu, đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu của tiết học. 2. Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn dạy học lịch sử hiện nay ở trường THCS đã có những bước tiến đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của xã hội. Một thực tế đang diễn ra là thế hệ trẻ biết, hiểu rất mơ hồ về lịch sử, không chỉ lịch sử thế giới mà cả lịch sử dân tộc. Điều này được phản ánh phần nào qua các kỳ thi học sinh giỏi hàng năm, thi vào cấp III, đặc biệt là thi vào đại học, điểm trung bình các bài thi lịch sử thấp nhất trong các môn. Đặc biệt trong nhiều năm gần đây, tình trạng học sinh học vẹt, học thuộc lòng mà không nắm được ý chính là phổ biến. Nhiều em không biết cách học, cách ghi kiến thức vào bộ não. Các em chỉ học một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được sự kiện nổi bật, không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức với nhau. Đa số học sinh hiện nay không thích học môn lịch sử nhất là đối với các bài ôn tập, tổng kết do đặc trưng bài học thường phải ghi chép dài, sự kiện nhiều, ngày tháng khó nhớ. Các tiết ôn tập cần có sự tổng hợp, liên kết, xâu chuỗi kiến thức nhưng thường được giảng dạy qua loa, ít được đầu tư..Tâm lí phụ huynh và dư luận xã hội đều coi đây là môn phụ, vì môn học không được sử dụng phổ biến trong thi cử để phục vụ cho việc lựa chọn ngành nghề sau này. Một số em yêu thích lịch sử, học tập chăm chỉ nhưng thành tích học tập chưa cao. Các em thường học bài nào biết bài đó, học phần sau không biết liên hệ với phần trước, không biết hệ thống kiến thức, liên kết kiến thức, vận dụng kiến thức với nhau. Xuất phát từ những vấn đề lí luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi luôn nung nấu một điều là làm thế nào để nâng cao được chất lượng dạy học các tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết lịch sử trong các nhà trường trung học, nhất là cấp THCS. Qua nghiên cứu và tìm hiểu về hệ thống phương pháp dạy học, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học lịch sử phát huy tác dụng rất tốt. Với việc ghi chép bằng hình ảnh, đường nét, màu sắc giúp chống lại lối học vẹt, giúp ghi nhớ kiến thức tốt hơn. Sử dụng thành thạo bản đồ tư duy trong dạy học lịch sử làm tăng tính độc lập, chủ động sáng tạo, phát triển tư duy người học. Do những ưu điểm của Bản đồ tư duy trong dạy học như vậy nên trong phạm vi đề tài này chúng tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm của bản thân đã áp dụng thành công Bản đồ tư duy trong quá trình giảng dạy các nội dung ôn tập lịch sử để trao đổi cùng đồng nghiệp. II. Phạm vi, giới hạn đề tài: Việc sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học lịch sử là một chủ đề rộng phụ thuộc vào kinh nghiệm và trình độ giảng dạy của mỗi đồng chí giáo viên. Đề tài có thể áp dụng ở tất cả các khối lớp, từ lớp 6 – lớp 9. Tuy nhiên ở lớp 6,7 chỉ sử dụng bản đồ ở mức đơn giản vì khả năng tư duy, tổng hợp của các em còn thấp so với lớp 8,9, mức độ tư duy, tổng quát, suy luận tốt hơn nên việc sử dụng phương pháp cũng được nâng cao hơn. Trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ xin đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân đã áp dụng thành công phương pháp Bản đồ tư duy trong quá trình giảng dạy các tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết lịch sử ở trường mình, khối 8,9. Đề tài gồm 6 nội dung lớn: A. Những vấn đề lí luận chung về Bản đồ tư duy B. Các bước tạo lập Bản đồ tư duy trong dạy học lịch sử C. Phương pháp dùng BĐTD để dạy các tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết lịch sử 8, 9. D. Giới thiệu một số kiểu BĐTD thường sử dụng E. Giáo án minh họa G. Kết quả và bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế.
Trang 1Sử dụng Bản đồ tư duy để dạy các tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết lịch sử ở trường THCS.
Phần mở đầu: ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lí do chọn đề tài
1 Cơ sở lí luận: Việc giảng dạy các tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết lịch sử ở
trường THCS là một mảng kiến thức khó, khô khan, ít hấp dẫn Trong quá trình lựachọn các tiết dạy để tham dự hội giảng, viết sáng kiến kinh nghiệm đại đa số giáoviên thường ngại hoặc né tránh nội dung này Mục tiêu, yêu cầu của các tiết dạy
ôn tập, sơ kết, tổng kết là đòi hỏi học sinh không chỉ ghi nhớ kiến thức của cả mộtgiai đoạn, một tiến trình lịch sử mà còn phải biết khái quát, tổng hợp kiến thức,biết liên hệ, so sánh từ đó rút ra quy luật và bài học lịch sử
Số tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết trong chương trình lịch sử chiếm tỉ lệ khôngnhiều song lại đóng vai trò cực kỳ quan trọng Học sinh có cái nhìn tổng thể về lịch
sử hay không, có được mở rộng và khắc sâu kiến thức lịch sử hay không phụ thuộcvào việc học các nội dung ôn tập
Phương pháp dạy học lịch sử phổ biến hiện nay thường là giúp học sinh ghichép thông tin bằng các kí tự, đường cong, con số Với cách ghi chép này chúng tamới chỉ sử dụng một nửa của bộ não – não trái mà chưa sử dụng kĩ năng bên nãophải nơi giúp chúng ta xử lí các thông tin về màu sắc, nhịp điệu, không gian…Cách ghi chép thông thường khó nhớ được tổng thể cả vấn đề, dễ nhàm chán vànhanh quên
Sử dụng Bản đồ tư duy để dạy các tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết, học sinh có thể
dễ dàng ghi chép thông tin của bài học bằng hệ thống sơ đồ mở đơn giản, dễ vẽ, dễthể hiện, phù hợp với mọi trình độ nhận thức của các em đồng thời cũng phát huyđược khả năng sáng tạo của người học Đây là cách ghi chép mới kết hợp giữamạch kiến thức với nét vẽ, hình ảnh, màu sắc nên kích thích được trí tò mò, sứctưởng tượng của học sinh, giúp các em nắm chắc được nội dung bài học, có khảnăng tổng hợp, khái quát cao đồng thời nhớ rất lâu, đáp ứng được mục tiêu, yêucầu của tiết học
2 Cơ sở thực tiễn:
Thực tiễn dạy học lịch sử hiện nay ở trường THCS đã có những bước tiến đáng
kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của xã hội Một thực tế đang diễn ra
là thế hệ trẻ biết, hiểu rất mơ hồ về lịch sử, không chỉ lịch sử thế giới mà cả lịch sửdân tộc Điều này được phản ánh phần nào qua các kỳ thi học sinh giỏi hàng năm, thivào cấp III, đặc biệt là thi vào đại học, điểm trung bình các bài thi lịch sử thấp nhấttrong các môn Đặc biệt trong nhiều năm gần đây, tình trạng học sinh học vẹt, họcthuộc lòng mà không nắm được ý chính là phổ biến Nhiều em không biết cáchhọc, cách ghi kiến thức vào bộ não Các em chỉ học một cách máy móc, thuộcnhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được sự kiện nổi bật,không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức với nhau
Đa số học sinh hiện nay không thích học môn lịch sử nhất là đối với các bài
ôn tập, tổng kết do đặc trưng bài học thường phải ghi chép dài, sự kiện nhiều, ngàytháng khó nhớ Các tiết ôn tập cần có sự tổng hợp, liên kết, xâu chuỗi kiến thức
1
Trang 2nhưng thường được giảng dạy qua loa, ít được đầu tư Tâm lí phụ huynh và dưluận xã hội đều coi đây là môn phụ, vì môn học không được sử dụng phổ biếntrong thi cử để phục vụ cho việc lựa chọn ngành nghề sau này Một số em yêuthích lịch sử, học tập chăm chỉ nhưng thành tích học tập chưa cao Các em thườnghọc bài nào biết bài đó, học phần sau không biết liên hệ với phần trước, không biết
hệ thống kiến thức, liên kết kiến thức, vận dụng kiến thức với nhau
Xuất phát từ những vấn đề lí luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi luôn nungnấu một điều là làm thế nào để nâng cao được chất lượng dạy học các tiết ôn tập,
sơ kết, tổng kết lịch sử trong các nhà trường trung học, nhất là cấp THCS
Qua nghiên cứu và tìm hiểu về hệ thống phương pháp dạy học, chúng tôinhận thấy việc sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học lịch sử phát huy tác dụng rấttốt Với việc ghi chép bằng hình ảnh, đường nét, màu sắc giúp chống lại lối họcvẹt, giúp ghi nhớ kiến thức tốt hơn Sử dụng thành thạo bản đồ tư duy trong dạyhọc lịch sử làm tăng tính độc lập, chủ động sáng tạo, phát triển tư duy người học
Do những ưu điểm của Bản đồ tư duy trong dạy học như vậy nên trong phạm vi đềtài này chúng tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm của bản thân đã áp dụngthành công Bản đồ tư duy trong quá trình giảng dạy các nội dung ôn tập lịch sử đểtrao đổi cùng đồng nghiệp
II Phạm vi, giới hạn đề tài:
Việc sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học lịch sử là một chủ đề rộng phụ thuộc vào kinh nghiệm và trình độ giảng dạy của mỗi đồng chí giáo viên Đềtài có thể áp dụng ở tất cả các khối lớp, từ lớp 6 – lớp 9
Tuy nhiên ở lớp 6,7 chỉ sử dụng bản đồ ở mức đơn giản vì khả năng tư duy,tổng hợp của các em còn thấp so với lớp 8,9, mức độ tư duy, tổng quát, suy luậntốt hơn nên việc sử dụng phương pháp cũng được nâng cao hơn
Trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ xin đưa ra một số kinh nghiệm nhỏcủa bản thân đã áp dụng thành công phương pháp Bản đồ tư duy trong quá trìnhgiảng dạy các tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết lịch sử ở trường mình, khối 8,9
Đề tài gồm 6 nội dung lớn:
A Những vấn đề lí luận chung về Bản đồ tư duy
B Các bước tạo lập Bản đồ tư duy trong dạy học lịch sử
C Phương pháp dùng BĐTD để dạy các tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết lịch sử 8, 9
D Giới thiệu một số kiểu BĐTD thường sử dụng
E Giáo án minh họa
G Kết quả và bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế
III Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp điều tra hứng thú học tập bộ môn của học sinh lớp 8,9
2 Phương pháp phân tích tổng hợp
3 Nghiên cứu khảo nghiệm qua dự giờ thăm lớp
4 Phương pháp thực nghiệm, đối chiếu, so sánh
IV Bản quy ước viết tắt
Trang 4Phần hai: NỘI DUNG
A Những vấn đề lí luận chung về Bản đồ tư duy
I Lịch sử phương pháp sử dụng Bản đồ tư duy
Người sáng lập ra phương pháp Bản đồ tư duy là tác giả Tony Buzan( 1942 –London) Phương pháp của ông có tên là Bản đồ tư duy Minmad Hiện nay trên thếgiới có khoảng 500 công ty và tập đoàn tư bản lớn đang sử dụng phần mềm Minmad
Tại Việt Nam, tiến sĩ Trần Đình Châu và tiến sĩ Đặng Thị Thu Thủy là hai tácgiả đầu tiên phổ biến công cụ này tới các trường phổ thông Từ năm 2010, phươngpháp đã được triển khai thí điểm ở 355 trường học trong toàn quốc Hè năm 2011,các đợt tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên được thực hiện ở 63 tỉnh thành
Do phương pháp này có nhiều ưu điểm, phù hợp với điều kiện kinh tế và cơ
sở vật chất của nhà trường nơi mình đang công tác nên tôi mạnh dạn áp dụngphương pháp, đưa vào giảng dạy môn lịch sử tại nhà trường
II Khái niệm Bản đồ tư duy
Nghĩa của cụm từ Bản đồ tư duy không hiểu theo nghĩa của cụm từ bản đồthông thường như bản đồ địa lí mà Bản đồ tư duy được hiểu là một hình thức ghichép theo mạch tư duy của mỗi người bằng việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữviết Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế Bản đồ tư duy theo mạch tư duycủa mỗi người
Bản đồ tư duy không yêu cầu tỷ lệ chi tiết, khắt khe như bản đồ địa lý, có thể
vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dựng màu sắc,hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một nội dung nhưng có thể “thểhiện” nó dưới dạng Bản đồ tư duy theo một cách riêng Do đó việc lập Bản đồ tưduy phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mọi người
Sơ đồ minh hoạ
III Vai trò của BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học
Trang 5BĐTD là hình thức ghi chép, sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đàosâu các ý tưởng BĐTD - một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nóthành một kỹ thuật hình họa giữa sự kết hợp các từ ngữ, hình ảnh, màu sắc, đườngnét phù hợp với cấu trúc hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khaithác tiềm năng vô tận của bộ não.
Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc với mạng lướiliên tưởng( các nhánh) BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ vớinhau, vì vậy có thể sử dụng vào dạy học các kiến thức mới, củng cố kiến thức saumỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương…
BĐTD giúp học sinh học được phương pháp chủ động, tích cực Vì đặctrưng môn lịch sử là môn học dài, khó nhớ, đòi hỏi phải nhớ chính xác sự kiện,không thể “bịa” lịch sử hoặc “Râu ông nọ cắm cằm bà kia” được Do đó đại đa sốhọc sinh có tâm lý ngại hoặc sợ học môn lịch sử.Việc học tập chỉ mang tính épbuộc khô khan, nhàm chán, không hiệu quả
BĐTD giúp học sinh học tập tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não.Việc học sinh vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của người học.Các em được tự do chọn màu sắc( xanh, đỏ, tím, vàng…); đường nét đậm, nhạt,thẳng, cong Các em tự “sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cáchtrình bày kiến thức của từng học sinh và BĐTD do các em tự thiết kế nên các em
sẽ yêu quý, trân trọng “tác phẩm của mình”
BĐTD giúp học sinh ghi chép rất hiệu quả Do đặc điểm của BĐTD nênngười thiết kế BĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp bố cục để ghi thôngtin cần thiết nhất và lôgic nhất Vì vậy sử dụng BĐTD sẽ giúp học sinh dần dầnhình thành cách ghi chép hiệu quả
BĐTD có thể sử dụng được với bất kỳ điều kiện vật chất nào của các trườnghiện nay Có thể thiết kế BĐTD trên giấy, bìa, bảng phụ… dùng phấn màu, bút chì,tẩy hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm BĐTD Với những trường có điều kiệncông nghệ thông tin tốt, có thể cài đặt phần mềm Minmad cho giáo viên, học sinh; sửdụng bằng cách vào trang wed www.dowload Com.vn gõ vào ô “tìm kiếm” cụm từMinmad, ta có thể tải về miễn phí ConceptDraw Mindmap 5 professional.Việc sửdụng phần mềm này khá đơn giản, dễ lưu trữ, dễ thay đổi và dễ chỉnh sửa Trước mắtdùng phấn màu vẽ BĐTD lên bảng và dùng bút màu vẽ trên giấy, bìa đối với họcsinh
Tóm lại với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, BĐTD sẽgiúp các em:
1 Sáng tạo hơn: học sinh được thoải mái thể hiện sức sáng tạo trên bản đồ
dựa trên nội dung cơ bản của bài học
2 Tiết kiệm thời gian hơn: thay vì việc ngồi ôm sách, đọc đi đọc lại một bài
học, mất nhiều thời gian, mệt mỏi, nhàm chán thì bây giờ học sinh chỉ việc ngồi vẽ
sơ đồ đơn giản, mất 10 – 15 phút với hứng thú học tập và khả năng sáng tạo cao
3 Ghi nhớ tốt hơn: Sử dụng BĐTD giúp huy động được khả năng làm việc
tối đa của 2 bán cầu não( não trái và não phải), kết hợp giữa màu sắc, đường nét,hình ảnh sẽ lưu trữ trong óc lâu hơn so với việc học thuộc lòng từ đầu đến cuối
5
Trang 6Học sinh cho biết kiến thức lưu lại trong đầu các em rất lâu nếu tự tay vẽ BĐTDcho bài học.
4 Nhìn thấy bức tranh tổng thể: BĐTD giúp người học có thể chụp được
nội dung bài học một cách tổng thể như người nhiếp ảnh chụp một bức ảnh vậy
Do đó giúp người học nhìn được tổng thể nội dung kiến thức Từ đó có sự liên hệ,
so sánh tốt hơn
5 Tổ chức và phân loại suy nghĩ: để sử dụng tốt phương pháp này, điều
quan trọng là giáo viên hướng cho học sinh có thói quen lập BĐTD trước hoặc saukhi học một bài, một chủ đề hay một chương để giúp các em có cách sắp xếp mộtcách khoa học, lôgic
B Các bước tạo lập BĐTD trong dạy học lịch sử( 3 bước)
Bước I Chọn hình ảnh trung tâm và chủ đề của bài học:
- Mở đầu bài học giáo viên giúp học sinh chọn một hình ảnh trung tâm ở
- Tiếp theo giáo viên hướng dẫn học sinh chọn một chủ đề, một từ khóa
của bài học
Sơ đồ minh họa bài: Ôn tập lịch sử thế giới hiện đại( từ 1917 – 1945), lịch sử 8
+ Hình ảnh trung tâm: biểu tượng cánh chim hòa bình
+Chủ đề, từ khóa của bài học: “Lịch sử thế giới hiện đại từ 1917 – 1945 ”
Bước II Chọn màu sắc: Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não
như hình ảnh Màu sắc luôn tạo ra sự mới mẻ, hứng khởi và thu hút sự chú ý củahọc sinh
Trang 7Bước III Từ một chủ đề chính, trung tâm đưa ra các ý lớn thứ nhất, ý lớn thứ hai, thứ ba…mỗi ý lớn lại được nối với các ý nhỏ liên quan với nó, mỗi ý
nhỏ lại có các ý nhỏ hơn…các ý này như “bố”, “mẹ”, rồi “con”, “cháu”, “chắt”,
“chút chít”…các đường nhánh có thể là đường thẳng hay đường cong Các đường
kẻ càng ở gần hình ảnh trung tâm càng được tô dày hơn, đậm hơn Khi học sinhnối các đường với nhau, các em sẽ hiểu và nhớ nhiều thứ hơn rất nhiều do bộ nãolàm việc bằng sự liên tưởng
Sơ đồ minh họa bài: Ôn tập lịch sử Việt Nam( từ 1858 – 1918), lịch sử 8,phần II Từ khoá là “Nội dung lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918” Từ chủ đề nàytriển khai ra 7 nhánh lớn: Nguyên nhân Pháp xâm lược Việt Nam; nguyên nhânnước ta rơi vào tay thực dân Pháp; phong trào Cần Vương 1885 – 1896 Khởinghĩa Hương Khê; nhận xét phong trào chống Pháp cuối thế kỉ XIX, những chuyểnbiến kinh tế, xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX; nhận xét phong trào yêu nước đầu thế
kỉ XX; hoạt động cứu nước của Nguyễn Ái Quốc Từ 7 nhánh đó lại tiếp tục triểnkhai lần lượt thành các nhánh nhỏ hơn Cứ như vậy cho đến hết nội dung bài học
* Một số lưu ý khi tạo lập BĐTD trong dạy học lịch sử
- Khi vẽ BĐTD cần sắp xếp các từ, hình ảnh, các ý rõ ràng, đứng riêng vàcùng trên một nhánh để đảm bảo dễ quanh sát, dễ học Các từ ngữ cần được lựachọn sao cho cô đọng, chuyển tải được nhiều nội dung nhất
- Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình( Kiểu đường kẻ, màu sắc…)Mỗi
học sinh có thể tạo ra cho mình một kiểu BĐTD riêng, không ai giống ai, tuỳ vàotrí tưởng tượng và khả năng sáng tạo các em, miễn là đảm bảo trong bản đồ thểhiện đúng, đủ nội dung kiến thức của bài học
7
Trang 8- Nên dùng các đường kẻ cong vì các đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ
thu hút được sự chú ý của mắt rất nhiều hơn so với đường thẳng Tuy nhiên đối vớicác bài ôn tập, tổng kết có thể dùng xen kẽ với đường kẻ thẳng để đảm bảo vẽ gọnbản đồ trong một khổ giấy nhất định
- Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm để đảm bảo các hình ảnh
phân bố đều, cân đối, dễ nhìn, dễ học, không bị rối
C Phương pháp dùng BĐTD để dạy các tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết lịch sử 8, 9.
Có nhiều cách khai thác BĐTD để dạy các tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết lịch sử Sauđây là một số cách cơ bản:
Cách 1: Dùng BĐTD để kiểm tra bài cũ:
Trong quá trình kiểm tra thường xuyên ở lớp như kiểm tra miệng, thời giankhông nhiều, giáo viên căn cứ vào nội dung bài học tiết trước để lựa chọn hìnhthức vẽ BĐTD sao cho phù hợp, đảm bảo không ảnh hưởng đến tiến trình tiết dạy
mà vẫn kiểm tra được việc học bài cũ của các em
Sau khi đưa ra yêu cầu kiểm tra, giáo viên có thể gọi học sinh nêu chủ đềchính cần kiểm tra và mời vài em khác cùng lên bảng vẽ một BĐTD của bài học.Tùy vào các nhánh kiến thức nhiều hay ít mà giáo viên gọi số học sinh lên bảngcho phù hợp
Ví dụ: Trước khi dạy bài Ôn tập lịch sử thế giới cận đại( Giữa thế kỉ XVI –1917), giáo viên chọn một nội dung trong số những nội dung đã học để kiểm trabài cũ, chẳng hạn chọn về chiến tranh thế giới thứ nhất:
Giáo viên vẽ hình ảnh trung tâm bằng phấn màu lên bảng, sau đó hướng dẫnhọc sinh tìm chủ đề chính là “ Chiến tranh thế giới thứ nhất 1914 - 1918”, các đơn
vị kiến thức cần kiểm tra về cuộc chiến tranh này là: Nguyên nhân bùng nổ chiếntranh, diễn biến chính của cuộc chiến
Giáo viên đưa ra mô hình BĐTD như sau:
Trên cơ sở đó gọi 2 em lên bảng hoàn thiện BĐTD với 2 nhánh kiến thứcvừa nêu Sau khi học sinh vẽ xong sẽ cho các học sinh khác, nhóm khác nhận xét
bổ sung Có thể cho học sinh vẽ thêm các đường, các nhánh khác để kiểm tra mởrộng kiến thức về kết quả và tính chất của cuộc chiến tranh và ghi thêm các chúthích để hoàn thiện nâng cao kĩ năng vẽ BĐTD cho các em
Một số ví dụ minh hoạ
Trang 10Cách II: Dùng BĐTD để dạy bài mới
Trong quá trình dạy các tiết ôn tập, sơ kết, tổng kết, giáo viên dùng BĐTD
để dạy bài mới, đảm bảo việc ghi chép ngắn gọn, dễ hiểu, nhìn thấy tổng thể cả bàihọc
Hầu hết các nội dung ôn tập trong chương trình lịch sử 8,9 đều được thiết kếtheo 2 phần, phần 1là lập bảng niên biểu về những sự kiện lịch sử, phần 2 là tìm hiểu về nội dung của những sự kiện đó.Vì vậy khi dạy các tiết ôn tập này bằng BĐTD có thể sử dụng 2 hình thức sau:
1 Dùng BĐTD để dạy một phần của bài học ngay trên lớp( thường áp
dụng cho phần 2 của bài ôn tập) Với hình thức này giáo viên vừa tổ chức khai thácnội dung bài học vừa hướng dẫn học sinh vẽ bản đồ sao cho kết thúc tiết học, họcsinh cũng hoàn thiện BĐTD về bài học đó
Ví dụ: Khi dạy bài “ Ôn tập lịch sử thế giới cận đại từ giữa thế kỉ XVI –1917”, lịch sử 8, sau khi cho học sinh lập bảng niên biểu các sự kiện chính của lịch
sử thế giới cận đại( phần I), giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ bản đồ tư duy phần II.
Những nội dung chính của lịch sử thế giới cận đại
- Mở đầu, giáo viên hướng dẫn học sinh chọn chủ đề chính: Lịch sử thế giới
cận đại( Giữa thế kỉ XVI – 1917)
- Giáo viên yêu cầu học sinh theo dõi sgk, căn cứ vào những sự kiện vừa nêu
ở phần I, khái quát lần lượt những nội dung cơ bản của lịch sử thế giới cận đại ( 5nội dung cơ bản)
- GV chiếu lần lượt 5 nội dung chính trên bản đồ, học sinh quan sát và vẽ vào vở
1 CMTS và sự xác lập của CNTB
2 Sự xâm lược thuộc địa của CNĐQ
3 Phong trào công nhân quốc tế bùng nổ mạnh mẽ
4 Khoa học, kĩ thuật, văn học, nghệ thuật phát triển
5 Chiến tranh thế giới thứ nhất( 1914 – 1918)
Trang 11Sơ đồ minh hoạ phần II, bài “ Ôn tập lịch sử thế giới cận đại từ giữa thế kỉ
XVI – 1917”, lịch sử 8
- Giáo viên hướng dẫn học sinh lần lượt khai thác từng nội dung:
Với nội dung thứ nhất: 1 CMTS và sự xác lập của CNTB.
Giáo viên hỏi: Nguyên nhân nào làm bùng nổ các cuộc cách mạng tư sản?Học sinh trả lời, giáo viên diễn giải và chốt lại: Thế kỉ XV, trong lòng xã hộiphong kiến bắt đầu xuất hiện những yếu tố mới của nền sản xuất – các công trườngthủ công có tính chuyên môn hoá cao Chế độ phong kiến kìm hãm nền sản xuấtmới, tư sản giàu có nhưng không có quyền lực Xuất hiện mâu thuẫn giữa chế độphong kiến với tư sản và các tầng lớp nhân dân Kết quả của những mâu thuẫn nàylàm bùng nổ các cuộc cách mạng tư sản
Giáo viên kết luận và chiếu nội dung : Vậy nguyên nhân bùng nổ các cuộc
CMTS là do: sự xuất hiện các công trường thủ công có tính chuyên môn hoá cao , mâu thuẫn giữa phong kiến với tư sản và nhân dân trở nên sâu sắc.
- Em hãy kể tên các cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu đã học?( Đầu tiên vàcác cuộc CMTS khác)
- Giáo viên chiếu nội dung: tên các cuộc CMTS tiêu biểu Sau đó đi sâu vàotìm hiểu CMTS Pháp: CMTS Pháp nổ ra nhằm thực hiện nhiệm vụ gì? Sự kiện nàochứng tỏ CMTS Pháp triệt để nhất? Đánh giá đây là cuộc Đại cách mạng( Lật đổchế độ phong kiến, thiết lập chế độ cộng hoà, chuyên chính dân chủ cách mạng,giải quyết quyền lợi cho dân)
Thảo luận nhóm: Rút ra đặc điểm chung về các cuộc CMTS?( Nhiệm vụ, lãnh đạo, phương pháp – hình thức và kết quả)
Giáo viên kết luận và chiếu nội dung đặc điểm chung về CMTS:
11
Trang 12Nhiệm vụ: lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập chế độ TBCN
Lãnh đạo: giai cấp tư sản
Phương pháp – hình thức: trực tiếp và gián tiếp
Kết quả: CNTB được xác lập trên phạm vi thế giới.
Với nội dung thứ hai: 2 Sự xâm lược thuộc địa của CNTB
Giáo viên hỏi: Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, nền kinh tế của các nước TBCN có đặcđiểm gì? ( Sự xuất hiện các công ti độc quyền)
Giáo viên chiếu lược đồ các nước đế quốc và thuộc địa yêu cầu học sinh nhận xét
về hệ thống thuộc địa của các nước Anh, Pháp, Đức, Mĩ
Giáo viên hỏi: Vì sao cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, các nước tư bản đẩy mạnhviệc xâm chiếm thuộc địa? Từ đó học sinh khái quát lại đặc điểm của 4 nước đế quốctrên
Giáo viên: Những biểu hiện nào về kinh tế; chính trị, ngoại giao chứng tỏ CNTB đã
chuyển sang chủ nghĩa đế quốc? Học sinh trả lời, giáo viên kết luận: Sự xuất hiện các
công ti độc quyền, mở rộng xâm lược thuộc địa Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn phát triển cao nhất của CNTB.
Giáo viên hỏi: Vì sao đồng thời với sự ra đời của chủ nghĩa đế quốc, phong
trào GPDT lại không ngừng phát triển?
Học sinh trả lời, giáo viên diễn giải: Sự phát triển của CNTB nảy sinh nhu
cầu về thuộc địa và thị trường Chủ nghĩa đế quốc tăng cường bóc lột thuộc địa phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh (Trung Quốc, Ấn Độ, Đông NamÁ) Chỉ có Thái Lan và Nhật Bản không bị biến thành thuộc địa Chủ nghĩa đế
quốc là phòng chờ của cách mạng vô sản, của CNXH.
Giáo viên kết luận và chiếu những nội dung của nhánh thứ 2: CNTB chuyểnsang chủ nghĩa đế quốc, xuất hiện các công ty độc quyền ; phong trào giải phóngdân tộc ở Trung Quốc, Ấn Độ và Đông Nam Á bùng nổ
Với nội dung thứ ba: 3 Phong trào công nhân quốc tế bùng nổ mạnh mẽ.
Giáo viên: Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân được chia thành 2 giaiđoạn: Giai đoạn đầu giữa thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX, giai đoạn sau: giữa thế kỉXIX - đầu XX
- Giai cấp công nhân ra đời đầu tiên ở nước nào? ( Anh, Pháp, Mĩ )Vì saongay từ khi mới ra đời, họ đã nổi dậy đấu tranh?
Bài tập: Hoàn thành nội dung bảng sau về phong trào công nhân?
Thời kỳ Giữa thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ
Trang 13- Giáo viên chiếu đáp án chuẩn:
Thời kỳ Giữa thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX Giữa thế kỉ XIX - đầu XX
Mục đích
đấu tranh
Đòi miếng cơm, manh áo thôngthường( tăng lương, giảm giờlàm )
Mít tinh, biểu tình, khởi nghĩa
vũ trang nhằm thẳng vào giaicấp tư sản
( Đấu tranh tự giác)
Giáo viên kết luận và chiếu nội dung nhánh nhỏ thứ 3: Trải qua 2 hình thức
đấu tranh: tự phát và tự giác( do được giác ngộ lí luận của chủ nghĩa Mác) Phong
trào công nhân lúc này đã có sự liên kết quốc tế
Với nội dung thứ tư: 4 Khoa học, kĩ thuật, văn học, nghệ thuật phát triển.
- Gv yêu cầu học sinh nhắc lại những thành tựu tiêu biểu của cuộc cách mạng kĩthuật, khoa học đã học
Ý nghĩa của cuộc cách mạng này đối với lịch sử phát triển của nhân loại? Tuynhiên cuộc cách mạng cũng còn có những hạn chế gì?
Giáo viên kết luận và chiếu nội dung nhánh nhỏ thứ 4: Như vậy đây là bước tiếnthứ hai trong lịch sử phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa sau cách mạng côngnghiệp thế kỉ XVIII
Với nội dung thứ năm: 5 Chiến tranh thế giới thứ nhất( 1914 – 1918)
Nội dung này giáo viên vừa kiểm tra ở đầu giờ học Vì vậy chỉ yêu cầu họcsinh nhắc nhanh nguyên nhân bùng nổ chiến tranh? Nêu sự kiện mở đầu và kết thúcchiến tranh? Đi sâu vào phân tích kết cục và tính chất của cuộc chiến này để học sinhthấy được đó là cuộc chiến tranh phi nghĩa Giải thích khái niệm chiến tranh thế giới?Đây là sự xung đột mở đầu của khối TBCN trên quy mô toàn thế giới Sang thế kỉ
XX, lịch sử còn gánh chịu sự xung đột thứ 2 lớn hơn gấp nhiều lần, gây hậu quảnghiêm trọng( Chiến tranh thế giới thứ hai)
Học sinh kết hợp vừa nghe, trả lời câu hỏi, làm việc theo sự hướng dẫn củagiáo viên vừa vẽ BĐTD bài học vào vở
Kết thúc tiết học, học sinh đã có BĐTD chọn vẹn về bài ôn tập
13
Trang 142 Với những bài nội dung kiến thức dài, không đảm bảo thời gian vẽtrên lớp, giáo viên có thể đưa ra từ khoá và hướng dẫn học sinh các ý chínhbậc 1, 2 để học sinh trên cơ sở đó về nhà hoàn thiện BĐTD dựa trên bài giảngcủa giáo viên.
Cách III Dùng BĐTD để củng cố bài học:
Sau khi kết thúc tiết học, giáo viên có thể sử dụng BĐTD để củng cố bài Đây làhình thức được sử dụng thường xuyên Vì việc vẽ BĐTD loại này không cần cầu kỳ,tốn ít thời gian nhưng có tác dụng lớn trong việc chốt lại kiến thức của toàn bài Khixây dựng BĐTD loại này, giáo viên cần lựa chọn từ ngữ sao cho ngắn gọn, cô đọng đểđảm bảo tóm tắt nội dung bài vừa học một cách dễ hiểu nhất
Ví dụ: Vẫn là nội dung bài bài “ Ôn tập lịch sử thế giới cận đại từ giữa thế kỉ
XVI – 1917”, lịch sử 8 nêu trên, sau khi dạy xong bằng phương pháp thôngthường, giáo viên có thể sử dụng sơ đồ sau để củng cố bài
Trang 15Cách IV Sử dụng BĐTD để hỗ trợ quá trình ôn tập, ôn thi, tự học ngoài giờ lên lớp nhằm phát triển tư duy lôgic.
Có thể sử dụng BĐTD để luyện thi học sinh giỏi và ôn thi vào cấp III vì khiluyện thi học sinh giỏi và ôn thi vào cấp III đòi hỏi học sinh phải nắm được mộtlượng kiến thức lớn, có sự khái quát hoá, tổng kết hoá theo chương, theo mảngkiến thức, nâng cao vấn đề Nếu học bằng phương pháp thông thường sẽ rất khónhớ Do đó BĐTD ngoài việc giúp học sinh hệ thống lại kiến thức cơ bản củabài( Mức thông thường dành cho học sinh trung bình) thì còn giúp học sinh mởrộng kiến thức, nâng cao kiến thức Đây được coi là phần mở của BĐTD (Phần
dành cho học sinh khá giỏi).
Ngoài ra học sinh có thể sử dụng BĐTD để hỗ trợ quá trình tự học ở nhà: tìmhiểu trước bài mới, củng cố kiến thức, ôn tập cuối học kỳ bằng cách vẽ BĐTD trêngiấy, bìa…hoặc để tư duy một vấn đề mới Vì hầu hết học sinh đều có khả năng tựhọc nhất định song khả năng đó chưa cao và chưa đạt yêu cầu Sự chú ý và ghi nhớtrong học tập còn kém Do vậy nếu sử dụng thường xuyên thì sẽ giúp hình thành vàphát triển kĩ năng thực hành cho các em Qua đó phát triển khả năng tư duy lôgic,củng cố khắc sâu kiến thức và kĩ năng ghi chép
Học sinh có thể trực tiếp làm việc với máy tính, sử dụng phần mềmMinmad, phát triển khả năng ứng dụng công ghệ thông tin, sử dụng máy tínhtrong học tập Có thể lúc đầu sẽ gặp khó khăn khi tập cho học sinh vẽ BĐTDnhưng khi đã hình thành thói quen rồi thì các em sẽ rất thích thú sử dụng để có
Sự xâm lược thuộc địa của CNĐQ
Phong trào công
nhân quốc tế
Chiến tranh thế giới thứ nhất ( 1914 – 1918)
CMTS và sự xác lập của CNTB
LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI ( Giữa thế kỉ XVI – 1917)
Nguyên nhân, diễn biến, kết quả, tính chất.
- Nguyên nhân bùng
nổ CMTS
- Các cuộc CMTS tiêu biểu
Đặc điểm chung của CNĐQ, phong trào GPDT
15