Giả thuyết khoa học Nếu trình độ thể lực của VĐV bơi lội ở giai đoạn huấn luyện chuyênmôn hoá ban đầu được minh chứng có mối quan hệ chặt chẽ với tiềm năngmức độ phát dục cơ thể, thì tuy
Trang 1MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, thành tích thể thao đỉnh cao của Việt Nam đãnhanh chóng tiếp cận với khu vực và châu lục Nhiều môn thể thao đã đạt thứhạng cao qua các kỳ Đại hội Seagames và quốc tế như Teakwondo, Judo,Wushu, Bắn súng… Riêng môn bơi lội thành tích thi đấu sau nhiều năm tụthậu thì ở đầu thế kỷ 21 này cũng đã có sự khởi sắc Năm 2001, đội tuyển bơi
có 1 huy chương bạc Năm 2003, bơi lội có 1 huy chương bạc, 3 huy chươngđồng và đến năm 2005, lần đầu tiên trong lịch sử tham dự Seagames, độituyển bơi Việt Nam đã giành được tấm huy chương vàng quý giá
Thành tích bơi lội ngày được nâng cao là nhờ chính sách và chiến lượcphát triển TDTT 2011 đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đúng đắn của ngànhTDTT Trong chiến lược phát triển đó, môn bơi lội đã được xác định là mônthể thao cơ bản và được chú trọng đầu tư phát triển Song muốn nâng caothành tích thể thao cao hơn, vững chắc hơn đòi hỏi bơi lội Việt Nam cần khoahọc hóa cao hơn nữa quá trình tuyển chọn và huấn luyện VĐV bơi lội
Trong hệ thống đào tạo VĐV hiện nay ở các nước có nền thể thao mạnhnhư Trung Quốc, Nga, Mỹ, Đức… đều coi tuyển chọn là yếu tố cực kỳ quantrọng và chiếm tỷ lệ 50% thành công trong đào tạo VĐV xuất sắc Chính vì vậy
ở các nước này đã đầu tư cho việc nghiên cứu khoa học tuyển chọn từ rất sớm
Từ cuối thế kỷ XX, các nhà khoa học tuyển chọn của Nga nhưBungacova, Gaida, ở Đức như Hebric, Harre; Hình Văn Hoa, Tăng Phàn Huy,Vương Lộ Đức, Chu Thái Xương ở Trung Quốc… đã công bố hàng loạt cáckết quả nghiên cứu về tuyển chọn VĐV bơi lội của mình Trong các côngtrình nghiên cứu của các tác giả trên đã xây dựng nên hệ thống lý luận tuyểnchọn đồng thời đã hình thành nên các hệ thống test tuyển chọn VĐV các mônthể thao trong đó có môn bơi lội [2], [11], [49], [54]
Trang 2Như chúng ta biết trong hệ thống test tuyển chọn ở mỗi môn thể thaođều bao gồm các nội dung tuyển chọn về:
Thể lực là một yếu tố quan trọng cấu thành thành tích thể thao nên cácnhà khoa học hết sức coi trọng khâu tuyển chọn các tố chất thể lực bao gồm
cả thể lực chung và thể lực chuyên môn Đồng thời gắn việc đánh giá thể lựcvới quá trình phát dục của cơ thể
Đặc biệt là khi khoa học đánh giá tuổi xương ra đời đã tạo tiền đề choviệc nghiên cứu tuyển chọn VĐV theo tuổi xương
Các công trình nghiên cứu của Vương Lộ Đức, Hình Văn Hoa, Lê ĐứcChương (2003) về tuyển chọn theo tuổi xương đã làm cho việc tuyển chọn vềcác mặt hình thái, chức năng, tố chất gắn liền với mức độ phát dục của cơ thể[49], [7]
Bơi lội là một môn thể thao có chu kỳ và thuộc nhóm môn thể lực vớisức nhanh chủ đạo Thể lực của VĐV cũng có mối quan hệ hữu cơ với quátrình phát dục của VĐV bơi lội Tuy vậy, mức độ quan hệ của trình độ thể lựcvới mức độ phát dục cụ thể đối với VĐV nam nữ ở tuổi 12-14 ở Việt Namnhư thế nào thì vẫn chưa được làm sáng tỏ
Trang 3Với mong muốn góp phần vào việc xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễncho việc tuyển chọn khoa học VĐV bơi lội ở Việt Nam, tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Xác định quan hệ giữa trình độ thể lực với mức độ phát dục cơ thể của VĐV bơi lội 12-14 tuổi”
Mục đích nghiên cứu
Xác định mối quan hệ giữa trình độ thể lực với mức độ phát dục cơ thểcủa VĐV ở các nhóm cự ly kiểu bơi, theo giới tính và nhóm tuổi để làm cơ sởkhoa học cho tuyển chọn VĐV bơi lội lứa tuổi 12-14, góp phần nâng cao chấtlượng và hiệu quả đào tạo VĐV bơi lội của Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, đề tài xác định các mụctiêu nghiên cứu sau:
Mục tiêu 1: Nghiên cứu xác định các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể lực
và mức độ phát dục của VĐV bơi lội 12-14 tuổi.
Mục tiêu 2: Thực trạng trình độ phát triển thể lực và mức độ phát dục của VĐV bơi lội 12 – 14 tuổi.
Mục tiêu 3: Xác định mối tương quan giữa các chỉ tiêu đánh giá trình
độ thể lực với mức độ phát dục của VĐV bơi lội 12-14 tuổi.
Giả thuyết khoa học
Nếu trình độ thể lực của VĐV bơi lội ở giai đoạn huấn luyện chuyênmôn hoá ban đầu được minh chứng có mối quan hệ chặt chẽ với tiềm năngmức độ phát dục cơ thể, thì tuyển chọn VĐV có tiềm năng phát dục cơ thể lớn
sẽ làm nền tảng để phát triển thành tích bơi lội trong tương lai
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trình độ thể lực và vai trò của trình độ phát triển thể lực trong tuyển chọn và huấn luyện thể thao
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
cụ thể; thường được đạt trên nền và sau chuẩn bị thể lực chung [10] Thể
chất được cấu thành bởi hình thái chức năng tố chất thể lực và phẩm chất tâm
lý trí tuệ .còn thể lực lại chủ yếu chỉ về các tố chất thể lực Vì vậy việc xemxét khái niệm trình độ thể lực chỉ là có thể xem xét tới khái niệm mức độ hoặctrình độ phát triển các tố chất thể lực Vậy thế nào là trình độ phát triển các tốchất thể lực?
Theo Novicop AD Macveep.LP, Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn thể lực
là một phần những đặc điểm tương đối riêng biệt, trong thể lực của con ngườiđược chia thành 5 loại; mạnh, nhanh, bền, khéo, dẻo [18], [28]
Vì vậy các tác giả trên cho rằng trình độ phát triển thể lực của conngười là chỉ mức độ phát triển các tố chất thể lực mạnh, nhanh, bền, khéo
Trang 5dưới tác động của các yếu tố di truyền, môi trường dinh dưỡng và tập luyệnthể dục thể thao.
Còn Điền Mạch Cửu, Hình Văn Hoa, Lý Chí Dũng… thì cho rằng:Mức độ phát triển các tố chất thể lực là mức độ phát triển các tố chất sứcmạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo dưới tác động của tăng trưởng
tự nhiên, tăng trưởng do tập luyện thể dục thể thao và các hoạt động thể lựckhác" [43], [46]
Đề tài cho rằng trong các khái niệm trên thì khái niệm về mức độ pháttriển thể lực của các tác giả Trung Quốc là tương đối hoàn chỉnh
1.1.2 Khái niệm về tố chất thể lực
Theo Novicop AD Macveep.LP, Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn thuậtngữ tố chất thể lực là chỉ các nhân tố, đặc điểm, tương đối khác nhau trongthể lực của con người và thường được chia thành năm loại: sức mạnh, sứcnhanh, sức bền, năng lực phối hợp vận động, mềm dẻo Tố chất thể lực trongthể thao lại chia thành tố chất thể lực chung và tố chất thể lực chuyên môn[18], [28]
Còn Viên Vĩ Dân và cộng sự thì khái niệm về tố chất thể lực như sau: "Tốchất thể lực là năng lực cơ thể con người biểu hiện ra các trạng thái, chức năng
cơ bản của cơ thể như sức mạnh, sức nhanh, sức bền trong vận động là trạngthái công năng tổng hợp có mối quan hệ với vận động của cơ thể con người.Đồng thời cũng bao gồm năng lực vận động trong các môn thể thao đặc thù nào
đó của VĐV Sự biểu hiện và đánh giá của tố chất thể lực gồm nhiều mặt và cóthể chia thành hai loại lớn là tố chất thể lực chung và tố chất thể lực chuyênmôn" [62]
Thể lực chung là thể lực giúp cơ thể hoàn thành các động tác và bài tậptrong các bài tập thể lực trong cuộc sống (như đi lại, chạy, nhảy), nó bao gồm
5 tố chất: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo và khả phối hợp vận động;
Trang 6thể lực chuyên môn là thể lực giúp cơ thể thực hiện chính xác những động tác
kỹ thuật và bài tập của một môn thể thao nhất định nào đó, thể lực chuyênmôn được xây dựng trên nền tảng của thể lực chung [62]
Thể lực chuyên môn của VĐV bơi lội: Nhìn chung đều gồm có 5 tốchất sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo và khả phối hợp vận động vàcũng có sự khác biệt nhất định giữa các cự ly và kiểu bơi (khác biệt chủ yếu là
ở cự ly bơi dài, ngắn, trung bình)
Qua các khái niệm về tố chất thể lực của các học giả trong và ngoàinước chúng ta có thể thấy có sự thống nhất Song đề tài cho rằng khái niệm tốchất thể lực của Viên Vĩ Dân là đầy đủ và rõ ràng hơn
1.1.3 Vai trò của trình độ thể lực trong tuyển chọn và huấn luyện VĐV bơi lội
Như mọi người đã rõ mục đích cơ bản của tuyển chọn và huấn luyệnVĐV thể thao nói chung và VĐV bơi lội nói riêng, là việc tìm kiếm được cácnăng khiếu thể thao tiềm ẩn Để đưa vào đào tạo khoa học và thi đấu, giànhđược thành tích thể thao xuất sắc trong các cuộc thi đấu căng thẳng trongnước và quốc tế Vì vậy, việc tuyển chọn cũng như huấn luyện đều phải tìmcách phát hiện, khai thác các yếu tố chi phối thành tích thể thao của VĐV
Theo các tác giả Harre, Điền Mạch Cửu, Nguyễn Toán, Phạm DanhTốn đều cho rằng thành tích thể thao được cấu thành bởi 5 yếu tố sau [11],[43], [28]:
Hình thái chức năng cơ thể
Trình độ kỹ thuật
Trình độ chiến thuật
Trình độ thể lực
Phẩm chất tâm lý trí tuệ
Trang 7Tuy vậy trong thể thao lại có nhiều môn khác nhau có các yêu cầu khácnhau đối với các yếu tố đó Theo các học giả Lý Văn Tĩnh, Nguyễn VănTrạch, Lê Nguyệt Nga Bơi lội là môn thể thao có chu kỳ và thuộc nhóm môn
có yêu cầu sức bền tốc độ khá cao, đặc biệt bơi lội là môn thể thao có nhiều
cự ly và kiểu bơi khác nhau, các cự ly 50m, 100m đòi hỏi VĐV phải có tốc độcao và năng lực yếm khí tốc độ Cự ly 200 - 400m đòi hỏi VĐV phải có sứcbền tốc độ, đặc biệt là sức bền ưa yếm khí hỗn hợp tốt Đối với cự ly 800mtrở lên đòi hỏi VĐV bơi lội phải có sức bền ưa khí rất tốt, mới có thể đạt đượcthành tích tốt trong thi đấu bơi lội [49], [29], [20] Song dù VĐV bơi lội, bơi
ở bất cứ cự ly bơi nào đi nữa thì cả 5 yếu tố thể lực cũng có tầm quan trọngđặc biệt Bởi lẽ, các tố chất thể lực cũng có vai trò đặc biệt quan trọng Điềunày thể hiện ở chỗ:
Tố chất thể lực là cơ sở và là tiền đề để VĐV nắm bắt được kỹ thuậthợp lý trong bơi
Tố chất thể lực giúp cho việc duy trì được kỹ thuật bơi trong suốt cự lybơi giúp VĐV đạt được thành tích tốt trong thi đấu
Tố chất thể lực là tiền đề để thực hiện được chiến thuật trong thi đấu bơi
Tố chất thể lực giúp cho VĐV có được lòng tự tin và ý chí quyết đấutrong thi đấu bơi lội
Có thể nói trong thi đấu bơi hiện đại, khi mà trình độ VĐV hơn kémnhau về thành tích không đáng kể và chỉ được tính bằng phần trăm giây.Trình độ thể lực của VĐV càng trở nên có vai trò quyết định đối với thắngthua và đạt được thành tích cao thấp trong thi đấu
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới trình độ phát triển thể lực của VĐV bơi lội
Theo các học giả trong và ngoài nước như Butuvich, Bungacova, MụcTường Hùng, Trần Vận Bằng, Chu Thái Xương, Nguyễn Văn Trạch, Lê
Trang 8Nguyệt Nga, Chung Tấn Phong trình độ phát triển các tố chất thể lực củaVĐV bơi lội thường chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau [3], [2], [54], [50],[30], [20], [23]:
Thứ nhất là chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền
Độ di truyền chỉ mực độ chi phối của gen đến tính trạng quan tâm vídụ: sức bền được di truyền chiếm tới 60%, điều đó chứng tỏ sức bền bị chiphối bởi gen tới 60%, 40% còn lại là sự chi phối của các yếu tố khác
Theo Triệu Quế Ngân và Vương Chính Âu thì các loại tố chất thể lực
có độ (tỷ lệ) di truyền cụ thể như sau Xem bảng 1.1
Thứ hai là các nhân tố môi trường Trong các nhân tố về môi trườngphải kể dến các nhân tố sau:
Môi trường tự nhiên như vĩ tuyến, nhiệt độ, độ ẩm
Môi trường xã hội như chế độ xã hội, trình độ phát triển về kinh tế xãhội
Trang 9Thứ ba là nhân tố tập luyện thể dục thể thao một cách khoa học hợp lý.
Đó cũng là những nhân tố có tác động quan trọng chiếm tỷ lệ từ 25 đến 70%
1.2 Đặc điểm hoạt động thể lực và đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của thiến niên thời kỳ phát dục
1.2.1 Đặc điểm hoạt động thể lực trong môn bơi lội
Theo lý luận huấn luyện nhóm môn của Điền Mạch Cửu bơi lội cự lyngắn (50 - 100m) thuộc nhóm môn thể lực chủ đạo mang tính tốc độ Còn bơi
ở cự ly từ 800 trở lên là thuộc nhóm môn thể lực chủ đạo mang tính sức bền.Riêng cự ly 200 - 400m thì mang tính vừa tốc độ vừa sức bền [44]
Dựa vào sự phân chia trên thì các cự ly có các đặc điểm hoạt động thểlực sau:
Đối với các cự ly ngắn: đặc điểm hoạt động thể lực được thể hiện ở cácmặt sau:
a Khi bơi cự ly ngắn tố chất tốc độ cần phát huy cao độ, đặc biệt là tốc
độ động tác và tần số động tác phải nhanh để có thể tạo ra được tốc độ caotrong bơi Theo các chuyên gia bơi như Trần Vận Bằng, Mục Tường Hùng,Butuvich, Nguyễn Văn Trạch khi bơi ở cự ly ngắn VĐV phải dùng tần sốbằng 98 - 99% tần số bơi tối đa, và tốc độ động tác cũng đạt tới mức 99 -100% tốc độ tối đa [54], [3], [31]
Trang 10Về sức mạnh khi bơi cự ly ngắn, chủ yếu dùng sức mạnh tốc độ và sứcmạnh bền, lấy hoạt động sức mạnh tốc độ là chính (riêng động tác xuất phátquay vòng dùng sức mạnh bột phát).
Về sức bền chủ yếu sử dụng sức bền yếm khí, cuối cự ly 100m có thể
sử dụng một phần của sức bền ưa khí Sức bền ưa khí là cơ sở để VĐV bơi lội
cự ly ngắn nâng cao thành tích bơi của mình
Về mềm dẻo và khéo léo là khả năng dùng sức và thả lỏng cũng như độdẻo của các khớp để thực hiện kỹ thuật bơi hợp lý, nhằm giúp nâng cao vàduy trì tốc độ bơi
b Khi bơi cự ly trung bình 200 - 400m:
Về tố chất tốc độ vẫn yêu cầu tần số động tác và tốc độ động tác đơntương đối cao, tần số đạt khoảng 96 - 97%, tần số tối đa và tốc độ động tác đạt
97 - 98% so với tốc độ tối đa của động tác đơn
Về sức mạnh: Khi bơi cự ly 200 - 400m thường phải dùng sức mạnhtốc độ kết hợp với sức mạnh bền, trừ động tác xuất phát và quay vòng phảidùng sức mạnh bột phát
Về sức bền: Ở 50m đầu thì sử dụng sức bền ưa khí là chính còn giaiđoạn sau VĐV sử dụng sức bền yếm khí là chính Vì vậy có thể nói sức bền
ưa, yếm khí hỗn hợp là sức bền cần thiết nhất cho VĐV bơi lội cự ly trungbình
Về mềm dẻo và linh hoạt cũng có những đặc điểm giống bơi cự ly ngắn
c Khi bơi cự ly dài 800 - 1500m trở lên đặc điểm hoạt động thể lực cónhững biểu hiện sau:
Về tốc độ VĐV thường chỉ sử dụng 94 - 95% tần số tối đa và khoảng
95 - 96% tốc độ tối đa động tác
Về sức mạnh: sử dụng hỗn hợp hai loại sức mạnh tốc độ và sức mạnhbền lấy sức mạnh bền làm chính
Trang 11Về sức bền khi bơi cự ly 800 1500m VĐV thường ở khoảng 400m 600m đầu thì sử dụng sức bền ưa yếm khí hỗn hợp, còn từ 600 - 1500m chủyếu sử dụng sức bền ưa khí Vì vậy, sức bền ưa khí là sức bền chủ yếu đểVĐV bơi lội cự ly dài nâng cao thành tích bơi.
-Về tố chất mềm dẻo và linh hoạt trong bơi cự ly dài có ý nghĩa rất quantrọng, nhất là khả năng thả lỏng và dùng sức hợp lý của VĐV, sẽ giúp choVĐV tiết kiệm được sức lực để duy trì tốc độ cao trong suốt cự ly bơi
1.2.2 Đặc điểm phát triển thể lực chung của thiếu niên
Dựa trên cơ sở tổng hợp các tài liệu tham khảo trong và ngoài nướcnhư: Sinh lý học của Dương Tích Nhượng, Lưu Quang Hiệp, Trịnh HùngThanh Các tài liệu chuyên môn về bơi lội của Nguyễn Văn Trạch, Lê NguyệtNga, Đỗ Trọng Thịnh, Nguyễn Văn Trọng, Mục Tường Hùng, Chu TháiXương, Lý Văn Tĩnh, Trần Vận Bằng, Butuvich ta có thể nhận thấy: VĐV bơilội thiếu niên trong quá trình phát dục trưởng thành, các tố chất thể lực có đặcđiểm chung cơ bản là: Các VĐV thiếu niên có tuổi nhạy cảm riêng đối với sựphát triển các tố chất thể lực
Theo các kết quả nghiên cứu của Novoncop, Svat, Chu Thái Xương…
ở tuổi thiếu niên nhi đồng các tố chất thể lực của các em đều có những tuổinhạy cảm riêng Ở tuổi nhạy cảm đối với các tố chất thể lực khác nhau thìtrong tuổi đó các em sẽ có tốc độ phát triển các tố chất có tính nhạy cảm sẽcao hơn hẳn các tuổi khác Vì vậy, các huấn luyện viên thường lợi dụng cơhội tuổi nhạy cảm này để phát triển nhằm khai thác tối đa tiềm năng thể thaocủa các em
Đối với các em thiếu niên nhi đồng thời kỳ nhạy cảm phát triển các tốchất thể lực cụ thể như sau:
Tốc độ phản ứng thời kỳ phát triển nhạy cảm là từ 9 - 11 tuổi
Trang 12Tố chất mềm dẻo linh hoạt thời kỳ phát triển nhạy cảm là từ 10 - 12tuổi.
Tố chất tốc độ thời kỳ phát triển nhạy cảm là từ 9 - 12 tuổi
Tố chất sức mạnh thời kỳ phát triển nhạy cảm là từ 10 - 13 tuổi
Sức bền ưa khí thời kỳ phát triển nhạy cảm là từ 10 - 16 tuổi
1.2.2.1 Đặc điểm phát triển sức bền của VĐV bơi lội lứa tuổi thiếu niên
Các nhà khoa học và chuyên gia, huấn luyện viên môn bơi lội đều chorằng: sức bền là tố chất cơ bản của VĐV bơi lội Khả năng tiếp thu sức bềncủa các em thiếu niên sớm hơn một số tố chất khác Vì vậy, tuổi đạt thành tíchcao ở cự ly dài và cự ly trung bình sớm hơn của cự ly ngắn khoảng 2 tuổi CácVĐV xuất sắc của tuổi thiếu niên đạt được thành tích bơi xuất sắc ở cự ly dài
và cự ly trung bình đã thành quy luật phổ biến
Các kết quả nghiên cứu về sức bền của VĐV bơi lội thiếu niên đãchứng minh: 10 tuổi là lúc sức bền của các em nam phát triển lần đầu nhanhnhất Đến 13 tuổi lại xuất hiện một đợt phát triển lớn nữa Đặc biệt là thờigian duy trì cường độ bơi 90% càng biểu hiện rõ rệt hơn Đến 16 tuổi sức bềnphát triển lại càng cao hơn, sau đó sức bền mới phát triển chậm lại
Ở nữ VĐV bơi lội hai năm sau khi có kinh nguyệt, sức bền giảm thấp,tuổi 15 - 16 sức bền giảm sút lớn nhất Sau đó tốc độ giảm chậm Không nêncho rằng các VĐV thiếu niên xuất sắc đã đạt được những thành tích xuất sắc
ở cự ly trung bình và cự ly dài là đã có đầy đủ tố chất sức bền
Trong sức bền thì sức bền yếm khí có một vai trò quan trọng, nhất làđối với các VĐV cự ly ngắn
Sức bền yếm khí cũng có thời kỳ phát triển nhạy cảm riêng, mặc dùtrước khi phát triển sức bền yếm khí đã phải phát triển tốt sức bền ưa khí, đểtạo tiền đề cho việc chuyển đổi sức bền sang sức bền chuyên môn Như chúng
Trang 13ta đã biết, sức bền yếm khí là khả năng chịu đựng nợ oxy Bởi vì khi VĐVbơi lội nhanh ở thời gian khoảng 30" đầu, năng lượng cung cấp cho vận độngchủ yếu là dựa vào hệ cung cấp năng lượng yếm khí Nói cách khác là dựavào năng lượng từ việc phân giải yếm khí ATP và CP Nên việc tích luỹ ATP
và CP trong cơ thể (nhất là trong máu, trong cơ và trong gan) sẽ nâng cao sứcbền yếm khí cho VĐV Song do ở tuổi thiếu niên, hình thái chức năng các hệthống cơ quan trong cơ thể chưa hoàn thiện và các tố chất thể lực khác cũngchưa phát triển đầy đủ, nên sức bền yếm khí của các em chưa phát triển mạnh.Nam VĐV sức bền yếm khí thường phát triển hơn nữ VĐV từ 1 đến 2 tuổi.Còn quá trình diễn biến sự phát triển sức bền mạnh của nam VĐV có thể thấy
Trang 141.2.2.2 Đặc điểm phát triển tố chất tốc độ của VĐV bơi lội thiếu niên
Các chuyên gia, huấn luyện viên, giáo viên bơi đều cho rằng: Tốc độbơi là biểu hiện tập trung của năng lực bơi Tốc độ bơi phụ thuộc vào rấtnhiều yếu tố như tính hợp lý của kỹ thuật, sức mạnh (nhất là sức mạnh nhanh
và sức mạnh bền), tính linh hoạt và cường độ của quá trình thần kinh mạnhhay yếu v.v… Tốc độ cũng là kết quả của sự hoàn thiện chức năng của cơ thể,
là mốc đánh dấu chủ yếu trình độ tập luyện của VĐV
Theo các nghiên cứu của Bungacova, Chu Thái Xương, Tăng PhànHuy, Lê Nguyệt Nga, Nguyễn Ngọc Cừ thì sự phát triển tố chất tốc độ ở VĐVbơi lội thiếu niên cũng có quy luật riêng biệt của nó và được thể hiện ở cácmặt sau [2], [50], [46], [20], [8]:
VĐV bơi lội ở trước tuổi 13 sự phát triển tốc độ của nam và nữ là gầngiống nhau
Giai đoạn giữa từ 13 - 16 tuổi sự phát triển tốc độ giữa nam và nữ có sựkhác biệt: Nam phát triển nhanh, còn nữ phát triển chậm lại
Nhìn tổng thể sự phát triển tốc độ tạo ra 2 làn sóng và có 2 đỉnh cao Từ
7 - 13 tuổi tạo ra sóng phát triển thứ nhất, trong đó đỉnh cao của nam là 8 - 13tuổi, nữ là 9 - 12 tuổi Ở làn sóng này mức độ tăng trưởng tốc độ rất cao Lànsóng phát triển tốc độ lần thứ 2 là từ 13 - 16 tuổi, trong đó nam từ 13 - 14 tuổi
và nữ từ 13 - 16 tuổi Tuy vậy ở cuối làn sóng thứ 2 này nam có tốc độ pháttriển nhanh hơn nữ, còn nữ phát triển không ổn định
1.2.2.3 Đặc điểm phát triển sức mạnh của VĐV bơi lội thiếu niên
Cũng theo các tác giả môn bơi lội trên sức mạnh là một trong những tốchất cơ bản của VĐV bơi lội, và cũng là cơ sở của tố chất tốc độ, đặc biệt làsức mạnh bột phát Sự phát triển sức mạnh bột phát của thiếu niên có các đặcđiểm sau:
Trang 15a Đặc điểm phát triển sức mạnh tối đa
Sự phát triển sức mạnh tối đa ở nữ thường bắt đầu từ 10 tuổi và quátrình phát triển tự nhiên được chia ra thành 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1 từ 10 - 13 tuổi: Giai đoạn này sức mạnh phát triển rấtnhanh, đặc biệt là các cơ co Trong cả 3 năm tổng sức mạnh tuyệt đối có thểtăng tới 46%
Giai đoạn 2 từ 13 - 15 tuổi: Sự phát triển sức mạnh giảm đi rõ rệt Tổngsức mạnh tuyệt đối trong 2 năm chỉ tăng 8%
Giai đoạn 3 từ 15 - 16 tuổi: Trong 2 năm sức mạnh tăng 14%
Giai đoạn 4 từ 16 - 21 tuổi: sức mạnh tuyệt đối tăng chậm trong suốt 5năm chỉ tăng 6%
Trước 10 tuổi sức mạnh tuyệt đối của nam VĐV thiếu niên nhi đồngcũng tăng chậm và có sự khác biệt so với các em nữ không lớn
Từ 11 tuổi trở đi sự khác biệt thể hiện ngày càng rõ rệt, tốc độ tăngtrưởng cũng bắt đầu nhanh dần lên tương ứng
Thời kỳ từ 11 - 13 tuổi và thời kỳ từ 18 - 25 tuổi sức mạnh tăng lênchậm hơn, ngoài 25 tuổi sức mạnh phát triển hầu như hoàn toàn chững lại
b Đặc điểm phát triển sức mạnh tương đối:
Theo Lý Văn Tĩnh và Chu Thái Xương sức mạnh tương đối của namthiếu niên nhi đồng phát triển tương đối chậm [49], [50] Ví dụ giai đoạn 12 -
14 tuổi mỗi năm chỉ tăng 2 - 3% So với mức độ phát triển của sức mạnh tối
đa thì sức mạnh tương đối phát triển kém hơn nhiều Điều này có thể thấy ởbiểu đồ 1.2 dưới đây
Trang 16Biểu đồ 1.2: Diễn biến quá trình phát triển sức mạnh tối đa và sức mạnh
tương đối của VĐV bơi lội thiếu niên [29]
Qua biểu đồ trên cho thấy quá trình từ 7 đến 18 tuổi sức mạnh tối đa vàsức mạnh tương đối của nam và nữ phát triển liên tục nhưng nam sau 13 tuổiphát triển nhanh hơn nữ
c Đặc điểm phát triển sức mạnh tốc độ của VĐV bơi lội thiếu niên nhi đồng
Cũng theo các học giả bơi lội như Lý Văn Tĩnh, Chu Thái Xương,Bungacova sức mạnh tốc độ của các em thiếu niên nhi đồng từ 7 - 13 tuổiphát triển rất nhanh, sau 13 tuổi thì sức mạnh tốc độ của nam và nữ có sự
Trang 17khác biệt đáng kể [49], [50], [2] VĐV nam phát triển nhanh hơn nữ nhưngsau tuổi 17 thì cả nam và nữ đều phát triển chậm lại như biểu diễn trên biểu
d Đặc điểm phát triển sức mạnh bền
Theo các học giả bơi lội trong và ngoài nước, xu thế phát triển sứcmạnh bền tự nhiên của thiếu niên nhi đồng như sau: VĐV thiếu niên nhi đồngnam từ 7 - 17 tuổi xu thế phát triển là đường thẳng đi lên phát triển đặc biệt
Trang 18nhanh là giai đoạn từ 7 - 9 tuổi, còn nữ trước tuổi 13 thì phát triển nhanhnhưng sau 13 tuổi thì có xu hướng bắt đầu chậm lại Sau 14 tuổi thậm chí cònxuất hiện hiện tượng giảm sút.
1.2.2.4 Đặc điểm phát triển tố chất mềm dẻo của VĐV bơi lội thiếu niên
Các chuyên gia bơi lội trong và ngoài nước như Butuvich Bungacova,Caosimen, Trần Vận Bằng, Nguyễn Văn Trạch, Nguyễn Văn Trọng đều chorằng mềm dẻo là tố chất quan trọng trong bơi lội Nó có thể giúp cho VĐVnắm bắt, hình thành được kỹ thuật bơi hợp lý và còn giúp VĐV tiết kiệm sức.Duy trì tốc độ, nhịp độ bơi trên toàn cự ly bơi và làm chậm xuất hiện mệt mỏi
Độ mềm dẻo có giới hạn nhất định, tuổi càng cao thì độ mềm dẻo càngkém Ở độ tuổi thiếu niên nhi đồng độ mềm dẻo phụ thuộc chính vào gen ditruyền của bố mẹ, được thể hiện ngay ở cấu trúc hình thái cơ thể như vai rộngmông hẹp, bàn tay bàn chân dài Quá trình huấn luyện phát triển tố chấtmềm dẻo cần tiến hành sớm để tận dụng thời điểm nhạy cảm của tính mềmdẻo là từ 10 - 12 tuổi
1.2.3 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực chuyên môn của VĐV bơi lội thiếu niên
Do đặc thù của môn bơi lấy vận động trong nước là chính, cho nên chỉcần đến sức mạnh bột phát của 2 chân, năng lực phối hợp nhịp nhàng của các
bộ phận cơ thể để thực hiện động tác kỹ thuật xuất phát và quay vòng Tố chấtthể lực chuyên môn chủ yếu thể hiện ở các tố chất sau: Sức bền tốc độ, sứcbền ưa khí, sức mạnh bền
Sức bền tốc độ của VĐV bơi lội: Là sức bền cần thiết để vượt qua một
cự ly mà VĐV cần khoảng 45 giây đến 2 phút Ở đây, đòi hỏi một tỷ lệ phầntrăm cao về các quá trình trao đổi chất yếm khí Trình độ sức bền của VĐVbơi lội trong thời gian ngắn cũng phụ thuộc một cách quyết định vào mức độ
Trang 19phát triển của sức mạnh bền và sức nhanh Vì sức bền luôn luôn là thành phầncủa nhân tố thành tích thể lực nên nó có quan hệ chặt chẽ với các tố chất thểlực sức mạnh và sức nhanh Đây là những tố chất thể lực tổng hợp có tácdụng xác định thành tích thi đấu của VĐV bơi lội với các giá trị khác nhautrên cơ sở phụ thuộc vào thời gian kéo dài của thi đấu và vào đặc điểm củamôn bơi Nghĩa là trong các cụ ly ngắn thì sức mạnh bền có tác dụng lớn hơn
so với cự lý dài
Sức bền ưa khí: Là sức bền cần thiết để vượt qua một cự ly mà VĐVcần: trên 8 phút (như bơi 800m) cho tới nhiều giờ (như bơi 1500m khoảng 14phút) với tốc độ bơi không giảm về cơ bản Thành tích xuất hiện chủ yếu hoặchầu như chỉ xuất hiện trong các điều kiện ưa khí Trên cơ sở yêu cầu khácnhau về trao đổi chất ở các môn sức bền trong thời gian ngắn hơn so với cácmôn sức bền trong thời gian dài (Các môn này có cấu trúc các yêu cầu giốngnhư thành tích thi đấu và thành tích tập luyện gần giống các môn sức bền dàicủa các môn sức bền thời gian trung bình) và trên cơ sở các yêu cầu thực sựcủa sức bền trong thời gian dài người ta chia ra thành sức bền trong thời giandài I, II và II tương ứng với thời gian thi đấu khoảng từ 11 phút đến 20 phútvới môn bơi cự ly dài, đối với bơi vượt sông thì tùy thuộc vào các giải có thểkhoảng 60 phút trở lên (ví dụ như bơi vượt sông Hồng…)
Sức mạnh bền: Là khả năng chống lại mệt mỏi của VĐV bơi lội khihoạt động sức mạnh kéo dài Sức mạnh bền được đặc trưng bởi một năng lựcsức mạnh tương đối cao kết hợp với một khả năng sức bền quan trọng Trướchết sức mạnh bền trong môn bơi hoặc môn không có chu kỳ là cần phải khắcphục các lực cản trong một thời gian dài
Trong môn bơi lội sức mạnh bền xác định trước hết là độ lớn của xunglực trung bình thực hiện trong mỗi chu kỳ chuyển động mà hiệu quả của lựcđẩy trong từng chu kỳ chuyển động mà hiệu quả của lực đẩy trong từng chu
Trang 20kỳ chuyển động phụ thuộc vào xung lực này Xung lực trung bình cũng có thểbiểu thị là sức mạnh bền tuyệt đối khác với sức mạnh bền tương đối.
Sự phát triển thể lực chuyên môn của VĐV bơi lội cũng có những quyluật riêng của nó Quy luật này được biểu hiện:
Thể lực chuyên môn được tăng dần theo tuổi tác Dựa vào các kết
quả thống kê các học giả bơi lội Trung Quốc đã theo dõi và tính toán tỷ lệ
% các năng lực chuyên môn đạt được hàng năm so với năng lực chuyênmôn cao nhất của các VĐV bơi lội từ 11 đến 18 tuổi của VĐV bơi lội đượctrình bày ở bảng 1.2
Trang 21Bảng 1.2 Tỷ lệ % thể lực chuyên môn đạt được hàng năm (so với năng lực chuyên môn cao nhất) của VĐV bơi lội từ 11 - 18 tuổi [29].
Các tố chất
chuyên môn
Giới tính
(Quạt tay 3 phút)
Nam 31.8 38.8 48.7 60.4 76.2 93.7 97.9
Nữ 32.6 41.5 54.6 70.9 88.2 95.7 99.5Thời gian nín
thở
Nam 34.8 46.7 56.2 71.7 84.3 90.7 96.9
Nữ 35.6 54.6 68.7 87.5 90.6 95.8 99.9Lực kéo khi tốc
độ dòng chảy = 0
Nam 47.4 55.3 65.6 77.4 90.5 92.6 98.7
Nữ 48.4 65.1 76.6 87.5 93.2 95.8 99.9Lực kéo khi tốc
độ dòng chảy =
0.6m/s
Nam 42.0 60.6 58.4 65.6 77.3 96.8 98.4
Nữ 43.5 61.7 68.4 75.5 87.9 97.2 99.8Lực kéo khi tốc
độ dòng chảy =
1m/s
Nam 29.2 36.5 48.2 54.7 68.6 86.9 93.4
Nữ 30.3 43.2 55.6 65.7 78.2 95.5 98.7Lực kéo khi tốc
Nếu so sánh với các chỉ số hình thái chức năng cơ thể như chiều cao,cân nặng, dung tích sống v.v… thì các tố chất chuyên môn (năng lực chuyên
Trang 22môn) này có thời điểm thấp nhưng tốc độ tăng nhanh Ví dụ chiều cao, cânnặng của nam khi 8 tuổi so với khi 17 - 18 tuổi chỉ lần lượt bằng 82.7%;52.8% và 51.6% Song các chỉ số về thể lực chuyên môn như sức bền tốc độ,sức mạnh bền và thời gian nín thở tối đa của các em lại lần lượt chỉ bằng27.6%; 31.8% và 34.8% Nghĩa là tỷ lệ tăng chiều cao, cân nặng và dung tíchsống tăng gấp đôi tỷ lệ tăng trưởng các chỉ số thể lực chuyên môn, nhưng từtuổi 17 trở đi thì sự phát triển lại có sự giống nhau.
Quy luật sức bền trong sức mạnh, tức sức mạnh bền tăng nhanh hơn sức bền tốc độ Tuổi phát triển tốc độ và sức bền tốc độ nhanh nhất ở khoảng
14 - 16 tuổi Ví dụ tuổi 15 - 16 sức sức mạnh bền tăng lên 17.5% thì sức bềntốc độ nâng lên 24.6% Từ 16 tuổi trở đi tăng trưởng của các tố chất thể lựcchuyên môn có xu hướng giảm chậm
Quy luật thứ 3 là: Chức năng cơ thể phát triển chậm (muộn) hơn sự phát triển về hình thái và cấu trúc cơ thể cũng như các cơ quan trong cơ thể, nhưng chúng đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Ví dụ chiều cao, cân
nặng của nam ở thòi kỳ cao trào phát dục là ở độ tuổi từ 12 - 14 tuổi Còn chỉ
số tốc độ và sức bền tốc độ trong bơi 30" và sức mạnh bền trong bơi 3 phút lạiphát triển nhảy vọt vào độ tuổi khoảng 14 - 16 tuổi
1.3 Mức độ phát dục và vai trò của phát dục trong tuyển chọn VĐV thể thao
1.3.1 Các khái niệm cơ bản
Trang 23chức năng cấu trúc và tính trạng diễn ra với các mức độ cao, bình thường,thấp khác nhau [45].
Từ khái niệm này các tác giả trên đã đưa ra ba thời kỳ phát dục sớm,vừa và muộn [51]
Đồng quan điểm với các tác giả trên nhưng Lâm Uyển Sinh và VươngGia Lâm lại cho rằng: Do quá trình phát dục chỉ diễn ra mạnh mẽ rõ rệt nhấttrong thời kỳ dậy thì nên tác giả định nghĩa về quá trình phát dục và mức độ phátdục như sau [64]:
Quá trình phát dục được bắt đầu từ sự tăng trưởng đột biến về hình thái
cơ thể tiếp đến là sự hoà hợp hoàn toàn của xương, cơ thể giảm sự tăngtrưởng và đến khi kết thúc là sự phát dục hoàn thiện
Từ đó tác giả đưa ra khái niệm về mức độ tăng trưởng là: Sự biến đổicác tổ chức cơ xương và đa số các tổ chức cơ quan khác của cơ thể như tuầnhoàn, hô hấp, nội tiết, sinh dục phát triển với tốc độ nhanh chậm và thời điểmsớm muộn khác nhau Từ đó làm cho sự phân bố các thành phần cơ thể như
cơ bắp, mỡ và chức năng sinh lý xuất hiện sự thay đổi rõ rệt với các mức độkhác nhau
Ngoài ra Vương Gia Lâm còn cho rằng ngoài sự biến đổi về mặt sinh lýthì quá trình phát dục còn diễn ra sự biến đổi về mặt tâm lý và nhận thức xã hội
Còn theo một số nhà sinh lý học trong và ngoài nước như Dương TíchNhượng, Nguyễn Xuân Điền, Lưu Quang Hiệp thì cho rằng quá trình phát dụccủa cơ thể ở cuối giai đoạn phát dục, cùng với sự tăng trưởng đột biến các cơquan của cơ thể, cơ quan sinh dục cũng diễn ra sự thay đổi Đặc trưng tínhtrạng thứ hai xuất hiện, thiếu niên xuất hiện những đặc điểm giới tính riêngbiệt của mình Cuối cùng hình thành nên sự khác biệt giới tính rõ rệt Thời kỳnày các nhà sinh lý học gọi là giai đoạn cuối cùng của quá trình phát dục sinhtrưởng [51], [10], [12]
Trang 24Từ các khái niệm trên ta có thể thấy khái niệm về mức độ phát dục chính là chỉ mức độ cao, bình thường hoặc thấp của sự biến đổi chức năng cấu trúc tính trạng trong quá trình phát dục của cơ thể thiếu niên
1.3.1.2 Giai đoạn phát dục
Do quá trình phát dục diễn ra rất khác nhau giữa các cá thể Sự khácnhau đó chẳng những thể hiện ở thời điểm bắt đầu và kết thúc quá trình phátdục mà còn có sự khác biệt về tốc độ phát dục khác nhau Sự phát dục này tạo
ra làn sóng phát dục Dựa vào tính làn sóng trong phát dục về cấu trúc, chứcnăng và tính trạng mà người ta phân chia quá trình phát dục này thành các giaiđoạn hoặc thời kỳ phát dục khác nhau Thời kỳ phát dục không hoàn toàn căn
cứ vào tuổi mà căn cứ vào mức độ phát dục để phân chia
Do vậy các nhà sinh lý học như Dương Tích Nhượng, Lưu Quang Hiệpcho rằng: Giai đoạn hoặc thời kỳ phát dục là chỉ một khoảng thời gian phátdục nhất định, có tốc độ phát dục cao và tạo ra các làn sóng phát dục trong cảthời kỳ phát dục [51], [12]
Còn Tăng Phàn Huy, Hình Văn Hoa, Vương Lộ Đức, Vương Kim Xánthì cho rằng: Giai đoạn hoặc thời kỳ phát dục là sự phân chia quá trình phátdục thành các giai đoạn (hoặc thời kỳ) khác nhau dựa trên quy luật tính lànsóng và tính chất của quá trình phát dục.[45], [51]
Từ khái niệm trên ta có thể nhận thấy quá trình phát dục của cơ thể làkhông đồng đều Do vậy, các nhà sinh lý học đã dựa trên trình tự diễn ra quátrình phát dục, chia quá trình phát dục thành 3 thời kỳ Thời kỳ đầu, thời kỳgiữa, thời kỳ cuối
Trang 251.3.1.3 Cao trào phát dục
Trong cả quá trình phát dục có giai đoạn (hoặc thời kỳ) các chỉ tiêu vềcấu trúc thể hình như chiều cao, cân nặng, các chức năng, giới tính của cơ thểthiếu niên sản sinh sự tăng trưởng đột biến Các nhà sinh lý học gọi hiệntượng đó là cao trào phát dục
Nhà sinh lý học Dương Tích Nhượng, Lâm Uyển Sinh: quan niệm vềcao trào phát dục như sau: "Trong quá trình phát dục cơ thể của thiếu niên nhiđồng có một giai đoạn nào đó các chỉ số hình thái, chức năng, tố chất thể lực,nội tiết và tuyến tính của cơ thể các em phát triển nhanh mang tính đột biếnthì được gọi là giai đoạn hoặc thời kỳ cao trào phát dục"[47], [64]
Đồng quan điểm đó các nhà sinh lý học Việt Nam như Nguyễn Ngọc
Cừ, Lưu Quang Hiệp cho rằng: Cao trào phát dục là một hiện tượng đặc biệttrong quá trình phát dục cơ thể của thiếu niên Ở giai đoạn phát dục này, chiềucao cân nặng, chức năng tim, phổi, nội tiết và tuyến tính đều có sự phát triểnvượt trội [8], [12]
Từ các quan niệm về cao trào phát dục trên của các nhà khoa học trong
và ngoài nước ta có thể rút ra nhận xét chung là: Cao trào phát dục là mộttrong những giai đoạn tạo ra sự biến đổi lớn trong cơ thể của thiếu niên
Cao trào phát dục có đặc điểm khác với các giai đoạn phát dục khác là
có sự phát triển đột biến về hình thái, chức năng nội tiết và tính trạng, giúpcác em nhanh chóng tiếp cận với đặc trưng của người trưởng thành
1.3.2 Mục đích, ý nghĩa và vai trò của việc đánh giá mức độ phát dục trong tuyển chọn VĐV thể thao
1.3.2.1 Mục đích
Như chúng ta đã biết không phải bất cứ một thiếu niên nào được huấnluyện thể thao cũng có thể trở thành nhà vô địch Vì vậy, các chuyên giatuyển chọn cố gắng thông qua mọi con đường để tìm kiếm được những VĐV
Trang 26có các năng khiếu thể thao tiềm ẩn để đưa vào huấn luyện Song năng khiếutiềm ẩn của VĐV thông thường là tiềm ẩn ngay trong hình thái, chức năng, tốchất thể lực, phẩm chất tâm lý của thiếu niên Đặc biệt là có quan hệ với loạihình phát dục và tốc độ phát dục của cơ thể Một số môn thể thao trong đó cóBơi lội cần đến loại hình phát dục bình thường có thời gian phát dục kéo dài,
để các em có thể nắm bắt tốt kỹ thuật và nâng cao thành tích thể thao
Từ đó có thể thấy mục đích nghiên cứu đánh giá mức độ phát dục chính
là góp phần có hiệu quả vào việc tìm kiếm các năng khiếu tiềm ẩn, góp phầnvào nâng cao hiệu suất tuyển chọn VĐV thể thao trong đó có môn Bơi thểthao
1.3.2.2 ý nghĩa của việc đánh giá mức độ phát dục cơ thể
Do mức độ phát dục cơ thể có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển vềhình thái chức năng và tố chất thể lực, tâm lý, trí tuệ Nên trong tuyển chọncác môn thể thao đều muốn dự báo chính xác sự phát triển hình thái chứcnăng và các tố chất thể lực, tâm lý, trí tuệ của VĐV khi ở tuổi trưởng thành cóđáp ứng được các yêu cầu chuyên biệt của môn thể thao đó hay không Người
ta thường dựa vào việc đánh giá mức độ phát dục Vì vậy, đánh giá mức độphát dục có ý nghĩa khoa học đảm bảo cho các dự báo trong tuyển chọn có độtin cậy cao
Mặt khác, do quá trình phát dục của thiếu niên đều có quy luật riêng.Thông qua đánh giá mức độ phát dục có thể dự báo được các em thiếu niênnày có thể tham gia tập luyện môn thể thao nào thì phù hợp hơn Từ đó đưa racác lời khuyên có sức thuyết phục, giúp các em có thể phát huy năng khiếuthể thao của mình ở những môn thể thao thích hợp nhất
1.3.2.3 Vai trò của đánh giá mức độ phát dục cơ thể
Trong tuyển chọn khoa học VĐV thể thao cần phải dựa vào hệ thốngchỉ tiêu, tiêu chuẩn tuyển chọn Song quá trình xây dựng chỉ tiêu nếu dựa vào
Trang 27tuổi đời thì sự chênh lệch nhau về tuổi sẽ rất lớn và khó phân biệt Vì vậy,người ta thường xây dựng hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn theo tuổi sinh học.Cũng vì thế mà khi tiến hành tuyển chọn VĐV thể thao, các nhân viên và cán
bộ tuyển chọn cũng cần phải xác định tuổi sinh học cho VĐV mới có thể đảmbảo được độ tin cậy và hiệu quả tuyển chọn
Rõ ràng là việc đánh giá mức độ phát dục có vai trò quan trọng trongnghiên cứu, xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn và công tác tuyển chọn VĐV cácmôn thể thao Nhưng quan trọng hơn đánh giá mức độ phát dục còn có vai tròthẩm định triển vọng của một VĐV nào đó, có đáp ứng các quy luật phát dụccủa một VĐV thể thao xuất sắc ở một môn thể thao cụ thể nào đó hay không
1.4 Loại hình phát dục và đặc điểm của các loại hình phát dục
1.4.1 Loại hình phát dục
Theo các học giả sinh lý học và vệ sinh học như Tanner, Marshall, LâmUyển Sinh thì sự khác biệt về quá trình phát dục của các cá thể là rất lớn, nódiễn ra nhiều hình thức khác nhau Ví dụ như chiều cao cơ thể, sự phát triểncủa cơ thể quy nạp thành 5 loại hình [40], [41], [64]:
Loại hình thứ nhất: Thời kỳ dậy thì bình thường sẽ có chiều cao ở tuổithành niên cũng ở mức độ bình thường
Loại hình thứ hai là sự tăng trưởng của quá trình sinh trưởng diễn ratương đối sớm Khi tăng trưởng đột biến chiều cao trội hơn so với bạn bècùng tuổi Quá trình tăng trưởng đột biến của các em diễn ra tương đối sớm
do đó mà quá trình tăng trưởng đột biến cũng kết thúc tương đối sớm, dẫn đếnquá trình sinh trưởng của các em diễn ra trong thời gian ngắn, mức độ tăngtrưởng chiều cao tương đối thấp Cuối cùng thì chiều cao của các em này thấphơn mức độ bình quân
Loại hình thứ ba: Quá trình sinh trưởng của cả thời kỳ nhi đồng và thời
kỳ đầu dậy thì đều thấp hơn các em khác cùng tuổi Nhưng sự tăng trưởng đột
Trang 28biến tương đối muộn và thời gian kéo dài hơn, làm cho chiều cao khi trưởngthành của các em có thể đạt đến mức độ bình thường hoặc cao hơn bìnhthường.
Loại hình thứ tư: Là loại hình cao mang tính di truyền
Loại hình thứ năm: Là loại hình thấp mang tính di truyền
Quá trình sinh trưởng của hai loại hình 4 và 5 luôn men theo một quỹđạo không thay đổi chiều cao, cuối cùng thì loại hình 4 luôn cao hơn và mức
độ 5 luôn thấp
Ba loại hình: 1, 2, 3 trình bày ở trên thông thường được gọi là dậy thìbình thường dậy thì sớm và dậy thì muộn (hoặc phát dục bình thường, phátdục sớm và phát dục mộn)
1.4.2 Đặc điểm loại hình phát dục
Các giai đoạn và loại hình phát dục của các em thiếu niên, ngoài sựkhác biệt rõ ràng về chiều cao như trên đã trình bày còn có những đặc điểmsau:
Tỷ lệ cân nặng, chiều cao (chỉ số Quetelet) của các em loại hình dậy thìsớm luôn cao hơn so với các em loại hình dậy thì muộn, không những vậy màxương chậu của các em tương đối rộng, vai hẹp cuối cùng hình thành nênhình dạng cơ thể lùn mập, hông rộng vai hẹp Loại hình dậy thì này không cólợi cho việc tập luyện môn Bơi lội, Bóng chuyền, Bóng rổ
Còn các em loại hình dậy thì muộn thì phát triển thành thể hình caogầy, hông hẹp vai rộng, thể hình các em nữ dậy thì sớm sẽ có đặc trưng củaphụ nữ rõ rệt, các em nữ loại hình dậy thì bình thường sẽ có đặc trưng nữ giớibình thường, các em nữ dậy thì muộn sẽ có đặc trưng nam giới nhiều hơn
Đối với các em nam giới dậy thì sớm sẽ có đặc trưng nam giới thôngthường, loại hình dậy thì bình thường thì có đặc trưng nam giới bình thường
Trang 29Còn các em nam giới dậy thì muộn sẽ có đặc trưng nam giới ở mức độ caonhất [41].
Còn theo nhà khoa học tuyển chọn Vương Kim Xán (2005) thì lại cócách phân loại hình phát dục chi tiết hơn Theo Vương Kim Xán loại hìnhphát dục có thể chia thành ba loại lớn là loại hình phát dục sớm, muộn và bìnhthường Song mỗi loại hình đó dựa vào mức độ dài ngắn và vừa của cao tràophát dục lại chia thành 3 loại nhỏ là [51]:
Đối với loại hình phát dục sớm gồm:
Phát dục sớm rút ngắn thời kỳ phát dục
Phát dục sớm kéo dài thời kỳ phát dục
Phát dục sớm thời gian phát dục bình thường
Đối với loại phát dục bình thường gồm:
Phát dục bình thường rút ngắn thời kỳ phát dục
Phát dục bình thường kéo dài thời kỳ phát dục
Phát dục bình thường có thời gian phát dục bình thường
Đối với loại hình phát dục muộn gồm:
Phát dục muộn rút ngắn thời kỳ phát dục
Phát dục muộn kéo dài thời kỳ phát dục
Phát dục muộn thời gian phát dục bình thường
Theo Vương Lộ Đức, Tăng Phàn Huy thì các loại hình phát dục trên
có những đặc điểm trong lĩnh vực thể dục thể thao như sau [45]:
Phát dục sớm rút ngắn thời kỳ phát dục do tuổi bắt đầu phát dục sớmnên biên độ cải tạo và nâng cao các nặng lực thể thao nhỏ Vì vậy chỉ có thể lànhững trẻ xuất sắc ở nhóm nhi đồng, nhưng cuối cùng rất khó trở thành nhântài thể thao ưu tú Song những trẻ phát dục muộn nhưng kéo dài thời gian phátdục thì trong nhóm tuổi thường có biểu hiện năng lực vận động tương đối tốt
và sớm Song vì có thời gian phát dục kéo dài nên cuối cùng cũng có thể
Trang 30thành tài Tuy vậy thường có biểu hiện hụt sức cuối cùng Ba loại hình phátdục muộn do chưa thể kịp thời biểu hiện được năng lực thể thao của mình sovới cùng nhóm tuổi, khởi điểm lại thấp nên thường ít được lọt vào tầm ngắmcủa huấn luyện viên nên thông thường có tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số VĐV.Đồng thời do phát dục muộn tạo thành cơ bắp mềm yếu thiếu sức mạnh bộtphát từ đó hiệu suất trở thành VĐV xuất sắc cũng rất thấp.
Những thiếu niên thuộc loại hình phát dục bình thường thường chiếm
số đông trong các trường thể thao thiếu niên nhi đồng Trong đó loại hìnhphát dục bình thường có cao trào phát dục rút ngắn do thành thục vượt sớmnên năng lực thể thao được biểu hiện tương đối sớm, đồng thời trở thành cácVĐV mạnh trong nhóm VĐV thiếu niên, đặc biệt trong những môn thể thaokhông có yêu cầu cao về chiều cao cơ thể và các môn mang tính sức mạnh,càng thể hiện trội hơn Tuy vậy, tỷ lệ trở thành VĐV xuất sắc và ưu tú caonhất lại là những VĐV có loại hình phát dục bình thường kéo dài thời kỳ phátdục, năng lực thể thao của các em có loại hình phát dục này ở cuối giai đoạnphát dục càng có những biểu hiện rõ rệt hơn Sự xuất hiện sớm muộn thời kỳphát dục thanh xuân đương nhiên là rất quan trọng đối với sự thành tài củaVĐV Song quan trọng hơn là sự kéo dài thời kỳ phát dục Sự phát dục vớitốc độ nhanh được kéo dài trên thực tế là ưu thế phát dục tự nhiên mang tínhbẩm sinh làm cho năng lực thể thao tăng trưởng tự nhiên càng lớn Có thể dẫndắt và thúc đẩy quá trình phát dục tốc độ cao này kéo dài thêm, giúp cho các
tố chất đang ở vào thời kỳ mẫn cảm cũng như các tiềm năng thể thao khácđược phát triển mạnh mẽ và đột biến hơn Đó là nguyên nhân làm cho cácVĐV có thời kỳ cao trào phát dục kéo dài có tỷ lệ thành tài cao.[45]
Trang 311.4.3 Mức độ phát dục
Như mọi người đã rõ, theo các học giả sinh lý học như Lưu QuangHiệp, Dương Tích Nhượng, thì mức độ phát dục cơ thể của VĐV gồm các đặcđiểm chính [12], [47]:
Tính làn sóng và tính giai đoạn của quá trình phát dục trưởng thành
Sự phát triển không đồng bộ của các chỉ số hình thể
Sự phát triển không đồng bộ giữa các hệ thống cơ quan nội tạng và cơquan vận động
Tính làn sóng và tính giai đoạn của quá trình phát dục trưởng thành.
Sự phát dục trưởng thành của các em thiếu niên nhi đồng là một quá trìnhliên tục, thống nhất, nhưng tốc độ phát dục trưởng thành trong các giai đoạn củanhiều năm xuất hiện tính làn sóng và tính giai đoạn Thời kỳ phát dục trưởngthành của nữ là từ 7 – 17 tuổi và của nam là từ 9 – 17 tuổi thể hiện bảng 1.3
Trang 32Bảng 1.3 Mức độ tăng trưởng chiều cao, cân nặng của thiếu niên, nhi
Giá trịtrungbình
Tăngtiếnhàngnăm
Giá trịtrungbình
Tăngtiếnhàngnăm
Giá trịtrungbình
Tăngtiếnhàngnăm
Trang 33Nhưng với lứa tuổi từ 7 – 10 tuổi thì sự thay đổi không lớn bằng, mỗinăm tăng trưởng 4.7cm, tỷ lệ tăng trưởng là 3.7%.
8 tuổi bắt đầu làn sóng thứ hai, là thời kỳ phát triển nhanh
Đối với nữ 10 – 12 tuổi, mức độ tăng trưởng đạt tới đỉnh cao
Đối với nam đa số ở tuổi 12 – 14 tuổi cũng có mức độ tăng trưởng đạt tớiđỉnh cao Sau thời kỳ đỉnh cao, đại đa số các chỉ tiêu chỉ giữ ở mức độ tăngtrưởng tương đối lớn, sau đó giảm xuống Trong làn sóng thứ hai, căn cứ vào sựphát dục nhanh chậm, còn có thể chia thành thời kỳ trước và thời kỳ sau
Nam ở tuổi 12 – 14 và nữ ở tuổi 10 – 12, các thành phần cơ bản của cơthể hoàn toàn tiến triển rất nhanh, thể hiện ở bảng 1.4
Trang 34Bảng 1.4 Tỷ lệ % sự phát triển cơ thể các lứa tuổi so với tuổi trưởng
Qua bảng 1.4 cho thấy:
Tỷ lệ % sự phát dục hàng năm của nam và nữ ở các nhóm tuổi cũng rấtcao (chú giải: Tỷ lệ % của năm thứ hai trừ đi năm thứ nhất)
Ví dụ chiều cao cơ thể của các em nam tăng bình quân 6.6% ở lứa tuổi 12– 14 Nhưng ở lứa tuổi 16 – 18 thì tỷ lệ tăng trưởng chỉ ở mức 3.7% Nữ 10 – 12tuổi tăng trưởng 7.0% nhưng đến 14 – 18 tuổi chỉ tăng 1.4%, thể hiện bảng 1.5
Trang 35Bảng 1.5 Tỷ lệ % tăng trưởng hàng năm của cơ thể nam, nữ các nhóm
tuổi [29]
tiêu
Giới tính
Tuổi
9 10
10 11
-12
11-12-13
13 14
-14 –15
15 16
16 17
17 18
Sự phát triển không đồng đều của các chỉ số hình thể.
Cơ thể của các em thiếu niên nhi đồng là một thể thống nhất, hoànchỉnh Nhưng cùng một thời kỳ cũng như trong cả một quá trình phát triển,các bộ phận cơ thể sẽ phát dục trưởng thành không đồng đều
* Mức độ tăng trưởng hàng năm của sự phát dục trưởng thành ở các bộphận cơ thể không đều nhau:
Căn cứ vào tài liệu của Trung Quốc từ năm 1978 – 1980 đã điều tratrên 20 vạn thanh thiếu niên, cho thấy sự phát triển của các bộ phận cơ thểkhông đều nhau, có bộ phận nhanh, có bộ phận chậm [29]
Trang 36Ví dụ, thanh thiếu nhiên thành phố có chỉ số tăng trưởng hàng năm vềchiều cao ngồi (7 – 10 tuổi), so với chiều dài của chân là 0.47 lần, so với cẳngchân là 1.5 lần, so với chiều dài bàn chân là 2.8 lần.
* Tỷ lệ mức độ phát dục trưởng thành giữa các bộ phận cơ thể khôngđều nhau
Ví dụ: mức độ phát triển của tay nói chung ngắn hơn chiều cao cơ thể,đến giai đoạn thiếu niên thì dài hơn hoặc cao hơn cơ thể, còn sang giai đoạnthanh niên, phần lớn là dài hơn chiều cao cơ thể, còn sang giai đoạn thanh niên,phần lớn là dài hơn chiều cao cơ thể Quy luật này của nữ cũng giống nam
Điều này nói lên tỷ lệ tốc độ phát triển của tay chân không đều nhau
Về vấn đề này, có người nói đặc điểm phát triển tứ chi của thiếu nhi là dàichân trước, tay dài sau Điều đó cũng có cơ sở khoa học nhất định
* Tỷ lệ tốc độ phát dục trưởng thành của các bộ phận cơ thể cũng thayđổi theo sự tăng tiến của tuổi tác và cũng có quy luật riêng của nó
Lấy các chỉ số phát triển thân trên của học sinh nam thành phố:
(Chiều cao đứng – chiều cao ngồi)/chiều cao × 100) làm ví dụ: chỉ số này
ở tuổi 7 – 13 đồng thời tăng lên theo lứa tuổi, nhưng sau 13 tuổi thì ngược lại
Sự phát triển không cân bằng giữa các hệ thống cơ quan nội tạng và
Trang 37Bảng 1.6 Sự phát triển các cơ quan của cơ thể [29].
TT Phân loại Giới
tính Thời kỳ phát triển nhanh nhất
Thời kỳ hoàn thành (tuổi)
1 Hệ thống
xương
Nam Thời kỳ thai nghén - thời kỳ thanh xuân 23-25
Nữ Thời kỳ thai nghén - thời kỳ thanh xuân 19-23
2 Hệ cơ Nam Thời kỳ thai nghén - thời kỳ thanh xuân Trên dưới 30
Nữ Thời kỳ thai nghén - thời kỳ thanh xuân Trên dưới 30
3 Hệ thần
kinh
Nam Thời kỳ sơ sinh - Thời kỳ nhỏ dại 20-25
Nữ Thời kỳ sơ sinh - Thời kỳ nhỏ dại 18-23
mạch
Nam Thời kỳ sơ sinh – thời kỳ thanh xuân 35-40
Nữ Thời kỳ sơ sinh – thời kỳ thanh xuân 35-405
Hệ phân
tích tiền
đình
Nam Thời kỳ sơ sinh – thời kỳ thanh xuân 35-40
Nữ Thời kỳ nhỏ dại (trước 3 tuổi) - thời kỳ
nhi đồng (trước 7 tuổi) 35-406
Hệ cảm
thụ bản
thể
Nam Thời kỳ nhỏ dại- thời kỳ nhi đồng 35-40
Nữ Thời kỳ nhỏ dại- thời kỳ nhi đồng 35-40
7
Hệ thần
kinh thực
vật
8 Chiều cao Nam Thời kỳ thai nghén - thời kỳ thanh xuânNữ Thời kỳ thai nghén - thời kỳ thanh xuân 23-2519-23
9 Dung tích
sống
Nam Thời kỳ sơ sinh – thời kỳ thanh xuân Sau 25
Nữ Thời kỳ sơ sinh – thời kỳ thanh xuân Trên dưới 23
10 Thời gian
phản xạ
Nam Thời kỳ nhỏ dại – thời kỳ nhi đồng Trên dưới 25
Nữ Thời kỳ nhỏ dại – thời kỳ nhi đồng Trên dưới 23
Quá trình phát dục trưởng thành của thiếu niên nhi đồng là quá trình cơthể không ngừng thích ứng với hoàn cảnh bên ngoài, là quá trình của các quátrình phản xạ của hệ thống tín hiệu thứ nhất, thứ hai được hình thành để đáplại các kích thích bên ngoài Quá trình phát dục là quá trình mâu thuẫn vàthống nhất của cơ thể và hoàn cảnh bên ngoài của di truyền và thích ứng
Trang 38Di truyền quyết định khả năng phát dục của cơ thể, còn điều kiện hoàncảnh thì ảnh hưởng tới tốc độ phát dục và mức độ đạt đến cuối cùng Không cóhoàn cảnh bên ngoài duy trì sự tồn tại của cơ thể thì cơ thể cũng khó tồn tại.Chúng ta thấy các nhân tố ảnh hưởng sự sinh trưởng phát dục là tương đối nhiều.
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng mức độ phát dục của VĐV thể thao
Theo các học giả về tuyển chọn thể thao như Vương Kim Xán, Vương
Lộ Đức, Tăng Phàn Huy, Tanner, Marshall, Nguyễn Ngọc Cừ, Lưu QuangHiệp mức độ phát dục cơ thể con người chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sau[51], [45], [40], [41], [8], [12]:
Thứ nhất là yếu tố di truyền Tuỳ theo từng người mà yếu tố di truyềnchiếm độ di truyền khoảng 75 - 80%, cá biệt thiếu niên nhi đồng có độ ditruyền đạt 90 - 100% Rõ ràng các số liệu của Tanner và Marshall đã cho thấymức độ phát dục chịu tác động của yếu tố di truyền cao Vì vậy mà bố mẹ cao
to thường sinh ra các con cũng cao to, bố mẹ có tiềm năng thể thao cao thìsinh ra các con cũng có tiềm năng cao, bố mẹ có loại hình phát dục gì và kéodài bao lâu, các con cũng có thể có loại hình phát dục và thời gian kéo dàiphát dụng tương tự
Yếu tố thứ hai là đặc điểm và vị trí địa lý mà con người sinh trưởngcũng có ảnh hưởng tới mức độ phát dục cơ thể con người
Theo các kết quả nghiên cứu của các nhà sinh lý và tuyển chọn trong vàngoài nước như Dương Tích Nhượng, Vương Lộ Đức, Nguyễn Ngọc Cừ thì
vị trí và điều kiện địa lý cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến mức độ phát dụccủa con người Theo thống kê khoa học những thanh thiếu niên nhi đồng sinh
ra ở vùng xích đạo nhiệt đới thường có tỷ lệ phát dục sớm và rút ngắn thời kỳphát dục nhiều hơn thanh thiếu niên nhi đồng ở các vùng ôn đới và hàn đới
Vì vậy, người phương Bắc thường cao to hơn người ở vùng xích đạo
Trang 39Một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng tới mức độ phát dục của cơ thểcon người là điều kiện kinh tế văn hoá, xã hội Yếu tố này thể hiện rất rõ tìnhtrạng trẻ em phát dục chậm, thời gian phát dục ngắn ở các nước có nền kinh tếphát triển kém như một số nước Châu Á và Châu Phi.
Ngoài ra các nhà khoa học TDTT Nivoncop, Matveep, Nguyễn Toán,
Lê Văn Lẫm, Vương Tân Thắng cho rằng tập luyện thể dục thể thao hợp lýkhoa học có thể ảnh hưởng tốt tới việc kéo dài thời kỳ cao trào phát dục củacác em thiếu niên Từ các kết quả nghiên cứu trên gợi ý cho những ai khinghiên cứu, đánh giá mức độ phát dục của thanh thiếu niên tham khảo nhằmlợi dụng triệt để những ưu điểm của mức độ phát dục mang lại cho tuyển chọn
và huấn luyện thể thao
1.6 Các phương pháp cơ bản trong việc xác định thời gian khởi đầu và thời gian duy trì cao trào phát dục của thiếu niên
1.6.1 Phương pháp xác định thời gian khởi đầu của thời kỳ phát dục
Theo Vương Kim Xán (2005), thời kỳ phát dục thanh xuân là cao tràophát dục lần thứ 2, là thời kỳ then chốt để thiếu niên chuyển biến thành ngườitrưởng thành Nói chung khi thiếu niên nam ở tuổi xương 13 và thiếu nữ ởtuổi xương 11 bước vào thời kỳ phát dục thanh xuân [51]
Đặc trưng của khởi đầu thời kỳ phát dục thanh xuân là xuất hiện trungtâm cốt hoá ở các đầu ngón tay, vú bắt đầu phát dục lần đầu xuất hiện núm vú(mặc dù nam thiếu niên chỉ là nổi vú qua loa, thời gian rất ngắn, đôi lúc chỉxuất hiện một bên nhưng những biểu hiện này vẫn có tỷ lệ trên 70% - 80%).Bởi vậy, trong phán đoán các em đã bước vào thời kỳ phát dục thanh xuânhay chưa, ngoài quan sát tuổi xương còn cần phải tiến hành quan sát đối vớitính trạng thứ nhất và thứ hai Khi những đặc trưng này xuất hiện, đó chính làtín hiệu đã bước vào thời kỳ phát dục thanh xuân Khi những đặc trưng nàyxuất hiện sớm hoặc muộn khoảng thời gian 2 năm, hoặc trên 2 năm so với
Trang 40thời gian chung của phát dục thì đó chính là phát dục thanh xuân sớm hoặcchậm và coi đó là thuộc về loại hình phát dục sớm hoặc phát dục muộn.
1.6.2 Phương pháp xác định thời gian duy trì cao trào phát dục thanh xuân
Theo Vương Kim Xán và cộng sự (2005) thì từ lúc bước vào cao tràophát dục thanh xuân cho tới lúc phát dục có xu hướng ổn định, thông thườngtrải qua khoảng thời gian trên dưới 4 năm Do sự khác biệt cá thể có những
em có thể kéo dài hoặc rút ngắn hơn đôi chút [51]
Thời gian duy trì cao trào phát dục thời kỳ thanh xuân dài hay ngắn cóquan hệ với sự phát triển của xương cốt sớm hay muộn Sự khác biệt này cóthể là biểu hiện của đặc trưng di truyền, cũng có thể đồng thời chịu ảnh hưởngcủa nhân tố môi trường (đặc biệt là dinh dưỡng) Trong thời gian này, chiềucao cơ thể tăng đột biến, trọng lượng cơ thể cũng tăng lên rõ rệt Hình thái cơthể có xu hướng giống người trưởng thành Các cơ quan nội tạng cũng đượckiện toàn dần, cơ quan sinh dục có xu hướng tiếp cận hoàn thiện đồng thờixuất hiện tính trạng thứ 2 Phương pháp xác định thời gian duy trì cao tràophát dục thanh xuân nhìn chung có các loại phương pháp sau:
Phương pháp 1: Dùng phương pháp tuổi xương hoặc phương pháp
tính tuổi xương để phân biệt
Dùng tiêu chuẩn phát dục xương Greulic - Pyle (gọi tắt là tiêu chuẩn P) để đánh giá phát dục của thiếu niên nhi đồng
G-Nếu phát dục xương trong khoảng 2 năm hoặc ít hơn sinh trưởng màvượt qua 4 G-P tuổi xương thì em đó thuộc về cao trào phát dục rút ngắn Còn
em nào phát dục xương trong 3 năm sinh trưởng mà vượt qua 4G-P tuổixương thì thuộc về cao trào phát dục bình thường Còn những em trong 4 nămsinh trưởng mà vượt quá 4 G-P tuổi xương (4 qua 4) hoặc ít hơn thì thuộc vềcao trào phát dục kéo dài