1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc

106 457 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành chương trình đào tạo Cao học hệ chính quy khoá học 2009-2011, được sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn và khoa Sau Đại học - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên ,

Trang 1

ĐỖ VĂN MÃO

ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ RỪNG, CHUỖI HÀNH TRÌNH SẢN PHẨM VÀ LẬP KẾ HOẠCH QUẢN LÝ TIẾN TỚI CHỨNG CHỈ RỪNG TẠI TRUNG TÂM LÂM NGHIỆP

TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC

Chuyên ngành: LÂM HỌC

Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ NHÂM

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng

Kết quả nêu trong luận án là trung thực, khách quan

và chưa có ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 09 năm 2011

Đỗ Văn Mão

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình đào tạo Cao học hệ chính quy khoá học

2009-2011, được sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn và khoa Sau Đại học - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên , tôi thực hiện bảo vệ luận văn thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp

“Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo - tỉnh Vĩnh Phúc”

Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS.Vũ Nhâm, đã hướng dẫn, chỉ bảo, truyền đạt kinh nghiệm quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sau đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban lãnh đạo và cán bộ Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo cùng gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và thực hiện luận văn

Do còn hạn chế về nhiều mặt nên luận văn sẽ có nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và thảo luận

Tôi xin chân thành cám ơn !

Thái Nguyên, tháng năm 2011

Tác giả

Đỗ Văn Mão

Trang 4

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Trên thế giới 4

1.1.1 Quản lý rừng bền vững 4

1.1.2 Chứng chỉ rừng và chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm 6

1.1.3 Kế hoạch quản lý rừng 12

1.2 Ở Việt nam 13

1.2.1 Tiến trình CCR 13

1.2.2 Các công trình nghiên cứu và hoạt động QLRBV ở Việt nam 15

1.2.3 Kế hoạch quản lý rừng 19

CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Mục tiêu 22

2.1.1 Mục tiêu tổng quát 22

2.1.2 Mục Tiêu cụ thể 22

2.2 Nội dung nghiên cứu 22

2.2.1 Đánh giá quản lý rừng theo tiêu chuẩn QLRBV của Việt nam 22

2.2.2 Đánh giá quản lý chuỗi hành trình sản phẩm theo tiêu chí của Việt nam 22

2.2.3 Đánh giá điều kiện cơ bản và tình quản lý rừng của Trung tâm 22

2.2.4 Dự báo nhu cầu lâm sản, yêu cầu bảo vệ môi trường và an sinh xã hội 23 2.2.5 Lập kế hoạch quản lý rừng 23

2.3 Đối tượng nghiên cứu 23

2.4 Phương pháp nghiên cứu 23

2.4.1 Quan điểm, phương pháp luận nghiên cứu 23

2.4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 23

CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA HUYỆN TAM ĐẢO VÀ CỦA TRUNG TÂM LÂM NGHIỆP TAM ĐẢO 32

3.1 Huyện Tam Đảo 32

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32

Trang 5

3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 35

3.2 Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo 37

3.2.1 Sự hình thành Trung tâm 37

3.2.2 Hiện trạng quản lý và sử dụng đất đai năm 2010 38

3.2.3 Hiện trạng về tổ chức và lao động 39

3.2.4 Đánh giá chung 40

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

4.1 Đánh giá quản lý rừng (FM) của Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo và phát hiện những khiếm khuyết trong quản lý 43

4.1.1 Tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá 43

4.1.2 Kết quả đánh giá các tiêu chí, chỉ số theo thang điểm và tổng hợp theo tiêu chuẩn 43

4.1.3 Xác định các lỗi chưa tuân thủ và khiếm khuyết trong quản lý rừng và cách khắc phục 45

4.1.4 Nhận xét 51

4.2 Đánh giá Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) 52

4.3 Lập kế hoạch quản lý rừng Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo 56

4.3.1 Những căn cứ lập KHQLR 56

4.3.2 Mục tiêu quản lý rừng 57

4.3.3 Bố trí sử dụng đất đai theo mục đích sử dụng 58

4.3.4 Kế hoạch sản xuất kinh doanh trung hạn chu kỳ 2012- 2018 cung cấp gỗ nguyên liệu 60

4.3.5 Phân tích hiệu quả 87

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

5.1 Kết luận 90

5.2 Tồn tại 91

5.3 Khuyến nghị 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 95

Trang 6

WWF Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất huyện Tam Đảo năm 2010 33

Bảng 3.2 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp huyện Tam Đảo 34

Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất của Trung tâm và các hộ gia đình tham gia CCR theo nhóm 38

Bảng 4.1: Các lỗi chưa tuân thủ và khuyến nghị khắc phục (7 lỗi) 46

Bảng 4.2: Những quan sát phát hiện và khuyến nghị khắc phục 50

Bảng 4.3: Bố trí đất đai theo mục đích sử dụng 59

Bảng 4.4 Hiện trạng rừng trồng Keo của Trung tâm và hộ gia đình 61

Bảng 4.5: Diện tích thực và diện tích chuẩn kết cấu theo tuổi 62

Bảng 4.6: Điều chỉnh diện tích rừng trồng Keo tai tượng theo tuổi thông qua khai thác rừng 63

Bảng 4.7: Trữ lượng rừng trồng Keo tai tượng năm 2011 65

Bảng 4.8: Trữ lượng và sản lượng khai thác rừng trồng Keo giai đoạn 2012 - 2018 66

Bảng 4.9: Kế hoạch trồng rừng giai đoạn 2012 -2018 70

Bảng 4.10: Kế hoạch trồng rừng năm 2012 70

Bảng 4.11: Kế hoạch chăm sóc trong 1 chu kỳ kinh doanh: 2012-2018 72

Bảng 4.12: Kế hoạch cấp phát dụng cụ phòng cháy, chữa cháy trong giai đoạn 2012- 2018 75

Bảng 4.13: Hiệu quả kinh tế kinh doanh cho 1ha rừng trồng Keo 88

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Các nhân tố tác động vào quản lý rừng 8

Hình 1.2: Mối quan hệ giữa CCR và thị trường 10

Hình 2.1 Sơ đồ khung đánh giá QLR tại Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo 30

Sơ đồ 3.1: Hệ thống tổ chức quản lý rừng Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo 42

Hình 4.1: Biểu đồ điều chỉnh diện tích khai thác rừng trồng 65

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, nhân loại đứng trước thảm hoạ suy thoái môi trường trên toàn cầu nên đã đề ra nhiều giải pháp bảo vệ và phục hồi môi trường, trong đó có phong trào quản lý rừng bền vững QLRBV là sáng kiến của cộng đồng quốc tế do những người chế biến, tiêu thụ gỗ cam kết chỉ sử dụng và lưu thông trên mọi thị trường thế giới những sản phẩm gỗ nào được khai thác hợp pháp từ các khu rừng đã được quản lý bền vững Muốn vậy, chứng chỉ rừng và chứng chỉ gỗ được áp dụng như là một công cụ hữu hiệu để buộc mọi chủ rừng đảm bảo quản lý rừng bền vững về cả 3 phạm trù: kinh tế, môi trường, xã hội

Hợp tác về lâm nghiệp trong khối ASEAN những năm vừa qua tập trung chủ yếu vào quá trình QLRBV, từ đó một diện tích tuy còn hạn chế nhưng đã được cấp chứng chỉ đầu tiên tại Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái lan, trong 3 năm vừa qua Động lực kích thích các chủ rừng phấn đấu để đạt được chứng chỉ rừng là không những được quyền xuất khẩu vào mọi thị trường quốc tế, mà còn được hưởng giá cao so với gỗ nội địa Có thể coi chứng chỉ rừng chính là chứng chỉ ISO-

9000, ISO-1400 nhưng đặc thù cho các doanh nghiệp quản lý kinh doanh rừng, sản xuất gỗ và lâm sản Chính vì vậy tổ chức cấp chứng chỉ rừng phải là các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận quốc tế mới đảm bảo tính khách quan, công bằng và các tổ chức cấp chứng chỉ phải dựa trên bộ tiêu chuẩn có đủ các tiêu chí quản lý rừng bền vững tương đương nhau ở mọi vùng cả về kinh tế, môi trường và xã hội

Khái niệm về quản lý rừng bền vững đã được hình thành từ đầu thế kỷ thứ

18 Ban đầu chỉ chú trọng đến khai thác, sử dụng gỗ được lâu dài, liên tục Cùng với

sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và phát triển kinh tế-xã hội quản lý rừng bền vững

đã chuyển từ quản lý kinh doanh gỗ sang quản lý kinh doanh nhiều mặt tài nguyên rừng, quản lý hệ thống sinh thái rừng và cuối cùng là quản lý rừng bền vững trên cơ

sở các tiêu chuẩn, tiêu chí được xác lập chặt chẽ, toàn diện về các lĩnh vực kinh tế,

xã hội và môi trường

- Quản lý rừng bền vững là việc đóng góp của công tác lâm nghiệp đối với sự phát triển Sự phát triển đó phải mang lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội, có thể cân bằng giữa nhu cầu hiện tại và tương lai

Trang 10

- „Quản lý rừng bền vững‟ hiện nay được xem như tổng hợp của hoạt động sản xuất bao gồm bảo vệ nguồn nước, đất, các khu văn hóa cũng như cây rừng cho gỗ

- Định nghĩa về quản lý rừng bền vững của Uỷ ban Quốc Tế về Môi Trường

và Phát Triển được đưa ra vào năm 1987 được chấp nhận rộng rãi Đó là: „Quản lý bền vững là việc đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không ảnh hướng tới khả năng tái tạo để đáp ứng nhu cầu tương lai‟

- Có nhiều quan điểm khác về vấn đề quản lý rừng bền vững, nhưng tựu chung đều có ý nghĩa như sau: „Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý rừng để đạt được 1 hay nhiều mục tiêu cụ thể đồng thời xem xét đến việc phát triển sản xuất dịch vụ và sản phẩm lâm nghiệp, đồng thời không làm giảm giá trị hiện có và ảnh hưởng đến năng suất sau này, cũng như không gây ra các tác động xấu đến môi trường tự nhiên và xã hội‟

Trên thế giới, nhiều nước đã khá thành công trong việc cấp CCR Ở Việt Nam khái niệm QLRBV còn khá mới mẻ với nhiều đơn vị lâm nghiệp Tính tới tháng 6/2011, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ mới chỉ được cấp gần 205 chứng chỉ CoC, nhưng mới chỉ có 1 chứng chỉ FSC về QLRBV cho Công ty TNHH rừng trồng Quy Nhơn và 1 chứng chỉ FSC theo nhóm của Tổng công ty Giấy Việt nam Còn lại phần lớn các hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh doanh lâm nghiệp vẫn chưa đạt được các tiêu chuẩn tối thiểu theo quy định để được FSC cấp chứng chỉ Bên cạnh đó các đơn vị chưa nhận được một hướng dẫn cụ thể về việc tiến hành đánh giá các tiêu chuẩn QLR và tiêu chuẩn CoC

Tài liệu cơ bản để FSC chứng nhận quản lý rừng cho chủ rừng là Bộ tiêu chuẩn QLRBV gồm 10 tiêu chuẩn và 56 tiêu chí QLRBV đòi hỏi chủ rừng phải lập

kế hoạch quản lý rừng (KHQLR) chi tiết, rõ ràng và giám sát chặt chẽ các hoạt động lâm nghiệp Tất cả các hoạt động từ xây dựng, phát triển rừng đều tuân theo

kế hoạch được lập, trong đó kế hoạch khai thác giữ vai trò quan trọng nhất

Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo là đơn vị hoạt động sản xuất trong lĩnh vực lâm nghiệp thuộc sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc Ngoài chức năng do Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc giao, Trung

Trang 11

tâm còn dịch vụ cho các hộ gia đình trong huyện Tam Đảo trong sản xuất lâm nghiệp Nhận thức được việc cần quản lý rừng theo hướng tiên tiến, Trung tâm mong muốn được đánh giá quản lý rừng và chuỗi hành trình sản phẩm tiến tới CCR Trung tâm cũng cần được tư vấn, hỗ trợ phương pháp đánh giá để xác định được những tiêu chuẩn chưa đạt, điều chỉnh hoạt động lâm nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn và tiêu chí QLRBV Để góp phần giải quyết những tồn tại trên cả về mặt lý luận và thực tiễn tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại Trung Tâm lâm nghiệp Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”

Trang 12

Tiếp đó là Hội đồng Quản trị rừng (FSC) được thành lập năm 1993, bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 25 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ Nhiệm vụ của FSC là thúc đẩy việc quản lý rừng trên thế giới một cách hợp lý về mặt môi trường, có ích về mặt xã hội và có thể thực hiện được về mặt kinh tế FSC đã đẩy mạnh việc áp dụng những Nguyên tắc và Tiêu chí về Quản lý rừng đối với tất cả các loại rừng trên Thế giới thông qua một chương trình ủy nhiệm tình nguyện cho các cơ quan cấp chứng chỉ Cùng với sự ra đời của FSC, một loạt các tổ chức khác cũng được thành lập: PAN-EUROPEAN cho rừng tự nhiên toàn châu Âu (Helsinki); CIFOR (Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế) cho rừng tự nhiên nói chung; ITTO (tổ chức quốc tế về gỗ nhiệt đới) cho rừng tự nhiên nhiệt đới Cộng đồng quốc tế đã tổ chức nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước bảo vệ và phát triển rừng: Chiến lược bảo tồn quốc

tế (1980); Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển (UNCED,

Trang 13

Riodejaneiro, 1992); Công ước buôn bán động thực vật quý hiếm (CITES); Công ước đa dạng sinh học (CBD) Nhiều định nghĩa QLRBV được đưa ra, tuy nhiên hai định nghĩa phổ biến và được công nhận rộng rãi nhất là của ITTO và trong tiến trình Hensinki

Theo ITTO: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội”

Theo tiến trình Hensinki: “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia

và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác”

Trên thế giới đã có các bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp quốc gia và cấp quốc tế của tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal FSC và ITTO đã có bộ tiêu chuẩn của quản lý rừng được vận dụng rất rộng rãi để đánh giá quản lý rừng ở nhiều nước

Tuy nhiên, theo bản báo cáo của ITTO đã thừa nhận FSC “Gần như là chương trình duy nhất về gắn nhãn hiệu và ủy quyền đối với lâm phẩm trên toàn thế giới” Số lượng ít ỏi các cơ quan được cấp chứng chỉ rừng do FSC ủy quyền trước đây đã là một hạn chế trong việc phát triển vấn đề cấp chứng chỉ gỗ, và ngày này đa được FSC khắc phục hiệu quả bằng việc gia tăng ủy quyền cho các tổ chức cấp chứng chỉ rừng Hiện nay có 18 tổ chức độc lập được FSC ủy quyền cấp chứng chỉ FSC, thời hạn chứng chỉ mỗi lần cấp có hiệu lực 5 năm và luôn kiểm tra chất lượng Tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của FSC có 10 nguyên tắc, 56 tiêu chí Các tiêu chí vẫn luôn được xem xét, cân nhắc để chỉnh sửa thông qua đề đạt của các thành viên FSC và lấy biểu quyết trong các kỳ đại hội

Hội đồng PEFC (Chương trình chứng nhận các tổ chức chứng chỉ rừng) là một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận, phi chính phủ, được thành lập năm 1999, hoạt

Trang 14

động thúc đẩy quản lý rừng bền vững thông qua việc chứng nhận độc lập bởi bên thứ ba PEFC đưa ra cơ chế đảm bảo với những người thu mua sản phẩm gỗ và giấy rằng họ đang xúc tiến công tác quản lý rừng bền vững PEFC là chương trình quy

mô toàn cầu về đánh giá và công nhận lẫn nhau của các tổ chức chứng chỉ rừng quốc gia đã được phát triển trong quá trình có các bên tham gia

1.1.2 Chứng chỉ rừng và chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm

Theo Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO, 1991) chứng chỉ là sự cấp giấy xác nhận một sản phẩm, một quá trình hay một dịch vụ đã đáp ứng các yêu cầu nhất định Chứng chỉ rừng (CCR) có 2 phần là chứng chỉ quản lý rừng và chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về CCR, nhưng đều bao hàm hai nội dung cơ bản là a) đánh giá độc lập chất lượng quản lý rừng theo một bộ tiêu chuẩn quy định, và b) cấp giấy chứng chỉ có thời hạn

Chứng chỉ rừng là sự xác nhận bằng giấy chứng chỉ rằng đơn vị quản lý rừng được chứng chỉ đã đạt những tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững do tổ chức chứng chỉ hoặc được uỷ quyền chứng chỉ quy định Nói cách khác , chứng chỉ rừng

là quá trình đánh giá quản lý rừng để xác nhận rằng chủ rừng đã đạt các yêu cầu về quản lý rừng bền vững

Ba thành phần có vai trò trong việc chứng chỉ rừng:

1 Người chứng chỉ: là một tổ chức thứ ba, trung gian, hoàn toàn độc lập

2 Người có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp từ rừng như chính phủ, chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư, các tổ chức môi trường, xã hội v.v gọi chung

là các bên liên quan

3 Người được chứng chỉ, gồm các lâm trường, công ty hay doanh nghiệp lâm nghiệp, chủ rừng cộng đồng hoặc cá thể

Một trong những động lực quan trọng của chứng chỉ rừng là thâm nhập thị trường tiêu thụ sản phẩm rừng đòi hỏi có chứng chỉ, vì vậy chứng chỉ rừng thường gắn với chứng chỉ chuỗi hành trình - xác nhận sản phẩm có nguồn gốc từ rừng được chứng chỉ Chủ rừng được chứng chỉ theo quy trình nào thì được cấp giấy chứng chỉ

và các sản phẩm làm ra được mang nhãn mác của quy trình đó Hiện nay trên thế giới có 2 quy trình CCR quốc tế lớn là Hội đồng quản trị rừng (FSC) và Chương

Trang 15

trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC), chiếm trên 60% diện tích rừng được chứng chỉ của thế giới

1) Tại sao cần chứng chỉ rừng?

Ngày nay toàn thế giới ngày càng quan tâm đến tình trạng diện tích và chất lượng rừng ngày một suy giảm, ảnh hưởng lớn đến môi trường sống và khả năng cung cấp sản phẩm rừng cho phát triển bền vững cũng như nhu cầu hàng ngày của người dân Vấn đề cần được giải quyết là làm thế nào quản lý kinh doanh rừng phải vừa đảm bảo tốt lợi ích kinh tế, vừa đem lại lợi ích thiết thực cho các cộng đồng dân

cư sống trong rừng, vừa không gây tác động xấu đến môi trường sống, tức là thực hiện được quản lý rừng bền vững Như vậy, có thể nói quản lý rừng bền vững là mục tiêu, còn chứng chỉ rừng chỉ là một trong những công cụ hay biện pháp chủ yếu

để đạt mục tiêu đó Chứng chỉ rừng là cần thiết vì:

- Cộng đồng quốc tế, chính phủ, các cơ quan chính phủ, các tổ chức môi trường, xã hội v.v đòi hỏi các chủ sản xuất kinh doanh rừng phải chứng minh rằng rừng của họ đã được quản lý bền vững

- Người tiêu dùng sản phẩm rừng đòi hỏi các sản phẩm lưu thông trên thị trường phải được khai thác từ rừng đã được quản lý bền vững

- Người sản xuất muốn chứng minh rằng các sản phẩm rừng của mình, đặc biệt là gỗ, được khai thác từ rừng được quản lý một cách bền vững

Chứng chỉ rừng cần thiết để xác nhận QLRBV của chủ rừng, cũng như chứng chỉ ISO để xác nhận quản lý chất lượng sản xuất công nghiệp Có thể ví thực hiện QLRBV như một quá trình “học”, còn chứng chỉ rừng như một kỳ thi, chủ rừng được cấp chứng chỉ tức là đã “thi đỗ” bằng QLRBV

Ngay từ thập kỷ 1990 ITTO đã đề ra mục tiêu đến năm 2000 tất cả các sản phẩm rừng của nhóm các nước sản xuất thành viên phải có nguồn gốc từ rừng được quản lý bền vững Năm 1998 Liên kết WB -WWF đề ra mục tiêu đến năm 2005 toàn thế giới có 200 triệu ha rừng, gồm 100 triệu ha rừng nhiệt đới và 100 triệu ha rừng ôn đới, được chứng chỉ Tính đến nay, diện tích rừng được chứng chỉ bởi các quy trình chủ yếu trên toàn thế giới là 341,95 triệu ha Như vậy là tổng số diện tích rừng được chứng chỉ đã vượt chỉ tiêu của Liên kết WB -WWF, nhưng diện tích rừng nhiệt đới được chứng chỉ còn rất nhỏ bé, còn rất xa so với mục tiêu

Trang 16

2) Chứng chỉ rừng bổ sung cho chính sách lâm nghiệp

Quản lý rừng thường chịu các tác động của:

- Luật pháp và chính sách về lâm nghiệp thông qua các quyết định, nghị định, thông tư, chỉ thị, hướng dẫn v.v của nhà nước và các hiệp định, công ước quốc tế, gọi chung là những công cụ cứng

- Cơ chế thị trường, các hình thức khuyến khích vật chất, tuyên truyền vận động, khen thưởng v.v , gọi chung là những công cụ mềm

Chứng chỉ rừng, bao gồm cả gắn nhãn sản phẩm, dựa vào động lực thị trường là một công cụ mềm có ảnh hưởng rất lớn đến quản lý rừng

Do việc hội nhập quốc tế ngày càng cao, thương mại quốc tế ngày càng mở rộng, sản phẩm rừng của một quốc gia có thể và cần được đem bán ở nhiều thị trường bên ngoài quốc gia đó Do quan ngại việc sản xuất sản phẩm rừng có thể làm

Cam kết

Chính sách lâm nghiệp

Quản lý rừng

Phong trào môi trường

Thị trường SFR

Trang 17

suy kiệt tài nguyên rừng, gây tác hại cho môi trường sống, rất nhiều thị trường chỉ chấp nhận mua sản phẩm nếu người sản xuất chứng minh được rằng mình đã thực hiện QLRBV và đã được cấp chứng chỉ của một quy trình CCR có uy tín được những thị trường đó công nhận Những quy trình quốc tế đặc biệt quan trọng cho CCR động lực thị trường đòi hỏi độ tin cậy cao, trong khi đó những quy trình quốc gia nhằm cả hai mục tiêu là QLRBV và thị trường, nhưng những sản phẩm rừng có chứng chỉ quốc gia thường khó được thị trường quốc tế chấp nhận Để tăng uy tín trên thị trường quốc tế, một số quy trình quốc gia tìm cách liên kết với các quy trình quốc tế, chẳng hạn Hội Đồng Chứng Chỉ Gỗ Malaysia (MTCC) và Viện Nhãn Sinh Thái Indonesia (LEI) với FSC, nhưng đến nay vẫn chưa đạt được một cơ chế chính thức Do đó sản phẩm có chứng chỉ MTCC và LEI vẫn không được các thị trường quốc tế chấp nhận Vì vậy, hiện nay tất cả những nước có quy trình quốc gia như Canada, Indonesia, và Malaysia đều vẫn tìm kiếm chứng chỉ quốc tế và thực tế đều

đã có rừng có chứng chỉ quốc tế FSC Hai quy trình CCR quốc tế có uy tín lớn nhất hiện nay là FSC và PEFC

3) Chứng chỉ rừng làm cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng

Thực tế đã chứng minh có thể sản xuất các sản phẩm rừng, đặc biệt là gỗ và các sản phẩm từ gỗ, mà không làm suy giảm tài nguyên rừng và gây tác hại đến môi trường sống nếu thực hiện QLRBV Khái niệm thương mại và phát triển bền vững được hình thành trên cơ sở cho rằng có thể sử dụng các biện pháp thương mại để kiểm soát một cách có hiệu quả các tác hại về môi trường: phát triển một hệ thống thị trường chỉ chấp nhận tiêu thụ các sản phẩm có chứng chỉ an toàn môi trường Cuối những năm 1980 nhiều tổ chức phi chính phủ vận động tẩy chay gỗ rừng nhiệt đới để giảm nhu cầu trên thị trường thế giới Sau đó chính quyền nhiều thành phố lớn ở Hà Lan, Đức, Hoa Kỳ cũng có lệnh cấm sử dụng gỗ rừng nhiệt đới trong những công trình xây dựng bằng vốn ngân sách do lo ngại làm suy kiệt rừng nhiệt đới Đến 1990 quốc hội Australia ban hành luật hạn chế nhập khẩu gỗ từ những nước không thực hiện QLRBV Biện pháp cấm và tẩy chay thương mại và sử dụng

gỗ rừng nhiệt đới cũng thường xuyên được thảo luận ở Hội đồng gỗ nhiệt đới quốc

tế (ITTC) trong suốt những năm 1988-1992 Nhiều thị trường rộng lớn Châu Âu và

Trang 18

Bắc Mỹ bắt đầu thực hiện chính sách chỉ cho phép gỗ có chứng chỉ được tham gia Đến đầu những năm 2000 Nhóm G8 (các nước giầu nhất) tuyên bố các chính phủ thành viên cam kết tìm biện pháp đáp ứng những nhu cầu về gỗ và nguyên liệu giấy của mình chỉ từ những nguồn hợp pháp và bền vững Những cam kết này sau đó đã trở thành chính sách của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và Liên minh Châu

Âu (EU) Gần đây EU đã đề ra Kế hoạch hành động thi hành Luật lâm nghiệp, Quản trị và Thương mại, trong đó công cụ thương mại được coi là chìa khoá để thực hiện cam kết của các nước thành viên Ở Việt Nam những doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm gỗ và giấy hiện đang chịu áp lực rất lớn của thị trường đòi hỏi phải có CCR FSC Trên thị trường nảy sinh vấn đề người tiêu dùng sản phẩm rừng đòi hỏi sản phẩm mà họ mua phải có nguồn gốc từ rừng đã được quản lý bền vững, người sản xuất muốn chứng minh rừng của mình đã được quản lý bền vững Chứng chỉ rừng độc lập cung cấp thông tin tin cậy cho người tiêu dùng về những yêu cầu mà họ quan tâm, tức là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng Vì vậy, đối với chứng chỉ rừng vấn đề quan trọng bậc nhất chính là độ tin cậy về đảm bảo tiêu chuẩn, tính độc lập và khách quan của tổ chức chứng chỉ

Rừng có

Thị trường

Trang 19

nước có thương mại gỗ rất phát triển như Australia, Bỉ, Braxin, Pháp, Đức, Hà Lan, Nga, Anh, Italy, Nhật Bản, Mỹ Để thúc đẩy thương mại sản phẩm rừng có chứng chỉ thì phải tăng cường chứng chỉ rừng và chứng chỉ CoC Do nhu cầu về sản phẩm

có chứng chỉ trên thị trường đang tăng nhanh, thế giới ngày càng tăng cường tẩy chay sản phẩm khai thác bất hợp pháp hay không an toàn môi trường, trong khi đó chứng chỉ rừng tiến triển rất chậm chạp ở nhiều nước đang phát triển nhiệt đới do trình

độ quản lý rừng ở các nước này hãy còn rất thấp kém, chưa đạt tiêu chuẩn CCR Đây cũng là tồn tại lớn nhất hiện nay của tất cả các quy trình CCR trên thế giới

FSC là tổ chức uy tín nhất và chứng chỉ FSC được mọi thị trường chấp nhận,

kể các Bắc Mỹ, và Tây Âu FSC được thành lập vào tháng 10/1993 tại Toronto - Canada bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 26 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, đại diện các ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ FSC cấp chứng chỉ QLRBV cho rừng ôn đới, nhiệt đới, rừng tự nhiên, rừng trồng và đang mở rộng ra rừng sản xuất lâm sản ngoài gỗ Tổ chức này có trụ sở chính đặt tại thành phố Bonn

- Đức có cấu trúc quản trị duy nhất dựa trên các nguyên tắc sự tham gia, dân chủ, công bằng Năm 1994 các nguyên tắc và tiêu chí FSC cùng với Quy định FSC (hiện tại gọi là Quy chế) đã được các thành viên sáng lập phê duyệt

FSC có đại diện tại hơn 50 quốc gia Thành viên FSC được chia thành nhóm

xã hội, nhóm môi trường và nhóm kinh tế, mỗi nhóm lại được chia ra thành nhóm Bắc (các nước công nghiệp) và nhóm Nam (các nước đang phát triển) Bất kỳ ai hỗ trợ cải thiện quản lý rừng trên thế giới đều có thể trở thành thành viên của FSC

FSC ủy quyền cho 10 cơ quan trên thế giới cấp chứng chỉ có trụ sở tại Anh,

Mỹ, Hà Lan, Đức, Canada, Nam Phi, Thụy Sĩ Tại Châu Á - Thái Bình Dương, Công ty SmartWood/Rainforest Allliance và SGS Forestry thực hiện phần lớn việc đánh giá và cấp CCR

FSC xây dựng 10 tiêu chuẩn cho QLRBV Từ các tiêu chuẩn đó, các quốc gia, khu vực tham gia vào tiến trình QLRBV và CCR sẽ xây dựng các bộ tiêu chuẩn quốc gia riêng để đánh giá và phù hợp với các điều kiện cụ thể của mình Các bộ tiêu chuẩn này cần phải được sự phê chuẩn của FSC trước khi được sử dụng để đánh giá cấp chứng chỉ tại quốc gia hoặc khu vực đó

Trang 20

1.1.3 Kế hoạch quản lý rừng

- Kế hoạch quản lý rừng thuộc tiêu chuẩn 7 trong 10 tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của FSC, là tiêu chuẩn có liên quan gần như xuyên suốt tất cả các hoạt động quản lý rừng của đơn vị xin cấp CCR

- Trong Kế hoạch quản lý rừng thể hiện được các nội dung cơ bản sau:

+ Những mục tiêu của kế hoạch quản lý rừng;

+ Mô tả những tài nguyên được quản lý, những hạn chế về môi trường, hiện trạng sở hữu và sử dụng đất, điều kiện kinh tế xã hội, và tình hình vùng xung quanh;

+ Mô tả hệ quản lý lâm sinh và/hoặc những hệ khác trên cơ sở sinh thái của khu rừng và thu thập thông tin thông qua điều tra tài nguyên;

+ Cơ sở của việc định mức khai thác rừng hàng năm và việc chọn loài; + Các nội dung quan sát về sinh trưởng và động thái của rừng;

+ Sự an toàn môi trường trên cơ sở những đánh giá về môi trường;

+ Những kế hoạch bảo vệ các loài nguy cấp, quý hiếm;

+ Những bản đồ mô tả tài nguyên rừng kể cả rừng bảo vệ (phòng hộ, đặc dụng), những hoạt động quản lý trong kế hoạch và sở hữu đất;

+ Mô tả và biện luận về kỹ thuật khai thác và những thiết bị sử dụng

- Những tiêu chí và chỉ số cần đạt được trong kế hoạch quản lý rừng

+ Kế hoạch quản lý rừng sẽ được định kỳ điều chỉnh nhằm kết hợp các kết quả giám sát hoặc các thông tin khoa học kỹ thuật mới, cũng như đáp ứng những thay đổi về môi trường và kinh tế - xã hội

+ Kế hoạch 5 năm và hàng năm được điều chỉnh và có các giải pháp khắc phục những yếu kém đã được phát hiện qua các cuộc khảo sát, áp dụng các tiến bộ

kỹ thuật mới và sự thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội

+ Lưu giữ các báo cáo đánh giá hiệu quả thực hiện kế hoạch hàng năm và 5 năm của đơn vị cũng như kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương

+ Thường xuyên áp dụng những công nghệ mới, thích hợp có liên quan đến quản lý kinh doanh rừng Có danh mục những công nghệ mới được áp dụng

+ Hệ thống cơ sở dữ liệu và cung cấp thông tin được vận hành tốt và thường xuyên được cập nhật, nâng cấp

Trang 21

+ Công nhân lâm nghiệp được đào tạo và giám sát thích hợp để đảm bảo thực hiện thành công kế hoạch quản lý

+ Tất cả công nhân và người lao động thường xuyên được đào tạo và đào tạo lại theo định kỳ phù hợp với nhu cầu sử dụng của đơn vị Có kế hoạch đào tạo tập huấn và lưu giữ tài liệu về danh mục lớp, số người được đào tạo, tập huấn

+ Chủ rừng tổ chức giám sát thường xuyên công việc của công nhân và

ngư-ời lao động Có hệ thống giám sát, có quy định cụ thể trách nhiệm giám sát của tổ chức, cá nhân

+ Trong khi giữ bí mật thông tin, những người quản lý phải thông báo rộng rãi bản tóm tắt những điểm cơ bản của kế hoạch quản lý

1.2 Ở Việt nam

1.2.1 Tiến trình CCR

Việt nam tham gia quá trình này từ năm 1998 tới nay, tuy mới hình thành nhưng được sự hưởng ứng của các cấp quản lý chính quyền, sự hăng hái tự nguyện của mọi chủ rừng, tiến trình QLRBV đã đạt được một số tiến bộ đáng kể, đặc biệt là tại các vùng khai thác gỗ, chế biến gỗ xuất khẩu Ngày nay, biến đổi khí hậu đang

đe doạ sự tồn vong của loài người thì QLRBV là biện pháp chủ động của con người

để ngăn chặn giảm thiểu nguyên nhân thay đổ khí hậu

Tháng 2/1998, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng 3 tổ chức quốc

tế phát động 1 phong trào QLRBV và CCR rộng rãi trong cả nước, thông qua hội thảo quốc gia ngày 10-12/02/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh Tổ Công tác Quốc gia về chứng chỉ FSC ở Việt Nam (NWG) đã được thành lập gồm 12 thành viên thực hiện chương trình hành động, đồng thời xây dựng tổ chức để hoạt động lâu dài trong hệ thống thành viên của FSC nhằm thúc đẩy tiến trình QLRBV và CCR tại Việt Nam Ban đầu NWG trực thuộc Cục lâm nghiệp thuộc Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn Từ năm 2001, theo quy chế của FSC, NWG trở thành một tổ chức độc lập, phi chính phủ, phi lợi nhuận thuộc Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (nay là Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng)

Trang 22

Các hoạt động chủ yếu của NWG là:

- Dựa trên cơ sở 10 tiêu chuẩn và 56 tiêu chí của FSC, hoàn thành dự thảo tiêu chuẩn quốc gia với 160 chỉ số phản ánh các đặc thù của Việt Nam, song vẫn đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của FSC Đây là dự thảo lần 9 đã lấy ý kiến nhiều chủ rừng, các cơ quan tổ chức liên quan, đã 2 lần mời chuyên gia FSC sang

dự hội thảo góp ý Đang chờ ý kiến FSC thẩm định

- Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho chủ rừng, các bên liên quan và cộng đồng dân cứ sống trong rừng, gần rừng

- Nâng cao năng lực quản lý cho chủ rừng, năng lực hoạt động cho chuyên gia Viện QLRBV và cán bộ lâm nghiệp

- Đánh giá chất lượng quản lý rừng khu rừng

- Tổ chức mạng lưới các mô hình QLRBV tự nguyện

Năm 2001, Chiến lược lâm nghiệp quốc gia (NFS) giai đoạn 2001-2010 đã xác định quản lý và phát triển rừng theo hướng bền vững là hướng đi chủ chốt Vào đầu năm 2007, Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020 đã được ban hành, trong đó quy định theo hướng phát triển rừng quốc gia với năm chương trình lớn Một lần nữa QLRBV là một trong ba chương trình trọng điểm của chiến lược với mục tiêu 30% (8,4 triệu ha) diện tích rừng trồng sản xuất đến năm 2020 được cấp chứng chỉ

Như vậy, các vấn đề về QLRBV là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam

+ Quyết định số 18/2007/QĐ- TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020, có một Chương trình ưu tiên phát triển được đặt lên hàng đầu là “Chương trình quản lý và phát triển rừng bền vững” với mục tiêu “đến năm 2020, thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu hecta đất qui hoạch cho Lâm nghiệp ” Đây là một mục tiêu đầy tham vọng và để đạt được mục tiêu này cần thiết phải xác lập được những định hướng mới trong phát triển nguồn lực trong QLRBV thông qua các chương trình đào tạo, hợp tác và nghiên cứu 5 chương trình trọng điểm của Chiến lược là:

Trang 23

Quản lý và phát triển rừng bền vững

Bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH và phát triển dịch vụ môi trường

Chế biến thương mại lâm sản

(4) Nghiên cứu, giáo dục đào tạo và khuyến lâm

(5) Đổi mới thể chế chính sách, kế hoạch, giám sát ngành

Theo Nguyễn Ngọc Lung, chứng chỉ rừng là hệ quả cuối cùng của Quản lý rừng bền vững, vì nếu Quản lý rừng chưa đạt được các tiêu chuẩn bền vững thì không có Chứng chỉ rừng Trong điều kiện ở Việt Nam khi diện tích đất chưa ổn định, độ che phủ chưa đủ, chất lượng và năng suất rừng còn thấp so với tiềm năng, quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp chưa đủ tầm nhìn nên luôn phải điều chỉnh Vì vậy trong chương trình quản lý rừng bền vững cần thiết kế thêm một giai đoạn là

“xây dựng các điều kiện cần và đủ” để tiến hành quản lý bền vững hai đối tượng rừng tự nhiên và rừng trồng Phải song song vừa xây dựng điều kiện, vừa tiến hành quản lý rừng bền vững theo các tiêu chí tiên tiến quốc tế lại phù hợp với pháp luật

và truyền thống quốc gia

Theo Lê Khắc Côi, chứng chỉ rừng là thách thức và cơ hội cho ngành Lâm nghiệp Việt Nam khi Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu nội thất quan trọng trên thị trường thế giới và ngành chế biến gỗ Việt Nam trở thành một nhà nhập khẩu lớn gỗ được chứng nhận từ bên ngoài Tiếp theo do trữ lượng và diện tích rừng của các đơn vị quản lý rừng không cao, chi phí chứng nhận cho từng đơn

vị m3 gỗ hay ha rừng thường ở mức cao vượt quá khả năng của các đơn vị quản lý rừng Tất cả những lý do trên khiến cho quá trình chứng nhận khiến cho quá trình chứng nhận của các đơn vị quản lý rừng khó khả thi về mặt kinh tế

1.2.2 Các công trình nghiên cứu và hoạt động QLRBV ở Việt nam

1.2.2.1 Một số công trình nghiên cứu về quản lý rừng bền vững

Các công trình nghiên cứu về QLRBV ở Việt nam chưa nhiều Hai công trình nghiên cứu về QLRBV có thể kể đến là:

1) Công trình nghiên cứu về Xây dựng các bước đánh giá QLRBV để cấp CCR theo tiêu chuẩn của FSC Công trình nghiên cứu thuộc cấp Bộ Nông nghiệp &

Trang 24

phát triển nông thôn quản lý, Trường Đại học lâm nghiệp là cơ quan chủ trì và do PGS.TS Vũ Nhâm làm chủ nhiệm Đề tài tiến hành từ năm 2001 đến 2002 kết thúc Sản phẩm chính của đề tài là Thiết lập được tiến trình đánh giá QLRBV cho một chủ rừng ở Việt nam

Tiến trình đánh giá qua 8 bước sau:

Bước 1: CR hoặc cơ quan quản lý Lâm nghiệp nhà nước có nhu cầu ĐGR liên hệ ban đầu với NWG để được giải thích, thảo luận và cung cấp các thông tin ban đầu liên quan đến ĐGR của mình

Bước 2: CR hoặc CQLN đề nghị bằng văn bản tới NWG yêu cầu được ĐGR

và cung cấp các thông tin cần thiết ban đầu cho NWG

Bước 3: NWG xử lý các thông tin ban đầu nhận được từ CR hoặc CQLN, yêu cầu được bổ sung thêm các thông tin nếu cần

Bước 4: NWG cử người đại diện đến khảo sát sơ bộ tình hình rừng và hoạt động quản lý của CR bằng cách thăm hiện trường và phỏng vấn một số cán bộ chủ chốt trong bộ máy quản lý của CR và hộ dân Trên cơ sở đó lập một bản thiết kế các nội dung và chương trình: TTĐGR, dự toán chi phí và ký hợp đồng với CR

Bước 5: NWG thành lập Đoàn TTĐGR, cử trưởng đoàn và cùng với Đoàn xây dựng kế hoạch TTĐGR chi tiết Thông báo nhân sự và kế hoạch hoạt động của Đoàn TTĐGR cho CR và các cơ quan địa phương có liên quan

Bước 6: Đoàn TTĐGR tới địa bàn của CR và bắt đầu thực hiện kế hoạch TTĐGR dựa trên cơ sở đối chiếu các hoạt động thực tế của CR với các tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số của Bộ TCQG về QLRBV và CCR

Bước 7: Sau khi đã hoàn thành công việc TTĐGR tại hiện trường của CR Đoàn TTĐGR xây dựng báo cáo dự thảo tổng hợp và chuyên đề Các báo cáo dự thảo này được gửi cho NWG

Bước 8: NWG gửi bộ báo cáo dự thảo tới CR để họ bình luận, giải trình và bổ sung những điểm còn chưa thoả đáng trong báo cáo và phản hồi lại bằng văn bản

Bộ báo cáo dự thảo, văn bản phản hồi của CR và các ý kiến của Hội đồng thẩm định là tư liệu cơ bản để NWG xây dựng một bộ báo cáo chính thức về kết qủa TTĐGR đối với hoạt động QLRBV của CR

Trang 25

2) Một số đề tài nghiên cứu Đánh giá QLRBV cho một số công ty lâm nghiệp do các nghiên cứu viên tiến hành để xây dựng luận văn Thạc sĩ, như:

- Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tại Công ty lâm nghiệp Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

- Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tại Công ty lâm nghiệp Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình

- Lập kế hoạch quản lý rừng theo nguyên tắc quản lý rừng bền vững của FSC tại Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình

- Lập kế hoạch quản lý rừng theo nguyên tắc quản lý rừng bền vững của FSC gtại Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình

Các kết quả nghiên cứu đã giúp cho các chủ rừng nâng cao được nhận thức

về QLRBV cũng như sơ bộ đánh giá được khiếm khuyết trong quản lý rừng để có giải pháp khắc phục

+ Xây dựng kế hoạch chiến lược và các hoạt động QLRBV thể hiện trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2010

+ Xây dựng lộ trình thực hiện QLRBV theo hai giai đoạn 2006-2010 và sau năm 2010

Dựa trên thực tiễn, Tổ công tác quốc gia tiến hành các khảo sát nhằm xem xét tính khả thi của bộ tiêu chuẩn quốc gia đang dự thảo, đồng thời đánh giá trình

độ quản lý của các đơn vị

- Hiện nay một số chương trình dự án về CCR đã và đang được thực hiện: + Dự án điều tra xây dựng kế hoạch QLRBV tại huyện Kon-Plong (Kontum) 2000- 2002 do JICA tài trợ

+ Dự án hỗ trợ lâm trường Hà Nừng, Lâm trường Sơ pai (Gia Lai) do WWF Đông Dương tài trợ

Trang 26

+ Chương trình lâm nghiệp của GTZ, hợp phần QLRBV đang hỗ trợ 5 lâm trường quốc doanh quản lý rừng tự nhiên là Ma-Drak và Nam Nung (Đắc Lắk) đã

mở rộng ra 3 lâm trường khác tại Quảng Bình, Ninh Thuận, Yên Bái từ 2007-2009

+ Kế hoạch hỗ trợ CCR và tiếp thị của TFT tại Việt Nam không công bố thành một chương trình mà chỉ hỗ trợ từng phần và cho từng đơn vị quản lý rừng như tại Lâm trường Trường Sơn (Long Đại, Quảng Bình), Công ty Lâm nghiệp và dịch vụ Hương sơn (Hà Tĩnh), hành lang vùng đệm 2 VQG Kông Ka Kinh và Kông Cha Răng

+ Tổ chức QLRBV và CCR theo nhóm hộ gia đình thuộc dự án trồng rừng WB3 tại 4 tỉnh miền Trung, từ năm 2008

+ Đặc biệt đối với vùng trọng điểm 4 tỉnh Tây Nguyên, nơi còn khai thác nhiều gỗ nhất từ rừng tự nhiên, cũng là nơi diện tích và chất lượng rừng bị suy giảm nhiều nhất ở Việt nam, NWG, Cục Lâm nghiệp cùng WWF và Vụ chính sách đã có các hội thảo để từng tỉnh tự đánh giá hiện trạng quản lý rừng của các lâm trường theo các tiêu chí của bộ tiêu chuẩn QLRBV (Buôn Ma Thuột 2001), và hội thảo xây dựng chương trình cải cách tổ chức quản lý lâm trường theo Quyết định 187/TTg của Thủ Tướng Chính phủ (Pleiku 2002) và chọn ra 4 Công ty lâm nghiệp quản lý tốt từ mỗi tỉnh đưa vào mạng lưới mô hình QLRBV là CTLN Kong Plong, Lâm trường Hà Nừng, Lâm trường Dak N‟tao, Lâm trường Bảo Lâm

+ CCR đang là cơ hội và thách thức cho ngành Lâm nghiệp Việt Nam trong việc xuất khẩu các mặt hàng gỗ Gần đây, hàng loạt đơn vị quản lý rừng tự nhiên và trồng rừng sản xuất, rất nhiều Công ty, xí nghiệp chế biến xuất khẩu lâm sản đang

có nhu cầu tự thân tham gia quá trình QLRBV cần hướng dẫn, hỗ trợ, tư vấn để tự đánh giá năng lực quản lý rừng, năng lực giám sát chuỗi hành trình, song mới chỉ nhận được 1 chứng chỉ FSC về QLR Đó là Công ty TNHH rừng trồng Quy Nhơn (QPFT) với 9781 ha đất lâm nghiệp phân bố tại 8 huyện của tỉnh Bình Định Hiện tại Công ty QPFL khai thác gỗ từ rừng trồng mỗi năm 60.000 m3, chủ yếu là gỗ Keo

lá tràm, Keo tai tượng, Keo lai và Bạch đàn trắng Trong tương lai, dự kiến khối lượng gỗ khai thác ổn định vào khoảng 120.000 m3, chủ yếu là gỗ Keo lai QPFL

Trang 27

đồng sở hữu Nhà máy dăm gỗ quy mô trung bình (Tập đoàn dăm gỗ Bình Định - BDC) đặt tại thành phố Quy Nhơn Sản lượng khai thác gỗ hàng năm như trên được cung cấp cho BDC để chế biến thành dăm gỗ và xuất khẩu dựa trên kế hoạch quản

lý rừng được lập Bên cạnh việc bán gỗ với giá cao doanh nghiệp cũng đã thay đổi thái độ với rừng và môi trường Tổng công ty Giấy Việt nam, với sự hỗ trợ của Viện quản lý rừng bền vững và CCR, cùng với sự cố gắng của tập thể cán bộ công nhân viên, trong 4 năm từ 2008-2011 Tổng công ty đã được tổ chức SmartWood đến đánh giá và cấp CCR FM-CoC cho 5 Công ty: Xuân Đài, Đoan Hùng, Sông Thao, Yên Lập và Thanh Hòa

+ Năm 2008, Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng cũng đã thực hiện đánh giá rừng độc lập về quản lý rừng trồng của mô hình chứng chỉ rừng “theo nhóm” của huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Ở đây, các hộ trồng rừng cùng góp chung diện tích rừng trồng hợp thành Chi hội trồng rừng Yên Bái và xin cấp CCR Qua đánh giá, kết quả cho thấy: các hộ trồng rừng thuộc Chi hội đã đáp ứng được các tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam ở các mức độ khác nhau Các khiếm khuyết trong quản lý rừng có thể khắc phục được, tuy nhiên một số tiêu chí và chỉ số trong quản lý chưa phù hợp, nên việc sử dụng nó để đánh giá còn có chênh lệch

Tính đến ngày 14/5/2010, số doanh nghiệp Việt Nam được cấp chứng chỉ theo các dạng khác nhau tăng dần, cả nước đã có 205 doanh nghiệp, đã chứng tỏ rằng các doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của CCR và đang chủ động thích ứng với những đạo luật mới về xuất khẩu gỗ vào thị trường Mỹ và EU

1.2.3 Kế hoạch quản lý rừng

Kế hoạch quản lý rừng thuộc Tiêu chuẩn 7 trong 10 tiêu chuẩn QLRBV của FSC Để QLRBV yêu cầu chủ rừng phải xây dựng KHQLR và kế hoạch phải thể hiện được những nội dung chính sau:

- Xác định được những mục tiêu của quản lý rừng của chủ rừng trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá các điều kiện cơ bản; đánh giá tình hình quản lý rừng trong 5 năm trước đây; đánh giá được những tác động về môi trường, xã hội, bảo tồn đa dạng sinh học và dự báo được nhu cầu lâm sản, nhu cầu cải thiện môi trường, tạo công ăn việc làm trong tương lai

Trang 28

- Căn cứu vào mục tiêu quản lý đã xác định, tiến hành quy hoạch sử dụng đất; phân bổ đất đai cho phát triển các loại rừng trong địa bàn quản lý của chủ rừng,

- Tiến hành lập kế hoạch quản lý rừng, bao gồm:

+ Kế hoạch khai thác rừng ổn định

+ Kế hoạch trồng rừng và chăm sóc, nuôi dưỡng rừng

+ Kế hoạch sản xuất cây con

+ Kế hoạch bảo vệ rừng

+ Kế hoạch sản xuất kinh doanh kết hợp

+ Kế hoạch giảm thiểu tác động môi trường

+ Kế hoạch giảm thiểu tác động xã hội

+ Kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và các khu rừng có giá trị bảo tồn cao + Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng

+ Kế hoạch nhân lực và tổ chức nhân lực

kế hoạch quản lý rừng cần xây dựng tổng quát cho cả năm hồi quy và lập kế hoạch

cụ thể cho một thời gian gián cách giữa 2 lần khai thác trên cùng một địa điểm (năm hồi quy bao gồm nhiều thời gian gián cách giữa 2 lần khai thác

Khi chuyển đổi các phương thức quản lý thông thường sang phương thức QLRBV đòi hỏi sẽ phải thay đổi một loạt khuôn khổ chính sách ở cấp trung ương; thái độ, quan điểm và sự đồng thuận của các sơ sở sản xuất kinh doanh lâm nghiệp

và ngay cả người dân địa phương Tính phức tạp không chỉ thể hiện trên khía cạnh chính sách, công nghệ mà còn về sinh thái, kinh tế, xã hội, đặc biệt là nhận thức về CCR Việc xác định các tiêu chuẩn QLRBV cho mỗi hệ sinh thái của Việt Nam gặp khó khăn do tính đa dạng phức tạp của nó Các lợi ích từ quản lý và bảo vệ rừng chưa hấp dẫn người dân sống trong vùng rừng nên sự tham gia của họ còn rất hạn

Trang 29

chế Nguồn vốn cho các hoạt động còn thiếu, thiếu cả cơ chế đảm bảo tham gia của các đối tượng hữu quan vào quản lý rừng Chi phí để đạt tiêu chuẩn CCR lại quá cao, cao hơn so với giá bán gỗ đã được cấp chứng chỉ

Nhưng cần nhìn vào lợi ích trong tương lai, QLRBV là xu thế tất yếu đối với đơn vị kinh doanh lâm nghiệp Kinh nghiệm của Công ty TNHH rừng trồng Quy Nhơn cho thấy có việc được chứng nhận FSC, khi có chứng nhận FSC thì việc kinh doanh của họ đã có thêm nhiều thuận lợi , đặc biệt là được khách hàng chú ý nhiều hơn Chứng chỉ rừng không chỉ làm thay đổi giá trị của hàng hoá đem lợi ích đến không chỉ cho doanh nghiệp chế biến lâm sản mà cả những đơn vị trồng rừng cũng được hưởng nhiều quyền lợi khi có được chứng nhận này Những khó khăn trở ngại nêu trên trở thành những thách thức đối với các nhà lâm nghiệp trong quá trình chuyển đổi quản lý rừng theo hướng bền vững mà trong đó nghiên cứu để tìm tòi một phương pháp lập kế hoạch QLRBV là bước ban đầu rất quan trọng

Đánh giá quản lý rừng phải căn cứ vào các tiêu chuẩn QLRBV, nhưng vận dụng các tiêu chuẩn này cho các đơn vị cần linh hoạt, theo điều kiện thực tế đang

có Mục tiêu của Trung Tâm lâm nghiệp Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc” Là quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững không những của Trung tâm mà còn đứng ra tổ chức dịch vụ cho các hộ gia đình trồng rừng trong huyện Tam Đảo thực hiện quản

lý rừng bền vững theo nhóm với vai trò nòng cốt là Trung tâm Nhưng cho đến nay Trung tâm chưa có đánh giá nào về quản lý rừng của mình theo bộ tiêu chuẩn QLRBV của FSC, cũng như chưa có sự tư vấn hỗ trợ và chuyển giao kỹ năng đánh giá nào của các chuyên gia Đề tài “Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới CCR tại Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc” nhằm hỗ trợ Trung tâm tự đánh giá công tác quản lý rừng của mình và của các hộ gia đình trồng rừng nhằm thay đổi phương thức quản lý để có cơ hội nhận CCR theo nhóm

Trang 30

- Lập được KHQLR trong giai đoạn 1 chu kỳ kinh doanh rừng

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Đánh giá quản lý rừng theo tiêu chuẩn QLRBV của Việt nam

- Đánh giá QLR theo 10 tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam

- Xác định các lỗi không tuân thủ trong quản lý rừng của Trung tâm và đề ra các giải pháp khắc phục các lỗi

2.2.2 Đánh giá quản lý chuỗi hành trình sản phẩm theo tiêu chí của Việt nam

- Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm theo tiêu chí của Việt Nam

- Xác định các lỗi trong quản lý chuỗi hành trình sản phẩm và đề ra các giải pháp khắc phục các lỗi

2.2.3 Đánh giá điều kiện cơ bản và tình quản lý rừng của Trung tâm

- Điều kiện tự nhiên, KTXH và đánh giá thuận lợi khó khăn của các điều kiện cơ bản ảnh hưởng đến quản lý rừng của Trung tâm

- Đánh giá tình hình quản lý rừng của Trung tâm và bài học kinh nghiệm

Trang 31

2.2.4 Dự báo nhu cầu lâm sản, yêu cầu bảo vệ môi trường và an sinh xã hội 2.2.5 Lập kế hoạch quản lý rừng

1) Căn cứ lập kế hoạch

2) Xác định mục tiêu quản lý rừng

3) Bố trí sử dụng đất đai

4) Kế hoạch quản lý rừng

2.3 Đối tượng nghiên cứu

- Tài nguyên rừng do Trung tâm quản lý; rừng trồng và đất trồng rừng nguyên liệu do các hộ gia đình có trên 1ha thuộc địa bàn huyện Tam Đảo quản lý

- Tình hình QLR, chuỗi hành trình sản phẩm và thực hiện kế hoạch của Trung tâm lâm nghiệp Tam đảo và các hộ gia đình trồng rừng nguyên liệu thuộc huyện Tam Đảo

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Quan điểm, phương pháp luận nghiên cứu

- QLRBV là một phương thức quản lý rừng tiên tiến , CCR là kết quả của QLRBV Việc đánh giá quản lý rừng cần căn cứ vào các tiêu chuẩn QLRBV , nhưng

có vận dụng vào điề u kiện thực tế Để đánh giá QLRBV , Trung tâm và các hộ gia đình tự đánh giá có sự tư vấn hỗ trợ và chuyển giao kỹ năng đánh giá của chuyên gia Từ kết quả đánh giá đó, Trung tâm và các hộ gia đình phải thay đổi phương thức quản lý để có cơ hội nhận CCR

- Kế hoạch quản lý rừng lập ra sau này do chính Trung tâm và các hộ gia đình thực hiện nên cần lập KHQLR theo phương pháp có tham gia

- CCR sẽ lấy Trung tâm lâm nghiệp làm nòng cốt và là trưởng nhóm, các hộ gia đình là thành viên trong nhóm; mọi kế hoạch quản lý rừng sau khi được chứng chỉ sẽ do Trung tâm đứng ra tổ chức thực hiện, giám sát và đánh giá

- Các hộ gia đình tham gia nhóm CCR phải tự nguyện và phải thực hiện đầy

đủ các quy định trong quy chế quản lý rừng

2.4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.4.2.1 Đánh giá tình hình quản lý rừng và quản lý chuỗi hành trình sản phẩm

1) Tiêu chuẩn sử dụng để dánh giá: Đánh giá quản lý rừng luôn phải dựa trên

cơ sở một bộ tiêu chuẩn quản lý rừng xác định Trên cơ sở bộ tiêu chuẩn của Hội

Trang 32

đồng quản trị rừng thế giới đã được “quốc gia hoá” thành của VN như một bộ tiêu chuẩn FSC con

Khi chủ rừng quyết định thực hiện QLRBV để đạt mục tiêu chứng chỉ FSC theo bộ tiêu chuẩn của VN thì đương nhiên phải đáp ứng những yêu cầu của bộ tiêu chuẩn đó Việc đầu tiên cần làm là phải thực hiện khảo sát đánh giá quản lý rừng hiện tại để:

- Nắm được tình hình, trình độ quản lý, điểm mạnh, điểm yếu của đơn vị trên

cơ sở so sánh với bộ tiêu chuẩn QLRBV củaVN

- Xây dựng kế hoạch cải thiện quản lý rừng nhằm đạt các yêu cầu QLRBV 2) Các bước thực hiện đánh giá

a Lập tổ đánh giá: Để thực hiện việc đánh giá quản lý rừng cho Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo đã sử dụng phương pháp: Đánh giá nội bộ: do các cán bộ của trung tâm, chủ rừng thực hiện và có cán bộ tư vấn hỗ trợ

- Được thực hiện bằng cách lập một tổ chuyên gia nội bộ lớn nhỏ tuỳ theo tầm cỡ (quy mô) của đơn vị để thực hiện việc xác định những khiếm khuyết, trong chứng chỉ rừng, còn gọi là lỗi không tuân thủ (LKTT) tiêu chuẩn

- ĐGNB có ưu điểm là ít tốn kém, chủ động về nhân sự và thời gian, ít phải hội họp tham khảo ý kiến, nhưng nhược điểm là dễ bỏ sót khiếm khuyết hoặc nặng về nhận xét chủ quan, nhất là khi các kiểm tra viên chưa hoàn toàn hiểu bộ tiêu chuẩn

b Thành lập tổ đánh giá

- Tổ đánh giá bầu có Tổ trưởng chịu trách nhiệm chung và có ít nhất 6 ngưởi, trong đó phải có ít nhất 1 lâm sinh, một môi trường-bảo tồn và 1 kinh tế-xã hội Tổ chia làm 3 nhóm để đánh giá việc thực hiện các tiêu chuẩn liên quan của mỗi nhóm như sau:

Nhóm đánh giá Đánh giá thực hiện các tiêu chuẩn

Trang 33

những nội dung đó ngoài hiện trường với bộ tiêu chuẩn, và được trình bày trong báo cáo kết quả kiểm tra

c Lập kế hoạch đánh giá: Bản kế hoạch đánh giá phải đủ chi tiết

d Hiểu bộ tiêu chuẩn của Việt nam: Để thực hiện được tiêu chuẩn thì trước hết và rất quan trọng là phải hiểu chính xác tiêu chuẩn Vì vậy chủ rừng nên dành một khoảng thời gian nhất định để tìm hiểu tiêu chuẩn

e Thực hiện đánh giá, bao gồm:

- Đánh giá trong phòng;

- Đánh giá ngoài hiện trường;

- Tham vấn các cơ quan hữu quan

Các chỉ số của mỗi tiêu chí cần được phân làm 3 loại theo phương pháp đánh giá: Loại 1: Những chỉ số chỉ có thể đánh giá trong phòng;

Loại 2: Những chỉ số chỉ có thể đánh giá ngoài hiện trường;

Loại 3: Những chỉ số cần kết hợp đánh giá trong phòng và ngoài hiện trường; Loại 4: Những chỉ số cần tham khảo ý kiến các quan quản lý để đánh giá Ngoài ra, tổ đánh giá cũng cần chọn ra những tiêu chí hoặc chỉ số không áp dụng (hay không liên quan) đối với đơn vị Những tiêu chí hoặc chỉ số này sẽ không được xem xét trong quá trình khảo sát đánh giá

- Đánh giá trong phòng

+ Khi thực hiện đánh giá trong phòng làm việc, tổ đánh giá mời những người

có liên quan đến quản lý rừng cung cấp thêm thông tin và trả lời những câu hỏi liên quan đến công việc do họ phụ trách hay thực hiện

+ Nhiệm vụ của đánh giá trong phòng làm việc là khảo sát các văn bản, tài liệu, sổ sách liên quan đến quản lý rừng như kế hoạch sản xuất kinh doanh , các bản hướng dẫn, quy trình, các bản báo cáo định kỳ và hàng năm, các báo cáo về kết quả giám sát đánh giá, các hợp đồng khai thác v.v.,

So sánh nội dung các văn bản tài liệu đó với yêu cầu của bộ tiêu chuẩn của

VN để có thể thấy những văn bản nào phù hợp hoặc chưa phù hợp, những tiêu chuẩn tiêu chí nào đã được thực hiện tốt hoặc chưa tốt và ở mức độ nào

Trang 34

Cách làm tốt nhất là đối chiếu từng tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số với các tài liệu liên quan và phỏng vấn trực tiếp cán bộ phụ trách việc thực hiện các tiêu chuẩn

- tiêu chí đó

- Đánh giá ngoài hiện trường

Hoạt động này là để đoàn đánh giá kiểm tra xem những việc làm ngoài hiện trường có đúng như trong kế hoạch, quy trình, hướng dẫn và các báo cáo v.v đã công bố hay không

+ Thường thì tổ đánh giá sẽ chọn ngẫu nhiên một số địa điểm để khảo sát sao cho có thể nắm được đầy đủ nhất về các hoạt động quản lý rừng ngoài hiện trường như bài cây khai thác, làm đường vận chuyển gỗ, chăm sóc rừng sau khai thác, cắm mốc các khu bảo tồn, các biện pháp phòng chống tác động xấu đối với môi trường v.v

+ Cần có cán bộ chuyên môn phụ trách công việc được đánh giá đi theo để giải thích hoặc trả lời các câu hỏi của tổ đánh giá

+ Một phần quan trọng của đánh giá ngoài hiện trường là phỏng vấn những người có liên quan đến quản lý rừng như cán bộ công nhân của chủ rừng làm việc tại hiện trường, chính quyền địa phương, các tổ chức có các hoạt động trong vùng,

và người dân sở tại Nhiều khi những người được hỏi có thể cảm thấy khó nói ra sự thật hay suy nghĩ của mình trước mặt cán bộ quản lý của chủ rừng, vì vậy tổ đánh giá có thể đề nghị cán bộ đó lánh ra chỗ khác để cuộc phỏng vấn được hoàn toàn tự nhiên thoải mái

+ Để đạt được kết quả tốt tổ đánh giá thường phải có phương pháp khuyến khích người được phỏng vấn trả lời một cách cởi mở chân thành

Mỗi nhóm đánh giá cử một người ghi Phiếu đánh giá Phiếu chỉ được ghi sau khi đã thống nhất trong cả nhóm Từng thành viên Nhóm đánh giá cho điểm độc lập, sau đó lấy giá trị trung bình để ghi vào phiếu (cột 4) Mức độ thực hiện chỉ số được đánh giá theo thang điểm:

Trang 35

Phiếu đánh giá quản lý rừng theo tiêu chuẩn

của Việt nam (FM)

Thực hiện

Điểm số

Nhận xét

Cột (1): Ghi số hiệu tiêu chí (trong bảng tiêu chuẩn)

Cột (2): Ghi số hiệu chỉ số (trong bảng tiêu chuẩn)

Cột (3): Ghi các nguồn kiểm chứng

Cột (4): Mô tả việc thực hiện chỉ số, thực hiện/chưa thực hiện

Cột (5): Ghi điểm số đánh giá trong phòng

Cột (6): Ghi điểm số đánh giá hiện trường

Cột (7): Ghi điểm số đánh giá quan tham vấn

Cột (8): Ghi điểm số trung bình

Cột (9): Ghi nguyên nhân lỗi không tuân thủ và khả năng khắc phục (dễ, khó) hoặc ghi chỉ số không áp dụng

Trang 36

Phiếu đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm (CoC)

1 Quản lý chất lượng

- CoC 1.1: Trung tâm quản lý rừng phải định rõ người/vị trí trách

nhiệm để thực hiện hệ thống kiểm soát CoC

Có Không Phát hiện:

- CoC 1.2: Tất cả nhân viên liên quan phải chứng minh được sự

nhận thức về các quy định và khả năng của Trung tâm trong việc

thực hiện hệ thống kiểm soát CoC của Trung tâm

Có Không

Phát hiện:

g Xác định lỗi không tuân thủ và khuyến nghị khắc phục

- Sau khi đã thực hiện đánh giá trong phòng và đánh giá ngoài hiện trường

Tổ đánh giá sẽ họp để các nhóm trình bày kết quả đánh giá những tiêu chuẩn được phân công, thảo luận chung và đi đến kết luận có những nội dung nào của tiêu chuẩn chưa được chủ rừng thực hiện, tức là những LKTT, và đưa ra các khuyến nghị khắc phục (KNKP) những lỗi đó

- Việc này được thực hiện trên cơ sở tổ đánh giá so sánh những thông tin tư liệu đã thu nhận được trong quá trình đánh giá với bộ tiêu chuẩn của VN Những LKTT được chia làm 2 loại là LKTT lớn và LKTT nhỏ

h Họp kết thúc đánh giá

- Kết quả đánh giá quản lý rừng sẽ được Tổ đánh giá viết thành báo cáo sơ

bộ sau khi tiến hành họp tổ để thống nhất những nội dung của bản báo cáo

- Trong báo cáo sơ bộ Tổ đánh giá trình bày cả những ưu điểm của chủ rừng trong các khâu quản lý, tức là những điểm đã hoàn toàn đáp ứng tiêu chuẩn, và những phát hiện về LKTT và những KNKP, kèm theo một danh sách những LKTT

và KNKP

i Lập kế hoạch khắc phục LKTT

- Sau khi nhận được báo cáo chính thức của Tổ đánh giá, chủ rừng tiến hành họp cán bộ chủ chốt của đơn vị để phổ biến những phát hiện và khuyến nghị của tổ đánh giá, đồng thời xây dựng kế hoạch khắc phục những LKTT ghi trong báo cáo

Trang 37

- Bản kế hoạch phải đủ chi tiết, bao gồm các mục: những việc làm cụ thể, thời gian thực hiện, người chịu trách nhiệm thực hiện, và nguồn kinh phí vật tư cần thiết Một điểm quan trọng cần đặc biệt lưu ý là cần mời những người sẽ trực tiếp thực hiện kế hoạch tham gia xây dựng kế hoạch khắc phục LKTT để đảm bảo rằng

kế hoạch sẽ sát với tình hình thực tế, có tính khả thi cao

- Xác định những việc cần làm

+ Chỉ khi xác định được thật cụ thể cần phải làm gì để khắc phục những LKTT thì mới có thể lên kế hoạch thực hiện những công việc đó

- Kế hoạch thời gian

+ Cố gắng tối đa định lượng công việc để trên cơ cở đó có kế hoạch thời gian hợp lý khi nào bắt đầu khi nào kết thúc

+ Trường hợp có các LKTT lớn thì phải xác định các ưu tiên và phân thành các giai đoạn thực hiện

- Người chịu trách nhiệm thực hiện, kinh phí, vật tư

Mỗi công việc đều phải có người chịu trách nhiệm thực hiện Nếu là công việc liên quan đến nhiều bộ phận, cần nhiều người thực hiện, thì phải có người cầm đầu, chịu trách nhiệm chính

Đối với mỗi công việc cần xác định rõ cần bao nhiêu người làm, kể cả thuê chuyên gia, bao nhiêu kinh phí, vật tư, lấy từ nguồn nào, vào thời gian nào, và ai chịu trách nhiệm cung ứng Chuyên gia ngoài, nhất là những chuyên gia đã từng tham gia các chương trình cải thiện quản lý rừng vì mục tiêu CCR FSC có thể giúp tính toán việc này rất hiệu quả

- Thực hiện kế hoạch

+ Kế hoạch đã lập xong phải gửi cho các bộ phận liên quan và các cá nhân được giao trách nhiệm thực hiện kế hoạch Đối với những công việc nhỏ lẻ, do một vài người thực hiện thì thường không gặp trở ngại gì đáng kể, nhưng việc thực hiện những công việc lớn, phức tạp thường liên quan đến nhiều bộ phận khác nhau và nhiều khi phải qua những thủ tục vật tư tài chính phức tạp

Trang 38

+ Nói chung, khi bắt đầu thực hiện kế hoạch người chịu trách nhiệm chính của những công việc lớn nên gặp thủ trưởng các bộ phận để được cam kết là sẽ được đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về nhân lực, vật tư, kinh phí v.v

- Giám sát đánh giá thực hiện kế hoạch

+ Giám sát đánh giá rất quan trọng để đảm bảo việc thực hiện kế hoạch đạt được mục tiêu trong khuôn khổ thời gian đã định

+ Trong mọi trường hợp đều cần có một kế hoạch giám sát đánh giá phù hợp với phạm vi và cường độ hoạt động thực hiện kế hoạch khắc phục những LKTT

+ Có ba hình thức giám sát đánh giá là không chính thức, chính thức và bất thường

* Giám sát đánh giá không chính thức

* Giám sát đánh giá chính thức

* Giám sát đánh giá bất thường

Hình 2.1 Sơ đồ khung đánh giá QLR tại Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo

2.4.2.2 Lập kế hoạch quản lý rừng

1) Thu thập tài liệu sơ cấp: Kế thừa tài liệu do Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo

và Phòng Địa chính, Phòng Nông nghiệp huyện Tam Đảo cung cấp

2) Đánh giá tác động môi trường, xã hội và bảo tồn đa dạng sinh học áp dùng phương pháp đánh giá theo quy mô nhỏ (tự đánh giá)

Trang 39

3) Lập kế hoạch quản lý rừng áp dụng các phương pháp:

- Phương pháp kinh doanh rừng theo cấp tuổi

- Phương pháp điều chỉnh sản lượng rừng theo diện tích trên cơ sở so sánh giữa diện tích rừng trồng thực tế với diện tích rừng phân bố chuẩn

- Lập kế hoạch quản lý rừng đảm bảo tính hệ thống:

Khai thác Trồng Chăm sóc Khai thác

- Lập kế hoạch triệt để sử dụng phương pháp có tham gia của chủ rừng 4) Tính hiệu quả kinh tế kinh doanh rừng nguyên liệu: Sử dụng phương pháp động Coi các yếu tố về chi phí và kết quả là mối quan hệ động với mục tiêu đầu tư, thời gian và giá trị đồng tiền

Trong đó: - NPV là giá trị thu nhập hiện tại ròng

- Bt : Giá trị thu nhập tại thời điểm t bao gồm toàn bộ những gì

mà DA thu được

-Ct :Giá trị chi phí tại thời điểm t bao gồm những gì mà DA bỏ ra

- t : Thời gian ( t = 0,1,2,3 )

- n: Số năm hoạt động trong chu kỳ của dự án (7 năm)

- IRR: tỷ lệ thu hồi nội bộ là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi

vốn đầu tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu Khi NPV = 0 thì i = IRR

- BCR: tỷ lệ thu nhập so với chi phí là hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên đơn vị chi phí sản xuất

Trang 40

CHƯƠNG 3

ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA HUYỆN TAM ĐẢO VÀ

CỦA TRUNG TÂM LÂM NGHIỆP TAM ĐẢO

3.1 Huyện Tam Đảo

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

1) Vị trí địa lý: Tam Đảo là huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Vĩnh Phúc Trung tâm huyện và Trung Tâm lâm nghiệp Tam Đảo đóng trên địa bàn

xã Hợp Châu cách thành phố Vĩnh Yên 10km về phía Đông Bắc

2) Ranh giới hành chính của huyện Tam Đảo

- Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang

- Phía Đông giáp huyện Bình Xuyên (Vĩnh Phúc) và tỉnh Thái Nguyên

- Phía Nam giáp huyện Tam Dương và huyện Bình Xuyên (Vĩnh Phúc)

- Phía Tây giáp huyện Tam Dương và huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc)

c) Địa hình, địa mạo: Địa hình huyện Tam Đảo tương đối đa dạng, phức tạp,

có vùng miền núi và núi cao, có vùng đồi gò, có vùng đất bãi ven sông Mỗi vùng đều có những điều kiện tự nhiên đặc thù với những thuận lợi, khó khăn khác nhau trong phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp

3) Thổ nhưỡng: Theo kết quả điều tra lập địa phục vụ dự án trồng mới 5 triệu

ha rừng của tỉnh Vĩnh Phúc, huyện Tam Đảo gồm có những nhóm đất chính sau:

- Nhóm đất Feralit mùn trên núi trung bình phát triển trên đá phún xuất tinh chua

- Nhóm đất Feralít vùng núi thấp, phát triển trên đá phún xuất tinh chua

- Nhóm đất Feralít vùng đồi và núi thấp phát triển trên đá trầm tích biến chất

có kết cấu hạt thô

- Nhóm đất vùng đồi và núi thấp phát triển trên nhóm đá hỗn hợp

4) Khí hậu: Chia thành 2 tiểu vùng: Tiểu vùng khí hậu Tam Đảo núi quanh năm mát mẻ, rất thuận tiện cho việc phát triển kinh tế du lịch và hình thành khu nghỉ mát; Tiểu vùng khí hậu vùng thấp mang các đặc điểm khí hậu gió mùa nội chí tuyến vùng Đông Bắc Bắc bộ

Ngày đăng: 12/11/2014, 05:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1:  Các nhân tố tác động vào quản lý rừng   (Nguồn: Cẩm Nang Ngành Lâm Nghiệp. Chương Chứng Chỉ Rừng, FSSP & GTZ 2006) - đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc
Hình 1.1 Các nhân tố tác động vào quản lý rừng (Nguồn: Cẩm Nang Ngành Lâm Nghiệp. Chương Chứng Chỉ Rừng, FSSP & GTZ 2006) (Trang 16)
Hình 2.1.  Sơ đồ khung đánh giá QLR tại Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo  2.4.2.2. Lập kế hoạch quản lý rừng - đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc
Hình 2.1. Sơ đồ khung đánh giá QLR tại Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo 2.4.2.2. Lập kế hoạch quản lý rừng (Trang 38)
Bảng 3.2. Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp huyện Tam Đảo - đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.2. Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp huyện Tam Đảo (Trang 42)
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất của Trung tâm và các hộ gia đình tham gia - đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất của Trung tâm và các hộ gia đình tham gia (Trang 46)
Sơ đồ 3.1: Hệ thống tổ chức quản lý rừng Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo - đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc
Sơ đồ 3.1 Hệ thống tổ chức quản lý rừng Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo (Trang 50)
Bảng 4.1: Các lỗi chưa tuân thủ và khuyến nghị khắc phục (7 lỗi) - đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc
Bảng 4.1 Các lỗi chưa tuân thủ và khuyến nghị khắc phục (7 lỗi) (Trang 54)
Bảng 4.3: Bố trí đất đai theo mục đích sử dụng - đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc
Bảng 4.3 Bố trí đất đai theo mục đích sử dụng (Trang 67)
Bảng 4.5: Diện tích thực và diện tích chuẩn kết cấu theo tuổi - đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc
Bảng 4.5 Diện tích thực và diện tích chuẩn kết cấu theo tuổi (Trang 70)
Bảng 4.6: Điều chỉnh diện tích rừng trồng Keo tai tượng theo tuổi thông qua - đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc
Bảng 4.6 Điều chỉnh diện tích rừng trồng Keo tai tượng theo tuổi thông qua (Trang 71)
Hình 4.1: Biểu đồ điều chỉnh diện tích khai thác rừng trồng - đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc
Hình 4.1 Biểu đồ điều chỉnh diện tích khai thác rừng trồng (Trang 73)
Bảng 4.7: Trữ lượng rừng trồng Keo tai tượng năm 2011 - đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc
Bảng 4.7 Trữ lượng rừng trồng Keo tai tượng năm 2011 (Trang 73)
Bảng 4.8: Trữ lượng và sản lượng khai thác rừng trồng Keo giai đoạn 2012 - 2018 - đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc
Bảng 4.8 Trữ lượng và sản lượng khai thác rừng trồng Keo giai đoạn 2012 - 2018 (Trang 74)
Bảng 4.9: Kế hoạch trồng rừng giai đoạn 2012 -2018 - đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc
Bảng 4.9 Kế hoạch trồng rừng giai đoạn 2012 -2018 (Trang 78)
Bảng 4.11: Kế hoạch chăm sóc trong 1 chu kỳ kinh doanh: 2012-2018 - đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc
Bảng 4.11 Kế hoạch chăm sóc trong 1 chu kỳ kinh doanh: 2012-2018 (Trang 80)
Bảng 4.13: Hiệu quả kinh tế kinh doanh cho 1ha rừng trồng Keo - đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc
Bảng 4.13 Hiệu quả kinh tế kinh doanh cho 1ha rừng trồng Keo (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w