1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang

115 419 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của đề tài - Xác định được năng suất, chất lượng của hai giống cỏ này ngoài tự nhiên và trong điều kiện trồng trọt tại tỉnh Tuyên Quang.. Cùng với sự phát triển của ngành chăn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

LÃ THỊ THUÝ

ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG VÀ KHẢ NĂNG

KHAI THÁC HAI LOÀI CỎ CÓ NGUỒN GỐC TỰ NHIÊN TẠI HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Thái Nguyên - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

LÃ THỊ THUÝ

ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG VÀ KHẢ NĂNG

KHAI THÁC HAI LOÀI CỎ CÓ NGUỒN GỐC TỰ NHIÊN TẠI HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 60-42-60

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG CHUNG

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Mở đầu 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Cỏ hoà thảo và đặc tính sinh thái, sinh học của chúng 3

1.1.2 Đặc tính sinh lý 5

1.1.3 Đặc tính sinh trưởng 6

1.1.4 Thời gian sống của cỏ Hoà thảo 7

1.2 Một số nghiên cứu về cỏ Hoà thảo 7

1.2.1 Tình hình nghiên cứu cỏ trên thế giới 7

1.2.1.1 Diện tích trồng cỏ trên thế giới 7

1.2.1.2 Những nghiên cứu về khả năng tái sinh của cỏ Hoà thảo 8

1.2.1.3 Những nghiên cứu về năng suất của cỏ Hoà thảo 10

1.2.1.4 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến năng suất của cỏ .13

1.2.1.5 Ảnh hưởng của thức ăn xanh tới sản lượng sữa 15

1.2.2 Tình hình nghiên cứu cỏ trong nước 16

1.2.2.1 Diện tích trồng cỏ chăn nuôi gia súc ở Việt Nam trong thời gian qua 16

1.2.2.2 Các loài cỏ trồng làm thức ăn gia súc ở Việt Nam 17

1.2.2.3 Những nghiên cứu về năng suất, khả năng tái sinh một số loài cỏ 22

1.2.2.4 Những nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của một số loài cỏ 28

1.2.2.5 Hiệu quả sử dụng một số loài cỏ ở đồng cỏ Bắc Việt Nam 31

Trang 4

1.3 Các công trình nghiên cứu về phân bố, phân loại các thảm cỏ, loài cỏ

tự nhiên 33

1.3.1 Phân bố đồng cỏ trên thế giới 33

1.3.2 Đặc điểm của đồng cỏ Việt Nam 34

1.3.3 Các loài thực vật chính trên đồng cỏ Việt Nam 35

1.3.3.1 Cỏ hoà thảo 35

1.3.3.4 Cỏ tạp 36

1.4 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Tuyên Quang 36

Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 40

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Tuyên Quang 40

2.1.1 Vị trí địa lý, khí hậu, thuỷ văn 40

2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 40

2.1.1.2 Khí hậu, thuỷ văn 40

2.1.2 Hạ tầng cơ sở 41

2.1.3 Nguồn lực 42

2.2 Điều kiện tự nhiên và xã hội của huyện Yên Sơn 43

2.2.1 Điều kiện tự nhiên 43

2.2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 43

2.2.1.2 Khí hậu, thuỷ văn 43

2.2.1.3 Các nguồn tài nguyên 46

2.2.2 Tình hình kinh tế, xã hội huyện Yên Sơn 49

2.2.2.1 Nguồn lao động 49

2.3 Điều kiện tự nhiên và xã hội xã Tiến Bộ 50

2.3.1 Điều kiện tự nhiên của xã Tiến Bộ 50

2.3.2 Điều kiện kinh tế, xã hội của xã Tiến Bộ 51

2.3.2.1 Nguồn nhân lực 51

Trang 5

Chương 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU 53

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 53

3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 53

3.2.1 Nội dung nghiên cứu 53

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 53

3.2.2.1 phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên 53

3.2.2.2 Thực nghiệm trồng cỏ 54

3.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 56

3.3 Xử lý số liệu 64

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 65

4.1 Tình hình chăn nuôi gia súc tỉnh Tuyên Quang 65

4.1.1 Phương hướng phát triển Chăn nuôi giai đoạn 2006 - 2010 65

4.1.2 Dự án nuôi dê lai tại tỉnh Tuyên Quang 67

4.1.3 Ngành chăn nuôi bò ở Tuyên Quang 69

4.1.4 Tuyên Quang xây dựng thương hiệu trâu Tuyên Quang 71

4.2 Tình hình chăn nuôi của huyện Yên Sơn 74

4.2.1 Số lượng đàn gia súc của huyện Yên Sơn đầu năm 2010 74

4.3 Đặc điểm sinh thái, sinh học của hai loài cỏ thí nghiệm 76

4.3.1 đặc điểm sinh thái, sinh học của loài cỏ Lau (Saccharum arundinaceum 76

4.3.2 Đặc điểm sinh thái, sinh học của cỏ Mật (Coelorachis striata) 76

4.4 Năng suất và chất lượng của hai loài cỏ trong điều kiện tự nhiên 77

4.4.1 Năng suất của hai loài cỏ trong điều kiện tự nhiên 77

4.4.2 Chất lượng của hai loài cỏ trong điều kiện tự nhiên 79

4.5 Năng suất, vật chất xanh và vật chất khô của hai loài cỏ thí nghiệm trong điều kiện trồng 80

4.5.1 Chiều cao của thảm cỏ qua các lứa cắt 80

Trang 6

4.5.2 Năng suất của cỏ thí nghiệm 83

4.5.3 Chất lƣợng của hai loài cỏ trong điều kiện thí nghiệm 86

4.6 Thành phần dinh dƣỡng của đất 90

4.6.1 Thành phần dinh dƣỡng của đất tự nhiên 90

4.6.2 Thành phần dinh dƣỡng của đất thí nghiệm 91

4.7 Tỷ lệ sử dụng của gia súc đối với các giống cỏ 92

4.7.1 Tính ngon miệng của gia súc đối với hai giống cỏ 92

4.7.2 Lƣợng ăn vào của gia súc đối với các giống cỏ 92

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đay là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa có ai công bố

Tác giả

Lã Thị Thuý

Trang 8

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ khoa học, Tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của Nhà trường và địa phương Tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới:

Thầy giáo PGS – TS Hoàng Chung đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này

Các thầy cô giáo, các cán bộ, nhân viên khoa Sinh – KTNN trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên; Cán bộ , nhân viên Viện Khoa học sự sống – Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu khoa học

Đảng uỷ, Ban giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, khoa Sau Đại học

Các vị lãnh đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Uỷ ban nhân dân huyện Yên Sơn, Uỷ ban nhân dân xã Tiến Bộ, trạm Khí tượng thuỷ văn, trạm Khuyến nông, phòng Nông nghiệp, phòng thống kê cùng rất nhiều hộ gia đình đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè đã khuyến khích, động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên, ngày 25 tháng 08 năm 2010

Tác giả

Lã Thị Thuý

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ NN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Năng suất VCK và hàm lượng protein một số giống cỏ ở vùng

đất thấp được cắt ở 45 ngày tuổi 12

Bảng 1.2 Sản lượng của cỏ Ghinê tía cắt sau 30 ngày 13

Bảng 1.3 : Giá trị dinh dưỡng một số cây thức ăn chăn nuôi cơ bản 29

Bảng 2.1 : Khí hậu huyện Yên Sơn năm 2009 - 2010 44

Bảng 2.2: Diện tích huyện Yên Sơn năm 2005 46

Bảng 2.3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Yên Sơn 50

Bảng 2.4: Diện tích xã Tiến Bộ năm 2009 51

Bảng 2.5: Các loại cây trồng chính của xã Tiến Bộ năm 2009 52

Bảng 2.6: Các loài vật nuôi chính của xã Tiến Bộ 52

Bảng 4.1: Số lượng gia súc của huyện Yên Sơn năm 2010 74

Bảng 4.2: Năng suất chất xanh của hai loài cỏ ngoài tự nhiên qua các lần cắt 78 Bảng 4.3: Hàm lượng các chất dinh dưỡng của hai loài cỏ ngoài tự nhiên (% so với khối lượng tươi ban đầu) 79

Bảng 4.4: So sánh thành phần dinh dưỡng của một số loài cỏ (trong 1 kg) 79

Bảng 4.5: Chiều cao của cỏ thí nghiệm (cm) 81

Bảng 4.6: Năng suất của hai loài cỏ thí nghiệm ở các lứa cắt 83

Bảng 4.7: So sánh năng suất của cỏ Mật, cỏ Lau và cỏ Voi 85

Bảng 4.8: Tỷ lệ phần thân và lá của cỏ Lau thí nghiệm 87

Bảng 4.9: Số đơn vị thức ăn trong 100 kg cỏ tươi của 3 loài cỏ 89

Bảng 4.10: Thành phần dinh dưỡng của đất tự nhiên nơi cỏ Lau, cỏ Mật sinh trưởng 90

Bảng 4.11: Thành phần dinh dưỡng của đất thí nghiệm 91

Bảng 4.12: Tính ngon miệng của gia súc với hai loài cỏ 92

Bảng 4.13: Lượng cỏ ăn vào của hai loài gia súc với hai loài cỏ thí nghiệm 93

Trang 11

Mở đầu

1 Đặt vấn đề

Nền kinh tế Việt Nam chủ yếu vẫn là nền kinh tế nông nghiệp Hiện nay, nông nghiệp nước ta đang phát triển theo xu hướng chuyển đổi cơ cấu từ trồng trọt sang chăn nuôi để tăng giá trị kinh tế Chăn nuôi đã là nguồn thu nhập chính của các nông hộ ở nhiều vùng miền trong cả nước

Phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia súc nhai lại đã đem lại nhiều hiệu quả kinh tế Cùng với sự phát triển của đàn gia súc trong cả nước thì mối bận tâm hàng đầu là nền tảng thức ăn cho chăn nuôi làm sao để phát triển bền vững ngay trong từng nông hộ

Thực tiễn cho thấy, thức ăn tốt nhất cho gia súc nhai lại là cỏ xanh Thức ăn thô xanh luôn có tầm quan trọng đặc biệt và không thể thay thế với gia súc ăn cỏ như: Trâu, bò, dê, cừu, thỏ, nhím, hươu, nai vv Với nhu cầu trung bình 30 kg thức ăn thô xanh của trâu, bò; 5 - 7 kg/ngày ở dê, cừu, hươu, nai; 3 - 5 kg/ngày ở thỏ, nhím [15] Là bài toán khá phức tạp với chăn nuôi của nông hộ khi việc chăn thả tự nhiên ngày càng khó khăn do diện tích đồng

cỏ ngày càng bị thu hẹp và kém hiệu quả

Nước ta có nhiều đồng cỏ tự nhiên phân bố khắp cả nước Những đồng

cỏ này không có sự chăm sóc của con người nên sản lượng cỏ không cao Mặt khác do sự chăn thả quá mức của con người nên các đồng cỏ đang dần bị tàn phá, bị sa mạc hoá, diện tích giảm nhanh Bên cạnh đó, Việt Nam vốn chưa

có một đồng cỏ chăn nuôi nào đúng nghĩa của nó, mà chăn nuôi chủ yếu là tận dụng chăn thả tự nhiên nên hiệu quả chăn nuôi còn thấp Với thực trạng này, để chủ động nguồn cỏ phục vụ chăn nuôi thì giải pháp tốt nhất cho các nông hộ chăn nuôi trâu, bò với số lượng lớn là phải trồng cỏ Trồng cỏ mới có

đủ số lượng thức ăn để phát triển mạnh ngành chăn nuôi

Trang 12

Trong những năm gần đây ở Việt Nam đã tiến hành trồng nhiều giống

cỏ cao sản nhập nội từ nước ngoài và đã đem lại kết quả tốt Có nhiều giống

cỏ rất phù hợp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam Nhưng cũng có nhiều giống cỏ bị thoái hoá, đa phần là chất lượng không cao, vật chất khô và protein thấp Việt Nam là một nước nhiệt đới, hệ thực vật rất phong phú, có nhiều loài cỏ tự nhiên có chất lượng tốt, năng suất tự nhiên cũng khá cao, dễ trồng, tái sinh nhanh và không tàn lụi trong mùa đông

Cùng với nhiều cây trồng được khai thác làm thức ăn gia súc, hiện nay

có loài cỏ Mật (cỏ Dày hoặc cỏ Thừng) đã được đưa vào trồng và khai thác làm thức ăn gia súc hai năm gần đây tại tỉnh Bắc Ninh Để góp phần đánh giá đặc điểm sinh thái, sinh học của nó, đặc biệt là năng suất và chất lượng, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm trồng loài cỏ này tại tỉnh Tuyên Quang Đồng thời, chúng tôi cũng tiến hành trồng thử nghiệm một loài cỏ mới, rất phổ biến ở miền núi, có năng suất cao và chất lượng tốt, đó là cây cỏ Lau Chúng tôi hy vọng những kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần nội hoá các giống cỏ trồng làm thức ăn gia súc của Việt Nam

Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trên chúng tôi đã tiến hành thực

nghiệm đề tài: "Đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai

loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang"

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được năng suất, chất lượng của hai giống cỏ này ngoài tự nhiên và trong điều kiện trồng trọt tại tỉnh Tuyên Quang

- Đề xuất kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác hai loài cỏ này trong chăn nuôi gia súc

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Cỏ hoà thảo và đặc tính sinh thái, sinh học của chúng

Cỏ hoà thảo chỉ có một họ duy nhất là họ Hoà thảo (Gramineae) hay họ Lúa (Poaceae) Họ Hoà thảo có 700 chi và từ 8.000 đến 10.000 loài phân bố khắp trái đất Cây hoà thảo có giá trị quan trọng nhất trong tất cả thực vật Chúng là thức ăn chủ yếu của con người, làm cơ sở chủ yếu cho ngành chăn nuôi Hơn một nửa sản phẩm đường của thế giới lấy từ mía Giá trị của nó đặc biệt lớn lao ở các vùng thảo nguyên, ở đó Hoà thảo thường chiếm hơn 80 -90% toàn bộ số cỏ thu hoạch (Võ Văn Chi - Dương Đức Tiến ) [10]

Cỏ Hoà thảo chiếm vị trí quan trọng trong thảm cỏ do tính thích ứng rộng và chúng có mặt ở tất cả các vùng khí hậu cũng như các vùng đất đai khác nhau

Một số loài có thể sinh trưởng được ở các vùng đất khô hạn, độ ẩm trung bình từ 20 - 30%, mùa đông nhiệt độ thấp nhưng chúng vẫn sinh trưởng

và phát triển tốt như: Cỏ Xương cá, cỏ Lông đồi (Eulalia), cỏ B.decumbens

Có loài sống được ở cả những nơi đất ngập nước, đất lầy thụt như: Cỏ

Môi (Leersia hexandra), cỏ Bấc (Juncus effusus), cỏ Lồng vực (Echinochloa

crusgalli) vv

Trang 14

Trên cơ sở những hiểu biết về đặc điểm sinh thái của các loài cỏ mà ta

có thể chọn và trồng những loài cỏ nào đó thích nghi với những điều kiện có khí hậu và thổ nhưỡng tương tự như vùng gốc của chúng

Cỏ Hoà thảo có thân hình tròn hay bầu dục, lá mọc thành hai dãy Rễ thuộc loại rễ chùm, hoa phần lớn là hoa lưỡng tính

Căn cứ vào hình dáng thân và đặc điểm sinh trưởng của chúng, người ta chia cỏ Hoà thảo thành các loại sau:

* Loại thân rễ: Thân luôn nằm dưới mặt đất và chia nhánh ở dưới mặt

đất, đại diện là cỏ Tranh Loại này yêu cầu đất tơi xốp, mật độ cỏ thưa, độ che phủ thấp, thích hợp chăn thả nhẹ, không chăn thả gia súc quá đông và lâu vì

cỏ này không chịu được giẫm đạp và vùng đất dí chặt

* Loại thân bụi: Loại này từ gốc đẻ ra nhiều nhánh, thân rễ ngắn mọc

đứng tạo thành bụi như khóm lúa Nhánh có thể được sinh ra dưới mặt đất hoặc trên mặt đất Cỏ này thường có năng suất cao nhưng đòi hỏi đất phải tơi xốp và thoáng khí Do tốc độ đẻ nhanh, cao nên đòi hỏi phải trồng thưa, có thể trồng để thu cắt hoặc chăn thả Đại diện là các loài cỏ như: Cỏ Mộc Châu,

Paspalum atratum, Ghinê TD58, Tây Nghệ An, cỏ Lồng vực vv

* Loại thân bò: Cỏ này thường nhỏ và mềm nên thường nằm ngả trên

mặt đất, từ các đốt có khả năng (hoặc không) đâm rễ xuống mặt đất Do thân

bò và nằm ngả trên mặt đất nên tạo thành thảm cỏ dày che phủ kín mặt đất

Cỏ này có khả năng chịu giẫm đạt tốt nên có thể dùng để chăn thả, hay thu cắt làm cỏ khô Tuy nhiên, do đặc tính là thân bò nên khó thu cắt và năng suất thấp hơn so với các loài cỏ khác Đại diện của chúng là cỏ Panggôla

(Digitaria decumbens), cỏ Lông Para (Brachiaria multica), cỏ Lông đồi (Ischaenum indicum), cỏ Mật (R striata)

Trang 15

Lượng nước bốc hơi (g) Lượng vật chất khô tạo ra

* Loại thân đứng: Đây là những loại cỏ mọc mầm từ phần gốc ở dưới

đất hoặc hom trồng, mầm vươn thẳng, thân cao, to nên cho năng suất cao Đại diện như cỏ Voi, cỏ Lau vv

1.1.2 Đặc tính sinh lý

* Nhu cầu về nước

Cỏ Hoà thảo yêu cầu nước cao, hệ số toả hơi nước lớn hơn cỏ họ Đậu

Hệ số toả hơi nước vào khoảng 400 - 500

Hệ số toả hơi nước =

Độ ẩm yêu cầu theo giai đoạn:

+ Từ nảy mầm đến chia nhánh: 25 - 30%

+ Giai đoạn phát triển nhánh: 75%

Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần

* Nhu cầu về dinh dưỡng

Cỏ Hoà thảo đòi hỏi đất tốt, giàu mùn và đạm (N), lân (P), kali (K) Nhu cầu về N, P, K tuỳ thuộc vào giai đoạn phát triển của cỏ

+ Giai đoạn I (Từ nảy mầm tới phân nhánh): Cần nhiều N, P, K

+ Giai đoạn II (Phân nhánh) : Cần nhiều N, P

+ Giai đoạn III (Ra hoa, hình thành hạt): Cần nhiều P, K

Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn, đồng thời cần chống rét cho cỏ bằng cách bón phân cho cỏ vào cuối mùa thu đầu mùa đông

* Nhu cầu về không khí

Các loại cỏ thuộc thân đứng, thân bụi, thân rễ chia nhánh dưới mặt đất thì đòi hỏi đất phải tơi xốp, thoáng khí

Trang 16

Các loại cỏ thuộc thân bụi chia nhánh trên mặt đất và thân bò thì có thể chịu được đất kém thoáng khí và có độ ẩm thấp hơn

1.1.3 Đặc tính sinh trưởng

Theo David W Pratt 1993 [44], thì tính hiệu quả của cỏ là làm biến đổi năng lượng mặt trời thành lá xanh để động vật có khả năng thu nhận chúng, tuy nhiên sử dụng năng lượng từ lá lại phụ thuộc vào những chu kỳ phát triển của cây Các giống cỏ nói chung và cỏ Hoà thảo nói riêng, sinh trưởng và tái sinh qua 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc điểm riêng

Cỏ sau khi gieo trồng hoặc sau khi thu cắt hay chăn thả 10 - 15 ngày tới

35 - 40 ngày Cỏ bước vào thời gian phát triển nhanh nhất Trong giai đoạn này, lá chứa hàm lượng protein cao và thoả mãn nhu cầu các chất dinh dưỡng cho gia súc Cỏ có chất lượng dinh dưỡng cao và có số lượng lớn

* Giai đoạn III

Cỏ sau khi gieo trồng hoặc sau khi thu cắt hay chăn thả khoảng 40 - 70 ngày Ở giai đoạn này cỏ sinh trưởng chậm dần rồi ngừng hẳn

Vì vậy, cần chăn thả hay thu cắt khi kết thúc giai đoạn II và có thời gian nghỉ hợp lý dể duy trì cây cỏ lâu dài

Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống theo từng giai đoạn để chúng ta định ra thời gian chăm sóc và thu cắt hợp lý

Thời gian thu cắt một số giống cỏ như sau:

Trang 17

+ Cỏ thân bò vào khoảng 45 - 50 ngày sau khi trồng hoặc 35 - 45 ngày sau khi thu cắt

+ Cỏ thân bụi vào khoảng 60 ngày sau khi trồng hoặc 45 - 50 ngày sau khi cắt hoặc chăn thả lứa trước

+ Cỏ thân đứng thì sau khi trồng hoặc sau khi thu cắt vào khoảng trên dưới 60 ngày

1.1.4 Thời gian sống của cỏ Hoà thảo

Thời gian sống sống của cỏ và thời gian sống của cỏ Hoà thảo khác nhau là khác nhau [16] Căn cứ vào độ dài ngắn của thời gian sống mà người

ta chia ra thành loại sống ngắn ngày và loại sống dài ngày Người ta chia ra làm 4 loại như sau:

* Loại sống một năm: Chúng chỉ sống trong vòng một năm hoặc ngắn

hơn rồi tàn lụi và chết, thường gọi là cỏ hàng năm như: Cỏ Lồng vực, cỏ Ngô

(Zea mays), cỏ Suđăng (Sorghum sudanense)

* Loại cỏ có sức sống ngắn: Chúng sống từ 2 - 3 năm như: Cỏ Dầy

(Hemarrthria compressa)

* Loại cỏ có sức sống vừa: Chúng có thể sống từ 4 - 5 năm như: Cỏ

Pangola, cỏ Voi, cỏ Ghinê, Paspalum, Brizantha

* Loại cỏ có sức sống lâu: Chúng có thể sống từ 6 - 10 năm như: Cỏ

Tước mạch không râu

Căn cứ vào sức sống của các loại cỏ mà người ta dự tính thời gian trồng lại để đảm bảo năng suất và chất lượng của các loại cỏ

1.2 Một số nghiên cứu về cỏ Hoà thảo

1.2.1 Tình hình nghiên cứu cỏ trên thế giới

1.2.1.1 Diện tích trồng cỏ trên thế giới

Để phát triển ngành chăn nuôi gia súc nói chung và gia súc nhai lại nói riêng thì một trong những vấn đề cơ bản đầu tiên cần giải quyết là nguồn thức

Trang 18

ăn xanh Thực tế, có hai phương thức để cung cấp dinh dưỡng cho gia súc nhai lại, đó là nguồn thức ăn tinh và thức ăn thô xanh (trên 60% nhu cầu dinh dưỡng của gia súc nhai lại được thoả mãn bằng thức ăn xanh) Chính vị vậy, nguồn thức ăn thô xanh được đặc biệt chú ý nhất là đối với các nước có nền kinh tế còn kém phát triển cũng như các nước phát triển Ở những nước này việc phát triển đồng cỏ không chỉ cung cấp nguồn thức ăn thô xanh mà còn dùng dự trữ cho gia súc nuôi nhốt Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi động vật nhai lại đã đòi hỏi người chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới phải trồng cỏ để đáp ứng nhu cầu cỏ cho gia súc nhai lại

Sau cuộc "cách mạng về thức ăn gia súc" ở Tây Âu mà đặc biệt là ở

Anh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi phát triển, đồng cỏ ngày càng được chú ý và sử dụng đúng với vai trò của nó Năm 1842 ở Pháp chỉ có 4 triệu ha đất trồng cỏ và 15 triệu ha đất trồng ngũ cốc thì hiện nay ở Pháp có

12 triệu ha đất trồng cỏ và 8 triệu ha đất trồng ngũ cốc [20]

Ở Anh diện tích đất trồng ngũ cốc giảm đi và diện tích đất trồng cỏ cùng các loại cây thức ăn gia súc khác tăng lên đáng kể

Ở Liên Xô cũ, diện tích đất trồng cỏ năm 1913 là 2,1 triệu ha, đến năm

1933 là 7,3 triệu ha và đến năm 1961 diện tích đất trồng cỏ lên tới 51,9 triệu

ha Không những diện tích trồng cỏ tăng lên, mà việc nghiên cứu, chọn lọc các giống cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao đã được chú trọng

Theo ước tính, hiện nay trên thế giới ngành chăn nuôi gia súc đã sử dụng khoảng 3,4 tỷ ha đất dùng cho chăn thả và dùng cho sản xuất thức ăn gia súc, diện tích này được đánh giá là lớn hơn 2/3 diện tích sử dụng cho sản xuất nông nghiệp

1.2.1.2 Những nghiên cứu về khả năng tái sinh của cỏ Hoà thảo

Các tác giả T Kanno và M C M Macedo [48], đã tiến hành thí

Trang 19

B humidicola, Andropogon gayanus, Setaria anceps và Paspalum atratum

vào đầu mùa mưa tại các cánh đồng ở khu vực đầm lầy Các tác giả cho thấy không có loài nào có thể sống sót vào mùa mưa ở vùng đầm lầy Còn khi hạt

cỏ được gieo ở giữa mùa mưa, thì chỉ có một lượng nhỏ cây giống con còn tồn tại vào cuối mùa mưa, tuy nhiên cũng không thể sống sót được cho đến hết mùa mưa Những kết quả nghiên cứu chỉ rõ rằng: Giai đoạn cây con phù hợp nhất ở khu vực đất lầy là bắt đầu của mùa khô, khi đất trở nên cứng có thể sử dụng được máy kéo

Thí nghiệm lặp lại với cây trưởng thành của cỏ Brachiaria decumbens,

B brizantha, B humidicola, Andropogon gayanus, Paspalum atratum và Cyndon dactylon vào năm 1999 (bắt đầu của mùa khô), các tác giả thấy chúng

chịu được ngập úng ở giai đoạn đầu, tuy nhiên sau mùa mưa chỉ có cỏ B

humidicola (cv Humidicola) và P atratum (cv BRA-9610) là phát triển được

ở vùng đầm lầy

Theo John W Miles 2004 [47], thì giống cỏ Brachiaria là giống cỏ lớn, được sử dụng làm thức ăn cho vật nuôi ở vùng nhiệt đới châu Mỹ Cây trồng thương phẩm tồn tại được lựa chọn trực tiếp từ chọn lọc chất mầm của loài cỏ

có nguồn gốc châu Phi, chúng được chấp nhận ở thể lưỡng bội hữu tính như:

Cỏ B ruziziensis và sự tồn tại của cỏ Brachiaria (B briantha, B decumbens

và B humidicola) ở thể đa bội kiểu sinh sản vô tính Những cỏ này được phát

triển từ đầu thập niên 70, nhưng do sự lai tạo chưa đầy đủ nên đến giữa thập

niên 80, thể tứ bội kiểu sinh học hữu tính của B ruziziensis mới được phát

triển tiếp ở Bỉ Sau đó thí nghiệm đầu tiên về dòng lai đã được kiểm tra ở Colombia vào năm 1989, nhưng không được phát triển tiếp Sau này, công ty sản xuất giống cỏ của Mexico đã nhân giống cơ bản và thương mại hoá cỏ

trồng Brachiaria lai đầu tiên bằng sinh sản vô tính dưới cái tên "Mulato"

Thuộc tính đầu tiên là chúng có sản lượng cao và chất lượng tốt Cỏ lai thứ

Trang 20

hai, được gọi là "Mulato II" tại thời điểm trước khi đưa ra chính thức Mulato

II có khả năng đề kháng với rệp tốt hơn Mulato và thích nghi tốt với điều kiện khô hạn Tuy nhiên, đến năm 2005 thì người ta phát hiện thấy hiệu quả của giống Mulato II là rất giới hạn Vì vậy, hiện nay người ta vẫn tiếp tục lai tạo, lựa chọn, tìm kiếm sản phẩm cây lai mới với mục đích làm tăng khả năng đề kháng với rệp dãi, tăng năng suất, chất lượng cỏ và sản lượng hạt

Theo các tác giả H D Diaz l và J O Sierria P [45], đã tiến hành ba

cách nhân giống với ba khoảng cách trồng của các giống cỏ B humidicola và

B dictyoneura tại đại học Antioquia Với ba khoảng cách trồng khác nhau là:

0,5m; 1,0m; 1,5m và ba cách nhân giống khác nhau là: hạt, cành, gốc Theo thông số ghi được cứ 21 ngày một lần trong suốt giai đoạn 252 ngày theo các chỉ tiêu sau: Phần trăm nẩy mầm, số lượng trung bình thân/khóm, khoảng cách đốt, số lượng đốt trên thân, độ dài trung bình của lá, phần trăm che phủ Kết quả cho thấy, nếu dùng thân lá (195 ngày) và gốc (154 ngày) còn dùng hạt phải mất 92 ngày nữa để đạt độ che phủ mặt đất 80% đối với cả hai loại ( với độ tin cậy P<0,01) Ở khoảng cách cây giống: Độ che phủ 80% mặt đất ở

cả hai loài là 109, 169 và 176 ngày lần lượt ở 0,5m; 1m và 1,5m B

humidicola gốc đạt độ che phủ mặt đất ở 128, 179, 200 ngày, còn thân ở 117,

135 và 186 ngày Hạt ở 158, 179, 205 ngày lần lượt ở các khoảng cách là 0,5m; 1,0m; 1,5m Gốc của B dictyoneura đạt tới độ che phủ 80% ở 133, 161

và 210 ngày, còn thân ở 120, 178 và 189 ngày và ở hạt là 131, 232 và 232 ngày lần lượt ở khoảng cách 0,5m; 1,0m; 1,5m

1.2.1.3 Những nghiên cứu về năng suất của cỏ Hoà thảo

Hiện nay trên thế giới không những diện tích trồng cỏ tăng lên, việc nghiên cứu, chọn lọc các giống cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao đã được chú trọng

Trang 21

Theo Quilichao, Colombia CIAT, (1978) [43], giống cỏ Brachiaria

decumbens có thể đạt năng suất chất khô trên 40.000 kg/ha/năm với thí

nghiệm không có bón đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân và đạm thấp

Tại Samford, Queensland năng suất hàng năm của giống cỏ Paspalum

dilatatum là 15.000 kg VCK/năm (Davies, 1970) [44] Tại Fiji năng suất

trung bình là 5.313 kg VCK/ha với mức protein thô là 9,9% trong thời kỳ trên

3 năm (Roberts, 1970) [54] Tại Mỹ năng suất cỏ này đạt từ 1.230 – 12.000 kg/ha (Bennett, 1973) [42]

Tại Redland Bay, Queenland, Riveros và Wilson, 1970 [53], thông báo

năng suất cỏ Setaria sphacelata đạt từ 23.500 – 28.000 kg/ha qua mùa sinh

trưởng 6 tháng trong điều kiện cỏ được tưới và cung cấp 225 kg đạm ure/ha/năm trên nền đất đỏ bazan mầu mỡ

Theo C H Plazas [50], thì cỏ lai Brachiara cv Mulato (CIAT 36061)

tại Eastern Plains, Colombia cho sản lượng cao, chất lượng dinh dưỡng tốt, sức đề kháng tốt và có thể sử dụng phân bón với liều lượng cao ở hệ thống

đồng cỏ cắt Từ năm 2002, chương trình “đồng cỏ nhiệt đới” của CIAT và

công ty giống cỏ thương phẩm Mexican, Papalotla với sự hợp tác của một vài nhà sản xuất ở khu vực, đã đánh giá tiềm năng của cỏ lai trong vụ mùa kết hợp với cỏ lai mới với ngô để phục hồi lại đồng cỏ Braquiaria đã bị suy thoái Hạt cỏ thương phẩm trộn lẫn với 250 kg/ha phân hỗn hợp của hãng Calfos (4% P, 37% Ca) được gieo với khoảng cách luống 50 cm với mật độ 4,3 kg hạt cỏ/ha Sau 45 ngày, sự nẩy mầm của hạt là 80% với mật độ trung bình là 6 cây/m2 Sản lượng vật chất khô thu được sau 95 ngày trồng là 5,3 tấn/ha, trong khi đó những loại khác chỉ đạt 3,6 tấn/ha, tỷ lệ protein thô là 12% và vật chất khô tiêu hoá là 65,1% Ở trang trại khác trong cùng khu vực, ngô cv Mulato phối hợp với cỏ, 138 ngày sau khi trồng có năng suất là 3,7 tấn/ha,

Trang 22

năng suất tương đương với ngô, và cỏ Brachiaria lai Mulato là 4,2 tấn/ha,

tiếp tục cho chăn thả với 39 con bò với tỷ lệ 2,6 con/ha (bò chửa và bò tơ) ở

24 tháng và 36 tháng tuổi, khối lượng sống trung bình là 446,2 kg thì cho tăng khối lượng hàng ngày là 1675g/con

Tại Thái Lan, sản lượng vật chất khô của một số giống cỏ được trồng trên vùng đất thấp được cắt ở 45 ngày tuổi thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1.1: Năng suất VCK và hàm lượng protein một số giống cỏ ở vùng đất thấp được cắt ở 45 ngày tuổi

Tên khoa học Tên Việt Nam Năng suất VCK

(tấn/ha) Protein (%)

Nguồn: Division of Animal Nutrition, Anon (2000) [41]

Ngoài ra, giống cỏ Paspalum atratum và giống cỏ Paspalum

plicatulum là những giống cỏ cho sản lượng hạt giống lớn, có thể đạt tới 600

kg/ha Do đó, hai giống cỏ này phân bố rộng rãi ở Thái Lan

Tại Trung tâm nghiên cứu nuôi dưỡng động vật tỉnh Petchaburi (Thái Lan) cỏ Ghinê tía được trồng và cắt 30 ngày/lứa, với mật độ trồng là 50x50cm và được bón phân hỗn hợp (15-15-15) trước khi trồng ở mức 300 kg/ha (18 tấn phân bón/ha) Sản lượng cỏ thu hoạch vào khoảng 8,9 tấn/ha ở lứa đầu (sau khi trồng 70 ngày) và khoảng 2,6 - 7,1 tấn/ha ở các lứa sau (mỗi lứa 30 ngày [41] Sản lượng này được thể hiện ở bảng 1.2

Trang 23

Bảng 1.2 Sản lượng của cỏ Ghinê tía cắt sau 30 ngày

Nguồn: Annual Report on Annimal Nutrition Division (2001)

1.2.1.4 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến năng suất của cỏ

J Quinquim Magiero và cộng sự [51], đã tiến hành nghiên cứu ở Planosol, vùng Baixada Fluminense trên cánh đồng thí nghiệm của đại học Rural Federal ở Rio de Janeiro cho thấy, sự ảnh hưởng của phân bón N và K

tới vật chất khô và đánh giá sản phẩm vật chất dư của đồng cỏ B humidicola

Sự ảnh hưởng của 4 mức N, K được nghiên cứu như sau: N (dùng ure) là 100,

200 và 400 kg/ha, và K là: 55,6; 111 và 222,2 kg/ha, (dùng KCl); lô đối chứng không có N, K Phân được bón thành 3 hoặc 6 lần ở khoảng cách 28 hay 56 ngày trong suốt mùa mưa, sau mỗi lứa cắt Thu cắt cứ sau 28 ngày, trong thời gian từ tháng 10/2003 đến tháng 3/2004, sản phẩm vật chất khô tăng lên theo các mức tăng của phân bón, nhưng sản lượng cỏ khi bón phân ở khoảng cách cắt 28 ngày (cắt 6 lần) thì sự khác nhau là không có ý nghĩa (P>0,05) Từ những kết quả thu được với 3 lần cắt với khoảng cách 56 ngày,

Trang 24

cho thấy những sản phẩm vật chất còn dư cũng tương ứng với mức phân bón, nhưng khoảng cách cắt 56 ngày có sản lượng vật chất khô cao hơn Khoảng cách cắt 28 và 56 ngày có khác nhau về sản phẩm vật chất khô Có thể tóm

lược lại là: Sự bón phân N và K làm tăng sản lượng cỏ B humidicola, nhưng

phân bón được chia nhỏ để bón không cải thiện hiệu quả của sự màu mỡ đất

A C Rincon [52], đã nghiên cứu để phục hồi sản phẩm của đồng cỏ

Brachiaria decumbens suy thoái trên vùng đất Oxisol ở Eastern Plains,

Colombia Nghiên cứu bao gồm T1 = làm đất + phân cơ bản + bộ Đậu tham gia; T2 = làm đất + phân cơ bản + phân Nitơ và bừa sâu + 150 kg/ha đá phốt

phát (12 kg P và 45 kg Ca) Cây bộ Đậu được đưa vào là Pueraria

phaseoloides cv Kudzu, với tỷ lệ 2 kg hạt/ha, và Arachis pintoi cv Manis

Forajero Perenne, với tỷ lệ là 5 kg/ha Sau 2 tháng trồng, T1 và T2 cũng nhận được phân bón bằng cách rải 30 kg K2O, 17 kg MgO và 14 kg S/ha Thêm vào, T2 nhận được lượng phân bón là 46 kg N (ure)/ha Tiến hành thí nghiệm trong 1 năm cho thấy: Giá trị của đồng cỏ tương tự như T1 và T2, đạt tới 0,75 tấn VCK/ha trong suốt mùa khô và 1,55 tấn/ha VCK trong suốt mùa mưa Ở đồng cỏ đối chứng, với điều kiện chăm sóc và quản lý truyền thống, sản lượng VCK là thấp hơn 40% so với các công thức nghiên cứu trên Ở các công thức nghiên cứu, chất lượng dinh dưỡng của đồng cỏ được cải thiện về hàm lượng protein, Ca, Mg, K, nhưng không cải thiện về P

J G Marinho Guerra và cộng sự [49], đã nghiên cứu sự phản ứng lại

của Brachiaria decumbens Stapf, Var Australiana đối với sự bón phân bởi

các nguồn photpho khác nhau tại Itaguai ở Rio de janeiro Thiết kế thí nghiệm theo hình khối ngẫu nhiên với 3 nguồn photpho P (PO, không có; RF, đá phốt phát và S, tri supe photphat), bón với tỷ lệ 20 g P2O5/m2 tương đương với 200 kg/ha Mô hình tiêu biểu cho từng thời vụ được quan sát về sản phẩm vật chất

Trang 25

hay đá Araxas phốt phát trong thời gian trồng cây có ý nghĩa làm tăng sản phẩm vật chất khô, vào thời điểm đầu tiên lần lượt là 201% và 112%, so với đối chứng không có P Trong thời gian thu cắt thứ hai, thực hiện khoảng 6

tháng sau khi trồng, B decumbens Var Australiana đã phản ứng mạnh trong

tăng trưởng sản phẩm, hiệu suất sử dụng P, và tổng lượng P tích luỹ

C R Townsend và cộng sự [56], đã nghiên cứu ảnh hưởng của bón vôi

và phân (N, P, K) đến sự phục hồi của đồng cỏ Brachiaria brizantha cv

Marandu suy thoái, ở Empresa Brasileira de Pesquisa Agropecuasria (Embrap-rondonia), Porto Velho, Brazil Với các mức bón vôi (cơ sở là sự bão hoà bazơ ở mức 20% và 40%) đồng thời sử dụng nitơ 50 kg và 100 kg/ha (dùng ure), photpho là 50 và 100 kg P2O5/ha (dùng tri supe phốt phát) và Kali

là 30 và 60 kg/ha (dùng KCl) Bón phân thường xuyên (hàng năm, hai năm một lần và 3 năm một lần) là như nhau Mẫu đất được lấy ở độ sâu 0 - 5cm và

15 - 30cm để xác định sự ảnh hưởng của xử lý tới đặc tính hoá lý của đất Cation và sự thay đổi làm nhôm giảm là có ý nghĩa, trong khi đó pH đất và sự thay đổi bazơ tăng Ở cả hai độ sâu, tổng P tăng khi bón P phân đoạn trong 2 năm Khi lượng vôi bón để làm tăng bazơ tới 20%, sự phản ứng tốt của P

ra ở mức bão hoà bazơ 40% Sự xử lý không ảnh hưởng tới hàm lượng K hay

OM Hàm lượng P chỉ ảnh hưởng duy nhất bởi sự bón phân thường xuyên Dưới những điều kiện nghiên cứu, các tác giả đưa ra đề nghị về lượng vôi được bón để làm tăng hàm lượng bazơ tới 40% và tỷ lệ phân bón N , P, K là

100, 50, 60 kg/ha ở mức bón nhỏ nhất thường xuyên của hai năm

1.2.1.5 Ảnh hưởng của thức ăn xanh tới sản lượng sữa

C A Goncalves và cộng sự [46], đã nghiên cứu tại Embray phía Tây Amazon về ảnh hưởng của tỷ lệ đàn gia súc và sự cung cấp sản phẩm vật chất

Trang 26

khô, chất lượng đồng cỏ đến sản phẩm sữa của đàn bò sữa lai Zebu châu Âu

(1/2 - 3/4), đồng cỏ chăn thả là B briantha cv Marandu, tại vùng Yellơ

Latosol ở Terra alta Tại vị trí trồng, đồng cỏ được bón mỗi loại phân là 75 kg/ha của N, P, K và 500 kg vôi/ha N và K được chia làm 3 lần bón Thí nghiệm thực hiện ở 8 bãi chăn có rào với diện tích là 1,5 ha và với 2 nhóm bò sữa, mỗi nhóm 15 con Hệ thống chăn thả hợp lý được sử dụng với 4 đến 6 ngày chăn thả và 28, 42 ngày nghỉ, theo thứ tự định sẵn và tỷ lệ đàn chăn thả

là 2,5 bò sữa/ha Bò sữa nhận được nguồn dinh dưỡng bổ sung ở mức 1 kg/3 lít sữa, khi sản phẩm sữa hàng ngày là lớn hơn 7 lít Các tác giả cho biết với

bò sản xuất 10 kg sữa/ngày, đồng cỏ chỉ thoả mãn 65,44% nhu cầu đòi hỏi protein thô và 66,48% nhu cầu TDN Thí nghiệm đã chỉ rõ sự cần thiết phải

bổ sung thức ăn cho chúng

Tại Honduras, năng suất VCK bình quân hàng năm đạt 23.072 kg/ha với mức bón 450 kg đạm sunphát cho 1 ha (Romney, 1961) [55]

1.2.2 Tình hình nghiên cứu cỏ trong nước

1.2.2.1 Diện tích trồng cỏ chăn nuôi gia súc ở Việt Nam trong thời gian qua

Đứng trước nhu cầu cấp thiết cần phát triển đồng cỏ cho chăn nuôi gia súc, Đảng và Chính phủ đã có nhiều cố gắng để phát triển đồng cỏ nhằm vừa đảm bảo thực phẩm cho người vừa đảm bảo thức ăn cho gia súc

Từ năm 1960, nước ta đã có chủ trương phát triển đồng cỏ ở những nơi có khả năng phát triển đồng cỏ Năm 1960 chỉ có 96 ha cỏ trồng thì năm

1961 và năm 1962 diện tích này đã tăng lên tương ứng là 323 ha và 687 ha Năm 1976 đã có 5000 – 6000 ha Để phát triển đồng cỏ, năm 1976 Bộ Nông

nghiệp đã phát hành "Quy phạm, xây dựng, dự trự và quản lý đồng cỏ", từ

đó đến nay cả nước đã phát triển được hàng nghìn ha đồng cỏ Cụ thể trong mấy năm trở lại đây như sau: Năm 2003 là 10.897 ha, năm 2004 là 17.292 ha,

Trang 27

giống cỏ đã được nhập và bước đầu nghiên cứu ở nước ta Tuy nhiên, diện tích đất trồng cỏ của Việt Nam vẫn còn rất nhỏ so với các nước trong khu vực Theo số liệu của FAO năm 1990 thì ở khu vực Đông Nam Á diện tích đất dành cho chăn nuôi là 3,7% tổng diện tích đất tự nhiên thì Việt Nam chỉ đạt 0,01%

1.2.2.2 Các loài cỏ trồng làm thức ăn gia súc ở Việt Nam

Trong thời gian qua, đã có nhiều giống cỏ được nhập vào trồng ở Việt Nam Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số giống cỏ chính:

* Cỏ Voi: Nói đến các giống cỏ đã được phát triển ở nước ta, ai cũng

biết đến sự phát triển của cỏ Voi Đây là giống cỏ có năng suất cao đã sớm được đưa vào nước ta và giống cỏ này lần đầu tiên được đưa ra miền Bắc năm

1908 Cỏ Voi là loài cỏ lâu năm, thân đứng, có thể cao từ 3 - 4m, nhiều đốt, những đốt gần gốc thường ra rễ chân kiềng Loài cỏ này thường ra hoa vào tháng 9 hàng năm, hoa có màu vàng nhạt

Cỏ Voi chịu được khô hạn, giai đoạn sinh trưởng chính trong mùa hè khi nhiệt độ và độ ẩm cao, sinh trưởng chậm trong mùa đông và mẫn cảm với sương muối Chúng thích hợp với nhiều loại đất khác nhau nhưng thích hợp nhất với những loại đất màu mỡ và tơi xốp Loài cỏ này mọc rất khoẻ, phát triển nhanh Chu kỳ kinh tế của loài cỏ này là 4 - 5 năm và tương đối ổn định Hiện nay, cỏ Voi được trồng ở khắp cả nước Năng suất của chúng có thể đạt

từ 250 – 300 tấn/ha/năm

Thành phần dinh dưỡng của cỏ Voi: Trong 1 kg cỏ Voi tươi có: 313 Kcal; 0,13 đơn vị thức ăn; 11 gam protein tiêu hoá [28]

* Cỏ Pangola: Cỏ có nguồn gốc từ châu Phi nhưng hiện nay mọc tốt

nhất ở các nước châu Mỹ La Tinh đặc biệt là vùng Caribê Loài cỏ này lần đầu tiên đã được nhập vào nước ta từ Trung Quốc năm 1967, sau này được

Trang 28

nhập tiếp vào nước ta từ Cuba năm 1968 và được phát triển nhiều trong các trung tâm nghiên cứu giống và các trại chăn nuôi

Cỏ Pangola là giống cỏ lâu năm thuộc họ Hoà thảo Cỏ thân bò, rễ chùm ngắn, ăn nông, bám chắc Hoa có từ 3 – 9 cánh, hạt không có phôi nhũ nên không thể nảy mầm được, do đó chỉ có thể nhân giống vô tính Lá dài từ

14 – 15 cm, lá xanh mượt, mềm, bẹ lá bó chặt lấy phần dưới của đốt Vòng bẹ

lá có lông tơ dày và dài Ở tất cả các mắt đều có thể ra rễ phụ và đâm nhánh

Cỏ Pangola có thể mọc trên nhiều loại đất nhưng chúng mọc tốt nhất trên đất màu mỡ, đủ ẩm, tơi xốp, thoáng khí

Cỏ Pangola có thể trồng ở vùng đồng bằng, bờ đê, hay ở trung du miền núi với độ dốc không quá cao, pH thích hợp là 5,3 – 6,6

Cỏ Pangola sinh trưởng mạnh trong mùa mưa có khả năng chịu dẫm đạp cao nên thường được trồng làm bãi chăn thả gia súc Cỏ Pangola có năng suất từ 15 – 20 tấn cỏ khô/ha/ năm

Chất lượng cỏ Pangola: Trong 1 kg cỏ Pangola tươi có 523 Kcal; 0,21 đơn vị thức ăn; 11 gam protein tiêu hoá

* Cỏ Ghinê: Cỏ có nguồn gốc từ châu Phi, phân bố rộng rãi ở các nước

nhiệt đới, cận nhiệt đới Cùng với các cỏ trên, cỏ Ghinê được nhập vào khu vực Nam bộ nước ta lần đầu tiên vào năm 1875, sau đó là Trung bộ năm 1930 rồi phát triển dần ra miền Bắc

Cỏ Ghinê là loài cỏ lâu năm, thân cao tới 2 - 3m, không có thân bò, chỉ sinh nhánh và tạo thành bụi Bẹ lá mọc quanh gốc có màu tím, bẹ và lá có nhiều lông nhỏ màu trắng, lá dài từ 90 – 120 cm, rộng từ 1 – 1,2 cm Cụm hoa hình chuông có lông nhỏ, mịn, hạt nhỏ, 1 kg hạt có từ 1.760.000 đến 3.100.000 hạt Rễ chùm, bộ rễ phát triển mạnh có nhiều nhánh, khoảng 80%

bộ rễ ăn ở độ sâu 25 cm

Trang 29

Cỏ Ghinê là cỏ nhiệt đới điển hình, do đó chỉ thích hợp với những vùng khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm, lượng mưa hàng năm đạt trên 750 mm, nhiệt độ thích hợp là 25 – 300C Nếu nhiệt độ xuống thấp dưới 100C thì cỏ ngừng sinh trưởng

Cỏ Ghinê có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, cả những vùng đất

có độ dốc tương đối

Cỏ Ghinê chịu bóng tốt, có khả năng phát triển dưới tán cây nên có thể trồng xen với cây ăn quả

Thành phần hoá học: Trong 1 kg cỏ Ghinê tươi có 381 Kcal; 0,15 đơn

vị thức ăn; 11 gam protein tiêu hoá

* Cỏ Ruzi (Brachiaria ruziziensis): Loài cỏ này có khả năng chịu

nóng cao Cỏ này được nhập lần đầu tiên vào nước ta năm 1968 từ Cuba, năm

1980 cỏ Ruzi được nhập từ Australia và gần đây nhất là từ Thái Lan năm

1996

* Cỏ Varisme số 6 (Viết tắt là VA06) [36]: Là giống cỏ được lai tạo

giữa giống cỏ Voi và cỏ Đuôi sói của Châu Mỹ, được các nhà chăn nuôi đánh

giá là "Vua của các loài cỏ", được Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành

nghề nông thôn Việt Nam (VARISME) trồng khảo nghiệm ở Việt Nam năm

2006, được Hiệp hội chính thức đặt tên là Varisme số 6 (VA06) từ 20/07/2006 và được Bộ NN&PTNN công nhận và cho trồng từ ngày 20/10/2007

Cỏ VA06 dạng như cây mía, thân thảo cao lớn, họ Hoà thảo, dạng bụi, mọc thẳng, năng suất cao, chất lượng tốt, phiến lá rộng, mềm, dài từ 60 - 80cm, rễ chùm Chiều cao của cây có thể đạt tới 3,5 - 4m, đường kính tối đa của thân là 2 – 3cm, viền lá thô, mặt lá trơn nhẵn hoặc có lông tơ phủ, gân nổi

rõ, bẹ lá tròn không có lông Hoa tự hình bông, màu vàng nâu, chiều dài 20 – 30cm

Trang 30

* Cỏ Stylo (Stylosantes): Cỏ Stylo phân bố tự nhiên ở Trung và Nam

Mỹ, từ Brasil nhập vào Australia năm 1930 nhưng sau chiến tranh thế giới thứ

II mới được con người quan tâm đến nhiều Đây là loại cây thức ăn gia súc được trồng chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Cỏ Stylo được nhập vào Việt Nam năm 1967 Hiện nay loài cỏ này được trồng trong khắp cả

nước

Cỏ Stylo có khả năng thích nghi lớn Cây sinh trưởng mạnh ở những nơi có lượng mưa từ 1500 – 2500 mm/năm Nguyễn Phan (1973) cho rằng cỏ Stylo ở Việt Nam có khả năng chịu hạn tốt do có lông và rễ phát triển mạnh Gosnell (1963) cho rằng cỏ Stylo có thể sống ở nơi ngập tạm thời Năng suất chất xanh có thể đạt 25 – 60 tấn/ha/lứa (Havard - Duclos, 1969)

Chất lượng cỏ Stylo: Trong 1kg cỏ tươi có: 666 Kcal; 0,26 đơn vị thức ăn; 26 gam protein

* Cây Keo dậu (Leucaena neucocephala): Cây Keo dậu có nguồn

gốc Trung, Nam Mỹ và quần đảo Thái Bình Dương Ở nước ta, cây Keo dậu mọc tự nhiên ở những vùng ven biển, dọc duyên hải miền Trung Cây Keo dậu chính thức nhập từ Úc vào nước ta năm 1990, trong quá trình triển khai

dự án nghiên cứu và phát triển bò thịt do Viện nghiên cứu Chăn nuôi quốc gia đứng đầu

Keo dậu là cây thân gỗ lâu năm thuộc họ Trinh nữ (Mimosaccal), bộ Đậu (fabaler) Cây Keo dậu trưởng thành có thể cao hàng chục mét, đường kính thân từ 20 – 30cm Rễ phát triển mạnh, ăn sâu, bám rộng, trên rễ có các nốt sần, trong đó có vi khuẩn Rizobium cộng sinh do đó có khả năng tổng hợp nitơ trong không khí Lá Keo dậu là loại lá kép lông chim, phiến lá nhỏ, mềm giàu chất dinh dưỡng, dùng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm rất tốt Quả dẹt,

có từ 10 – 20 hạt thường mọc thành chùm, mỗi chùm có từ 5 – 25 quả Cây

Trang 31

Keo dậu mọc tốt trên đất màu mỡ, đủ ẩm, có pH gần trung tính đến hơi kiềm (5,5 – 8,5)

Thành phần dinh dưỡng của cây Keo dậu: Trong 1 kg Keo dậu tươi có:

600 Kcal; 0,24 đơn vị thức ăn; 51 gam protein tiêu hoá

Cây Keo dậu có thể trồng tập trung để thu cắt chất xanh hoặc trồng theo hàng rào, ven đường quốc lộ, ven mương Năng suất chất xanh của loài cây này khá biến động tuỳ thuộc vào giống, đất đai, chăm sóc, cách trồng Ở Việt Nam năng suất cây Keo dậu đạt từ 40 – 45 tấn/ha/năm Một năm loài cây này có thể thu hoạch 4 - 5 lứa Cây này ngoài khả năng cung cấp lá cho gia súc ăn thì thân cây có thể dùng làm củi, rễ cây có nốt sần giúp làm giàu đạm cho đất

Gần đây, Trung tâm nghiên cứu dê và cỏ Sơn Tây mới nhập thêm 3 giống Keo dậu mới có năng suất cao, chịu được đất chua hơn so với giống cũ như giống: 636; 748 và Keo dậu lai KX2 giữa hai giống trên Cây Keo dậu lai

có năng suất cao hơn các giống cũ tới 35 - 40% Trung tâm đang nhân giống

để mở rộng ra sản xuất [22]

* Ngô: Ngô là cây thức ăn quan trọng ở Việt Nam, dùng làm lương

thực cho người, thức ăn tinh cho gia súc Ngô là cây hàng năm, thân thẳng, mọc đơn độc, sinh trưởng nhanh, có thể thu hoạch trong thời gian ngắn Cây Ngô thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, thích nghi với nhiều loại đất nhưng phát triển tốt nhất là ở đất giàu dinh dưỡng, thoáng nước Năng suất chất xanh của Ngô rất khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng và mật

độ gieo trồng Nếu thu hoạch làm thức ăn xanh sau 40 - 50 ngày thì năng suất của chúng là 12,6 tấn/ha (Nguyễn Gia Huy, Nguyễn Thị Hợp, 1961) Nếu thu hoạch sau khi trồng 4 - 5 tháng thì cho năng suất là 25 - 40 tấn/ha và nếu ở môi trường đất tốt thì năng suất của chúng có thể đạt tới 100 - 200 tấn/ha

Trang 32

1.2.2.3 Những nghiên cứu về năng suất, khả năng tái sinh một số loài cỏ

* Những nghiên cứu về năng suất của các loài cỏ:

Ngành chăn nuôi gia súc ở nước ta ngày càng phát triển do đó đã thu hút ngày càng nhiều nhà khoa học nghiên cứu về nguồn thức ăn xanh để phục

vụ cho ngành chăn nuôi gia súc Sự phát triển đó được thể hiện đặc biệt cụ thể nhất trong 20 năm trở lại đây Qua báo cáo của Viện chăn nuôi, Viện đã nhập

120 loại cây thức ăn xanh, trong đó có 75 loại cỏ Hoà thảo và 45 loại cây họ Đậu thông qua các dự án quốc tế của FAO, CSIRO, ACIAR và SAREC Đã nghiên cứu một số giống cây thức ăn mới và được công nhận là tiến bộ kỹ thuật: Cỏ Ruzi và cỏ Ghinê TD58 có chất lượng cao (9 - 11% protein trong VCK) với năng suất chất xanh tương ứng là 55 - 70 tấn/ha/năm và 90 - 100 tấn/ha/năm Cỏ Voi thâm canh đạt năng suất 250 - 300 tấn/ha/năm, là giống

cỏ thích hợp cho sản xuất thức ăn xanh chăn nuôi bò sữa Các giống cỏ

Paspalum atratum, Brachiaria multica trồng được trên đất thấp, đây là nguồn

thức ăn xanh trong mùa đông cho chăn nuôi Ngoài ra còn phát triển một số cây bụi lùn được nghiên cứu và sử dụng với đa mục đích trong hệ thống nông nghiệp bền vững như: Làm tăng nguồn thức ăn xanh giàu protein, giảm xói mòn đất, làm hàng rào xanh, giảm cỏ dại và cải tạo đất, góp phần bảo vệ môi trường (Viện chăn nuôi 50 năm xây dựng và phát triển 1952 - 2002) [40]

Trong những năm trước đây để nghiên cứu và tuyển chọn nhằm bổ sung những giống cỏ mới có tiềm năng sản xuất cao vào cơ cấu tập đoàn các giống cỏ phục vụ cho chăn nuôi gia súc ở nước ta Trong năm 1975 - 1976

nghiên cứu xen canh giữa cỏ Pangola và cỏ Stylo graciliz theo dạng xen băng

và xen hàng hỗn giao Kết quả bước đầu cho thấy thảm cỏ xen canh theo hàng

và hỗn giao có kết quả tốt hơn là xen băng, năng suất chất xanh cao hơn 7,6 - 13% Xen canh đã làm tỷ lệ protein trong cỏ tươi Pangola tăng từ 1,84%

Trang 33

(trồng thuần) lên 2,84% (trồng xen canh) ( Viện chăn nuôi 50 năm xây dựng

và phát triển 1952 - 2002) [40]

Nguyễn Đăng Kỹ, Dương Quốc Hùng và cộng tác viên, 1977 [23], đã nghiên cứu trồng xen canh theo hàng của hỗn hợp nhóm cỏ Hoà thảo (Pa-32, Bermuda, Pangola) với một, hai, ba, bốn loại cây họ Đậu, sử dụng để chăn thả luân phiên gia súc Kết quả năng suất thảm cỏ hỗn hợp 3 loại cỏ Hoà thảo với

đậu Stylo (Humilis + Gracilis) trong điều kiện chăn thả đạt 32,18 tấn/ha cao

hơn đáng kể so với đối chứng cỏ Pangola trồng thuần (28,97 tấn/ha) và các công thức xen khác là 29,2 - 30,4 tấn/ha

Lê Hoà Bình, Nguyễn Quý Trác, 1981 – 1982 [1], nghiên cứu xen canh

cỏ Pangola và Stylo để chăn bò sữa tại Ba Vì Các tác giả cho biết xen canh theo hàng đơn, đạt năng suất chăn thả 21,4 tấn/ha với tỷ lệ đậu 43,3% Tuy nhiên, tỷ lệ đậu giảm nhanh chóng (65 - 70%) sau một năm chăn thả

Lê Hoà Bình, Hoàng Thị Lảng, 1982 – 1983, đã nghiên cứu xác định

chu kỳ chăn thả thích hợp của cỏ Ghinê liconi là 35 ngày Năng suất chăn thả

của đồng cỏ đạt 33 tấn/ha/năm cỏ có tỷ lệ lá là 69,3% Tỷ lệ sử dụng là 52,1%

Lê Hoà Bình và cộng tác viên, 1983 [2] cho thấy: Kết quả trồng cỏ Voi

ở khoảng cách 80cm trong điều kiện chế độ phân bón cao N:P:K = 250:80:80 kg/ha/năm và chu kỳ thu hoạch bình quân 6 tuần đạt kết quả tốt Đầu tư phân bón hữu cơ cao 40 tấn/ha năng suất cỏ Voi thu cắt đạt 200 tấn/ha

Nông trường Ba Vì, 1983 [30], có báo cáo kết quả nghiên cứu tuyển chọn tập đoàn cây Hoà thảo nhập nội tại nông trường Ba Vì Trong 28 giống

cỏ được nghiên cứu thì các tác giả cho thấy: Trong những giống cỏ thuộc thân đứng thì cỏ Kingrass và cỏ Voi selection-1 là tốt hơn cả, năng suất là 150 -

180 tấn/ha/năm Nhóm thân bụi có cỏ Ghinê với hai chủng là Uganda và

Trang 34

Australia là tốt hơn cả, năng suất là 70 - 100 tấn/ha/năm Nhóm thân bò thì có

cỏ Pangola Pa-32 là tốt hơn với năng suất là 60 - 80 tấn/ha/năm

Lê Hoà Bình, Hồ Văn Núng, 1987 – 1989 [3], cho biết thảm cỏ Voi xen canh với các cây họ Đậu trong điều kiện phân bón hạn chế đạt năng suất chất xanh 139 - 142 tấn/ha, tăng 24 - 27 tấn/ha so với đối chứng là cỏ Voi thuần

Lê Hoà Bình, Nguyễn Phúc Tiến, Hồ Văn Núng, Đinh Văn Bình, Đặng Đình Hanh, 1997 [4], đã nghiên cứu giống cỏ Para, các tác giả cho biết cỏ Para có năng suất là 89 - 98 tấn/ha với khối lượng chất xanh thu trong mùa đông là 35 - 45 tấn/ha tương đương 39 - 47% khi trồng trên đất có độ ẩm cao

và có nước ngập

Nguyễn Tuấn Hảo, 1999 [14], đã trồng thử nghiệm một số loài thức ăn gia súc nhập nội và cải tạo đất, trong đó tác giả đã đưa vào nghiên cứu 24 loại cây họ Đậu và 18 loại cỏ Hoà thảo nhằm mục đích tìm ra một số cây vừa làm thức ăn gia súc, vừa có tác dụng chống xói mòn và cải tạo đất, phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai miền Trung Du Bắc bộ Trong các loài đã trồng

thử nghiệm tác giả đã kết luận ưu điểm của các giống cỏ Brachiaria briantha CIAT-16835 và cỏ Brachiaria ruziziensis là hai loại cỏ mọc khoẻ nhất, cho

sinh khối cao (năng suất khoảng 30 - 40 tấn/ha/năm) và có khả năng chịu

được hạn Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến 2 giống cỏ triển vọng là Paspalum

atratum BRA-9610 và Paspalum guenoarum BRA-3824

Trương Tấn Khanh và cộng tác viên, 1999 [21], đã nghiên cứu tập đoàn cây thức ăn gia súc tại Đăc Lắc Bùi Thế Hùng đã trồng thử nghiệm một số cây thức ăn gia súc trong các trang trại ở khu vực Trung Du miền núi phía Bắc Vũ Thị Kim Thoa, 1999, nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất của một số giống cỏ Sả trên vùng đất xám Bình Dương Dương Quốc

Trang 35

Dũng và cộng tác viên, 1999, đã nghiên cứu nhân giống hữu tính cỏ Ruzi và phát triển chúng vào sản xuất ở một số tỉnh miền Bắc và miền Trung Du

Tại Thái Nguyên, Lê Hoà Bình, Hồ Văn Núng, Nguyễn Văn Quang,

2000 [5], đã xác định năng suất các giống cỏ Paspalum atratum, Setaria

Sphcelata, Brachiaria decumbens và B briantha trong vụ đông (tháng 11 đến

tháng 4) là 41, 37, 29, 25 tấn/ha chiếm 30 - 43% với tổng năng suất trong năm tương ứng của các giống cỏ

Nguyễn Văn Quang và cộng sự, 2002 [32], đã nghiên cứu khả năng sản xuất chất xanh và ảnh hưởng của phân bón đến năng suất của một số giống cỏ trong mô hình trồng xen với cây ăn quả trên đất đồi tại Bá Vân tỉnh Thái

Nguyên, trong đó gồm 3 giống cỏ là Brachiaria decumbens, Setaria

splendida, Panicum maximum TD58 Kết quả cho thấy 3 giống cỏ trồng xen

với cây ăn quả ở đất đồi Bá Vân đạt 60,1 - 79,3 tấn/ha/năm, năng suất VCK 10,2 - 12,2 tấn/ha, năng suất protein là 1 - 1,3 tấn/ha Khi đầu tư phân chuồng

ở mức 10 - 20 tấn/ha/năm, năng suất chất xanh, VCK, protein đều tăng và lần

lượt là: B decumbens đạt 74,6 - 80,4; 13,3 - 14,8; 1,2 - 1,4 tấn/ha S

splendida đạt 87,8 - 94,7; 14,9 - 15,4; 1,6 - 1,8 tấn/ha TD58 đạt 68,6 - 75,2;

11,8 - 12,8; 1,6 - 2,1 tấn/ha Đầu tư cho cả 3 giống hiệu quả nhất ở mức phân

100 - 200 kg N/ha/năm và năng suất chất xanh, VCK, protein thu được lần

lượt như sau: B decumbens đạt 68,7 - 86,7; 12,7 - 15,2; 1,9 - 2,4 tấn/ha S

splendida đạt 84,3 - 95,3; 13,2 - 14,9; 1,5 - 1,7 tấn/ha TD58 đạt 63,1 - 73,1;

10,7 - 12,4; 1,4 - 1,6 tấn/ha

Theo Hà Đình Tuấn, 2002 [34], để tăng năng suất và cải thiện những vùng đất bị nén chặt hay vùng đất bạc màu, đất chua, nhiễm độc nhôm, người

ta đã khuyến cáo trồng cỏ Brachiaria ruziziensis vào đầu tháng 3, 4 trước khi

trồng lúa nương, loại cỏ này có thể tạo 15 tấn chất xanh/ha trong 3 tháng Nó

Trang 36

sẽ lụi vào cuối tháng 5 và đầu tháng 7, lúc này diệt cỏ B ruziiensis trước 7 -

10 ngày thì gieo lúa nương

Hoàng Thị Lảng, Lê Hoà Bình, 2004, đã nghiên cứu khả năng sinh trưởng và năng suất một số giống cỏ Hoà thảo và họ Đậu nhằm chọn ra một

số giống cỏ phù hợp với địa phương Trong các cỏ đã nghiên cứu có cỏ Voi,

B decumbens, B briantha Các tác giả đã theo dõi tốc độ sinh trưởng, năng

suất chất xanh và phân tích thành phần hoá học của cỏ Về năng suất chất

xanh, cỏ B decumbens 1937 đạt 69,04 tấn/ha/năm, cỏ B brizantha 6387 đạt

96,41 tấn/ha/năm

Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Mùi, Lê Hoà Bình, Đặng Đình Hanh, 2004 [24], đã nghiên cứu xây dựng mô hình thử nghiệm thâm canh, xen canh cỏ Hoà thảo, họ Đậu làm thức ăn gia súc tại Thái Nguyên Các tác giả cho biết các giống hoàn toàn thích ứng với điều kiện nông hộ tại Thái Nguyên, năng suất các giống cỏ đạt 90 - 170 tấn/ha/năm trong điều kiện trồng thuần; 93 - 138,5 tấn/ha/năm trong điều kiện trồng xen với cây ăn quả; 17,1 - 18,9 tấn/ha/năm trong điều kiện trồng theo băng; 28,5 - 36,9 tấn/ha/năm trong điều kiện trồng theo đường đi

Bùi Quang Tuấn, 2005 [33], đã nghiên cứu mức bón phân ure đối với

cỏ Voi và cỏ Ghinê Tác giả cho biết với mức phân bón thích hợp cho cỏ Voi

là 100 kg N/ha/lứa, đối với cỏ Ghinê là 50 kg N/ha/lứa Với mức phân bón này cỏ Voi cho năng suất là 45,88 tấn/ha/lứa, hiệu quả đầu tư phân bón đạt 2,21 lần; cỏ Ghinê cho năng suất là 27,97 tấn/ha/lứa, hiệu quả đầu tư phân bón đạt 1,79 lần

Bộ môn Đồng cỏ và Cây thức ăn gia súc - Viện chăn nuôi, 2006 [6], đã

tiến hành trồng thuần các giống cỏ: Paspalum atratum; Pacicum maximum

Trang 37

ăn quả: Các giống Paspalum atratum; Pacicum maximum TD58 Trồng theo băng: Fleminngia; Keo dậu Trồng làm hàng rào: Gigantea; Keo dậu Kết quả

cho thấy năng suất của các giống ở các phương thức trồng khác nhau là khác nhau Trong điều kiện trồng thuần các giống cỏ thuận lợi hơn cho việc đầu tư thâm canh cao, không bị cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng nên cho năng suất cao hơn Tuy nhiên, các phương thức trồng tận dụng đất cũng cho một năng suất chất xanh tương đối cao, được nhiều hộ nông dân lựa chọn

* Những nghiên cứu về khả năng tái sinh của cỏ:

Lục Văn Ngôn, 1970 – 1980 [29], đã nghiên cứu so sánh năng suất và khả năng sống qua đông của một số giống cỏ nhập nội trên đất đồi Thái

Nguyên trong đó có các giống cỏ Tây Nghệ An (Panicum maximum), Mộc Châu (Paspalum urvillei), cỏ Voi (Penisetum purpureum), Pangola (Digitaria

decumbens), cỏ Lông (Panicum mollpara), cỏ Xu đăng (Sorglum xudanens),

Goatemala (trypsacum laxum) Qua thí nghiệm cho thấy các cỏ Voi, Tây

Nghệ An, Goatemala có tổng số đơn vị sản xuất ra lớn và có khả năng phát triển trong mùa đông Tác giả cũng cho thấy năng suất tỷ lệ thuận với lượng phân bón nitơ

Nguyễn Thị Mùi, Lương Tất Nhợ, Hoàng Thị Hấn, Mai Thị Hướng,

2004 [27], đã nghiên cứu và đánh giá hiện trạng nguồn thức ăn cho gia súc ăn

cỏ và bước đầu xây dựng mô hình trồng cây thức ăn gia súc tại huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang Qua nghiên cứu điều kiện khí hậu ở đây, các tác giả đã

đưa vào trồng thử nghiệm 9 giống cỏ sau: P Purpureum Kingrass, P

Purpureum maladagasca, P Maximum TD58, Paspalum atratum, B Rurizinensis, Goatemala, Leucaena 636, Trichantera gigantea, Fleminagia macrophyla được trồng trong vụ đông Kết quả cho thấy các giống đều sống

được qua mùa đông lạnh, có tuyết và sương muối

Trang 38

Nguyễn Thị Thu Hồng, Nguyễn Ngọc Tấn, Đinh Văn Cải, 2006 [19],

đã tiến hành thí nghiệm trồng cỏ tại vùng khô hạn của tỉnh Ninh Thuận Các tác giả cho biết các giống cỏ Hoà thảo như: Cỏ Voi, cỏ Sả, cỏ Ruzi và cỏ Paspalum đều có thể sinh trưởng và phát triển trong điều kiện khô nóng tại Ninh Thuận Trong điều kiện được bón phân và có tưới nước, năng suất có thể đạt 100 - 150 tấn/ha/năm Các giống cỏ thích nghi với điều kiện khí hậu nơi đây theo thứ tự là cỏ Ruzi, cỏ Sả, cỏ Voi, cuối cùng là Paspalum

Nguyễn Thị Mùi và cộng tác viên [26], đã nghiên cứu xen canh cỏ Hoà thảo, họ Đậu trong hệ thống canh tác phục vụ sản xuất thức ăn xanh cho gia súc Các tác giả đã nghiên cứu trồng thuần và trồng xen với cây ăn quả của

giống cỏ Paspalum atratum, Panicum maximum TD58

1.2.2.4 Những nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của một số

loài cỏ

Pau Pozy, Vũ Chí Cương và cộng sự, 2001 [31], đã nghiên cứu về giá trị dinh dưỡng của cỏ tự nhiên, cỏ Voi, rơm, làm thức ăn cho bò sữa tại các hộ gia đình vùng ngoại thành Hà Nội Kết quả cho thấy cỏ tự nhiên có hàm lượng chất khô dao động từ 20,44 - 49,73%, hàm lượng protein biến động rất lớn từ 10,67 - 19,26%, cỏ Voi có hàm lượng chất khô là 15,69% và protein là 14,06%

Đinh Văn Cải, De Boever, Phùng Thị Lâm Dung, 2004 [7], đã nghiên cứu thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn cho trâu, bò ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh trong đó có giống cỏ Voi, cỏ Sả,

cỏ Ruzi, cỏ Andropogon Các tác giả cũng cho biết qua phân tích 54 mẫu của

4 giống cỏ trên thấy ở các lứa cắt khác nhau thì chất lượng của cỏ Hoà thảo trồng không có sự khác biệt so với các loại cỏ tự nhiên Vật chất khô trung

Trang 39

Hoàng Chung, 2004 [11], đã nghiên cứu thành phần hoá học của 8 loài

cỏ tự nhiên và hai loài cỏ trồng ở đồng cỏ Bắc Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy, hàm lượng protein của cỏ tự nhiên và cỏ trồng là tương đương nhau, nhưng số đơn vị thức ăn của cỏ tự nhiên cao gần gấp đôi cỏ trồng

Vũ Chí Cương, Nguyễn Xuân Hoà, Phạm Hùng Cường, Paulo Salgado, Lưu Thị Thi, 2004 [9], đã nghiên cứu về thành phần hoá học, tỷ lệ tiêu hoá và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn chủ yếu dùng cho bò Trong số các loại thức ăn có cỏ tự nhiên, cỏ Voi, cỏ Ghine, cỏ Pangola khô, cỏ Baberium,

cỏ Tripsacum lasum được các tác giả công bố về tỷ lệ chất khô (%), protein

(%) lần lượt là: (22,6%; 11,6%), (13,3%; 10,3%), (21,01%; 11,49%), (91,68%; 5,14%), (19,18%; 6,47%), (20,10%; 9,01%) Các tác giả cũng công

bố về tỷ lệ tiêu hoá về vật chất khô (%) và protein (%) của cỏ như sau: (52,7%; 58,9%), (62,9%; 60,8%), (60,16%; 67,82%), (38,06%; 14,02%), (46,68%; 31,20%), (46,90%; 53,88%)

Bùi Quang Tuấn, 2005 [33], đã nghiên cứu giá trị dinh dưỡng của một

số cây thức ăn gia súc trồng tại Gia Lâm - Hà Nội và Đan Phượng - Hà Tây

Tác giả đã nghiên cứu các giống cỏ Voi, cỏ Brachiaria brizantha, Paspalum

atratum, Stylosanthes guianensis Tác giả cho biết năng suất chất xanh của cỏ

Voi tuy cao nhưng giá trị dinh dưỡng tương đối thấp, tỷ lệ protein chỉ đạt

8,85% Hai loại Hoà thảo khác là Brachiaria brizantha, Paspalum atratum có

tỷ lệ protein cao hơn (11,40% và 11,01%)

Một số tác giả như Nguyễn Thị Mận và cộng tác viên [25], đã nghiên cứu về thành phần hoá học, tỷ lệ tiêu hoá và giá trị dinh dưỡng của cỏ Voi, cỏ

Ghine, cỏ Ruzi, cỏ Andropogon, Goatemala, Panicum maximum

Trang 40

Bảng1.3 : Giá trị dinh dưỡng một số cây thức ăn chăn nuôi cơ bản

Xơ thô

Dẫn xuất không đạm

Khoáng tổng số Canxi

Phôt pho

8 Cây ngô ngậm sữa 21,40 2,50 0,70 4,40 12,90 0,90 0,09 0,07

9 Cây ngô non-thân lá 13,06 1,40 0,40 3,38 6,68 1,20 0,08 0,03

10 Cây ngô non-thân lá

(Tây nguyên) 18,40 1,80 0,80 4,90 9,40 1,50 0,09 0,07

11 Cỏ Ghinê 23,30 2,47 0,51 7,30 10,62 2,40 0,13 0,03

12 Cỏ Voi miền núi 17,60 2,10 0,40 6,20 7,50 1,40 0,05 0,03

13 Cây keo dậu đông

Ngày đăng: 12/11/2014, 05:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Sản lượng của cỏ Ghinê tía cắt sau 30 ngày - đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang
Bảng 1.2. Sản lượng của cỏ Ghinê tía cắt sau 30 ngày (Trang 23)
Hình 1.1: Cỏ VA.06 trồng tại xã Lưỡng Vượng (Yên Sơn). - đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang
Hình 1.1 Cỏ VA.06 trồng tại xã Lưỡng Vượng (Yên Sơn) (Trang 47)
Hình 1.2: Cỏ VA06 đã phát triển ở nhiều nơi trong tỉnh - đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang
Hình 1.2 Cỏ VA06 đã phát triển ở nhiều nơi trong tỉnh (Trang 49)
Bảng 2.1 : Khí hậu huyện Yên Sơn năm 2009 - 2010 - đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang
Bảng 2.1 Khí hậu huyện Yên Sơn năm 2009 - 2010 (Trang 54)
Hình chăn nuôi dê bách thảo với 33 con. - đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang
Hình ch ăn nuôi dê bách thảo với 33 con (Trang 78)
Hình 4.4: Đàn trâu của huyện Chiêm Hoá - đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang
Hình 4.4 Đàn trâu của huyện Chiêm Hoá (Trang 83)
Bảng 4.3: Hàm lượng các chất dinh dưỡng của hai loài cỏ ngoài tự  nhiên (% so với khối lượng tươi ban đầu) - đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang
Bảng 4.3 Hàm lượng các chất dinh dưỡng của hai loài cỏ ngoài tự nhiên (% so với khối lượng tươi ban đầu) (Trang 89)
Bảng 4.6: Năng suất của hai loài cỏ thí nghiệm ở các lứa cắt. - đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang
Bảng 4.6 Năng suất của hai loài cỏ thí nghiệm ở các lứa cắt (Trang 93)
Bảng 4.8: Tỷ lệ phần thân và lá của cỏ Lau thí nghiệm - đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang
Bảng 4.8 Tỷ lệ phần thân và lá của cỏ Lau thí nghiệm (Trang 96)
Hình 4.5: Bãi cỏ Mật trồng 45 ngày tuổi - đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang
Hình 4.5 Bãi cỏ Mật trồng 45 ngày tuổi (Trang 112)
Hình 4.6: Bãi cỏ Lau trồng 60 ngày tuổi - đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang
Hình 4.6 Bãi cỏ Lau trồng 60 ngày tuổi (Trang 112)
Hình 4.8: Khả năng tái sinh của cỏ Lau ngoài tự nhiên - đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang
Hình 4.8 Khả năng tái sinh của cỏ Lau ngoài tự nhiên (Trang 113)
Hình 4.7: Cây cỏ Lau ngoài tự nhiên - đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang
Hình 4.7 Cây cỏ Lau ngoài tự nhiên (Trang 113)
Hình 4.9: Một phần bãi cỏ Mật trồng 50 ngày tuổi - đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang
Hình 4.9 Một phần bãi cỏ Mật trồng 50 ngày tuổi (Trang 114)
Hình 4.11: Khả năng sinh trưởng mạnh mẽ của cây cỏ Mật - đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang
Hình 4.11 Khả năng sinh trưởng mạnh mẽ của cây cỏ Mật (Trang 115)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w