thi của phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn tiếp theo góp phần đắc lực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã- hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn huyện Cẩm Khê, đưa công tác quản lý
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN NGỌC NÔNG
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Phạm Văn Chung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các thầy, cô giáo, những ý kiến đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể để tôi hoàn thành bản luận văn này
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông, phó Hiệu trưởng - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa sau Đại học, Khoa Tài nguyên và Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ, UBND huyện Cẩm Khê, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cẩm Khê đã giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu, thực hiện đề tài
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Phạm Văn Chung
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐCQHSDĐ : Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu về khí hậu của huyện Cẩm Khê từ 2005 - 2010 39 Bảng 4.2 Các loại đất huyện Cẩm Khê 41 Bảng 4.3 Số liệu tài nguyên khoáng sản huyện Cẩm Khê 44 Bảng 4.4 GTSX và tăng trưởng GTSX huyện Cẩm Khê giai đoạn 2005-
2010 47 Bảng 4.5 Cơ cấu kinh tế huyện Cẩm Khê giai đoạn 2005-2010 48 Bảng 4.6 Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản qua một số
năm (theo giá thực tế) 49 Bảng 4.7 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 (01/01/2011) huyện Cẩm Khê,
tỉnh Phú Thọ 67 Bảng 4.8: Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp huyện Cẩm Khê năm 2010 68 Bảng 4.9 Diện tích, cơ cấu đất phi nông nghiệp huyện Cẩm Khê năm 2010 70 Bảng 4.10 Chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất từ năm 2001 đến năm 2010
huyên Cẩm Khê 82 Bảng 4.11 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đã được
phê duyệt đến năm 2005 83 Bảng 4.12 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp đã
được phê duyệt đến năm 2005 (trong phương án quy hoạch
2001 - 2010) 85 Bảng 4.13 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất chưa sử dụng đã được
phê duyệt đến năm 2005 (trong phương án quy hoạch 2001-
2010) 87 Bảng 4.14: Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất sản xuất nông
nghiệp đã được phê duyệt theo phương án ĐCQH đến năm
2010 90
Trang 6Bảng 4.15: Kết quả thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã
được phê duyệt theo phương án ĐCQH đến năm 2010 93 Bảng 4.16: Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất phi nông
nghiệp đã được phê duyệt theo phương án ĐCQH đến năm
2010 94 Bảng 4.17: Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất chuyên dùng
đã được phê duyệt theo phương án ĐCQH đến năm 2010 96 Bảng 4.18: Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất có mục đích
công cộng đã được phê duyệt theo phương án ĐCQH Đến năm
2010 98 Bảng 4.19: Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất chưa sử dụng
đã được phê duyệt theo phương án ĐCQH đến năm 2010 98
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Hình 4.1 Biểu đồ cơ cấu diện tích các loại đất nông nghiệp huyện Cẩm
Khê năm 2010 68Hình 4.2 Biểu đồ cơ cấu diện tích các loại đất phi nông nghiệp huyện
Cẩm Khê năm 2010 71Hình 4.3 Biểu đồ cơ cấu diện tích các loại đất chưa sử dụng huyện Cẩm
Khê năm 2010 74Hình 4.4 Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất đến năm 2010 của UBND huyện
Cẩm Khê theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 81Hình 4.5 Biểu đồ kết quả thực hiện các chỉ tiêu QHSDĐ nông nghiệp
đến năm 2005 84Hình 4.5 Biểu đồ kết quả thực hiện các chỉ tiêu QHSDĐ phi nông nghiệp
đến năm 2005 86Hình 4.7 Biểu đồ kết quả thực hiện QH đất chưa sử dụng đến năm 2005 88Hình 4.8 Biểu đồ kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất sản
xuất nông nghiệp đã được phê duyệt theo phương án ĐCQH đến năm 2010 91Hình 4.9 Biểu đồ kết quả thực hiện các chỉ tiêu ĐCQHSDĐ phi nông
nghiệp đến năm 2010 94Hình 4.10 Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất chưa sử
dụng đã được phê duyệt theo phương án ĐCQH đến năm 2010 99
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 3
PHẦN II: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Khái niệm và đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất 4
2.1.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất 4
2.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai 6
2.2 Nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất đai 10
2.2.1 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất đai 14
2.3 Một số lý luận về sử dụng đất hợp lý 16
2.3.1 Đất đai và chức năng của đất đai 16
2.3.2 Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất 16
2.3.3.Những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất 17
2.3.4 Sử dụng đất và các mục đích kinh tế, xã hội, môi trường 20
2.3.5.Quản lý bền vững tài nguyên đất 21
2.4 Tình hình quy hoạch và thực hiện quy hoạch ở ngoài nước 22
2.5 Quy hoạch sử dụng đất đai ở Việt Nam 25
2.5.1.Tình hình quy hoạch đất đai ở nước ta qua các thời kỳ 25
2.5.2.Công tác lập quy hoạch trên phạm vi cả nước 27
2.6 Tình hình quy hoạch sử dụng đất và thực hiện quy hoạch tỉnh Phú Thọ 29
2.6.1.Đối với cấp tỉnh 30
2.6.2 Đối với cấp huyện 30
2.6.3 Đối với cấp xã 31
2.7 Tình hình quy hoạch sử dụng đất huyện Cẩm Khê 31
2.7.1 Đối với cấp huyện 31
2.7.2 Đối với cấp xã 32
PHẦN III : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đối tượng nghiên cứu 33
3.2 Nội dung nghiên cứu 33
3.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Cẩm Khê 33
3.2.2 Đánh giá tình hình quản lý và hiện trạng sử dụng đất 34
Trang 93.2.3 Đánh giá tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm
2010 của huyện Cẩm Khê 34
3.2.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng quỹ đất trên địa địa bàn huyện đến năm 2015 và các giải pháp thực hiện 35
3.3 Phương pháp nghiên cứu 35
3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin thứ cấp 35
3.3.2 Phương pháp thống kê, so sánh 36
3.3.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp 36
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 36
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội 37
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 37
4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế- xã hội 47
4.1.3 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 56
4.1.4 Bưu chính viễn thông và thông tin liên lạc 61
4.1.5 Cơ sở văn hóa, thể dục thể thao 62
4.1.6 Cơ sở giáo dục - đào tạo 62
4.1.7 Cơ sở y tế 63
4.2 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, môi trường 64
4.2.1 Thuận lợi 64
4.2.2 Hạn chế và thách thức 65
4.2.3 Áp lực đối với đất đai 66
4.3 Hiện trạng sử dụng các loại đất 67
4.3.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 68
4.3.2.Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp 70
4.3.3 Đất chưa sử dụng 74
4.4 Tình hình quản lý đất đai 75
4.4.1.Công tác xác định địa giới, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính 75
4.4.2 Công tác khảo sát đo đạc, lập bản đồ địa chính 76
4.4.3.Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 76
4.4.4 Công tác đánh giá phân hạng đất 76
4.4.5 Công tác giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất 77
4.4.6 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai 78
4.4.7 Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và dồn đổi ruộng đất 79
Trang 104.4.8 Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai 80
4.4.9 Quản lý tài chính về đất đai 80
4.4.10 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất 80
4.5 Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đã được duyệt 81
4.5.1 Khái quát chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 81
4.4.1 Đánh giá tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001-2010 đã được phê duyệt đến năm 2005 82
4.4.2 Đánh giá tình hình thực hiện Phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 đã được phê duyệt 89
4.4.3 Đánh giá chung về tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001 – 2010 huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 99
4.4.4 Một số giải pháp nhầm nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Cẩm Khê 103
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108
5.1 Kết luận 108
5.2 Kiến nghị 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 11PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Quy hoạch sử dụng đất là một trong mười ba nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại Chương II, Điều 18 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”
Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ nội dung, trách nhiệm, thẩm quyền lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 25, 26); Căn cứ để giao đất cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đều phải dựa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn (Khoản 1 - Điều 31)
Như vậy quy hoạch sử dụng đất giúp quản lý bố trí sử dụng đất một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên đất, cải thiện môi trường sinh thái và tránh lãng phí tài nguyên đất Điều này ngày càng thiết thực khi môi trường sinh thái của nhiều nơi đang chịu những tác động xấu của quá trình sản xuất và sinh hoạt Sự phát triển nhanh nhưng thiếu tính đồng bộ và thống nhất trong xây dựng cơ sở hạ tầng dân sinh kinh tế ở nhiều nơi đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, công tác lập, thực hiện, quản lý và giám sát quy hoạch sử dụng đất ở một số địa phương còn hạn chế, việc lập quy hoạch sử dụng đất các cấp chưa đồng bộ, kết quả thực hiện phương
án quy hoạch còn thấp hoặc quá cao; việc xác định nhu cầu sử dụng đất cho các ngành chưa sát thực tế, quá trình thực hiện phải điều chỉnh, bổ sung Cho nên, việc đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính khả thi của quy hoạch sử dụng đất là rất cần thiết
Trang 12Cẩm Khê là một huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, có diện tích tự nhiên là 23.464,82 ha, với 30 xã và 01 thị trấn Huyện Cẩm Khê đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001-2010 được UBND tỉnh Phú Thọ phê duyệt tại Quyết định số 3787/QĐ-UB ngày 19 tháng 12 năm 2000 Do quá trình phát triển Kinh tế, Văn hóa - Xã hội, phát triển dịch vụ và du lịch trong vùng với nhu cầu mới về xây dựng hạ tầng cơ sở, xây dựng các xí nghiệp Việc cải tạo và đầu tư
về cơ sở hạ tầng là nhu cầu cần thiết Nên UBND huyện Cẩm Khê đã lập phường án điều chỉnh quy hoạch giai đoạn 2005 - 2010 được phê duyệt tại Quyết định số 3465/QĐ-UBND ngày 12 tháng 12 năm 2006 của UBND tỉnh Phú Thọ Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để địa phương thực hiện việc quản lý và sử dụng đất từ năm 2001 đến năm 2010 Sau một thời gian thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất, huyện Cẩm Khê đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển Kinh tế - Xã hội Nhưng một số nội dung của phương án quy hoạch sử dụng đất chưa được thực hiện triệt để, do nhiều nguyên nhân, dẫn đến tính khả thi của phương án quy hoạch chưa cao Nhưng việc tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch đó ra sao , kết quả đạt được thế nào, có những tồn tại gì, nguyên nhân
do đâu, cần phải có giải pháp nào khắc phục, v.v
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001-
2010, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ’’
1.2 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở tìm hiểu công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001 – 2010 nhằm đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất, làm rõ những ưu điểm đạt được, những tồn tại trong thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất và nguyên nhân của những tồn tại; đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính khả
Trang 13thi của phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn tiếp theo góp phần đắc lực vào
sự nghiệp phát triển kinh tế xã- hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn huyện Cẩm Khê, đưa công tác quản lý nhà nước về đất đai vào nền nếp
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Nắm vững phương án quy hoạch sử dụng đất và phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
- Đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất, phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của huyện giai đoạn tiếp theo
Trang 14PHẦN II TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Khái niệm và đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
2.1.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
Thuật ngữ “Quy hoạch sử dụng đất đai” tương ứng với tiếng Anh “land used planning”; thuật ngữ đồ án “plan” cũng còn dùng là quy hoạch, cũng đã quen dùng với những mức độ khác nhau như: đồ án quy hoạch tổng hợp
“Master plan”, đồ án quy hoạch tổng thể “Comprehensive plan”, đồ án quy hoạch chung “General plan”, hoặc chính là đồ án quy hoạch “The plan”
Về mặt thuật ngữ khoa học, “Quy hoạch” là việc xác định một trật tự
nhất định bằng những hoạt động như: phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức “Đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật ) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc
sử dụng theo các mục đích khác nhau Do vậy, để sử dụng đất hiệu quả cần phải lập quy hoạch, đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng thành phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định
Theo FAO [30] định nghĩa quy hoạch sử dụng đất như sau: "Quy hoạch
sử dụng đất là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế - xã hội nhằm lựa chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất Mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là lựa chọn và đưa phương án đã lựa chọn vào thực tiễn để đáp ứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai Yêu cầu
Trang 15cấp thiết phải làm quy hoạch là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế
sử dụng đất thay đổi nên phải nâng cao kỹ năng quản lý sử dụng đất"
Theo Viện Điều tra Quy hoạch Đất đai định nghĩa [17]: "Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp quản lý, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường"
Về mặt bản chất quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế -
xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế Trong đó:
- Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai;
- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu ;
- Tính pháp chế: Xác lập tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật
Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai được quy định tại điều 16, Luật Đất đai 2003[22]
Công tác quy hoạch sử dụng đất đai cần phải nắm vững hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, pháp chế của Nhà nước và tổ chức quản lý sử dụng đất đai một cách đầy đủ, hợp lý, khoa học, có hiệu quả cao thông qua việc phân bổ quỹ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất Theo đó, quy hoạch sử dụng đất đảm bảo các mục tiêu sau:
- Tính đầy đủ: Mọi loại đất đều phải được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định;
- Tính hợp lý: Việc sử dụng đất phải phù hợp với yêu cầu, đặc điểm tính chất tự nhiên, vị trí, diện tích theo mục đích sử dụng;
- Tính khoa học: Áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến;
Trang 16- Tính hiệu quả: Phải đáp ứng được cả 3 lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh các mối quan
hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích
nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường
Mặt khác, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm
tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, là căn cứ để giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút quỹ đất
nông, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa nước và đất lâm nghiệp có
rừng) sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp; ngăn chặn các hiện tượng
tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây
ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, gây ảnh hưởng tiêu cực tới phát triển kinh tế - xã hội và các hậu quả khó lường về tình hình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương
2.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai
Quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Theo Viện Điều tra Quy hoạch Đất đai, Tổng cục Địa chính (1998) [17] các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể như sau:
* Tính lịch sử - xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch
sử dụng đất đai Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản
xuất của xã hội thể hiện theo 2 mặt: Lực lượng sản xuất (quan hệ giữa người
Trang 17với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất) và Quan hệ sản xuất (quan
hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất) Trong quy hoạch sử dụng
đất đai, luôn nẩy sinh quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên (như
điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế ), cũng như quan hệ giữa người với
người (xác nhận bằng văn bản về sở hữu và quyền sử dụng đất giữa những
người chủ đất - giấy CNQSDĐ) Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng
thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã hội [17]
Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất đai mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt
pháp lý (là phương tiện mở rộng, củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai: phân
chia, tập trung đất đai để mua, bán, phát canh thu tô ) Ở nước ta, quy hoạch
sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu của người sử dụng đất và quyền lợi của toàn
xã hội; góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất đai góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nẩy sinh trong quá
trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau
* Tính tổng hợp
Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất đai biểu hiện chủ yếu ở hai mặt: đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân; quy hoạch
sử dụng đất đai đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trường sinh thái
Trang 18Với đặc điểm này, quy hoạch lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất; điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ cao và ổn định [17]
* Tính dài hạn
Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh
tế xã hội quan trọng (như sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị
hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ), từ đó xác định quy hoạch
trung và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch
sử dụng đất hàng năm và ngắn hạn
Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất để phát triển lâu dài kinh tế - xã hội Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng
bước trong thời gian dài (cùng với quá trình phát triển dài hạn kinh tế - xã
hội) cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn (xác định phương hướng, chính sách và biện pháp sử dụng đất để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội) của quy hoạch sử dụng đất đai thường từ trên 10 năm đến 20
năm hoặc xa hơn
* Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô
Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử
dụng đất (mang tính đại thể, không dự kiến được các hình thức và nội dung cụ
thể, chi tiết của sự thay đổi) Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch
mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất của các ngành như [17]:
Trang 19- Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng;
- Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành;
- Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng;
- Phân định ranh giới và các hình thức quản lý việc sử dụng đất đai trong vùng
- Đề xuất các biện pháp, chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất
Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố
kinh tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hoá, quy hoạch
sẽ càng ổn định
* Tính chính sách
Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái [17]
* Tính khả biến
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương
diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến
bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất đai không còn phù hợp Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất đai luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn
Trang 20ốc “quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện ” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao
2.2 Nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất đai
Các hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực phân phối và sử dụng tài nguyên đất tuân theo quy luật phát triển kinh tế khách quan Quyền sở hữu Nhà nước về đất đai là cơ sở để bố trí các ngành, là một trong những yếu tố quan trọng nhất để đưa nền kinh tế thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, thúc đẩy và
mở rộng sản xuất Nhà nước thực hiện chức năng phân phối và tái phân phối quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu về đất sử dụng cho các ngành, đơn vị, cá nhân
sử dụng đất và điều chỉnh các mối quan hệ đất đai thông qua quy hoạch Như vậy, quy hoạch sử dụng đất thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt được xây dựng dựa trên những nguyên tắc sau:
Một là, chấp hành quyền sở hữu Nhà nước về đất đai
Nguyên tắc này là cơ sở của mọi hoạt động và biện pháp có liên quan tới quyền sử dụng đất, là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động quy hoạch
sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất nước ta là hệ thống các biện pháp của Nhà nước nhằm quản lý, sử dụng đất đai đầy đủ, hợp lý và hiệu quả Nó có mối quan hệ chặt chẽ với chủ trương, chính sách và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Trong công tác quản lý đất đai, quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa to lớn, giúp cho quản lý đất đai chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả và các chỉ tiêu, chủ trương của Nhà nước được thực hiện tốt
Luật pháp bảo vệ quyền bất khả xâm phạm quyền sử dụng đất và tính ổn định của mỗi đơn vị sử dụng đất vì đó là cơ sở quan trọng nhất để phát triển sản xuất Khi lập quy hoạch sử dụng đất, người ta xác định phạm vi quyền lợi của mỗi chủ sử dụng đất Do đó, quy hoạch sử dụng đất có vai trò quan trọng
Trang 21trong việc ngăn ngừa các hành vi xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của các đơn
vị sử dụng đất Mỗi chủ sử dụng đất chỉ có quyền sử dụng đất mà Nhà nước cho phép chứ không có quyền sở hữu đất
Hai là, sử dụng đất tiết kiệm, bảo vệ đất và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện tồn tại cơ bản, gắn liền với hoạt động của con người, của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước, có vai trò quan trọng đối với con người và khác mọi tư liệu sản xuất khác là nếu được sử dụng đúng và hợp lý thì chất lượng đất ngày càng tốt lên Mặt khác, chúng ta đều biết, đất đai có hạn về diện tích, trong khi đó, dân số không ngừng tăng nhanh, gây áp lực lớn đối với đất đai Điều này đòi hỏi việc sử dụng đất phải tiết kiệm và hiệu quả Sử dụng đất tiết kiệm tức là phải bố trí hài hòa giữa nhu cầu sử dụng đất của các ngành, hạn chế tối đa việc sử dụng đất canh tác có hiệu quả sang các mục đích phi nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, thỏa mãn nhu cầu nông sản phẩm cho toàn xã hội và nguyên liệu cho công nghiệp, đồng thời cân đối quỹ đất thích hợp với nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao chất lượng đất và mở rộng diện tích Điều này khẳng định tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất, ngoài ra rất cần có quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết
có giá trị thực tiễn cao đến cấp xã, cần gắn liền quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch các ngành công nghiệp và dịch vụ như du lịch, chế biến nông sản, phát triển ngành nghề thủ công mà thị trường đòi hỏi, đồng thời có những biện pháp bảo vệ đất, đảm bảo cho sử dụng đất bền vững Chống suy thoái và
ô nhiễm đất là một trong những biện pháp bảo vệ đất
Việt Nam, với đặc điểm là đất đồi núi chiếm 3/4 lãnh thổ toàn quốc, lại nằm ở vùng nhiệt đới, mưa nhiều và tập trung, nhiệt độ không khí cao, các quá trình khoáng hóa diễn ra mạnh trong đất nên dễ bị rửa trôi, xói mòn, nghèo chất hữu cơ và chất dinh dưỡng dẫn đến thoái hóa Quan trọng hơn nữa
Trang 22là do hậu quả của việc chặt phá, đốt rừng bừa bãi, sử dụng đất không bền vững qua nhiều thế hệ nên đất bị thoái hóa ngày càng nghiêm trọng, nhiều nơi mất khả năng sản xuất và xu hướng hoang mạc hóa ngày càng tăng Do đó, mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là phải coi trọng diện tích phủ xanh bằng cây rừng, có chính sách và xây dựng quan điểm toàn dân bảo vệ rừng nhất là rừng đầu nguồn, chăm sóc, tu bổ, phục hồi rừng, trồng cây phủ xanh đất trống đồi núi trọc, khôi phục, cải thiện môi trường sống theo quan điểm cân bằng sinh thái bền vững
Những năm gần đây, do áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ
và kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nên Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Tuy nhiên, sự thâm canh nông nghiệp với sử dụng nhiều phân bón hàm lượng và cách thức không hợp lý đã làm đất sản xuất nông nghiệp ngày càng ô nhiễm Ngoài ra, với sự phát triển ồ ạt của ngành công nghiệp trong giai đoạn qua đã làm đất bị ô nhiễm trầm trọng bởi chất thải của các nhà máy công nghiệp Đây là một thử thách lớn cho các nhà quy hoạch cũng như các nhà quản lý trong giai đoạn nước ta đang thực hiện tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa: khôi phục các làng nghề truyền thống và tạo điều kiện thuận lợi cho công nghiệp phát triển
Ba là, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Khi phân bổ quỹ đất cho các ngành, cần đảm bảo nguyên tắc tổ chức sử dụng tài nguyên đất vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân nói chung và từng ngành nói riêng, trong đó ưu tiên cho ngành nông nghiệp
Sự phát triển của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, thủy điện, dầu khí đều đòi hỏi phải có đất Việc bố trí công trình của các ngành trên thường được dự kiến trước trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân dài hạn với tiêu chí: những khoanh đất giao cho các nhu cầu phi nông nghiệp nên lấy từ đất không sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả
Trang 23trong nông nghiệp Với trường hợp giao đất cho nhu cầu khai thác khoáng sản, người ta thường phải lường trước mọi hậu quả có thể xảy ra cho các đơn
vị mất đất và đề xuất biện pháp khắc phục hậu quả giảm bớt những ảnh hưởng xấu của nó Dựa trên thực trạng, vấn đề bức xúc mà ngành đang vấp phải và
xu thế phát triển của từng ngành kinh tế để xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai trên cơ sở hợp thành của các quy hoạch ngành Có như vậy, quy hoạch sử dụng đất mới đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Bốn là, tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ hợp lý
Quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo kế hoạch chung của Nhà nước, của ngành và của từng đơn vị sử dụng đất cụ thể Việc bố trí giữa các ngành đòi hỏi phải có sự phân bố hợp lý, tạo điều kiện cho sự phát triển tổng hợp Các đơn vị sản xuất nông nghiệp căn cứ vào nghĩa vụ giao nộp cho Nhà nước và các nhu cầu tiêu dùng nội bộ mà xác định quy mô diện tích trồng từng loại cây, số đầu gia súc từng loại Bên cạnh đó, việc sử dụng đất có ảnh hưởng đến việc phát triển và bố trí các ngành nghề, việc tổ chức lao động và năng suất lao động, đến tư liệu sản xuất
Quy hoạch sử dụng đất phải có sự kết hợp hài hòa nhu cầu sử dụng đất của các ngành, tổ chức lãnh thổ hợp lý mới giúp cho việc phát triển các ngành cân đối theo chỉ tiêu và nhu cầu sử dụng đất đã định
Năm là, phải phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Mỗi vùng khác nhau có các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau nên phương án quy hoạch xây dựng phù hợp cho từng vùng cũng khác nhau Thực tế cho thấy, các cơ sở sản xuất nông nghiệp thường đầu tư lớn cho các công trình liên quan: nhà ở, thủy lợi, giao thông và những công trình này khai thác hết công suất nếu vị trí xây dựng của chúng là hợp lý Bên cạnh
đó, để tăng năng suất cây trồng phải xác định cơ cấu sử dụng đất thích hợp và
cơ cấu luân canh hợp lý trên địa bàn lãnh thổ đó Vì vậy, khi quy hoạch sử dụng đất cần phải tính toán sao cho chúng sử dụng có hiệu quả nhất cả hiện
Trang 24tại và tương lai lâu dài Qua những lý luận trên cho thấy, khi xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất phải tuân theo những nguyên tắc trên mới đảm bảo phương án đó có tính khả thi và tạo điều kiện sử dụng đất hợp lý, hiệu quả và bền vững, thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển
2.2.1 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất đai
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất đai Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như: nhiệm vụ đặt ra đối với quy hoạch, số lượng và thành phần đối tượng nằm trong quy hoạch, phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành chính), Thông thường hệ thống quy hoạch sử dụng đất đai được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể về sử dụng đất đai từ tổng thể đến chi tiết Có hai loại hình quy hoạch chính, đó là:
- Quy hoạch sử dụng đất theo ngành, như: quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp; quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; quy hoạch sử dụng đất giao thông, thủy lợi… Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là diện tích đất đai thuộc quyền sử dụng và diện tích dự kiến cấp thêm cho ngành Quy hoạch sử dụng đất đai giữa các ngành có quan hệ chặt chẽ với quy hoạch sử dụng đất của vùng và cả nước
- Quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ: tại Việt Nam, Luật Đất đai năm
2003 [22], tại Điều 25 quy định: quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo 4 cấp lãnh thổ: quy hoạch sử dụng đất đai cả nước; quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh; quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện; quy hoạch sử dụng đất đai chi tiết (cấp xã)
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự nhiên của lãnh thổ Tuỳ thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau
và được thực hiện theo nguyên tắc: từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến
Trang 25bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý bước trước [14]
Khác với Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 không quy
định cụ thể quy hoạch sử dụng đất theo các ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp,
khu dân cư nông thôn, đô thị, chuyên dùng) Quy hoạch sử dụng đất của các
ngành này đều nằm trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính Đối với quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh được quy định riêng tại Điều 30 [22]
Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất theo các cấp lãnh thổ hành
chính, đó là: đáp ứng nhu cầu đất đai (tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu
quả) cho hiện tại và tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân; cụ
thể hoá một bước quy hoạch sử dụng đất đai của các ngành và đơn vị hành
chính cấp cao hơn; làm căn cứ, cơ sở để các ngành (cùng cấp) và các đơn vị
hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng đất đai của ngành và địa
phương mình; làm cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm (căn cứ để thu
hồi, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo thẩm quyền được quy định trong Luật Đất đai); phục vụ cho công tác thống nhất quản lý
Nhà nước về đất đai [23]
Có thể hiểu mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ và quy hoạch sử dụng đất theo ngành, như sau: trước tiên, Nhà nước căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và hệ thống thông tin tư liệu
về điều kiện đất đai hiện có để xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng các loại đất Các ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng các loại đất
để xây dựng quy hoạch sử dụng đất cụ thể cho từng ngành phù hợp với yêu cầu và nội dung sử dụng đất của ngành Như vậy, để đảm bảo sự thống nhất, tránh hiện tượng trồng chéo thì quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và có tính định hướng cho quy hoạch sử dụng đất theo ngành
Trang 262.3 Một số lý luận về sử dụng đất hợp lý
2.3.1 Đất đai và chức năng của đất đai
Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông suối, đầm lầy ), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại ’’(san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa [8]’’
Các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của xã hội loài người được thể hiện theo các mặt sau: sản xuất; môi trường sự sống; cân bằng sinh thái; điều tiết khí hậu; tàng trữ và cung cấp nguồn nước; dự trữ (nguyên liệu và khoáng sản trong lòng đất); kiểm soát ô nhiễm và chất thải; Không gian sự sống; bảo tồn - bảo tàng sự sống; phân dị lãnh thổ [1]
Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất Các Mác đã nhấn mạnh “Đất là mẹ, lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất”
Đối với các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò là cơ sở không gian
để thực hiện các quá trình lao động, là kho tàng dự trữ các tài nguyên trong lòng đất Trong nông nghiệp, đất đai tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và làm
ra sản phẩm phục vụ đời sống của con người và xã hội Năng suất và chất lượng của sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất Đất nông nghiệp là yếu tố đầu vào quan trọng tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp
2.3.2 Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất
Đất đai là điều kiện chung nhất (khoảng không gian lãnh thổ cần thiết)
đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động
của con người Điều này có nghĩa - thiếu khoảnh đất (có vị trí, hình thể, quy
Trang 27mô diện tích và yêu cầu về chất lượng nhất định) thì không một ngành nào, xí
nghiệp nào có thể bắt đầu công việc và hoạt động được Nói khác đi - không
có đất sẽ không có sản xuất (đối với mọi ngành) cũng như không có sự tồn tại
của chính con người [20]
Đất đai giữ vai trò tích cực trong quá trình sản xuất, là điều kiện vật
chất, cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu tác động
trong quá trình sản xuất như cày bừa, xới xáo ) và công cụ hay phương tiện
lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi ) Quá trình sản xuất nông nghiệp
liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất Lợi ích của việc sử dụng đất rất đa dạng, song có thể chia thành 3 nhóm lợi ích cơ bản sau:
- Sử dụng đất làm tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt để thoả mãn nhu cầu sinh tồn và phát triển của con người;
- Dùng đất làm cơ sở sản xuất và môi trường hoạt động;
- Đất cung cấp không gian môi trường cảnh quan mỹ học cho việc hưởng thụ tinh thần
Trong các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho
tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản) Quá trình sản
xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất
2.3.3.Những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất
Phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất vừa bị chi phối bởi các điều kiện
và quy luật sinh thái tự nhiên vừa bị chi phối bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Theo nghiên cứu của Viện Điều tra Quy hoạch đất đai Tổng cục Địa chính có 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất, bao gồm: điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội và nhân tố không gian [17]
Trang 282.3.3.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên
Quá trình sử dụng đất đai cần phải chú ý đến các đặc tính và tính chất đất đai để xác định yếu tố hạn chế hay tích cực cho việc sử dụng đất hợp lý như chế
độ nhiệt, bức xạ, độ ẩm, yếu tố địa hình, thổ nhưỡng, xói mòn Các đặc tính, tính chất này được chia làm 2 loại: Điều kiện khí hậu và Điều kiện đất đai
- Điều kiện khí hậu:
Khí hậu là một thành phần rất quan trọng của hệ sinh thái đồng ruộng Nó cung cấp năng lượng chủ yếu cho quá trình tạo thành chất hữu cơ, mang lại năng suất cho cây trồng Có đến 90 - 95% chất hữu cơ của cây là do quá trình quang hợp với sự cung cấp năng lượng của ánh sáng mặt trời Cây trồng tận dụng cao nhất điều kiện khí hậu sẽ cho tổng sản phẩm và giá trị kinh tế cao nhất
- Điều kiện đất đai:
Các yếu tố địa hình, địa mạo, độ cao, độ dốc, hướng dốc, mức độ xói mòn thường dẫn tới sự khác nhau về đất đai và khí hậu, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và hoạt động của các ngành
Mỗi vùng đất khác nhau có các điều kiện tự nhiên khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sử dụng đất: khả năng sản xuất, xây dựng công trình, phát triển các ngành Do đó, để có phương án sử dụng đất hợp lý cần phải tuân thủ theo quy luật tự nhiên, tận dụng tối đa những thuận lợi, khắc phục những hạn chế để sử dụng đất mang lại hiệu quả cao nhất
2.3.3.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
Các nhân tố kinh tế - xã hội bao gồm các thể chế, chính sách, thực trạng phát triển các ngành, điều kiện cơ sở hạ tầng: giao thông, thủy lợi, xây dựng , trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí, dân số, lao động, việc làm
và đời sống văn hóa, xã hội
Các điều kiện tự nhiên là cơ sở để xây dựng phương án sử dụng đất nhưng các nhân tố kinh tế - xã hội sẽ quyết định phương án đã lựa chọn có thực hiện
Trang 29được hay không Phương án sử dụng đất được quyết định bởi khả năng của con người và các điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật hiện có
Điều kiện kinh tế - xã hội có tác động không nhỏ tới việc sử dụng đất đai, thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sử dụng đất hiệu quả của con người Vì vậy, khi lựa chọn phương cách sử dụng đất, ngoài việc dựa vào quy luật tự nhiên thì các nhân tố kinh tế xã hội cũng không kém phần quan trọng
2.3.3.3 Nhân tố không gian
Tính chất không gian bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, hình dạng, diện tích Đất đai không thể di dời từ nơi này đến nơi khác Đất đai phải khai thác tại chỗ, không thể chia cắt mang đi Trong thực tế, bất kỳ ngành sản xuất nào (nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, khai thác khoáng sản ) đều cần đến đất đai là điều kiện không gian cho các hoạt động Do đó, không gian là yếu
tố quan trọng quyết định hiệu quả của việc sử dụng đất, các nhân tố không gian có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sử dụng đất, nó sẽ gián tiếp quyết định hiệu quả của việc sử dụng đất
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, các yếu tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai
Tuy nhiên, mỗi yếu tố giữ vị trí và có tác động khác nhau Trong đó, điều kiện tự nhiên là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc, nhất là đối với sản xuất nông nghiệp; Điều kiện kinh
tế sẽ ảnh hưởng tác động của con người trong việc sử dụng đất; Điều kiện xã hội tạo ra những khả năng khác nhau cho các yếu tố kinh tế và tự nhiên tác động tới việc sử dụng đất Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế -
xã hội để nghiên cứu, xử lý mối quan hệ giữa các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong lĩnh vực sử dụng đất đai
Sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản
Trang 30xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với ý nghĩa
là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất được thể hiện theo 4 mặt sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất;
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất;
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất;
- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp, hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế, tập trung, thâm canh
2.3.4 Sử dụng đất và các mục đích kinh tế, xã hội, môi trường
Trong giai đoạn hiện nay việc sử dụng đất luôn hướng tới mục tiêu kinh
tế, nhằm đạt được lợi nhuận tối đa trên một đơn vị diện tích đất nhất định, bên cạnh đó là một phần diện tích đất không nhỏ được sử dụng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, ăn ở cũng như thỏa mãn đời sống tinh thần của con người
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất, các mục đích sử dụng đất nêu trên luôn nẩy sinh mâu thuẫn làm cho mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng, những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất (sai lầm
có ý thức hoặc vô ý thức) dẫn đến huỷ hoại môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng (các thảm họa sinh thái như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, trượt lở đất liên tục xẩy ra với quy mô ngày càng lớn và mức độ ngày càng nghiêm trọng), làm cho một số chức năng của đất bị yếu đi [10]
Những xung đột giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường rất đa dạng:
- Đất sản xuất nông nghiệp đối lập với quá trình đô thị hoá
- Phát triển thủy lợi đối lập với việc phân chia các nguồn tài nguyên nước cho đô thị và phát triển công nghiệp
Trang 31- Phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển đối lập với việc bảo vệ hệ sinh thái ven biển
- Sản xuất thuốc phiện đối lập với sản xuất lương thực thực phẩm ở một
số địa phương
- Quyền lợi của người bản địa và những người di cư
- Bảo vệ các giá trị sinh thái đối lập với nhu cầu về thực phẩm hoặc nông sản khác
- Các chủ sử dụng đất nhỏ mâu thuẫn với việc canh tác quy mô lớn
2.3.5.Quản lý bền vững tài nguyên đất
Quản lý bền vững tài nguyên đất là quy trình được xây dựng trên nền tảng kiến thức giúp tích hợp quản lý đất đai, nước sạch, đa dạng sinh học và môi trường (bao gồm cả các ảnh hưởng ngoại sinh đầu vào và đầu ra) để đáp ứng nhu cầu thực phẩm và vải vóc đang tăng lên trong khi vẫn duy trì các dịch vụ hệ sinh thái, quản lý bền vững tài nguyên đất là cần thiết để đáp ứng các yêu cầu dân số đang gia tăng Cách quản lý đất không hợp lý có thể dẫn đến thoái hóa đất và giảm năng lực sản xuất và dịch vụ Quản lý bền vững tài nguyên đất bao gồm các hoạt động:
- Duy trì và phát huy tiềm năng sản xuất của đất trồng trọt, đất rừng và các bãi chăn thả (như vùng cao, vùng đất dốc, vùng bằng phẳng và vùng đất trũng)
- Duy trì năng lực của đất rừng sản xuất và các nguồn dự trữ rừng thương mại và phi thương mại tiềm năng
Trang 32- Duy trì tính nguyên vẹn của các thác nước để vừa cung cấp nước và đáp ứng nhu cầu thủy điện, đồng thời duy trì các khu vực trữ nước
- Duy trì năng lực của các tầng ngập nước đề đáp ứng nhu cầu trồng trọt
và các hoạt động sản xuất khác
- Quản lý bền vững tài nguyên đất còn bao gồm các hoạt động nhằm chấm dứt và cải thiện tình trạng suy thoái đất hoặc ít ra là giảm thiểu những tác động bất lợi từ những cách thức sử dụng không hợp lý trước đó
Các hoạt động sử dụng đất đã làm biến đổi một phần lớn diện tích đất trên
bề mặt trái đất Với việc phát quang các khu rừng nhiệt đới, sản xuất nông nghiệp để sinh tồn, tập trung sản xuất trang trại, mở rộng trung tâm thành thị, con người đang biến đổi cảnh quan thế giới
2.4 Tình hình quy hoạch và thực hiện quy hoạch ở ngoài nước
Quy hoạch sử dụng đất một số nước trên thế giới
- Nhật Bản
Quy hoạch sử dụng đất ở Nhật Bản được phát triển từ rất lâu, đặc biệt được đẩy mạnh vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ 20 QHSDĐ ở Nhật Bản không những chú ý đến hiệu quả kinh tế, xã hội, mà còn rất chú trọng đến bảo vệ môi trường, tránh các rủi ro của tự nhiên như động đất, núi lửa…và được chia ra: QHSDĐ tổng thể và QHSDĐ chi tiết
QHSDĐ tổng thể được xây dựng cho một vùng lãnh thổ rộng lớn tương đương với cấp tỉnh, cấp vùng trở lên Mục tiêu của QHSDĐ tổng thể được xây dựng cho một chiến lược sử dụng đất dài hạn khoảng từ 15 - 30 năm nhằm đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội Quy hoạch này là định hướng cho quy hoạch sử dụng đất chi tiết Nội dung chủ yếu chỉ khoanh định cho các loại đất lớn như: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, đất cơ sở hạ tầng, đất khác
QHSDĐ chi tiết được xây dựng cho vùng lãnh thổ nhỏ hơn tương đương
Trang 33với cấp xã Thời kỳ lập quy hoạch chi tiết là 5-10 năm về nội dung quy hoạch chi tiết rất cụ thể, không những rõ ràng cho từng loại đất, các thửa đất và các chủ sử dụng đất, mà còn có những quy định chi tiết cho các loại đất như: về hình dáng, quy mô diện tích, chiều cao xây dựng…
- Cộng hòa Liên bang Nga
QHSDĐ ở Cộng hòa Liên bang Nga chú trọng việc tổ chức lãnh thổ, các biện pháp bảo vệ và sử dụng đất với các nông trang và các đơn vị sử dụng đất nông nghiệp QHSDĐ của Nga được chia thành hai cấp: quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết
Quy hoạch chi tiết với mục tiêu cơ bản là tổ chức sản xuất lãnh thổ trong các xí nghiệp hàng đầu về sản xuất nông nghiệp như các nông trang, nông trường Nhiệm vụ cơ bản của quy hoạch chi tiết là tạo ra những hình thức tổ chức lãnh thổ sao cho đảm bảo một cách đầy đủ, hợp lý, hiệu quả việc sử dụng từng khoanh đất cũng như tạo ra những điều kiện cần thiết để làm tăng tính khoa học của việc tổ chức lao động, việc sử dụng những trang thiết bị sản xuất với mục đích là tiết kiệm thời gian và tài nguyên
Quy hoạch chi tiết sẽ đưa ra phương án sử dụng đất nhằm bảo vệ và khôi phục độ phì của đất, ngăn chặn hiện tượng xói mòn đất, ngăn chặn việc
sử dụng đất không hiệu quả, làm tăng điều kiện sống của người dân
- Cộng hòa Liên bang Đức
Ở Cộng hoà Liên bang Đức, vị trí của quy hoạch sử dụng đất được xác
định trong hệ thống quy hoạch phát triển không gian (theo 4 cấp): Liên bang,
vùng, tiểu vùng và đô thị Trong đó, quy hoạch sử dụng đất được gắn liền với quy hoạch phát triển không gian ở cấp đô thị
Trong quy hoạch sử dụng đất ở Cộng hoà Liên bang Đức, cơ cấu sử dụng đất: Đất nông nghiệp và lâm nghiệp vẫn là chủ yếu, chiếm khoảng 85% tổng diện tích; diện tích mặt nước, đất hoang là 3%; đất làm nhà ở, địa điểm làm việc, giao thông và cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ cho dân chúng và nền kinh tế - gọi chung là đất ở và đất giao thông chiếm khoảng 12% tổng diện tích toàn Liên bang
Trang 34- Quy hoạch sử dụng đất Ai Cập và Trung Quốc cổ đại:
- Ai Cập và Trung Quốc cổ đại: quản lý đất đai là công việc của người
cai trị (nhà nước) có từ lâu đời, Ai Cập cổ đại khoảng 3.000 năm trước công nguyên, Trung Quốc cách đây 2.600 năm (năm 554 trước công nguyên) đã
xuất hiện thuế đất nông nghiệp Luật về đất chưa sử dụng liên quan đến quy hoạch sử dụng đất đai ở Anh, Mỹ có từ rất sớm: Năm 1267 có Luật này áp dụng ở xứ Marlborough và năm 1278 luật này áp dụng ở xứ Gloucester; [31]
- Quy hoạch sử dụng đất đô thị ở Anh
Để bắt tay vào công việc xây dựng lại sau chiến tranh, năm 1947 chính phủ Anh đã sửa đổi và công bố Luật kế hoạch đô thị và nông thôn, trong đó điều thay đổi quan trọng nhất là xác lập chế độ quốc hữu về quyền phát triển
và xây dựng chế độ cho phép khai thác Quy định mọi loại đất đều phải đưa vào chế độ quản lý, mọi người nếu muốn khai thác đất đai, trước hết phải được cơ quan quy hoạch địa phương cho phép khai thác, cơ quan quy hoạch địa phương căn cứ vào quy định của quy hoạch phát triển để xem liệu có cho phép hay không Chế độ cho phép khai thác trở thành biện pháp chủ yếu của chế độ quản lý quy hoạch đất đai
- Quy hoạch sử dụng đất đô thị ở Hàn Quốc
Năm 1972 “Luật Sử dụng và Quản lý đất đai quốc gia” chia toàn bộ đất đai cả nước thành 10 loại phân khu sử dụng Đồng thời chỉ định các khu hạn chế phát triển, gọi là đai xanh, trong khu hạn chế này ngoài những vật kiến trúc cần phải duy trì ra, cấm tất cả mọi khai thác Ý đồ dùng sự ngăn cách của các đai xanh để khống chế sự phát triển nhảy cóc, bảo vệ đất nông nghiệp và các điều kiện nghỉ ngơi, giải trí; đảm bảo cung ứng đất làm nhà ở một cách hợp lý “Kế hoạch 10 năm về phát triển tổng hợp toàn quốc”, mục đích là phân tán nhân khẩu của đô thị lớn, đồng thời phối hợp với “phương án phát triển khu vực” để kích thích tăng trưởng của vùng sâu, vùng xa, thu hút nhân khẩu quay về Theo “kế hoạch quản lý khu vực thủ đô” của Hàn Quốc đưa ra năm 1981, thì cấm tiến
Trang 35hành khai thác quy mô lớn ở thủ đô để tránh việc nhân khẩu ồ ạt đổ vào, sau đó
là dùng phương thức chế độ quản lý tổng ngạch khống chế số lượng chiêu sinh đại học khu vực Hán Thành Trên thực tế, Hàn Quốc sau hai, ba mươi năm nỗ lực, cuối cùng vẫn đối mặt với thất bại Dùng “chính sách đai xanh” lại làm cho giá nhà tăng cao, tạo thành tiền bồi thường đất đai quá cao, việc thu hồi đất đai
để xây dựng công trình công cộng của chính phủ gặp khó khăn và bế tắc
2.5 Quy hoạch sử dụng đất đai ở Việt Nam
2.5.1.Tình hình quy hoạch đất đai ở nước ta qua các thời kỳ
2.5.1.1 Thời kỳ 1975 – 1980
Thời kỳ này Chính phủ đã lập quy hoạch trong cả nước, kết quả đạt được là cuối năm 1980 đã xây dựng xong các phương án quy hoạch phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản của cả nước, trong đó coi quy hoạch đất nông nghiệp, lâm nghiệp là luận chứng quan trọng
để phát triển Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất trong quy hoạch đất đai thời kỳ này
là số liệu điều tra cơ bản về thống kê đất đai, về thổ nhưỡng, điều kiện tự nhiên chưa đầy đủ Tính khả thi chưa cao vì chưa tính đến khả năng về đầu tư [12]
2.5.1.2 Thời kỳ 1981 – 1986
Để thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng, nghiên cứu chiến lược kinh tế, xã hội dự thảo kế hoạch triển vọng, kế hoạch cho 5 năm sau (1986 – 1990)” Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng đã yêu cầu các ngành, các địa phương, các cơ quan khoa học tập trung chỉ đạo chương trình lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất ở nước ta trong thời kỳ 1986 – 2000 (lập quy hoạch, kế hoạch sản xuất vùng trọng điểm, khu công nghiệp, du lịch, xây dựng thành phố)
Trong thời kỳ này kết quả đã được nâng lên một bước về nội dung và cơ
sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất Tuy nhiên trong thời kỳ này quy hoạch
sử dụng đất cấp xã chưa được đề cập đến, còn quy hoạch cấp huyện, cấp tỉnh và
cả nước đã được đề cập đến nhưng chưa đầy đủ [26]
Trang 362.5.1.3 Thời kỳ từ năm 1987 đến năm 1993
Ngày 29/12/1987 Quốc hội khoá VIII thông qua Luật Đất đai và chủ tịch Hội đồng Nhà nước công bố ngày 08/01/1988 Đây là Luật đất đai đầu tiên được ban hành và dành một số điều cho quy hoạch như xác định vai trò, vị trí của công tác quy hoạch và quản lý sử dụng đất trong nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên Luật Đất đai 1988 chưa nêu ra nội dung của quy hoạch sử dụng đất
Ngày 15/4/1991 Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã ra thông tư 106/QH-KHKĐ xây dựng quy hoạch sử dụng đất tương đối cụ thể và hoàn chỉnh ở các cấp
Ngày 18/2/1992 Tổng cục Quản lý ruộng đất đã kịp thời hoàn thành tài liệu hướng dẫn lập quy hoạch phân bổ đất đai cấp xã Do đó công tác quy hoạch sử dụng đất được đẩy mạnh một bước, đặc biệt là công tác quy hoạch
sử dụng đất cấp xã được thực hiện
2.5.1.4 Thời kỳ từ 1993 đến năm 2003
Ngày 15/10/1993 Luật Đất đai sửa đổi được công bố và có hiệu lực Trong luật này, các điều khoản nói về quy hoạch đã được cụ thể hoá hơn so với Luật Đất đai năm 1988 Luật Đất đai năm 1993 tăng cường quyền hạn của cơ quan quyền lực Nhà nước trong việc quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất [15]
Từ nhận thức rõ tầm quan trọng của Quản lý nhà nước về đất đai nói chung và quy hoạch sử dụng đất nói riêng trong thời kỳ này Luật Đất đai được sửa đổi vào năm 1998 và năm 2001 Đồng thời trong cùng thời gian để tăng cường công tác quy hoạch sử dụng đất trong phạm vi cả nước và căn cứ theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính, Chính phủ ra Nghị định số 68/NĐ-CP ngày 01/10/2001 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Để thực hiện Nghị định 68/NĐ-CP, ngày 01/11/2001 Tổng cục Địa chính có Thông tư số 1842/TT-TCĐC hướng dẫn thi hành Nghị định 68/NĐ-CP của Chính Phủ [15]
Trong giai đoạn này, Tổng cục Địa chính cho triển khai lập quy hoạch sử
Trang 37dụng đất cả nước và các tỉnh, các huyện Hầu hết các địa phương trong cả nước
đã lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
2.5.1.5 Từ khi có Luật Đất đai 2003 cho đến nay
Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, cũng như đảm bảo quyền quản
lý đất đai của Nhà nước theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Đất đai 2003 thay cho Luật Đất đai 2001 và Luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 Trong đó quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được nhấn mạnh trong Chương 2 Mục 2 của Luật Đất đai năm 2003
Để thực hiện Luật Đất đai 2003, Chính phủ ban hành Nghị định
181/NĐ-CP về việc hướng dẫn thi hành luật, trong đó Chương III Điều 12 cũng ghi cụ thể nội dung quy hoạch sử dụng đất [5]
Để công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thống nhất trong
cả nước Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành các Thông tư số BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Thông tư số 28/2004/TT–BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng ban hành Quyết định số 04/2007/QĐ–BTNMT về việc ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất [2]
30/2004/TT-2.5.2.Công tác lập quy hoạch trên phạm vi cả nước
Luật Đất đai năm 1993 ra đời tạo cơ sở pháp lý cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai đầy đủ hơn Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã góp phần đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý nhà nước về đất đai Thông qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước thực hiện quyền định đoạt về đất đai, nắm được quỹ đất đai đến từng loại, bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, gắn chuyển mục đích sử dụng đất với mục
Trang 38tiêu phát triển kinh tế - xã hội, có cơ sở để điều chỉnh chính sách đất đai tại mỗi địa phương, chủ động giành quỹ đất hợp lý cho phát triển các ngành, các lĩnh vực, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vừa đảm bảo ổn định các mục tiêu xã hội vừa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Từng bước chủ động dành quỹ đất hợp lý cho xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội, phát triển kết cấu hạ tầng cho công nghiệp, dịch vụ, đô thị Qua công tác quy hoạch sử dụng đất đai, UBND các cấp nắm chắc được quỹ đất đai của địa phương mình, có dự tính được nguồn thu từ đất cho ngân sách nhà nước
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được quy định trong Luật Đất đai 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 68/NĐ-CP ngày 01/10/2001 quy định nội dung cụ thể về lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất của các cấp địa phương Từ năm 1994, Chính phủ đã cho triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 Tuy vậy, cũng phải đến năm 2004, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI, Quốc hội mới ra Nghị quyết số 29/2004/QH11 thông qua quy hoạch sử dụng đất đai
cả nước đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2005; Bộ Quốc phòng và Bộ Công an tiến hành công tác rà soát quy hoạch sử dụng đất an ninh, quốc phòng và đã được Chính phủ phê duyệt [21]
Nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới của xã hội nói chung và đòi hỏi về công tác quản lý đất đai nói riêng, Luật Đất đai năm 2003 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày
26 tháng 11 năm 2003, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 Khung pháp
lý đối với công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định rõ: Luật Đất đai 2003 quy định tại mục 2 chương II (gồm 10 điều, từ Điều 21 đến Điều 30); Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định tại chương III (gồm 18 điều, từ Điều 12 đến Điều 29), Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính Phủ quy định tại Chương II (gồm 8 điều, từ điều 3 đến Điều 10)
Trang 39Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ nội dung việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp Đối với kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm và kỳ
kế hoạch là 5 năm Việc lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất là 5 năm một lần gắn với việc kiểm kê đất đai để phục vụ cho công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất được tốt hơn Bản đồ quy hoạch sử dụng đất được lập 10 năm một lần gắn với kỳ quy hoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất cấp xã phải được lập trên nền bản đồ địa chính Ngoài ra, để cho việc quản lý đất đai được thuận lợi hơn, đất đai được chia thành 3 nhóm đất chính: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng Bộ Tài nguyên
và Môi trường đã ban hành Thông tư hướng dẫn số 30/2004/TT-BTNMT và quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và quy trình lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất các cấp và Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Theo kết quả báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường Đến năm 2007, cùng với quy hoạch sử dụng đất đai cả nước, đã có 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng xong phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2006 – 2010)
Đối với cấp huyện, đã có 531/681 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoàn thành việc lập quy hoạch đến năm 2010 (đạt 78 %); 98 huyện đang triển khai (chiếm 14 %); còn lại 42 huyện chưa triển khai (chiếm 8 %), phần lớn
là các đô thị (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh)
Đối với cấp xã, đã có 7.676/11.074 xã, phường, thị trấn đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 (đạt 68 %); 1.507 xã đang triển khai (chiếm
14 %); còn lại 1.991 xã chưa triển khai (chiếm 18 %) Trong số các xã đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 có 1.358 xã đã lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết thể hiện trên bản đồ địa chính theo quy định của Luật Đất đai
2.6 Tình hình quy hoạch sử dụng đất và thực hiện quy hoạch tỉnh Phú Thọ
Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được UBND tỉnh Phú Thọ
Trang 40quan tâm tổ chức thực hiện Tỉnh Phú Thọ đã tổ chức lập quy hoạch sử dụng đất
3 cấp tỉnh, huyện xã đến năm 2010, cụ thể như sau:
2.6.1.Đối với cấp tỉnh
Thực hiện Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Đất đai của Chính phủ cũng như của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cuối năm 2005, tỉnh Phú Thọ đã tiến hành rà soát và lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006- 2010) của tỉnh Sau đó, UBND tỉnh Phú Thọ đã trình Hội đồng thẩm định (gồm các bộ, ngành
ở Trung ương) và trình Chính phủ phê duyệt Việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) của tỉnh Phú Thọ đã được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 56/2007/NQ-CP ngày 20/11/2007[25]
2.6.2 Đối với cấp huyện
Thực hiện Luật Đất đai năm 2003, đầu năm 2005, UBND tỉnh đã giao cho
Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo các huyện, thành, thị lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) của địa phương và thông qua Hội đồng thẩm định cấp tỉnh Đến nay, UBND tỉnh phê duyệt hồ sơ của 9 huyện: Cẩm Khê, Thanh Ba, Hạ Hoà, Đoan Hùng, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ và Yên lập
Hai huyện Thanh Sơn và Tân Sơn do điều chỉnh địa giới hành chính nên đến nay đang tiến hành lập Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 theo chỉ đạo của UBND tỉnh
Thành phố Việt Trì và thị xã Phú Thọ do trước đây chưa có quy hoạch chung xây dựng đô thị nên không thực hiện việc lập Quy hoạch sử dụng đất mà chỉ xây dựng Kế hoạch sử dụng đất hàng năm, trình UBND tỉnh phê duyệt Sau khi có quy hoạch chung xây dựng đô thị được phê duyệt, đến tháng 7/2007 hai địa phương này mới bắt đầu triển khai lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2007-2015 Hiện nay, UBND tỉnh đang xem xét phê duyệt [25]