8 CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu Gatsi và Akoto 2010 mô tả khái niệm cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ và vốn cổ phần để tạo thành cấu trúc vốn của doanh nghiệp và giải thích rằn
Trang 11
MỤC LỤC
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THAM GIA CÁC THÀNH VIÊN 4
PHẦN 1: NGHIÊN CỨU PAPER……… 6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
DANH MỤC HÌNH VẼ 7
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 8
1.1 Giới thiệu 8
1.2 Lý do chọn đề tài 8
1.3 Vấn đề nghiên cứu 9
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu 9
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 10
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
1.5 Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của đề tài 11
1.6 Kết cấu của đề tài 11
CHƯƠNG II: TỔNG QUÁT CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 12
2.1 Các lý thuyết kinh điển về cấu trúc vốn doanh nghiệp 12
2.1.1 Lý thuyết cấu trúc vốn của MM 12
2.1.2 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn. 14
2.1.3 Chi phí thông tin bất cân xứng 15
2.1.4 Lý thuyết trật tự phân hạng 16
2.1.5 Lý thuyết thời điểm thị trường 17
2.1.6 Lý thuyết tín hiệu của chính sách cổ tức 18
Trang 22
2.1.7 Cấu trúc vốn và lợi ích từ thuế 19
2.1.8 Chi phí phá sản 19
2.1.9 Chi phí đại diện 21
2.2 Các nghiên cứu trước đây: 22
2.2.1 Nghiên cứu của Anthony Hercules Turkson và cộng sự (2013): Cấu trúc vốn và khả năng sinh lợi của các công ty phi tài chính ở Ghana: 22
2.2.2 Abor (2005) 23
2.2.3 Gatsi, J.G, & Akoto, R K (2010) 23
2.2.4 Titman, S & Wessels, R (1988). 26
2.3 Các nhân tố trong cấu trúc vốn tác động lên khả năng sinh lợi: 28
2.3.1 Nợ ngắn hạn: 29
2.3.2 Nợ dài hạn: 30
2.3.3 Tổng nợ 31
2.3.4 Quy mô doanh nghiệp: 34
2.3.5 Tăng trưởng doanh thu: 35
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.1 Phương pháp nghiên cứu: 37
3.2 Cơ sở dữ liệu 37
3.3 Mô hình hồi quy nghiên cứu 38
3.6 Các giả thuyết nghiên cứu 39
CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
4.1 Thống kê mô tả: 41
4.2 Ma trận tương quan: 43
4.3 Kết quả hồi quy: 45
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 51
Trang 33
5.1 Kết luận 52
5.2 Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất nghiên cứu trong tương lai ………53
5.3 Khuyến nghị……… 54
Phụ lục 1……….56
Phụ lục 2 Phụ lục 3 PHẦN 3: CÂU HỎI THẢO LUẬN………60
Câu hỏi 1:………60
Câu hỏi 2:………68
Trang 4Dịch paper Tìm dữ liệu Làm phần 1
Tìm tài liệu, Làm phần 1 Tổng hợp bài
Tìm tài liệu
Dịch paper Tìm dư liệu Làm phần 4,5 Tổng hợp bài
Tìm tài liệu Làm phần 2
Tìm tài liệu Làm phần 1
100%
Dịch paper Tìm dữ liệu Làm phần 2 Chỉnh sửa bài
Tìm tài liệu Làm phần 3 Chỉnh sửa bài
Tìm tài liệu Làm phần 2
Dịch paper Tìm dữ liệu Làm phần 2, 3
Tìm tài liệu Làm phần 3
Tìm tài liệu Làm phần 2 Tổng hợp bài
100%
Trang 55
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
WACC Chi phí sử dụng vốn bình quân
HOSE Sàn Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 66
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Tóm tắt thống kê mô tả giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc
Bảng 2 Ma trận tương quan giữa các biến
Bảng 3 Kết quả mô hình hồi quy (biến phụ thuộc ROA)
Bảng 4 Kết quả mô hình hồi quy (biến phụ thuộc ROE)
Bảng 5 Kết quả mô hình hồi quy (biến phụ thuộc NPM)
Trang 88
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
1.1 Giới thiệu
Gatsi và Akoto (2010) mô tả khái niệm cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ và vốn
cổ phần để tạo thành cấu trúc vốn của doanh nghiệp và giải thích rằng tỷ lệ nợ trên vốn
cổ phần là lựa chọn chiến lược của các nhà quản lý
Van Horne và Wachowicz (2008) khẳng định rằng cấu trúc vốn là một sự trộn
lẫn hoặc tỷ lệ của các chỉ tiêu tài chính dài hạn như nợ, cổ phần ưu đãi với cổ phần
thường Điều đó chứng tỏ rằng quyết định lựa chọn tỷ lệ thích hợp trong cấu trúc vốn
gồm vốn cổ phần và nợ có thể giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu cao nhất về tối đa
hóa lợi nhuận
Marfo-Yiadom và Boachie-Mensah (2010) cũng ủng hộ Van Horne và
Wachowicz (2008) tuyên bố rằng tỷ suất sinh lời đo lường hiệu quả quản lý được biểu
thị bằng doanh thu trên doanh số và đầu tư Ross, Weterfield và Jordan (2008) cũng giải
thích rằng doanh thu trên tài sản và doanh thu trên vốn cổ phần là những nhân tố chính
để đánh giá khả năng sinh lời của một công ty
Cũng liên quan đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính, Van Horne và Wachowicz (2008) cho
rằng tỷ lệ đòn bẩy tài chính cho thấy sự mở rộng của những công ty được tài trợ bởi nợ,
tỷ lệ này có thể được chia thành nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và tổng nợ
Những nghiên cứu trên đây tập trung nghiên cứu tình hình tài chính của các công
ty tài chính và phi tài chính ở Ghana (trong đó công ty phi tài chính ít được chú ý hơn)
Thực tế vẫn có nhiều khác biệt đặc trưng về các ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến khả
năng sinh lợi của công ty từng mỗi quốc gia Bài nghiên cứu cũng cho thấy rằng, mặc
dù có một vài sự thấu hiểu về học thuyết tài chính hiện đại được ứng dụng cho các
nước, nhưng vẫn còn nhiều thứ cần được nghiên cứu thêm để có thể kiểm tra sự ảnh
hưởng của cấu trúc vốn lên khả năng sinh lời của các công ty phi tài chính được niêm
yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam
1.2 Lý do chọn đề tài
Trang 99
Các bằng chứng trên đã cho thấy rằng các nghiên cứu về mối quan hệ giữa đòn
bẩy tài chính và khả năng sinh lời của một công ty thì vẫn chưa được kết luận thống
nhất Các bằng chứng cũng cho thấy rằng đối với các công ty phi tài chính, việc nghiên
cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và khả năng sinh lời cũng đã được chú ý nhưng
chưa được nghiên cứu một cách chính thức Trong khi các công ty phi tài chính đóng
một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Ngoài việc cung cấp
các cơ hội việc làm cho công dân, công ty phi tài chính còn cung cấp hàng hóa, dịch vụ
và trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng người Một quyết định quan trọng của nhà
quản lý các công ty phi tài chính phải đối mặt là sự lựa chọn nợ - vốn chủ sở hữu So
với những lựa chọn khác, sự lựa chọn này là cần thiết cho việc xác định lợi nhuận của
công ty Điều này có nghĩa là các công ty thực hiện thận trọng sự lựa chọn giữa nợ và
vốn chủ sở hữu sẽ có một lợi thế cạnh tranh trong ngành
Vì vậy nhóm đã chọn đề tài “Cấu trúc vốn và khả năng sinh lợi của các công
ty phi tài chính Việt Nam” để kiểm chứng tác động của cấu trúc vốn lên tỷ suất sinh
lời của các công ty phi tài chính đã được chọn ở Việt Nam và đặc biệt nghiên cứu mối
quan hệ giữa đòn bẫy tài chính và tỷ suất sinh lời của những công ty được nghiên cứu
1.3 Vấn đề nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là là kiểm chứng cấu trúc vốn và ảnh hưởng của cấu trúc
vốn lên tỷ suất sinh lời của các công ty phi tài chính được niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam
Nghiên cứu tập trung vào các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam trong thời kỳ từ năm 2008 đến năm 2012
Những mục tiêu nghiên cứu cụ thể hơn của bài nghiên cứu là:
- Tìm ra mối liên hệ giữa doanh thu trên tài sản, doanh thu trên vốn cổ phần, biên lợi
nhuận ròng với nợ ngắn hạn
- Tìm ra mối liên hệ giữa doanh thu trên tài sản, doanh thu trên vốn cổ phần, biên lợi
nhuận ròng với nợ dài hạn
Trang 1010
- Tìm ra mối liên hệ giữa doanh thu trên tài sản, doanh thu trên vốn cổ phần, biên lợi
nhuận ròng với tổng nợ
- Tìm ra mối liên hệ giữa doanh thu trên tài sản, doanh thu trên vốn cổ phần, biên lợi
nhuận ròng với quy mô của công ty
- Tìm ra mối liên hệ giữa doanh thu trên tài sản, doanh thu trên vốn cổ phần, biên lợi
nhuận ròng với tăng trưởng doanh thu
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Dựa trên các lý do cho việc lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, nhóm đề xuất
các câu hỏi nghiên cứu liên quan đến việc nghiên cứu cấu trúc vốn và khả năng sinh lợi
của các công ty phi tài chính niêm yết tại Việt Nam như sau:
- Doanh thu trên tài sản hay doanh thu trên vốn cổ phần hay biên lợi nhuận ròng có
quan hệ cùng chiều với nợ ngắn hạn hay không?
- Doanh thu trên tài sản hay doanh thu trên vốn cổ phần hay biên lợi nhuận ròng có
quan hệ cùng chiều với nợ dài hạn hay không?
- Doanh thu trên tài sản hay doanh thu trên vốn cổ phần hay biên lợi nhuận ròng có
quan hệ cùng chiều với tổng nợ hay không?
- Doanh thu trên tài sản hay doanh thu trên vốn cổ phần hay biên lợi nhuận ròng có
quan hệ cùng chiều với quy mô công ty hay không?
- Doanh thu trên tài sản hay doanh thu trên vốn cổ phần hay biên lợi nhuận ròng có
quan hệ cùng chiều với tăng trưởng doanh số hay không?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các công ty phi tài chính niêm yết trên hai sàn giao dịch
chứng khoán Việt Nam: Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao
dịch chứng khoán Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: do những hạn chế về số liệu nên nhóm chọn mẫu các công ty
phi tài chính niêm yết tính đến ngày 31/12/2012 Số liệu nhóm chọn khảo sát là số liệu
lấy từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán từ năm 2008 đến năm 2012
Trang 1111
1.5 Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của đề tài
Bài nghiên cứu này được tiến hành có ý nghĩa khoa học rất quan trọng trên cả
phương diện lý luận và thực tiễn, cụ thể:
Về mặt lý luận: hệ thống lại các học thuyết về cấu trúc vốn, kiểm chứng cấu trúc
vốn và ảnh hưởng của cấu trúc vốn lên tỷ suất sinh lời của các công ty phi tài chính, từ
đó cho chúng ta thấy rõ vai trò quan trọng của cấu trúc vốn đối với sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp
Về mặt thực tiễn: đề tài giúp xác định sự tác động của cấu trúc vốn đến tỷ suất
sinh lời của các công ty phi tài chính niêm yết tại Việt Nam, đồng thời cung cấp thêm
bằng chứng thực nghiệm cho một số học thuyết về cấu trúc vốn, giúp các doanh nghiệp
có cái nhìn thấu đáo hơn về cấu trúc vốn doanh nghiệp, để từ đó có thêm cơ sở để hoạch
định và xây dựng một cấu trúc vốn tối ưu
1.6 Kết cấu của đề tài
Kết cấu của đề tài gồm 05 chương:
Chương 1: Giới thiệu chung, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và
phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Nêu khái quát các lý thuyết kinh điển về cấu trúc vốn doanh nghiệp
Trình bày các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến cấu trúc vốn và khả năng sinh lợi
trên thế giới
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và cơ sở dữ liệu, việc thu thập và xử lý dữ
liệu, mẫu nghiên cứu, mô hình hồi quy sử dụng và các giả thuyết nghiên cứu
Chương 4: Trình bày các kết quả nghiên cứu định lượng thu được từ mô hình hồi
quy
Chương 5: Kết luận, kiến nghị, hướng nghiên cứu tiếp theo và các hạn chế của đề
tài
Trang 1212
CHƯƠNG II: TỔNG QUÁT CÁC NGHIÊN CỨU
TRƯỚC ĐÂY
2.1 Các lý thuyết kinh điển về cấu trúc vốn doanh nghiệp
2.1.1 Lý thuyết cấu trúc vốn của MM
Các nghiên cứu về cấu trúc vốn có thể hầu như không hoàn thiện nếu không đề
cập đến lý thuyết MM Trong lĩnh vực tài chính, họ được xem như những nhà tiên
phong của lý thuyết cấu trúc vốn Trong đóng góp về lý thuyết của họ gồm có hai định
đề chính MM1 và MM2
Định đề MM I
Định đề MM I khẳng định rằng hoàn toàn độc lập một doanh nghiệp lựa chọn để
sắp xếp các tài trợ của mình Một cách nói khác, giá trị của doanh nghiệp thì hoàn toàn
độc lập với cấu trúc vốn Năm 1963, định đề MM I khẳng định rằng hoàn toàn độc lập
bằng cách nào một doanh nghiệp lựa chọn để sắp xếp các tài trợ của mình Mặt khác,
giá trị của doanh nghiệp thì hoàn toàn độc lập với cấu trúc vốn năm 1963 Theo MM,
công ty A có giá trị tổng cộng 100% trong đó nợ 60% và vốn cổ phần 40% Công ty B
với nợ 40% và vốn cổ phàn 60% Hai công ty này được biểu thị trong hình 01
Hình 1: Hai mô hình của cấu trúc vốn
%
S t o c
k 6 0
%
S t o c
k 4 0
%
Trang 1313
Xem xét trong hình 1, kết luận rằng, giá trị của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc
vốn, do đó hai doanh nghiệp giống nhau có thể chọn những phương án khác nhau về tài
chính cho tài sản và các hoạt động tương tự
Định đề II của MM
Định đề II của MM chỉ ra rằng mặc dù thay đổi cấu trúc vốn của doanh nghiệp có
thể không thay đổi giá trị của doanh nghiệp, nhưng nó gây ra những thay đổi quan trọng
đến tỷ lệ nợ và vốn cổ phần Modigliani và Miler (1963) đã bỏ qua các loại thuế, và giải
thích những thay đổi này bằng cách sử dụng một hàm tuyến tính được minh họa trong
hình 2
Chi phí vốn (%)
h 2: Chi phí sử dụng vốn
Từ hình 2, có thể nhận thấy chi phí vốn chủ sở hữu, RE, được tính bằng độ dốc
của đường thẳng (RA-RD) Trục Y tương ứng với công ty có tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần là
không, vì vậy RA=RE Hình 2 cho thấy, nếu các công ty gia tăng tỷ lệ nợ trên vốn cổ
phần, sự gia tăng đòn bẩy tài chính làm tăng rủi ro vốn cổ phần và do đó đòi hỏi một tỷ
suất sinh lợi dự kiến từ vốn cổ phần (RE) cao hơn
Trang 1414
Định đề II của MM cho chúng ta biết rằng chi phí sử dụng vốn cổ phần phụ thuộc
vào ba điều: Tỷ suất sinh lợi từ tài sản, tỷ suất sinh lợi dự kiến từ nợ và tỷ lệ nợ trên vốn
cổ phần của doanh nghiệp Điều này thiết lập ra phương trình từ hình 2, là:
RE= RA + (RA-RD) x (D/E)
Trong đó:
RE: Tỷ suất sinh lợi từ vốn cổ phần
RA: Tỷ suất sinh lợi từ tài sản
RD: Tỷ suất sinh lợi từ nợ
D/E: Tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần
Phương trình là một mối quan hệ tuyến tính giữa RE và D/E MM cho rằng chi
phí vốn cổ phần của một doanh nghiệp là một hàm tuyến tính dương của cấu trúc vốn
Có thể kết luận từ hình 2 rằng chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) hoặc tỷ
suất sinh lợi từ tài sản của doanh nghiệp (RA) không phụ thuộc vào tỷ lệ nợ trên vốn cổ
phần Do đó, nó biểu thị rằng chi phí sử dụng vốn không bị ảnh hưởng bởi cấu trúc vốn
Trong ngắn hạn, thực tế là chi phí sử dụng nợ thấp hơn so với chi phí sử dụng vốn cổ
phần được bù đắp bởi sự gia tăng trong chi phí sử dụng vốn cổ phần từ các khoản vay
Nói cách khác, sự thay đổi trong trọng số cấu trúc vốn (E/V và D/V) được bù đắp bởi sự
thay đổi trong chi phí sử dụng vốn cổ phần (RE), do đó WACC vẫn bằng nhau
2.1 2 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn
Theo Ross và cộng sự (2008) cho rằng giá trị doanh nghiệp sử dụng vốn vay sẽ
tăng thêm nhờ nguồn giảm trừ thuế Ross và cộng sự gọi lý thuyết này là lý thuyết đánh
đổi cấu trúc vốn ổn địnhvì nó giả định rằng tài sản và hoạt động của công ty là cố định
và nó chỉ xem xét các khả năng có thể thay đổi của tỷ số Nợ/Vốn chủ sở hữu Tuy mô
hình này cũng không chỉ ra được chính xác cấu trúc vốn tối ưu, nhưng nó đã chỉ ra hai
nhân tố phù hợp là thuế và chi phí kiệt quệ tài chính
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn ổn định đã được đặt câu hỏi bởi nhiều tác giả, bao
gồm Miller (1977), đã phản bác bằng lập luận rằng mô hình cân bằng tĩnh có nghĩa là
các doanh nghiệp nên có đòn bẩy tài chính cao hơn mức mà họ có thể chịu đựng, bởi vì
Trang 1515
lợi ích từ các khoản tiết kiệm thuế từ các khoản nợ lớn hơn so với chi phí kiệt quệ tài
chính
Ý nghĩa của lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn ổn định
Các mô hình cân bằng tĩnh, các lợi ích về thuế từ đòn bẩy tài chính rõ ràng là chỉ
quan trọng đối với các doanh nghiệp đang nộp thuế Các doanh nghiệp có lỗ lũy kế lớn
sẽ nhận được ít giá trị từ lá chắn thuế Hơn nữa, các công ty có lá chắn thuế đáng kể từ
các nguồn khác, chẳng hạn như khấu hao, sẽ nhận được ít lợi ích từ đòn bẩy tài chính
(theo Ross và cộng sự, 2008) Ngoài ra cần lưu ý rằng không phải tất cả các doanh
nghiệp có cùng một mức thuế suất như nhau Mức thuế càng cao thì ưu đãi cho vay càng
lớn
Các mô hình cân bằng tĩnh cho rằng các doanh nghiệp có nguy cơ cao trải qua
khủng hoảng tài chính sẽ vay ít hơn các doanh nghiệp có nguy cơ thấp Ví dụ như
những biến động trong lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT), ít hơn một doanh nghiệp
phải vay Bên cạnh đó khủng hoảng tài chính là tốn kém đối với một số doanh nghiệp
Chi phí của khủng hoảng tài chính chủ yếu phụ thuộc vào tài sản của doanh nghiệp Đặc
biệt, chi phí khủng hoảng tài chính được xác định bằng cách dễ dàng sở hữu những tài
sản có thể được chuyển giao
2.1.3 Chi phí thông tin bất cân xứng
Myers và Majluf (1984) cho rằng các khái niệm về cấu trúc vốn tối ưu dựa trên
khái niệm về thông tin bất cân xứng Theo họ, sự tồn tại của thông tin bất cân xứng giữa
doanh nghiệp và các nhà cung cấp tài chính có thể gây ra các chi phí tài chính tương đối
khác nhau giữa các nguồn tài chính khác nhau Họ cũng chỉ ra rằng nguồn tài chính nội
bộ mà doanh nghiệp là các nhà cung cấp vốn, sẽ có thêm nhiều thông tin hơn cho các cổ
đông mới, do đó các chủ sở hữu mới sẽ mong đợi một tỷ suất lợi nhuận trên đầu tư cao
hơn Điều này cũng có nghĩa là chi phí để doanh nghiệp phát hành cổ phiếu mới cao hơn
là sử dụng vốn nội bộ Tương tự thì lập luận này có thể được cung cấp giữa tài chính nội
bộ và các chủ nợ mới
Gatsi và Akoto (2010) cũng cho rằng sự xuất hiện của thông tin bất cân xứng này
là “khoảng cách” giữa các nhà quản lý và các nhà đầu tư đã dẫn đến việc xây dựng hai
Trang 1616
lý thuyết riêng biệt nhưng có liên quan đến các quyết định tài chính, cụ thể là: Lý thuyết
thời điểm thị trường và Lý thuyết tín hiệu của chính sách cổ tức, được xem xét trong mô
hình “trật tự phân hạng”
Barclay và Smith (2005) cũng cho rằng giám đốc điều hành kinh doanh thường
có thông tin tốt hơn về giá trị của doanh nghiệp so với các nhà đầu tư bên ngoài Klein,
O’Brien và Peter (2002) cho rằng trong tài chính doanh nghiệp, thông tin bất cân xứng
đề cập đến ý tưởng rằng trong một doanh nghiệp, các nhà quản lý có kiến thức cao hơn
các thành viên khác trên thị trường Thông tin bất cân xứng thường là lý do khiến các
thành viên khác trên thị trường định giá sai lệch về công ty và vì thế đòi hỏi một tỷ suất
dương cho quyết định đầu tư tài chính
2.1.4 Lý thuyết trật tự phân hạng
Lý thuyết này giải thích cách các doanh nghiệp sử dụng vốn nội bộ ban đầu được
tạo ra để tài trợ cho hoạt động của mình thay vì vay vốn bên ngoài
Năm 1984, Myers và Majluf lưu ý rằng lý thuyết trật tự phân hạng về cách thức
doanh nghiệp sẽ dựa vào nguồn vốn bên trong của mình thay vì vay bên ngoài để tài trợ
của hoạt động của mình
Gatsi và Akoto (2010) có ý kiến cho rằng chi phí vay vốn bên ngoài là cao vì
người nội bộ sẽ có thêm thông tin hơn so với các nhà đầu tư bên ngoài, các nhà đầu tư
bên ngoài biết điều này và vì vậy họ sẽ yêu cầu một tỷ suất sinh lợi cao hơn
Vì vậy từ quan điểm của nhà đầu tư bên ngoài, vốn là rủi ro hơn nợ, đo đó đòi
hỏi một chi phí cao hơn là việc vay nợ Vì vậy, trong nội bộ doanh nghiệp nhận thấy nợ
là một nguồn tài trợ tốt hơn vốn cổ phần và lợi nhuận giữ lại thậm chí còn tốt hơn
Myers và Majluf (1984) cho rằng các công ty thích lợi nhuận giữ lại để nợ và chỉ
phát hành cổ phiểu như là một phương án cuối cùng Abor (2008) cho rằng vay nợ chỉ
sử dụng khi không đủ nguồn vốn nội bộ, và cổ phiếu chỉ được sử dụng như một phương
án cuối cùng
Tác động của lý thuyết trật tự phân hạng
Barclay và Smith (2005) lập luận rằng các doanh nghiệp ít có cơ hội đầu tư và
luồng tiền tự do sẽ có tỷ lệ nợ thấp bởi vì tiền mặt sẽ được sử dụng để trả nợ Nó có thể
Trang 1717
cho thấy rằng các công ty tăng trưởng cao với dòng tiền hoạt động thấp hơn sẽ có tỷ lệ
nợ cao vì họ miễn cưỡng để tăng vốn cổ phần mới Trường hợp nếu không có sự tồn tại
của thông tin bất cân xứng, doanh nghiệp sẽ sử dụng nợ nếu cần thêm vốn, và cuối cùng
là phát hành cổ phiếu để trang trãi các khoản vốn còn lại Như vậy, các nghiên cứu tại
thời điểm này cho thấy các công ty sẽ ưu tiên sử dụng nguồn vốn nội tại hơn nguồn vốn
đắt đỏ bên ngoài
Như vậy, theo lý thuyết trật tự phân hạng, các doanh nghiệp có lợi nhuận và tạo
ra thu nhập cao được dự kiến là sử dụng vốn vay ít hơn những người không tạo ra thu
nhập cao
2.1.5 Lý thuyết thời điểm thị trường
Lý thuyết này cho rằng các nhà quản lý quan sát thị trường vốn và sử dụng lợi thế
của khoảng cách thông tin, để phát hành cổ phiếu mới khi họ tin rằng những cố phiếu
được định giá quá cao bởi các nhà đầu tư và ngược lại (Abor, 2008 & Amidu 2007)
Abor (2008) và Amidu (2007) tiếp tục giải thích rằng các vấn đề cần thiết trong doanh
nghiệp có thể các nhà đầu tư bên ngoài không biết đến (trừ khi có sự hiện diện của
người trong cuộc) và do đó sẽ không phản ánh trong giá cố phiếu của doanh nghiệp Giả
định này là đúng bởi vì trong thực tế, thị trường vốn không hiệu quả
Doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận để tăng thêm vốn nhưng tin rằng cổ phiếu của
họ đang bị đánh giá thấp thường sẽ chọn phát hành nợ chứ không phải vốn cổ phần để
tránh pha loãng giá trị của cổ đông hiện hữu (Barclay & Smith 2005)
Gatsi và Akoto (2010) cho ý kiến về hiệu quả của doanh nghiệp, cho rằng các
nhà đầu tư nhận thức được rằng nhà quản lý biết nhiều hơn về hiệu quả trong tương lai
của công ty, và họ cũng cho rằng động cơ của nhà quản lý phát hành cổ phiếu giá quá
cao và tránh định giá thấp Các công ty có khuynh hướng kiềm giữ cổ phiếu của mình
thường dẫn đến việc giá cổ phiếu giảm sau khi công ty phát hành thêm một lượng mới
cổ phiếu Kết quả là các phát hành cổ phiếu tương đối tốn kém, và quản lý một cách hợp
lý để tránh những chi phí tốn kém này và thay vì sử dụng vốn nội bộ Như vậy, bằng
cách chọn thời điểm cho cổ phiếu mới, các nhà quản lý có lợi thế về kiểm soát một số
mức độ thông tin bất lợi của thị trường
Trang 1818
Cần lưu ý rằng vấn đề của cổ phiếu trở nên khá tốn kém, các nhà đầu tư không
biết rằng các doanh nghiệp sẽ chỉ phát hành cổ phiếu khi nó được định giá quá cao và
do đó sẽ yêu cầu lợi nhuận cao như để đền bù Họ cũng cho rằng các nhà quản lý khôn
ngoan sẽ thích sử dụng vốn nội bộ tạo ra chứ không phải là phát hành cổ phiếu mới
Mặt khác, các chủ nợ sẽ đòi hỏi một tỷ suất sinh lợi cao hơn trong các đầu tư này
như một sự đánh đổi Kết quả là vốn nội bộ tạo ra một nguồn rẻ hơn các khoản nợ của
các nhà tài trợ Do đó, các doanh ngiệp có thể không nhất thiết phải phát hành cổ phiếu
mới như họ tin rằng nó được định giá quá cao hoặc sử dụng vốn nội bộ bởi vị giá trị
hiện tại đang bị đánh giá thấp Điều này giải thích lý do tại sao các thông tin bất cân
xứng có thể tốn kém cho các doanh nghiệp như các nhà đầu tư có thể hiểu sai hành vi
quản lý và tính phí cho họ không công bằng
Có thể kết luận rằng các doanh nghiệp tối đa hóa giá trị bằng cách liên tục lựa
chọn để tài trợ các khoản đầu tư mới với nguồn vốn “giá rẻ” Nó cũng có thể được thấy
các nhà quản lý muốn tạo lợi nhuận giữ lại vào quỹ bên ngoài, và nếu lợi nhuận giữa lại
là cần thiết, họ thích nợ trên vốn cồ phần do chi phí thông tin liên quan đến vấn đề sử
dụng nợ thấp
2.1.6 Lý thuyết tín hiệu của chính sách cổ tức
Lý thuyết này dựa trên ý tưởng các nhà quản lý có thông tin chính xác hơn so với
các nhà đầu tư bên ngoài về hiệu suất của doanh nghiệp, do đó sẽ tăng khả năng cho nhà
đầu tư bằng cách gia tăng đòn bẩy tài chính
Barclay và Smith (2005) cho rằng trái ngược với lý thuyết thời điểm thị trường,
trong đó chứng khoán được xem như một hình thức để huy động vốn giả rẻ, mô hình tín
hiệu giả định rằng các quyết định tài chính về cơ bản được thiết lập để chuyển tải những
tiềm năng trong tương lai cho các nhà đầu tư bên ngoài Điều này thường thực hiện để
nâng cao giá trị cổ phiếu khi các nhà quản lý nghĩ rằng họ đang bị định giá thấp
Gatsi and Akoto (2010) lập luận rằng nợ ràng buộc các công ty phải chi trả
những khoản phí cố định bằng tiền mặt cho các chủ nợ trong suốt thời gian hiệu lực của
khoản nợ Họ cũng cho rằng các doanh nghiệp có thể bị buộc phải phá sản, nếu họ
không đủ khả năng thanh toán nợ, và điều này có thể ảnh hưởng đến các nhà quản lý là
Trang 1919
họ có thể bị mất việc làm Các nhà quản lý có thể biết được điều này và làm mọi thứ để
duy trì vị trí của họ
Barclay và Smith (2005) cho rằng, chi trả cổ tức là không bắt buộc và các nhà
quản lý linh hoạt hơn trong các quyết định chi trả, và có thể giảm hoặc không chi trả cổ
tức trong thời gian khó khăn về tài chính Ross (1977) cũng cho rằng việc tăng nợ trong
cấu trúc vốn là dấu hiệu cho thấy kỳ vọng về dòng tiền tương lai cao hơn
Từ các nghiên cứu trước, có thể thấy giá trị của doanh nghiệp sẽ cao hơn nếu sử
dụng thêm nợ trong cấu trúc vốn của họ để báo hiệu rằng giá trị này tương đối thấp, và
điều này dựa trên tiên đề rằng các doanh nghiệp không hiệu quả không thể quản lý nợ
và bất kỳ cố gắng nào để sử dụng nợ nhiều hơn sẽ gây ra rủi ro tài chính của các doanh
nghiệp do phá sản và cách chi phí liên quan
2.1.7 Cấu trúc vốn và lợi ích từ thuế
Cấu trúc vốn của doanh nghiệp cũng giải thích về các lợi ích về thuế liên quan
đến việc sử dụng nợ Cần lưu ý rằng chính sách thuế có ảnh hưởng quan trọng đến các
quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp Thuế có thể được cho là một khoản chi trả
nhằm hỗ trợ chi phí của chính phủ Nó cũng được xem như là một khoản thanh toán bắt
buộc từ các hộ gia đình và các doanh nghiệp để chính phủ tài trợ cho các dự án và
chương trình của mình Theo Ross và cộng sự (2008) thì những lợi ích liên quan đến
thuế được gọi là lá chắn thuế
Modigliani và Miller (1963) lập luận rằng thuế cho phép doanh nghiệp khấu trừ
lãi không tính trong lợi nhuận chịu thuế nhưng cổ tức thì không Theo họ, điều này cho
thấy rằng lợi thế về thuế bắt nguồn từ nợ và doanh nghiệp sẽ giảm gánh nặng thuế và
tăng dòng tiền sau thuế của mình
2.1.8 Chi phí phá sản
Chi phí phá sản là những chi phí phát sinh khi xác định rằng khả năng tài chính
của doanh nghiệp lớn hơn không (Abor; 2008) Titman (1984) cũng cho rằng chi phí
phá sản liên quan đến chi phí xảy ra khi một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
nghĩa vụ nợ của mình và đứng trên bờ vực bị đóng cửa Theo ông chi phí phá sản có thể
bao gồm cả trực tiếp và gián tiếp Ví dụ về chi phí phá sản trực tiếp là các chi phí pháp
Trang 2020
lý và hành chính trong quá trình phá sản Sự thiệt hại trong lợi nhuận doanh nghiệp gách
chịu như một kết quả của sự thiếu thiện chí của các cổ đông trong kinh doanh là một ví
dụ về chi phí phá sản gián tiếp
Warner (1977) phát biểu rằng các chi phí trực tiếp thường nhỏ so với giá trị thị
trường của doanh nghiệp trong khi chi phí gián tiếp là rất lớn Titman (1984) cũng lập
luận rằng sự ưa thích của khách hàng đối với hàng hóa và dịch vụ của một doanh nghiệp
và khả năng phá sản cao ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của các doanh nghiệp
Abor (năm 2008) cũng đã cho biết: "nếu một doanh nghiệp được coi là gần phá sản,
khách hàng có thể sẽ ít mua hàng hóa và dịch vụ hơn vì rủi ro là doanh nghiệp có thể
không có khả năng đáp ứng nghĩa vụ bảo hành của nó" Ông cũng chỉ ra rằng nhân viên
có thể ít có khuynh hướng làm việc cho các doanh nghiệp hoặc các nhà cung cấp ít có
khả năng mở rộng tín dụng thương mại
Kim, Heshmati và Aoun (2006) cho rằng những hạn chế hoặc giới hạn như vậy
có thể ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp và hiệu quả của nó, như cuối cùng họ có thể
phải giả mạo các cơ hội đầu tư hấp dẫn dẫn đến đầu tư dưới chuẩn Điều này có thể ảnh
hưởng bất lợi đến lợi ích và sự tồn tại của doanh nghiệp
Modigliani và Miller (1963) cho rằng các doanh nghiệp có thể không trả được nợ
của họ nếu họ vay quá nhiều và trở nên kiệt quệ về tài chính Tuy nhiên, nó là lý do để
các doanh nghiệp tăng giá trị do khấu trừ thuế sử dụng nợ Cần lưu ý rằng chi phí phá
sản tăng lên cùng với tăng nợ sử dụng làm giảm giá trị của doanh nghiệp (Warner,
1977)
Kết quả là, các nhà quản lý của các doanh nghiệp kiệt quệ về tài chính sẽ ủng hộ
cho ít sử dụng nợ trong cơ cấu vốn của họ so với các đối tác sử dụng ít nợ để bảo vệ
việc chống lại đầu tư dưới chuẩn và các vấn đề liên quan
Grossman và Hart (1982) cho rằng nếu phá sản là cái giá phải trả của các nhà
quản lý, có lẽ bởi vì họ sẽ mất lợi ích của việc kiểm soát hoặc danh tiếng sau khi vay
vốn thay vì phải tạo ra động lực cho các nhà quản lý làm việc nhiều hơn, điều kiện tiên
quyết là chi tiêu ít hơn và đưa ra quyết định đầu tư tốt hơn
Trang 2121
2.1.9 Chi phí đại diện
Việc sử dụng nợ trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp cũng mang về chi phí đại
diện Theo Jensen và Meckling (1976), chi phí đại diện phát sinh như là kết quả của mối
quan hệ giữa các cổ đông và các nhà quản lý, và giữa chủ nợ và cổ đông Ở đây trong
khi việc người quản lý của một doanh nghiệp được coi là người được ủy quyền của cả
cổ đông và chủ nợ được ghi nhận là người ủy thác Xung đột thường xảy ra khi người
đại diện đưa ra quyết định không tối đa hóa của cải của người ủy quyền Harris và Raviv
(1990) cho rằng cuộc xung đột giữa các cổ đông và các nhà quản lý phát sinh bởi vì các
nhà quản lý nắm giữ ít hơn 100% quyền chiếm dụng thặng dư Kết quả là, họ không
giành được toàn bộ lợi ích từ các hoạt động nâng cao lợi nhuận của họ nhưng họ phải
chịu toàn bộ chi phí của các hoạt động này
Vì phân chia quyền sở hữu và kiểm soát, có thể dẫn đến thiếu sự quản lý trong
công việc, thích thú với các đặc quyền, và lựa chọn đầu vào và đầu ra dựa vào sở thích
riêng của họ Một vấn đề khác là các nhà quản lý có thể đầu tư vào các dự án làm giảm
giá trị của doanh nghiệp nhưng tăng cường sự kiểm soát của họ đối với các nguồn lực
của nó Ví dụ, lựa chọn tối ưu cho các nhà đầu tư là giải thể doanh nghiệp nhưng các
nhà quản lý có thể lựa chọn tiếp tục hoạt động để nâng cao vị trí của họ (Abor, 2008)
Harris và Raviv (1990) ủng hộ ý kiến này và do đó chỉ ra rằng các nhà quản lý
khuyến khích tiếp tục hoạt động hiện tại của doanh nghiệp ngay cả khi cổ đông thích
giải thể Abor (2008) cũng nói thêm rằng cuộc xung đột giữa chủ nợ và cổ đông là do
rủi ro đạo đức
Chittenden, Hall và Hutchinson (1996), cho thấy rằng thông tin bất đối xứng và
rủi ro đạo đức sẽ lớn hơn đối với các doanh nghiệp nhỏ hơn Tuy nhiên Jensen và
Meckling (1976) lưu ý rằng các cuộc xung đột giữa chủ nợ và cổ đông có phát sinh bởi
vì kiểm soát nợ khuyến khích cổ đông đầu tư thêm một cách tối ưu
Theo Abor (2008), trong trường hợp đầu tư vào những lĩnh vực lợi nhuận lớn, cổ
đông nhận được phần lớn lợi ích Ông cũng chỉ ra rằng trong trường hợp đầu tư thất bại,
bởi vì trách nhiệm hữu hạn, chủ nợ chịu phần lớn các hậu quả Những vấn đề đầu tư liên
quan đến thông tin bất đối xứng, (cổ đông) rủi ro quản lý và cơ hội tăng trưởng bị bỏ
Trang 2222
qua có thể được giải quyết bằng cách cơ cấu kỳ hạn nợ và quyền mua lại nợ (Barnea,
Haugen và Snebet, 1980) Theo họ, rút ngắn thời gian cơ cấu kỳ hạn trả nợ và quyền
mua lại trái phiếu trước ngày hết hạn có thể giúp giảm chi phí đầu tư dưới chuẩn và
chuyển hóa rủi ro Họ cũng đã chứng minh rằng cả hai chức năng của các khoản nợ của
doanh nghiệp phục vụ mục đích giống nhau trong việc giải quyết vấn đề đầu tư
Có thể kết luận rằng các doanh nghiệp với chi phí đại diện cao hơn do xung đột
giữa doanh nghiệp và các chủ nợ nên thường có ít nợ trong cơ cấu vốn của mình để tối
đa hóa giá trị
2.2 Các nghiên cứu trước đây:
2.2.1 Nghiên cứu của Anthony Hercules Turkson và cộng sự (2013): Cấu
trúc vốn và khả năng sinh lợi của các công ty phi tài chính ở Ghana:
Mục đích nghiên cứu:
Bài nghiên cứu này tìm hiểu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và khả năng sinh lời của
những công ty phi tài chính được niêm yết ở thị trường chứng khoán Ghana, trong khoảng
thời gian 7 năm (2002-2008) Các lý thuyết về cấu trúc vốn cung cấp cho tác giả những
khái niệm cơ bản nhất để tiến hành nghiên cứu này Nghiên cứu này sử dụng phương pháp
cơ sở dữ liệu mảng để kiểm tra ảnh hưởng của cấu trúc vốn lên khả năng sinh lời của 20
công ty được lựa chọn Phương pháp bình phương bé nhất được dùng làm kỹ thuật ước
lượng của nghiên cứu này Dữ liệu nghiên cứu được lấy ra từ báo cáo tài chính của những
công ty này Các tỉ lệ như doanh thu trên tài sản, doanh thu trên vốn cổ phần, hệ số biên
lợi nhuận ròng là các chỉ số dùng để xác định khả năng sinh lời của một công ty Nợ ngắn
hạn, nợ dài hạn và tổng tỷ lệ nợ được sử dụng để đánh giá đòn bẩy tài chính của công ty
đó
Kết quả nghiên cứu:
Nghiên cứu cho thấy rằng 54.99% tổng vốn của của các công ty trong nghiên cứu
được tài trợ bởi nợ Trong đó 47.65% là nợ ngắn hạn trong khi nợ dài hạn chỉ chiếm
7.33% Điều này cho thấy rằng các công ty phi tài chính sử dụng đòn bẩy tài chính cao và
cho thấy tầm quan trọng của nợ ngắn hạn cũng như dài hạn đối với những công ty này
Các kết quả tương quan và tuyến tính cho thấy mối quan hệ chặt chẽ ngược chiều giữa đòn
Trang 2323
bẩy tài chính và khả năng sinh lời của công ty Có nghĩa rằng, trong khoảng thời gian của
nghiên cứu, đòn bẩy tài chính không mang lại khả năng sinh lời cho công ty Do đó các
công ty cần có các hoạt động trên thị trường tài chính để giảm chi phí về sử dụng nợ ngắn
hạn hoặc khuyến khích sử dụng các nguồn tài chính nội bộ Các công ty cũng nên tập
trung vào tăng trưởng cũng như lợi ích từ đòn bẩy tài chính Cải tổ trong ngành ngân hàng
để cung cấp các khoản nợ dài hạn cho các công ty phi tài chính thì rất cần thiết để cải
thiện khả năng sinh lời
2.2.2 Abor (2005)
Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và lợi nhuận của các công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán Ghana (GSE) trong khoảng thời gian 5 năm Phương pháp
tiếp cận - Phân tích hồi quy được sử dụng trong việc ước lượng các hàm liên quan đến lợi
nhuận trên vốn cổ phần (ROE) trong cấu trúc vốn
Kết quả nghiên cứu:
Kết quả cho thấy một mối tương quan thuận giữa tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản
và ROE Tuy nhiên, tương quan nghịch giữa tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài và ROE đã được
tìm thấy Kết quả cho thấy một tương quan thuận giữa tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản và lợi
nhuận trên vốn chủ sở hữu Giá trị ban đầu - Nghiên cứu cho thấy rằng các công ty có lợi
nhuận phụ thuộc nhiều vào nợ trong lựa chọn tài chính chính của họ Trong trường hợp
Ghana, tỷ lệ nợ ngắn hạn chiếm 85% trong tổng nợ
2.2.3 Gatsi, J.G, & Akoto, R K (2010)
Nghiên cứu cấu trúc vốn và lợi nhuận của các ngân hàng Ghana sử dụng phương
pháp dữ liệu mảng Lý thuyết cấu trúc vốn được sử dụng để làm cơ sở lý thuyết cho việc
nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu:
Theo Buser et al (1981), quyết định cấu trúc vốn của ngân hàng là tương tự như
của một công ty phi tài chính Mặc dù có sự khác biệt giữa các ngành trong cấu trúc vốn
của doanh nghiệp do tính chất của từng ngành kinh doanh, các biến thể trong nội bộ công
ty được cho là do rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính của các công ty cá nhân
Trang 2424
Mục đích chính của nghiên cứu này là nhắm đến kiểm nghiệm ảnh hưởng của
cấu trúc vốn trên lợi nhuận ngân hàng ở Ghana, sử dụng một tập hợp dữ liệu tương đối
dài và một kỹ thuật ước lượng vững chắc của phương pháp dữ liệu mảng
Kết quả nghiên cứu:
Các ngân hàng thường đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế
của mỗi quốc gia Về cơ bản, ngân hàng là trung gian giữa thặng dư và thâm hụt của
một nền kinh tế bằng cách lấy tiền từ những người có tài chính nhưng không có nhu cầu
trước mắt và chuyển các quỹ này cho những người cần chúng
Một quyết định quan trọng mà các ngân hàng phải đối mặt là sự lựa chọn nợ vốn
chủ sở hữu Sự lựa chọn này là cần thiết để xác định lợi nhuận của các công ty Điều
này có nghĩa là các ngân hàng có khả năng đưa ra quyết định tài chính của họ một cách
thận trọng sẽ có một lợi thế cạnh tranh trong ngành này và do đó làm cho lợi nhuận cao
Tuy nhiên, điều cần thiết cho chúng ta nhận ra rằng quyết định này chỉ có thể được thực
hiện một cách khôn ngoan khi và chỉ khi các ngân hàng biết làm thế nào chính sách nợ
ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ
Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và lợi nhuận ngân hàng
trong Ghana Nghiên cứu bao gồm 14 ngân hàng trong giai đoạn 1997-2006 Phương
pháp dữ liệu mảng đã được sử dụng và những phát hiện chính của nghiên cứu được tóm
tắt như sau:
Thứ nhất, nó đã được quan sát thấy rằng 87% tổng số vốn của các ngân hàng
trong Ghana được tạo thành từ nợ Trong số này, 65% cấu thành các khoản nợ ngắn hạn
trong khi 22% được tạo thành từ các khoản nợ dài hạn Điều này đã nhấn mạnh lần nữa
thực tế là đánh giá cao các ngân hàng được có sử dụng vốn vay và cũng nhấn mạnh tầm
quan trọng của các khoản nợ ngắn hạn về các khoản nợ dài hạn trong tài chính ngân
hàng ở Ghana Phát hiện này phù hợp với nghiên cứu trước đây như Abor (2005) và
Amidu (2007) nhấn mạnh tầm quan trọng của nợ ngắn hạn về tài chính công ty trong
Ghana Tương quan giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận cho thấy các ngân hàng lớn
có khuynh hướng để lợi nhuận thấp hơn và phù hợp với mô hình đó, nhấn mạnh vai trò
tiêu cực của quy mô từ sự thiếu hiệu quả quy mô
Trang 2525
Nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, và tổng số nợ đã được phát hiện ở mức ý nghĩa là 1%,
5%, và 10% trong việc xác định lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trong lĩnh vực ngân hàng
của Ghana Điều này có nghĩa là tiền gửi không nhất thiết phải chuyển vào nâng cao lợi
nhuận trên vốn chủ sở hữu trong ngành ngân hàng ở Ghana Một lý do là chi phí ngày
càng tăng của việc kinh doanh của các ngân hàng trong Ghana làm lợi nhuận ngày càng
thấp trong lĩnh vực này Một lý do khác là lãi suất cho vay cao trong lĩnh vực ngân hàng
của Ghana đã khiến nhiều khách hàng e ngại sử dụng các khoản vay Là điều quan trọng
để chúng ta lưu ý khi nhận được tiền gửi nhưng ngân hàng không có thể cho khách hàng
vay vốn, có nghĩa là các khoản tiền gửi sẽ không ảnh hưởng lợi nhuận trên vốn chủ sở
hữu dưới mọi hình thức hoặc trong điều tồi tệ nhất nó sẽ khá hạn chế lợi nhuận trên vốn
chủ sở hữu
Tài sản thế chấp đòi hỏi của các ngân hàng trước khi khoản vay được đề xuất là
một trong những vấn đề quan trọng đó là cản trở khách hàng tiếp cận vốn vay Khi điều
này xảy ra tiền gửi được sử dụng không đúng do đó làm cho nó không có ý nghĩa trong
việc xác định lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Cuối cùng yếu tố giải thích tại sao nợ
không phải là quan trọng trong việc giải thích lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trong lĩnh
vực ngân hàng của Ghana Sau khi bãi bỏ quy định của dịch vụ tài chính ở Ghana, nước
này đã chứng kiến sự tràn vào của nhiều ngân hàng chủ yếu từ Nigeria Nay đã tăng
cạnh tranh giữa các ngân hàng cho khách hàng trong việc người dân đã xin tài trợ ít ở
Ghana
Mối quan hệ giữa nợ ngắn hạn và lợi nhuận biên ròng, kết quả hồi quy cho thấy
là tương quan nghịch Điều này có nghĩa là tiền gửi tăng trong lĩnh vực ngân hàng của
Ghana, lãi ròng hoặc lợi nhuận giảm Lý do chính của hiện tượng này là việc giảm tiền
lãi nhận được bởi các ngân hàng khác nhau Điều này có thể là do sự bảo trợ tương đối
thấp của các khoản vay ngân hàng trong Ghana do lãi suất cho vay cao, nhu cầu đối với
tài sản thế chấp của các ngân hàng
Tổng số nợ là quan trọng và có tương quan đến lợi nhuận biên ròng trong nghiên
cứu Điều này có nghĩa như là đòn bẩy tăng trong lĩnh vực ngân hàng của Ghana, lợi
nhuận thể hiện như lợi nhuận biên ròng giảm Phát hiện này cho thấy rằng các ngân
Trang 2626
hàng có lợi nhuận trong Ghana sử dụng ít nợ hoặc họ phụ thuộc nhiều hơn vào các quỹ
nội bộ tạo ra chứ không phải là vốn từ bên ngoài như lựa chọn tài chính chính của họ
Kết quả này phù hợp với Amidu (2007) và lý thuyết trật tự phân hạng của công ty tài
chính
Các kết quả của nghiên cứu này đã cho thấy rằng quy mô công ty được định
nghĩa là logarit của tổng tài sản là quan trọng và tương quan nghịch đến cả lợi nhuận
trên vốn chủ sở hữu và lợi nhuận biên ròng trong lĩnh vực ngân hàng của Ghana Có
nghĩa là quy mô rất quan trọng trong việc xác định lợi nhuận của các ngân hàng ở
Ghana Tuy nhiên, những gì là quan trọng đối với chúng ta cần lưu ý là quy môngân
hàng tăng lợi nhuận ngân hàng giảm ở Ghana và ngược lại Tương quan nghịch giữa
quy mô ngân hàng và lợi nhuận cho thấy các ngân hàng lớn có xu hướng để lợi nhuận
thấp hơn và phù hợp với mô hình đó nhấn mạnh vai trò tiêu cực của quy mô từ sự thiếu
hiệu quả quy mô Phát hiện này phù hợp với một số công trình thực nghiệm trước đó
như Marsh (1982) và Titman và Wessels (1988)
Cuối cùng trong nghiên cứu này, tồn tại một tương quan thuận và có ý nghĩa
thống kê giữa tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận cả trên vốn cổ phần và lợi nhuận biên
ròng trong lĩnh vực ngân hàng của Ghana Về mặt lý thuyết, các ngân hàng tăng lợi
nhuận của họ như mức độ hoạt động tăng kinh tế trong một nền kinh tế Phát hiện này
cho thấy rằng tăng trưởng là rất quan trọng trong việc xác định lợi nhuận các ngân hàng
ở Ghana Những gì là quan trọng như là tăng tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực ngân
hàng của Ghana, lợi nhuận cũng tăng và là phù hợp với dự đoán lý thuyết Một số
nghiên cứu trước đó cũng thiết lập vị trí này, ví dụ Kyereboah-Coleman (2004) và Abor
(2005)
2.2.4 Titman, S & Wessels, R (1988)
Mục đích nghiên cứu:
Những năm gần đây, một số giả thuyết đã được đưa ra để giải thích sự thay đổi
trong tỷ lệ nợ giữa các doanh nghiệp Các lý thuyết cho rằng các công ty lựa chọn cấu
trúc vốn tùy thuộc vào các thuộc tính mà xác định các chi phí khác nhau và lợi ích gắn
liền với các khoản nợ và vốn cổ phần Nghiên cứu thực nghiệm trong lĩnh vực này đã bị
Trang 2727
tụt hậu các nghiên cứu lý luận, có lẽ vì các thuộc tính công ty có liên quan được thể hiện
ở khái niệm khá trừu tượng mà không trực tiếp quan sát
Phương pháp tiếp cận cơ bản được thực hiện trong nghiên cứu thực nghiệm trước
đó đã được ước tính phương trình hồi quy với đại diện cho các thuộc tính lý thuyết
không quan sát được
Nghiên cứu này mở rộng thực nghiệm trên lý thuyết cấu trúc vốn trong ba cách
khác nhau Đầu tiên, nó mở rộng phạm vi của các nhân tố quyết định lý thuyết cấu trúc
vốn bằng cách nghiên cứu một số lý thuyết gần đây có phát triển hay chưa được phân
tích bằng thực nghiệm Thứ hai, kể từ khi một số trong những lý thuyết có ý nghĩa thực
nghiệm khác nhau liên quan đến việc sử dụng nợ, phân tích các biện pháp riêng biệt của
nợ ngắn hạn, dài hạn, và chuyển đổi chứ không phải là một biện pháp tổng hợp của tổng
số nợ Thứ ba, một kỹ thuật được sử dụng công nhận một cách rõ ràng và giảm thiểu các
vấn đề đo lường đã nói ở trên
Kỹ thuật là một phần mở rộng của phương pháp tiếp cận phân tích nhân tố để đo
lường các biến không quan sát được hoặc tiềm ẩn, được gọi là mô hình cấu trúc tuyến
tính Ngắn gọn là phương pháp này giả định rằng, mặc dù những thuộc tính có liên quan
không được quan sát trực tiếp, chúng ta có thể quan sát một số biến chỉ số là hàm tuyến
tính của một hoặc nhiều thuộc tính và sai số ngẫu nhiên Trong đặc điểm kỹ thuật này,
sự giống nhau trực tiếp với quá trình trở lại giả định của lý thuyết Abitrate Trong khi
những hạn chế đối với việc xác định mô hình của chúng tôi là khác nhau, kỹ thuật "để
ước lượng nó rất giống với quy trình được sử dụng bởi Roll và Ross để thử nghiệm
APT
Kết quả nghiên cứu:
Nghiên cứu này giới thiệu kỹ thuật phân tích nhân tố để đánh giá tác động của các
thuộc tính không quan sát được trên sự lựa chọn của tỷ lệ nợ của doanh nghiệp Tuy kết
quả của không đưa đến được một kết luận nào, nhưng nó đã góp phần củng cố cho các
chứng cứ thực nghiệm về sự nhất quán của các giả thiết hiện đang có Đặc biệt, cho thấy
rằng mức nợ có tương quan nghịch đến một ngành nghề kinh doanh nhất định Bằng
chứng này phù hợp với kết luận của Titman cho các công ty có thể áp đặt chi phí cao
Trang 2828
đối với khách hàng, người lao động, và các nhà cung cấp trong trường hợp thanh lý thì
có tỷ lệ nợ thấp
Các kết quả cũng chỉ ra rằng chi phí giao dịch có thể là một yếu tố quyết định
quan trọng của sự lựa chọn cấu trúc vốn Tỷ lệ nợ ngắn hạn đã được chứng minh có
tương quan nghịch với quy mô doanh nghiệp, có thể phản ánh các chi phí giao dịch
tương đối cao các công ty nhỏ phải đối mặt khi phát hành công cụ tài chính dài hạn Vì
chi phí giao dịch thường được giả định là nhỏ so với yếu tố quyết định khác của cấu trúc
vốn, tầm quan trọng của họ trong nghiên cứu này cho thấy rằng các chi phí và lợi ích
liên quan đến đòn bẩy có thể không đặc biệt quan trọng Mặc dù kết quả cho thấy rằng
cấu trúc vốn được lựa chọn có hệ thống, là phù hợp với lập luận rằng các chi phí và lợi
ích gắn liền với quyết định này của Miller Các bằng chứng khác liên quan đến tầm
quan trọng của chi phí giao dịch được chứng minh bởi sự tương quan nghịch giữa lợi
nhuận trong quá khứ và mức nợ hiện tại được đo lường bằng giá trị thị trường của vốn
cổ phần Bằng chứng này cũng hỗ trợ một số các tác động của Myers và Majluf và
Myers
2.3 Các nhân tố trong cấu trúc vốn tác động lên khả năng sinh lợi:
Các công ty phi tài chính đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế
của mỗi quốc gia Ngoài việc cung cấp các cơ hội việc làm cho công dân, họ cung cấp
hàng hóa, dịch vụ và trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng Một quyết định quan trọng
của nhà quản lý các công ty phi tài chính phải đối mặt là sự lựa chọn nợ - vốn chủ sở
hữu So với những lựa chọn khác, sự lựa chọn này là cần thiết cho việc xác định lợi
nhuận của công ty Điều này có nghĩa là các công ty có thể thực hiện thận trọng sự lựa
chọn giữa nợ và vốn chủ sở hữu sẽ có một lợi thế cạnh tranh trong ngành Tất cả mọi
thứ điều này sẽ tối đa hóa mức độ lợi nhuận Tuy nhiên, cần nhận ra rằng quyết định này
chỉ có thể được thực hiện một cách khôn ngoan khi và chỉ các công ty biết chính sách
nợ ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ như thế nào
Gatsi và Akoto (2010) mô tả khái niệm cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ và vốn
cổ phần để tạo thành cấu trúc vốn của doanh nghiệp và giải thích rằng tỷ lệ nợ trên vốn
cổ phần là lựa chọn chiến lược của các nhà quản lý Van Horne và Wachowicz (2008)
Trang 2929
khẳng định rằng cấu trúc vốn là một sự trộn lẫn hoặc tỷ lệ của các chỉ tiêu tài chính dài
hạn như nợ, cổ phần ưu đãi với cổ phần thường Điều đó chứng tỏ rằng quyết định lựa
chọn tỷ lệ thích hợp trong cấu trúc vốn gồm vốn cổ phần và nợ có thể giúp doanh
nghiệp đạt được mục tiêu cao nhất về tối đa hóa lợi nhuận
Cũng liên quan đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính, Van Horne và Wachowicz (2008) cho
rằng tỷ lệ đòn bẩy tài chính cho thấy sự mở rộng của những công ty được tài trợ bởi nợ
Theo họ tỷ lệ này có thể được chia thành nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và tổng nợ
Như vậy, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi được nghiên cứu trong đề
tài này bao gồm: Nợ ngắn hạn, Nợ dài hạn, Tổng nợ, Quy mô doanh nghiệp, Tăng
trưởng doanh số
2.3.1 Nợ ngắn hạn:
Nợ ngắn hạn là một khoản nợ của công ty hay một nghĩa vụ nợ mà thường xác
định trong khoảng thời gian 1 năm (năm tài chính) Nợ ngắn hạn trên bảng cân đối kế
toán của công ty bao gồm những khoản nợ ngắn hạn, tài khoản có thể phải trả, các
khoản nợ tích lũy và các loại khoản nợ khác Về bản chất, đó là những hóa đơn phải trả
giữa người đi vay và người cho vay trong một khoảng thời gian ngắn Thông thường,
công ty dùng tiền mặt trong tài sản ngắn hạn để trả cho nợ ngắn hạn của họ
Amidu (2007) tìm thấy một mối tương quan nghịch giữa nợ ngắn hạn và lợi nhuận
doanh nghiệp Trong khi đó Abor (2005) trong một nghiên cứu được thiết kế để kiểm tra
tác động của cơ cấu vốn trên lợi nhuận của các doanh nghiệp được lựa chọn ở Ghana
quan sát thấy một mối tương quan thuận giữa tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản và lợi
nhuận
Thông thường, các nhà phân tích hoặc những người cho vay sử dụng hệ số khả
năng thanh toán nợ hiện tại, hoặc hệ số khả năng thanh toán nhanh để xác định khả năng
thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của công ty
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn
Hệ số này càng cao, khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn Nếu hệ
số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ
của mình khi tới hạn Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năng không đạt được tình hình
Trang 3030
tài chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là công ty sẽ bị phá sản vì có rất nhiều cách
để huy động thêm vốn
Tỷ lệ này cho phép hình dung ra chu kì hoạt động của công ty xem có hiệu quả
không, hoặc khả năng biến sản phẩm thành tiền mặt có tốt không Nếu công ty gặp phải
rắc rối trong vấn đề đòi các khoản phải thu hoặc thời gian thu hồi tiền mặt kéo dài, thì
công ty rất dễ gặp phải rắc rối về khả năng thanh khoản
Theo công thức trên, khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ là tốt nếu tài sản
lưu động và đầu tư ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng tăng lên và nợ ngắn hạn
chuyển dịch theo xu hướng giảm xuống; hoặc đều chuyển dịch theo xu hướng cùng tăng
nhưng tốc độ tăng của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn lớn hơn tốc độ tăng của nợ
ngắn hạn; hoặc đều chuyển dịch theo xu hướng cùng giảm nhưng tốc độ giảm của tài
sản lưu động và đầu tư ngắn hạn nhỏ hơn tốc độ giảm của nợ ngắn hạn
Tuy nhiên, nếu con số này quá cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá
nhiều vào tài sản lưu động so với nhu cầu Thông thường thì phần vượt trội đó sẽ không
sinh thêm lợi nhuận Vì thế mà việc đầu tư đó sẽ kém hiệu quả Vấn đề này đòi hỏi nhà
doanh nghiệp phải phân bổ vốn như thế nào cho hợp lý
2.3.2 Nợ dài hạn:
Nợ dài hạn là các khoản nợ mà thời gian trả nợ trên một năm Nợ dài hạn của
doanh nghiệp bao gồm các khoản vay dài hạn, các chứng khoán nợ do nhà nước phát
hành để huy động ngân sách hoặc vốn, và các khoản nợ dài hạn khác,… Hầu hết, nợ vay
dài hạn của một doanh nghiệp là dưới hình thức phát hành các loại trái phiếu Chi phí
của việc phát hành trái phiếu sẽ làm giảm doanh thu thuần từ phát hành trái phiếu của
doanh nghiệp Do lãi vay được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, nên chi
phí thực của nợ vay dài hạn sẽ thấp hơn bất kỳ chi phí của nguồn tài trợ dài hạn nào
khác và doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế
Abor (2005) trong nghiên cứu của ông đã tìm thấy một mối tương quan nghịch
giữa lợi nhuận doanh nghiệp và nợ dài hạn Bên cạnh đó, Hall, Hutchinson và Michaels
(2004) tìm thấy tất cả các mối tương quan nghịch giữa lợi nhuận với cả tỷ lệ nợ dài hạn
và tỷ lệ nợ ngắn hạn
Trang 3131
Đối với các doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
hiện nay, còn phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn ngắn hạn Các công ty thường vay
ngắn hạn từ Ngân hàng là chủ yếu nhằm bổ sung cho nhu cầu về tài sản lưu động, còn
các khoản vay dài hạn đầu tư vào tài sản cố định là rất ít Do đó, để có được nguồn vốn
dài hạn phục vụ cho nhu cầu đầu tư tài sản cố định để mở rộng sản xuất, đổi mới công
nghệ… nhằm nâng cao khả năng sinh lợi không thể phụ thuộc vào Ngân hàng
Nhu cầu sử dụng vốn vay dài hạn của các ngành có sự khác nhau tùy theo đặc
điểm của ngành Ví dụ, ngành bất động sản nhu cầu vay vốn dài hạn của ngành cao do
bất động sản khó chuyển nhượng nhanh chóng, thời hạn thu hồi vốn chậm Nếu sử dụng
vốn vay ngắn hạn quá nhiều có thể dẫn đến việc mất khả năng thanh toán của công ty
Còn đối với các ngành như chế biến thủy sản, sản xuất kinh doanh điện, dược phẩm…
thì nhu cầu sử dụng vốn dài hạn thấp, chủ yếu là sử dụng vốn ngắn hạn
Các nhà đầu tư thường đánh giá nợ dài hạn của doanh nghiệp thông qua hệ số sau:
Tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu = Nợ dài hạn / Vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu so sánh tương quan giữa nợ dài hạn và vốn
chủ sở hữu Tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu cũng tương tự như tỷ lệ tổng nợ trên
vốn chủ sở hữu, tuy nhiên ở đây chúng ta chỉ quan tâm đến nợ dài hạn, là những khoản
nợ chưa phải trả trong năm tới Mục đích của việc sử dụng tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ
sở hữu là để thấy được mức độ tài trợ bằng vốn vay một cách thường xuyên (qua đó
thấy được rủi ro về mặt tài chính mà công ty phải chịu) qua việc loại bỏ các khoản nợ
ngắn hạn (tín dụng thương mại phi lãi suất và những khoản phải trả ngắn hạn)
2.3.3 Tổng nợ
Cấu trúc vốn là sự kết hợp số lượng nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ
phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của một
doanh nghiệp Graham (2004) kết luận rằng có một mối tương quan nghịch giữa tổng nợ
và lợi nhuận
Để đạt được cấu trúc vốn tối ưu thì cấu trúc vốn khi sử dụng nợ để tài trợ phải
thỏa mãn được 3 mục đích cho nhà đầu tư là:
(i) Tối đa hóa EPS,
Trang 3232
(ii) Tối thiểu hóa rủi ro, và
(iii) Tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn
Một Công ty có thể có một cấu trúc vốn tối ưu bằng cách sử dụng đòn bẩy tài
chính phù hợp Như vậy Công ty có thể hạ thấp chi phí sử dụng vốn thông qua việc gia
tăng sử dụng nợ (vì khi sử dụng nợ Công ty sẽ được hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế)
Tuy nhiên khi tỷ lệ nợ gia tăng thì rủi ro cũng gia tăng do đó nhà đầu tư sẽ gia tăng tỷ lệ
lợi nhuận đòi hỏi Mặc dù sự gia tăng lúc đầu cũng không hoàn toàn xóa sạch lợi ích của
việc sử dụng nợ như là một nguồn vốn rẻ hơn cho đến khi nào nhà đầu tư tiếp tục gia
tăng lợi nhuận đòi hỏi khiến cho lợi ích của việc sử dụng nợ không còn nữa
Modigliani và Miller (1963) và Miller (1977) đề cập đến một lợi ích về thuế được
tạo ra, như các khoản thanh toán lãi suất nợ được khấu trừ thuế, trong khi các khoản
thanh toán liên quan đến vốn cổ phần, chẳng hạn như cổ tức là không được khấu trừ
thuế Vì vậy, tác động của thuế khuyến khích sử dụng nợ của doanh nghiệp, như nhiều
nợ hơn làm tăng lợi nhuận sau thuế sau cho chủ sở hữu
Abor (2008) tiếp tục đề cập rằng trong khi có lợi thế về thuế doanh nghiệp do
khấu trừ đi các khoản thanh toán lãi suất nợ nhà đầu tư nhận được phần lãi suất này như
thu nhập Ông cũng chỉ ra rằng thu nhập từ tiền lãi các nhà đầu tư nhận được cũng phải
chịu thuế trên tài khoản cá nhân của họ, và ảnh hưởng tỷ lệ thuế thu nhập là tiêu cực
Modigliani và Miller (1963) lập luận rằng, thông thường, pháp luật về thuế thu
nhập doanh nghiệp cơ bản cho phép các doanh nghiệp khấu trừ khoản thanh toán lãi
nhưng không khấu trừ cổ tức trong tính toán thu nhập chịu thuế Kết quả là, đưa nợ vào
cơ cấu trúc của doanh nghiệp có thể giảm gánh nặng thuế dự kiến và do đó làm tăng
dòng tiền sau thuế của doanh nghiệp Miller (1977) cũng lập luận rằng nếu chỉ có một
loại thuế doanh nghiệp và không có thuế cá nhân trên lợi nhuận từ các doanh nghiệp
chứng khoán, giá trị của một doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ bằng của một
doanh nghiệp sử dụng tất cả vốn chủ sở hữu cộng với giá trị phần trăm của lá chắn thuế
lãi
Việc sử dụng nợ sẽ tạo ra kết quả kinh doanh tốt hơn 100% vốn cổ phần do tận
dụng lợi ích từ tấm chắn thuế Tuy nhiên trên thực tế không phải giá trị doanh nghiệp
Trang 3333
tăng mãi khi tỷ suất nợ tăng, bởi vì khi gia tăng việc sử dụng nợ sẽ gia tăng chi phí kiệt
quệ tài chính, gia tăng khả năng phá sản và sẽ làm giảm giá trị doanh nghiệp Do đó, cấu
trúc vốn tối ưu là phải cân bằng giữa lợi ích của việc sử dụng nợ và chi phí kiệt quệ tài
chính
Vì lãi vay phải trả không đổi khi sản lượng thay đổi, do đó đòn bẩy tài chính sẽ rất
lớn trong các doanh nghiệp có tỷ số nợ cao, và ngược lại đòn bẩy tài chính sẽ rất nhỏ
trong các doanh nghiệp có tỷ số nợ thấp Những doanh nghiệp không mắc nợ (tỷ số
bằng không) sẽ không có đòn bẩy tài chính Như vậy, đòn bẩy tài chính đặt trọng tâm
vào tỷ số nợ
Trong kiểm tra mối liên hệ giữa đòn bẩy tài chính và lợi nhuận doanh nghiệp,
nhiều nghiên cứu đã được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu
Kester (1986) tìm thấy một mối tương quan nghịch giữa lợi nhuận và nợ /tỷ lệ tài
sản
Hơn nữa, Rajan và Zingales (1995) cũng quan sát thấy một mối tương quan
nghịch biến đáng kể giữa lợi nhuận và đòn bẩy tài chính trong nghiên cứu của họ Theo
Fama và French (1998), việc sử dụng nợ không cần thiết nhượng lợi ích về thuế, đòn
bẩy tài chính cao có thể tạo ra các vấn đề người đại diện giữa các cổ đông và chủ nợ dự
báo mối tương quan nghịch giữa đòn bẩy tài chính và lợi nhuận Các bằng chứng thực
nghiệm trên, có vẻ là phù hợp với lý thuyết trật tự phân hạng Theo lý thuyết trật tự
phân hạng thì cho rằng các doanh nghiệp sử dụng vốn nội bộ ban đầu được tạo ra để tài
trợ cho hoạt động của mình thay vì vay vốn bên ngoài Tuy nhiên nếu doanh nghiệp
phải sử dụng nguồn tài trợ bên ngoài thỉ nhà quản trị sẽ ưu tiên sử dụng nợ vay trước,
sau đó là phát hành trái phiếu và giải pháp cuối cùng là phát hành cổ phiếu thường
Mặc dù có bằng chứng thực nghiệm dựa trên tác dụng đòn bẩy tài chính và lợi
nhuận, các nhà nghiên cứu khác nhau có một cái nhìn khác nhau Các nhà nghiên cứu
tìm thấy một mối tương quan thuận giữa lợi nhuận và đòn bẩy tài chính trong các
nghiên cứu của họ
Abor (2005) báo cáo một mối tương quan thuận đáng kể giữa tổng nợ và lợi
nhuận vì vậy hỗ trợ các nghiên cứu trước như trình bày ở trên Các nghiên cứu của
Trang 3434
Peterson và Rajan (1994) để kiểm tra mối quan hệ giữa lợi nhuận và đòn bẩy tài chính,
cũng tiết lộ một mối tương quan thuận đáng kể giữa lợi nhuận và tỷ lệ nợ
Taub (1975) đã quan sát thấy một mối tương quan thuận đáng kể giữa nợ và lợi
nhuận trong một phân tích hồi quy của bốn số liệu lợi nhuận so với tỷ lệ nợ
Nghiên cứu về tài chính của Champion (1999): sự thích thú của đòn bẩy tài chính
và nghiên cứu Leibestein (1966) về hiệu quả phân bổ so với hiệu quả X, cho rằng các
doanh nghiệp có thể sử dụng nợ nhiều hơn để nâng cao hiệu quả tài chính của họ, vì nợ
tiềm tàng làm cho các nhà quản lý phải nâng cao năng suất để tránh phá sản Hơn nữa
trong một nghiên cứu của Roden và Lewellen (1995) để tìm ra tỷ lệ phần trăm của tổng
số nợ mua lại trong đòn bẩy tài chính đã quan sát thấy một mối tương quan thuận đáng
kể giữa lợi nhuận và tổng số nợ Nerlove (1968) và Baker (1973) cũng được hỗ trợ quan
điểm cho rằng có tồn tại một mối tương quan thuận đáng kể giữa lợi nhuận và đòn bẩy
tài chính của doanh nghiệp
Trong khi một số nghiên cứu cho thấy một mối tương quan thuận giữa đòn bẩy tài
chính và lợi nhuận, những người khác cho thấy một mối tương quan nghịch giữa đòn
bẩy tài chính và lợi nhuận.Chúng ta hãy cùng xem xét xem là tại Việt Nam thì mức ảnh
hưởng của cơ cấu vốn trên lợi nhuận của các công ty phi tài chính được niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam là như thế nào
2.3.4 Quy mô doanh nghiệp:
Được đo lường bằng giá trị logarit của tổng tài sản Về mặt lý thuyết, mối quan hệ
giữa quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính là không rõ ràng Theo Lý thuyết đánh
đổi thì quy mô của công ty có mối quan hệ thuận chiều (+) với nợ vay, bởi vì các công
ty lớn thường có rủi ro phá sản thấp và có chi phí phá sản thấp Ngoài ra, các công ty
lớn có chi phí vấn đề người đại diện của nợ vay (agency costs of debt) thấp, chi phí
kiểm soát thấp, ít chênh lệch thông tin hơn so với các công ty nhỏ hơn, dòng tiền ít biến
động, dễ dàng tiếp cận thị trường tín dụng, và sử dụng nhiều nợ vay hơn để có lợi nhiều
hơn từ tấm chắn thuế Các nghiên cứu của Wiwattnakantang (1999), Huang và Song
(2002) và Chen (2004) ở các nước đang phát triển; nghiên cứu của Titman và Wessels
Trang 3535
(1988) và Rajan và Zingales (1995) ở các nước phát triển cho thấy quy mô của công ty
và đòn bẩy tài chính có mối quan hệ thuận chiều (+)
Mặt khác, theo lý thuyết trật tự phân hạn, bất cân xứng thông tin giữa nội bộ
doanh nghiệp và thị trường vốn thấp hơn, vì vậy các doanh nghiệp lớn sẽ phát hành cổ
phần nhiều hơn, điều này cho thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa quy mô công ty và
đòn bẩy tài chính Nghiên cứu của Beven và Danbolt (2002) cho thấy quy mô công ty
tương quan nghịch với nợ ngắn hạn và tương quan thuận với nợ dài hạn
Các công ty đa quốc gia thường vay những khoản tiền lớn có thể các chủ nợ dành
cho những ưu đãi, do đó có thể giảm được chi phí sử dụng vốn làm gia tăng tỷ suất sinh
lợi Các doanh nghiệp trong nước cũng có thể dành được các ưu đãi này nếu quy mô
doanh nghiệp đủ lớn Tuy nhiên, tăng trưởng của một doanh nghiệp sẽ bị hạn chế hơn
nếu doanh nghiệp này không sẵn sàng hoạt động ở tầm mức quốc tế Do các công ty đa
quốc gia có thể đạt được tăng trưởng một cách dễ dàng hơn, các công ty này có nhiều
khả năng đạt một quy mô cần thiết để nhận các ưu đãi từ các chủ nợ hơn là các doanh
nghiệp trong nước
2.3.5 Tăng trưởng doanh thu:
Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cho biết mức tăng trưởng doanh thu tương đối (tính
theo phần trăm) qua các thời kỳ Tỷ lệ này nhỏ hơn không đồng nghĩa với tăng trưởng
âm Trường hợp doanh thu của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng không thì tỷ
lệ tăng trưởng doanh thu là không xác định (thường chỉ xảy ra nếu kỳ báo cáo là quý,
hoặc trong năm hoạt động đầu tiên của doanh nghiệp) Công thức tính tỷ lệ tăng trưởng
doanh thu như sau:
Trong đó: DT0 là doanh thu của kỳ hiện tại
DTi là doanh thu của i kỳ trước
Một kỳ có thể là 4 quý gần nhất, 1 năm gần nhất, 3 năm gần nhất hoặc 5 năm gần
nhất Cũng có thể thay doanh thu bằng doanh thu thuần nếu muốn tính tỷ lệ tăng trưởng
Trang 3636
doanh thu thuần Lưu ý là mặc dù doanh thu âm có thể xuất hiện trong báo cáo kinh
doanh quý (trong trường hợp hàng bán của quý trước đó bị trả lại), nhưng không được
phép xuất hiện trong các báo cáo kinh doanh năm
Doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cao thường đang trong giai đoạn
phát triển mạnh, thị phần tăng hoặc đang mở rộng kinh doanh sang các thị trường hoặc
lĩnh vực mới Tuy nhiên tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cao không nhất thiết đi kèm với tỷ
lệ tăng trưởng lợi nhuận cao
Tùy vào xu hướng của tỷ lệ tăng trưởng doanh thu mà mức tăng trưởng được đánh
giá là bền vững, không ổn định, phi mã hay tuột dốc Những doanh nghiệp có mức tăng
trưởng doanh thu ổn định ở mức cao luôn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm