1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên nhân dẫn đến cơ cấu lại hệ thống ngân hàng

23 860 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 164 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại: Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng là việc củng cố, chấn chỉnh, cùng với việc nâng cao năng lực thể chế đảm bảo phát triển hệ thống ngân

Trang 1

1 Bối cảnh dẫn đến quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng:

Vào đầu năm 2012, hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam đã bắt

đầu quá trình tái cơ cấu theo Đề án mới được ban hành “Cơ cấu lại hệ thống các

tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” (Quyết định số 254/QÐ-TTG, ngày

1/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ) Để thấy được tính cấp thiết cũng như tầm quan trọng của việc cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, chúng ta cần nhìn lại những khó khăn của nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng giai đoạn trước khi bắt đầu quá trình tái cơ cấu, mà gần nhất là năm 2011

Trong năm 2011, nền kinh tế Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn, bất ổn

Cụ thể, thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể kéo dài cùng chênh lệch cung cầu ngoại tệ ngắn hạn vào cuối năm 2010 đã khiến tỷ giá USD/VND tăng mạnh Đầu năm 2011, tỷ giá tự do cao hơn mức trần tỷ giá liên ngân hàng khoảng 8%, trước tình hình đó, tỷ giá chính thức USD/VND được nâng thêm 9,3% vào ngày 11/2/2011 Việc phá giá mạnh VND cùng giá hàng hóa thế giới tăng mạnh đã ảnh hưởng mạnh làm giá hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa trong nước tăng cao Cùng với tác động trễ từ việc nới lỏng chính sách tiền tệ nửa cuối năm 2010 và chủ trương điều hành giá các mặt hàng thiết yếu như điện, xăng dầu theo cơ chế thị trường, lạm phát đã liên tục gia tăng trong nửa đầu năm và luôn ở trên mức 1,5%/tháng, gây nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô Tháng 8/2011, tỷ lệ lạm phát

so cùng kì năm trước đã lên tới 23%, cao hơn hẳn mức lạm phát 19,9% của năm

2008 Áp lực lạm phát đã đẩy lãi suất tăng cao từ đầu năm 2011, gây khó khăn cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất trong việc tiếp cận nguồn vốn Thêm vào đó, kinh tế khó khăn, hàng hóa tiêu thụ chậm, hàng tồn kho tăng cao khiến nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản, hoặc phải thu hẹp quy mô Tính riêng 9 tháng đầu năm 2011, theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì có gần 49.000

DN đã giải thể, phá sản, ngừng hoạt động, ngừng nộp thuế Trong đó, phá sản, giải thể là 5.800 DN, khoảng 11.500 DN ngừng hoạt động và 31.500 DN ngừng nộp thuế Từ đó, kết quả dẫn đến đà phục hồi của nền kinh tế trong năm 2010 bị gián đoạn Tăng trưởng GDP của năm 2011 là 5,89%, thấp hơn mức 6,78% của năm

2010 và thấp hơn nhiều mức tiềm năng 7,3% của nền kinh tế (Viện CL&CSTC)

Riêng đối với ngành ngân hàng trong năm 2011, hệ thống ngân hàng cũng gặp phải rất nhiều khó khăn và bộc lộ nhiều yếu kém Vấn đề đầu tiên chính là tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng Trước tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ, nhiều ngân hàng gặp khó khăn thanh khoản đã đẩy lãi suất trên thị trường liên ngân hàng cũng như thị trường dân cư tăng mạnh Lãi suất huy động VND có lúc bị đẩy lên tới 18-19% để hấp dẫn người gửi tiền Thậm chí lần đầu tiên, các ngân hàng thương mại lớn khi cho các ngân hàng thương mại nhỏ khó khăn về thanh khoản vay đều yêu cầu phải có tài sản đảm bảo Đồng thời, một số khoản cho vay liên ngân hàng đã quá hạn khiến ngân hàng thương mại cho vay phải trích lập dự phòng Tuy giá trị trích lập dự phòng chưa lớn nhưng điều này cho thấy

Trang 2

những khó khăn và những yếu kém trong việc quản lý rủi ro thanh khoản của một

số ngân hàng thương mại Đặc biệt, một vấn đề nổi cộm về tính thanh khoản trong

hệ thống ngân hàng chính là hiện tượng lách trần lãi suất 14%/năm theo Thông tư

số 02/2011/TT-NHNN, và những xáo trộn từ các thỏa thuận ngầm, sự nở rộ của các giao dịch ủy thác…Nửa cuối năm 2011, Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiêm quy định trần lãi suất Một số ngân hàng bị xử lý mà lần đầu tiên trong hệ thống có cụm từ “ngân hàng cài bẫy lẫn nhau” trong việc lách trần lãi suất của Ngân hàng Nhà nước

Vấn đề thứ hai, đó là tăng trưởng tín dụng rất thấp, tín dụng VND 6 tháng đầu

năm chỉ tăng 2,67% so với cuối năm 2010, thậm chí giảm dần về cuối năm khi tính chung 10 tháng, tổng dư nợ tín dụng VND chỉ tăng khoảng 0,25% so với cuối

2010 Trong khi đó, Sản xuất kinh doanh gặp khó khăn khiến nhiều doanh nghiệp không thanh toán được nợ, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng vào cuối tháng 8/2011 ở mức trên 3%, tương đương khoảng 76.000 tỷ đồng, trong đó nợ có khả

năng mất vốn chiếm tới 37.000 tỷ đồng Đồng thời, thị trường chứng khoán trong

năm 2011, nhìn chung vẫn trong xu hướng giảm điểm từ năm 2010 Tính tới thời điểm cuối năm 2011, chỉ số VnIndex đã giảm đến 28% trong năm 2011 Bên cạnh

đó, thị trường bất động sản cũng khá trầm lắng trong năm 2011, dẫn đến tỷ lệ nợ xấu và những vụ vỡ nợ gia tăng, gây rủi ro cao cho hệ thống ngân hàng khi có một lượng lớn tín dụng nằm trong lĩnh vực bất động sản và kinh doanh chứng khoán

Cụ thể, tỷ lệ nợ xấu cũng như nợ nhóm 2 của các ngân hàng thương mại tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước Nợ xấu chung của hệ thống ngân hàng ở mức 3,3% tổng dư nợ, cao hơn so với mức 2,14% vào cuối năm 2010 Riêng Habubank, tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh từ 2,39% năm 2010 lên 4,69% năm 2011 Nợ nhóm 2 của các ngân hàng đều có sự tăng nhanh cả về giá trị tuyệt đối và tỷ lệ tương đối, đặc biệt tăng nhanh nhất cũng là HBB từ 9,86% năm 2010 lên 13,34%

Như vậy, ngay trước thời điểm bắt đầu quá trình tái cơ cấu, nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng còn tồn tại rất nhiều khó khăn

và yếu kém trong công tác quản trị, điều hành Và với vai trò cực kì quan trọng và

là trụ cột trong nền kinh tế của hệ thống ngân hàng thương mại, năm 2011 đã kết thúc với áp lực phải tái cơ cấu, cải tổ mạnh mẽ, được đặt ra cho toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam

2 Khái niệm, nội dung cơ cấu lại theo đề án 254 và tiến trình thực hiện:

2.1 Khái niệm về cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại:

Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng là việc củng cố, chấn chỉnh, cùng với việc nâng cao năng lực thể chế đảm bảo phát triển hệ thống ngân hàng đa năng, hiện đại, hoạt động an toàn, lành mạnh, hiệu quả, vững chắc ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế, đảm bảo cạnh tranh trong môi trường đầy biến động của thế giới, đảm bảo cho hệ thống ngân hàng đáp ứng đủ vốn cho phát triển kinh tế xã

Trang 3

hội, tạo điều kiện cho mọi người dân cả ở vùng sâu vùng xa đều được tiếp cận với dịch vụ ngân hàng, tạo ra một hệ thống ngân hàng đa dạng về loại hình, về sở hữu,

về quy mô, trong đó có những ngân hàng có đủ tiềm lực để cạnh tranh với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới

Cơ cấu lại NHTM bao gồm cơ cấu lại tài chính, hoạt động và giám sát

an toàn Trong đó cơ cấu lại tài chính hướng đến việc phục hồi khả năng thanh toán bằng cách cải thiện bảng cân đối của các NHTM thông qua các biện pháp như tăng vốn, giảm nợ, hoặc nâng giá trị tài sản Cơ cấu lại hoạt động hướng đến mục tiêu nâng mức lợi nhuận bằng cách chú trọng hơn đến chiến lược hoạt động, cải thiện hiệu quả và năng lực quản trị và hệ thống kế toán, nâng cao năng lực thẩm định tín dụng Việc giám sát và các quy tắc an toàn được đặt ra nhằm mục tiêu cải thiện năng lực hoạt động của toàn bộ hệ thống NHTM dưới vai trò là trung gian tài chính

2.2 Nội dung chính của Đề án 254:

2.2.1 Mục tiêu của đề án

Trong giai đoạn 2011 - 2015, tập trung lành mạnh hóa tình trạng tài chính và củng

cố năng lực hoạt động của các tổ chức tín dụng; cải thiện mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng; nâng cao trật tự, kỷ cương và nguyên tắc thị trường trong hoạt động ngân hàng Phấn đấu đến cuối năm 2015 hình thành được ít nhất 1 - 2 ngân hàng thương mại có quy mô và trình độ tương đương với các ngân hàng trong khu vực

Trên cơ sở đánh giá thực trạng tài chính, hoạt động và quản trị, đặc biệt là chất lượng tài sản, công nợ, vốn tự có và mức độ an toàn của TCTD, các TCTD sẽ được phân loại thành 3 nhóm (TCTD lành mạnh; TCTD thiếu thanh khoản tạm thời và TCTD yếu kém) để có biện pháp xử lý thích hợp

TCTD cần có phương án cơ cấu lại phù hợp với mức độ rủi ro, yếu kém và điều kiện cụ thể của TCTD Nội dung cơ cấu lại các TCTD yếu kém bao gồm:

(1) Lành mạnh hóa về tài chính;

(2) Cơ cấu lại hoạt động;

(3) Cơ cấu lại hệ thống quản trị;

(4) Cơ cấu lại pháp nhân và sở hữu

2.2.2.1.Lành mạnh hóa về tài chính

Theo quyết định, sẽ khuyến khích việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các tổ chức tín

dụng theo nguyên tắc tự nguyện, đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền và các

Trang 4

quyền, nghĩa vụ kinh tế của các bên liên quan Các tổ chức tín dụng có mức độ

rủi ro, nguy cơ mất an toàn cao sẽ được áp dụng các biện pháp xử lý đặc biệt

Giải pháp tái cơ cấu các tổ chức tín dụng bao gồm tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước, trong đó Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được thực hiện cổ phần hóa vào thời điểm thích hợp và đảm bảo Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối tại các ngân hàng thương mại nhà nước sau cổ phần hóa

Nâng cao chất lượng tài sản, kiểm soát chất lượng tín dụng và nợ xấu Phấn đấu đạt tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại nhà nước dưới 3%; từng bước giảm tỷ lệ dư nợ tín dụng so với vốn huy động về mức không quá 90% đến năm 2015.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ chia các tổ chức tín dụng thành 3 nhóm (lành mạnh, thiếu thanh khoản tạm thời và yếu kém) để có biện pháp xử lý thích hợp

a Với các tổ chức tín dụng lành mạnh

Khuyến khích và tạo điều kiện để sáp nhập, hợp nhất, mua lại theo nguyên tắc tự

nguyện để tăng quy mô hoạt động và khả năng cạnh tranh Tham gia xử lý các

tổ chức tín dụng yếu kém và thiếu hụt thanh khoản bằng cách cho vay hỗ trợ thanh khoản; mua lại, sáp nhập các tổ chức yếu kém

b Với các tổ chức tín dụng thiếu thanh khoản tạm thời

NHNN sẽ tái cấp vốn để đảm bảo khả năng chi trả và tổ chức có thể trở lại hoạt động bình thường Tổ chức tín dụng phải hạn chế tăng trưởng tín dụng, tích cực huy động vốn để trả nợ NHNN và tăng khả năng chi trả NHNN sẽ giám sát chặt chẽ tình hình tài chính và hoạt động của các tổ chức tín dụng được tái cấp vốn.

Khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng thuộc nhóm này sáp

nhập, hợp nhất với nhau và sáp nhập, hợp nhất với tổ chức tín dụng lành mạnh

Tùy theo tính chất, mức độ rủi ro, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam áp dụng các biện pháp xử lý sau đây:

+ Hạn chế TCTD mở rộng phạm vi, quy mô và địa bàn hoạt động

+ Bắt buộc TCTD phải thực hiện một hoặc một số tỷ lệ an toàn cao hơn mức quy định chung

c Với các tổ chức tín dụng yếu kém

NHNN sẽ tái cấp vốn trên cơ sở hồ sơ tín dụng có chất lượng tín dụng tốt với mức

tối đa tương đương mức vốn điều lệ của tổ chức tín dụng được tái cấp vốn

Trang 5

Tổ chức tín dụng yếu kém phải chịu sự giám sát đặc biệt của NHNN về quản trị,

điều hành, tài chính và hoạt động Hạn chế tổ chức tín dụng nhóm này chia cổ tức, lợi nhuận Kiểm soát chặt chẽ việc chuyển nhượng cổ phần, vốn góp và tài sản, giảm dư nợ tín dụng và hạn chế mở rộng quy mô Đình chỉ, tạm đình chỉ, miễn nhiệm chức vụ người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng yếu kém

Sau khi áp dụng các biện pháp bảo đảm khả năng chi trả, TCTD yếu kém được xử

+ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trực tiếp mua lại vốn điều lệ hoặc cổ phần của TCTD yếu kém để chấn chỉnh, củng cố, lành mạnh hóa một bước TCTD, sau đó sáp nhập, hợp nhất với tổ chức tín dụng khác hoặc bán lại cho các nhà đầu tư đủ điều kiện

+ Xem xét, cho phép tổ chức tín dụng nước ngoài mua lại, sáp nhập TCTD yếu kém của Việt Nam và tăng giới hạn sở hữu cổ phần của tổ chức tín dụng nước

ngoài tại các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém được cơ cấu lại

2.2.2.2.Cơ cấu lại tài chính

- Xử lý nợ xấu thông qua các biện pháp như

+ bán nợ xấu cho Công ty Mua bán nợ và Tài sản tồn đọng doanh nghiệp (DATC) của Bộ Tài chính, cho các doanh nghiệp không phải tổ chức tín dụng, công ty mua bán nợ tư nhân và công ty mua bán nợ của các ngân hàng thương mại;

+ Xóa nợ bằng nguồn dự phòng rủi ro; xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ;

Trang 6

+ Chuyển nợ thành vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp vay;

- Tăng quy mô và chất lượng vốn tự có của TCTD: Bảo đảm mức vốn tự có

không thấp hơn mức theo quy định của pháp luật và đáp ứng đầy đủ tỷ lệ an toàn tối thiểu theo quy định của pháp luật thông qua:

+ Tăng vốn điều lệ:

(i) Phát hành cổ phiếu bổ sung, tăng vốn góp từ các cổ đông, thành

viên góp vốn hiện hành và các nhà đầu tư trong nước, ngoài nước; (ii) Chuyển nợ thành vốn góp, cổ phần của TCTD được cơ cấu lại;

+ TCTD phải đạt mức vốn tự có đủ để bù đắp rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp theo quy định của Basel II đến cuối năm 2015.

2.2.2.3.Cơ cấu lại hoạt động

- Tập trung củng cố, phát triển các hoạt động kinh doanh chính và loại bỏ các lĩnh vực kinh doanh rủi ro, kém hiệu quả.

- Tập trung tín dụng ngân hàng vào các ngành, lĩnh vực thuộc 3 khâu đột phá chiến lược trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 và

ưu tiên vốn tín dụng cho sản xuất, phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp phụ trợ, sản xuất - chế biến, doanh nghiệp nhỏ và vừa.

- Từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh của các ngân hàng thương mại theo

hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và tăng nguồn thu nhập

từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng.

- Đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng, trong đó tập trung nâng cao chất lượng dịch

vụ ngân hàng truyền thống và phát triển nhanh các dịch vụ ngân hàng hiện đại (dịch vụ thanh toán, ngoại hối, đầu tư, quản lý tài sản, quản lý rủi ro cho khách hàng,…)

Trang 7

- Phát triển nhanh dịch vụ thanh toán một cách an toàn, hiệu quả, đặc biệt là các

sản phẩm, dịch vụ thẻ thanh toán trên cơ sở đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ,

hệ thống thanh toán và tăng các tiện ích thẻ thanh toán, điểm chấp nhận thẻ.

- Mở rộng phạm vi và quy mô hoạt động ngân hàng ở khu vực nông thôn; phát

triển mạng lưới chi nhánh, điểm giao dịch tại các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa; giảm các chi nhánh, điểm giao dịch hoạt động kém hiệu quả;

- Nâng cao tính ổn định và bền vững khả năng chi trả của các TCTD: Tăng mức

độ ổn định nguồn vốn theo hướng tăng tỷ trọng nguồn huy động có kỳ hạn dài; cải thiện sự cân đối, hợp lý về kỳ hạn và đồng tiền giữa nguồn vốn và sử dụng vốn;

từng bước giảm tỷ lệ dư nợ tín dụng so với huy động vốn và đến cuối năm

2015 đạt mức bình quân toàn hệ thống không quá 85%.

2.2.2.4.Cơ cấu lại hệ thống quản trị

Củng cố và đổi mới hệ thống quản trị ngân hàng phù hợp hơn các thông lệ chuẩn mực quốc tế, trong đó bao gồm các giải pháp:

- Tăng tính minh bạch hóa hoạt động ngân hàng thông qua việc áp dụng cơ chế

mới về công bố thông tin của các TCTD

- Niêm yết cổ phiếu các ngân hàng thương mại cổ phần trên thị trường chứng khoán

- Tăng tính đại chúng của ngân hàng thương mại cổ phần và tăng số lượng các nhà đầu tư, cổ đông trong các đợt tăng vốn điều lệ

- Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước là cổ đông hoặc có vốn góp tại các TCTD phải có kế hoạch hợp lý thoái vốn đầu tư và chấm dứt kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng.

- Hạn chế sự chi phối, thao túng của cổ đông lớn đối với ngân hàng thương mại cổ phần; kiên quyết xử lý đối với các cổ đông lớn, người có liên quan vi phạm quy định về giới hạn sở hữu cổ phần tại ngân hàng thương mại cổ phần và các TCTD

sở hữu vốn chéo lẫn nhau Cổ đông, nhà đầu tư, tổ chức tín dụng vi phạm quy định

về góp vốn, mua, sở hữu vốn, cổ phần phải được xử lý theo quy định của pháp

Trang 8

luật Trường hợp tổ chức tín dụng mua lại cổ phiếu, vốn góp của tổ chức tín dụng

cơ cấu lại theo chỉ định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dẫn đến vượt quá giới hạn quy định sẽ được xử lý trong thời hạn chậm nhất là 5 năm kể từ khi thực hiện

- Nâng cao các điều kiện, tiêu chuẩn về năng lực quản trị, kinh nghiệm công tác và trình độ chuyên môn đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt của các TCTD (Chủ tịch hội đồng quản trị/hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc/Giám đốc, Thành viên hội đồng quản trị/hội đồng thành viên,…)

- Xây dựng kế hoạch, chiến lược kinh doanh mới

- Triển khai các quy trình, chính sách kinh doanh nội bộ lành mạnh; Áp dụng có hiệu quả cao các phương thức quản trị, điều hành tiên tiến phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế và quy định của pháp luật

- Phát triển các hệ thống quản trị rủi ro phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực của Ủy ban Basel, trong đó tập trung vào các hệ thống quản trị rủi ro thanh

khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường (giá cả, lãi suất, tỷ giá) và rủi ro tác nghiệp; phát triển các hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ; thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro phù hợp với thông lệ quốc tế và mức độ rủi ro tín dụng; nâng cao năng lực đánh giá, thẩm định tín dụng và quản lý, giám sát rủi ro tín dụng của TCTD

- Đổi mới và nâng cao hiệu quả hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ

- Cơ cấu, sắp xếp lại các bộ phận chức năng kinh doanh, quản trị, điều hành; sắp xếp, bố trí hợp lý cán bộ và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh ngân hàng có trình độ cao, ý thức trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp tốt

- Hiện đại hóa hệ thống công nghệ; Phát triển hệ thống thông tin quản lý nội bộ,

hạ tầng công nghệ thông tin và hệ thống thanh toán nội bộ của các ngân hàng thương mại; Nâng cấp hệ thống ngân hàng lõi phù hợp với quy mô, mức độ phức tạp hoạt động và yêu cầu quản trị, điều hành của TCTD

2.3.Tiến trình thực hiện thực tế:

Trang 9

Theo lộ trình, năm 2012, NHNN đã đề ra 3 nội dung chính là:

- Củng cố thanh khoản hệ thống ngân hàng mà trọng tâm là thanh khoản một số ngân hàng có vấn đề;

- Lành mạnh hóa tài chính của các NHTM mà trọng tâm là xử lý nợ xấu và minh bạch hóa tài chính;

- Tái cơ cấu tổ chức, hoạt động và quản trị hệ thống ngân hàng.

Tiến trình cụ thể như sau:

2.3.1.Tái cơ cấu bắt buộc đối với nhóm ngân hàng tình hình hình tài chính khó khăn

Theo đó, trong tiến trình tái cơ cấu hệ thống NHTM, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tiến hành phân loại thành 3 nhóm lớn để xác định mức rủi ro Trong

đó, nhóm thứ ba là nhóm các tổ chức tín dụng đang có tình hình tài chính khó khăn, buộc phải thực hiện tái cơ cấu bằng nhiều hình thức như yêu cầu các ngân hàng lớn tham gia mua cổ phần, tham gia vào quản trị điều hành và cơ cấu lại các khoản mục đầu tư, mua lại hoặc hợp nhất, sáp nhập

Trong số 9 trường hợp phải tái cơ cấu bắt buộc thì đến nay cũng đã hoàn tất được 8 trường hợp, bao gồm 3 trường hợp hợp nhất (SCB – Tín Nghĩa – Đệ Nhất; PVFC – WesternBank; SHB – Habubank); 2 trường hợp bán cổ phần cho đối tác trong nước là TienPhongBank và TrustBank (trong đó TrustBank đổi tên gọi); 1 trường hợp đang tự tái cơ cấu cũng bằng nguồn lực trong nước nhưng chưa nêu rõ đối tác là Navibank

Một ngân hàng yếu kém còn lại là GPBank dù chưa thông báo lộ trình cụ thể nhưng phương án cũng đã được phía cơ quan quản lý gần đây tiết lộ đó là có thể bán cổ phần cho đối tác ngoại Xác nhận với chúng tôi, một nguồn tin từ GPBank cũng cho biết đang trình một số phương án tái cơ cấu lên NHNN, trong

đó có phương án sẽ chọn đối tác nước ngoài là United Oversea Bank (UOB) của Singapore

* Hợp nhất 3 ngân hàng SCB, Ficombank và NH Việt Nam Tín Nghĩa:

Ngày 01/01/2012, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài gòn (Ngân hàng hợp nhất) chính thức đi vào hoạt động sau khi hợp nhất từ 3 ngân hàng: Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB), Ngân hàng Đệ nhất (Ficombank) và Ngân hàng Việt Nam Tín nghĩa Trước khi hợp nhất, ba ngân hàng nói trên lâm vào tình trạng mất khả năng thanh khoản trầm trọng Nguyên nhân chủ yếu do họ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (chủ yếu vào lĩnh vực bất động sản), gặp khi thị trường biến động, nhất là khi nguồn vốn huy động ngắn hạn không còn dồi dào như trước nên rủi ro thanh khoản xảy ra Trước tình hình này, hội đồng quản trị của ba ngân hàng đã tự nguyện sáp nhập với nhau thành một ngân hàng dưới sự bảo trợ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), và cần tới

Trang 10

sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước thông qua khoản vay tái cấp vốn Tổng số vốn

hỗ trợ liên ngân hàng của BIDV cho ba nhà băng (tính đến tháng 12/2012) là trên 2.400 tỷ đồng (trên tổng số tài sản được ba nhà băng đem ra đảm bảo là 30.000 tỷ đồng)

Ngân hàng hợp nhất có vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng, tổng tài sản là 150.000 tỉ đồng,

và có hơn 200 chi nhánh, phòng giao dịch Theo thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện BIDV ký với 3 ngân hàng được hợp nhất, các bên tiến hành hợp tác trong các lĩnh vực: quản trị, điều hành, kiểm soát, nguồn vốn và kinh doanh tiền

tệ, tín dụng, tài trợ thương mại, thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế,… BIDV sẽ cấp cho FicomBank, TinNghiaBank và SCB hạn mức chung về nguồn vốn và kinh doanh tiền tệ, ngân hàng hợp nhất sẽ kế thừa hạn mức đó nhằm hỗ trợ chi trả cho người gửi tiền Lộ trình hợp nhất được thiết kế trong đề án hợp nhất của ba ngân hàng và kéo dài trong ba năm, trong đó, năm đầu tiên tập trung xử lý

nợ Trong khoảng thời gian này, số tiền hỗ trợ từ BIDV cho ba ngân hàng hợp nhất đều là tiền vay mượn dưới dạng thế chấp bằng tài sản đảm bảm

Kết quả thực hiện

Theo Ngân hàng Nhà nước, sau 1 năm tái cơ cấu, SCB đã được những tiến triển tích cực, cải thiện đáng kể tình trạng thanh khoản, năng lực tài chính thông qua các giải pháp tăng vốn điều lệ, gọi vốn của nhà đầu tư nước ngoài, củng cố giá trị tài sản đảm bảo, đẩy mạnh xử lý nợ và huy động vốn từ nền kinh tế của SCB tăng 35,9% trong năm 2012 và tăng 7% trong 2 tháng đầu năm 2013 Nhờ vậy, SCB đã bảo đảm an toàn tài sản của Nhà nước, chi trả bình thường các đối với các khoản tiền gửi của dân chúng và thanh toán được hầu hết các khoản nợ vay tái cấp vốn của NHNN Hiện tại, dưới sự giám sát chặt chẽ của NHNN, SCB đang đẩy mạnh triển khai các giải pháp cơ cấu lại tổng thể, bao gồm cả cơ cấu lại các khoản tiền vay/tiền gửi của các TCTD và tổ chức tài chính nhận ủy thác của TCTD theo

kế hoạch tái cơ cấu giai đoạn 2013-2014 và Phương án cơ cấu lại nợ thị trường 2 (thị trường liên NH) đã được NHNN phê duyệt

* Sáp nhập Habubank vào SHB

Ngày 28/8/2012, Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội (Habubank) chính thức sáp nhập vào ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB) Với Habubank, các khoản cho vay và đầu tư trái phiếu gắn với Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) được xác định là gánh nặng lớn nhất dẫn đến những khó khăn phải tính đến sáp nhập Tỷ lệ nợ xấu của Habubank trước khi sáp nhập là 23,66% (tương đương 3.729 tỷ đồng) Ngân hàng SHB sau khi sáp nhập Habubank sẽ có tổng tài sản gần 120.000 tỷ đồng (tương đương với quy mô của các nhà băng trong khối G14) Tổng vốn điều lệ sẽ gần 9.000 tỷ đồng Sau sáp nhập, tổng số nhân viên của SHB sẽ đạt gần 5.000 người, bằng nhân viên của hai

Trang 11

nhà băng cũ gộp lại SHB sẽ tiếp quản 90 điểm giao dịch, chi nhánh, quỹ tiết kiệm của Habubank Sau khi sáp nhập, ngân hàng SHB mới sẽ có hệ số an toàn vốn CAR là 11,39%, đạt tiêu chuẩn quốc tế (CAR của Habubank trước đây chỉ hơn 4%).

Theo báo cáo kết quả kinh doanh 2012, Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn -

Hà Nội lãi 1.000 tỷ đồng trong quý IV giúp giảm số lỗ cả năm xuống còn 95 tỷ đồng Nếu tính cả khoản lợi nhuận còn để lại của năm trước (122 tỷ đồng), nhà băng này vẫn lãi lũy kế 27 tỷ đồng Năm 2011, khi chưa sáp nhập với Habubank, SHB lãi sau thuế hơn 1.000 tỷ đồng So với năm 2011, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh (trước khi trừ chi phí dự phòng rủi ro) của SHB giảm 59% khi chỉ đạt 460 tỷ đồng Một trong những nguyên nhân khiến lợi nhuận của SHB đảo chiều so với năm 2011 là do chi phí hoạt động của năm 2012 lên tới 2.309 tỷ đồng (gấp 2 lần của năm 2011), chi phí dự phòng rủi ro tín dụng cũng tăng gấp 5 lần

Dư nợ cho vay đến hết ngày 31/12/2012 đạt gần 55.562 tỷ đồng, tăng trưởng tới 95% Tuy nhiên, SHB phải trích lập DPRR cho vay khách hàng tới 1.251 tỷ đồng Lượng tiền gửi của khách hàng tính đến cuối năm 2012 của SHB đạt 77.598 tỷ đồng, tăng tới 120% so với năm 2011 Sau khi sáp nhập Habubank, SHB phải gánh thêm những khoản lỗ và nợ xấu Theo báo cáo tài chính của SHB, tính đến 31/12/2012, nợ xấu của SHB còn khoảng 4.847 tỷ đồng (tương đương 8,5% tổng

dư nợ)

* Ngân hàng Phương Tây (Western Bank) hợp nhất với PVFC

Western Bank, tiền thân là một ngân hàng từ nông thôn với vốn điều lệ ban đầu chỉ 320 tỷ đồng, đến 2011 thì lên đến 3.000 tỷ đồng Do lớn quá nhanh nên cũng như nhiều ngân hàng khác, việc quản trị và kiểm soát rủi ro trở thành một vấn đề lớn đối với Western Bank Bên cạnh đó, một tỷ lệ rất lớn tín dụng của nhà băng lại dành cho các doanh nghiệp sân sau, cổ đông nội bộ dẫn đến nhiều rủi ro cho Ngân hàng

Nằm trong tiến trình tái cơ cấu bắt buộc, Western Bank đã gây chú ý nhiều cho thị trường tài chính gần đây về việc sáp nhập với Tổng công ty cổ phần Tài

chính dầu khí (PVFC) Ngày 16/3/2013, tại Cần Thơ, NHTMCP Phương Tây (Western Bank) Đại hội cổ đông năm 2013 đã thông qua kế hoạch hợp nhất với PVFC Western Bank đã trình NHNN Đề án hợp nhất với PVFC.

Một trong những mục đích của việc hợp nhất giữa Western Bank và PVFC được nêu ra là giải quyết được sự tồn tại của Western Bank; nâng cao hiệu quả, năng lực hoạt động, sức cạnh tranh cho PVFC và giảm được phần vốn góp của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) tại PVFC Như vậy, Western Bank vừa có tiền để giải quyết các món nợ, làm trong sạch tình hình tài chính của mình Bên cạnh đó, với tỷ lệ sở hữu hiện tại của PVN tại PVFC là 78% có thể sẽ giảm xuống còn 48% sau hợp nhất Điều này sẽ giúp PVN từng bước thực hiện lộ trình thoái vốn tại các công ty con theo quy định Ngân hàng sau hợp nhất dự kiến có

Ngày đăng: 11/11/2014, 23:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w