Khái niệm mức thỏa dụng mà một cá nhân hưởng thụ được từ việc tiêu thụ hàng hóa và thời gian nhàn rỗi được tóm tắt trong công thức thỏa dụng sau: Theo công thức 1, nếu giá trị U càng lớn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Trang 2Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 2
MỤC LỤC
I LÝ THUYẾT CƠ BẢN 3
1 Lực lượng lao động và cung lao động 3
2 Sở thích của người lao động 4
2.1 Mức thỏa dụng và đường bàng quan 4
2.2 Độ dốc đường bàng quan 6
2.3 Sở thích khác nhau của người lao động 6
3 Đường giới hạn ngân sách 7
4 Quyết định số giờ lao động 9
4.1 Xác định số giờ làm việc khi không có thuế thu nhập cá nhân 9
4.2 Xác định số giờ làm việc khi có thuế thu nhập cá nhân 11
4.3 Hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế 12
4.4 Thuế lũy tiến và phản ứng của cung lao động 14
5 Giới hạn làm việc và nguyên tắc trả thêm giờ 15
II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 16
1 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm 16
1.1 Kết luận từ các công trình nghiên cứu thực nghiệm về độ co giãn của cung lao động 16
1.2 Kết luận từ ước lượng phương trình hồi quy 17
2 Một số vấn đề cần cân nhắc 18
III MỨC CUNG LAO ĐỘNG VÀ THU THUẾ 21
1 Sự thay đổi số thuế thu được và cung lao động 21
2 Chính sách thuế thu nhập hỗ trợ tiền lương cho người có thu nhập thấp và cung lao động 25
2.1 Giới thiệu về chương trình EITC 25
2.2 Nền tảng EITC của Mỹ 25
2.3 Tác động của EITC đến cung lao động 27
3 Chính sách thuế đối với chăm sóc trẻ em và cung lao động 29
3.1 Xử lý thuế về chi phí chăm sóc trẻ em 30
Trang 3Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 3
3.2 Lựa chọn giảm quyết chênh lệch thuế 31 3.3 So sánh các lựa chọn 33
Trang 4Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 4
I LÝ THUYẾT CƠ BẢN
1 Lực lượng lao động và cung lao động
Lực lượng lao động được định nghĩa là tổng số người lao động trong một
nền kinh tế
Tùy vào quy định của mỗi nước, thành phần dân cư cụ thể được tính vào lực lượng lao động có khác nhau Ví dụ như ở Mỹ, theo định nghĩa của CPS (Current Population Survey), người lao động được định nghĩa là tất cả mọi người trên 16 tuổi, tham gia ít nhất 1 giờ lao động đối với các công việc được trả lương
và 15 giờ đối với các công việc không được trả lương (ví dụ như làm trong nông trại của gia đình) Tại Việt Nam, theo định nghĩa của Bộ luật lao động năm 2012:
“Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc
theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người
sử dụng lao động.” (Khoản 1, Điều 3, Bộ luật lao động số 10/2012/QH13)
Có một số định nghĩa khác nhau đánh đồng cung lao động và số lượng lao
động và người lao động Trong phạm vi kinh tế học, cung lao động được định
nghĩa là tổng số giờ người lao động sẵn lòng làm việc với một mức lương thực nhận cụ thể
Hình 1.1 Lực lượng lao động
LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG
Trang 5Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 5
Như vậy, đơn vị tính của cung lao động là giờ, bằng tổng số giờ tất cả những người lao động (theo thực tế và tiềm năng) sẵn lòng làm việc
2 Sở thích của người lao động:
Để xác định tác động của thuế đối với lao động về mặt lý thuyết, ta tiến hành nghiên cứu một người lao động giả định A với mô hình Lựa chọn giữa lao động và thời gian nhàn rỗi của trường phái kinh tế học Tân Cổ điển Mô hình này tách rời tác động của các biến số kinh tế - mức lương theo giờ và thu nhập của một người lao động, và nghiên cứu tác động của chúng đến việc lựa chọn số giờ lao động và số giờ nhàn rỗi của người lao động được nghiên cứu
Trong mô hình phân tích, ta mô tả một người nhận được độ thỏa dụng từ
việc tiêu thụ hàng hóa (C) và hưởng thụ thời gian nhàn rỗi (L) Tất nhiên, người
lao động tiêu thị nhiều hàng hóa khác nhau trong một giai đoạn cụ thể Để đơn giản hóa, ta tổng hợp nhiều loại hàng hóa khác nhau mà người lao động tiêu thị và
định nghĩa C là tổng giá trị quy tiền của tất cả hàng hóa một người mua trong một
giai đoạn Ví dụ, nếu một người dành $1.000 một tuần cho thực phẩm, tiền thuê
nhà, tiền xăng, tiền vé xem phim và các hàng hóa khác thì biến số C có giá trị là
$1.000 Biến số L thể hiện số giờ nhàn rỗi mà người lao động “tiêu thụ” trong suốt
thời gian đó
Khái niệm mức thỏa dụng mà một cá nhân hưởng thụ được từ việc tiêu thụ hàng hóa và thời gian nhàn rỗi được tóm tắt trong công thức thỏa dụng sau:
Theo công thức (1), nếu giá trị U càng lớn thì mức thỏa dụng của người lao
động càng cao Trong đó, nếu tiêu thụ thêm hàng hóa hoặc tăng thêm giờ nhàn rỗi thì mức thỏa dụng của một người càng lớn Trong kinh tế học, tiêu thụ hàng hóa được cho là luôn luôn tốt và người tiêu dùng ưu chuộng tiêu thụ hàng hóa và thời gian nhàn rỗi càng nhiều càng tốt
Hình 1.2 Đường bàng quan
Trang 6Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 6
Hình 1.1 mô tả hai đường bàng quan có mức hữu dụng khác nhau, lần lượt
là 50.000 util và 67.500 util, và các lựa chọn giữa thời gian nhàn rỗi và mức tiêu dùng tương ứng X, Y và Z
Đường bàng quan có những đặc điểm sau:
Là đường cong dốc xuống thể hiện mức thỏa dụng không đổi khi tăng sử dụng một loại hàng hóa và giảm sử dụng thời gian nhàn rỗi,
Đường bàng quan càng cao thì mức thỏa dụng càng lớn,
Các đường bàng quan song song, không cắt nhau nếu không sẽ mâu thuẫn với giả định người tiêu dùng ưu chuộng tiêu thụ hàng hóa và thời gian nhàn rỗi,
Các đường bàng quan hướng về gốc tọa độ thể hiện thỏa dụng biên giảm dần do tiêu thụ thêm 1 đơn vị hàng hóa mang lại
Thỏa dụng biên của thời gian nhàn rỗi được định nghĩa là sự thay đổi trong
mức thỏa dụng do sử dụng thêm một giờ nhàn rỗi trong khi giữ nguyên mức tiêu
thụ hàng hóa Ta ký hiệu thỏa dụng biên của thời gian nhàn rỗi là MU L Tương tự,
thỏa dụng biên MU C là mức tăng lên của tổng thỏa dụng khi sử dụng thêm một
đơn vị giá trị hàng hóa mà vẫn giữ nguyên số giờ nhàn rỗi Cả MU L và MU C đều
có giá trị dương
Độ dốc đường bàng quan đo lường tỷ số giữa từ bỏ thời gian nhàn rỗi để tăng thêm một giá trị thu nhập tương ứng sao cho tổng thỏa dụng không đổi, đo lường bởi công thức:
Trang 7Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 7
(2) Trong đó, MRS là tỷ lệ thay thế biên của tiêu dùng hàng hóa và là độ dốc của đường bàng quan tại một điểm cụ thể Tỷ lệ này không cố định và giá trị tuyệt đối tăng dần khi người lao động này tiêu thụ đang tiêu thụ nhiều hàng hóa và ít thời gian nhàn rỗi Lúc này, thỏa dụng mất đi do giảm thời gian nhàn rỗi phải được bù đắp bằng một lượng hàng hóa tiêu thụ thêm lớn hơn nhiều theo quy luật hữu dụng biên giảm dần
Hình 1.2 biểu diễn cách một người lao động cụ thể lựa chọn trong việc đánh đổi giữa tiêu dùng và thời giờ nhàn rỗi Những người lao động khác nhau có thể có cách nhìn nhận việc đánh đổi khác nhau Nói cách khác, một số người yêu lựa chọn dành phần lớn thời gian cho công việc, một số người khác lại chọn giờ nhàn rỗi Điều này hàm ý rằng, đường bàng quan của những người lao động khác nhau sẽ khác nhau
Hình 1.3 mô tả hai đường bàng quan của hai người lao động A và B Đường bàng quan của người A rất dốc, thể hiện tỷ lệ thay thế biên cao Nói một cách khác, người A đòi hỏi giá trị tiêu thụ hàng hóa tăng thêm lớn để từ bỏ một giờ nhàn rỗi Ngược lại, người B ưa chuộng thời giờ nhàn rỗi và có đường bàng
Hình 1.3 Sở thích khác nhau của người lao động
Tiêu
dùng
($)
Tiêu dùng ($)
Trang 83 Đường giới hạn ngân sách:
Việc tiêu dùng hàng hóa và thời giờ nhàn rỗi của một người bị giới hạn bởi thời gian và thu nhập họ có được Một phần thu nhập của một người (như thu nhập cho thuê tài sản, cổ tức, trúng xổ số) độc lập với số giờ người ấy làm việc
Ta quy định phần thu nhập không từ lao động này là V Đặt h là số giờ một người
sẵn lòng cung cấp cho thị trường lao động trong một giai đoạn và w là mức lương được trả theo giờ Đường giới hạn ngân sách được viết như sau:
ta bỏ qua yếu tố trên
Theo giả thiết về mức thu nhập không đổi, ta dễ dàng vẽ được đường giới hạn ngân sách Một người có hai cách sử dụng quỹ thời gian của mình trong một giai đoạn là làm việc hoặc thời gian nhàn rỗi Đặt tổng quỹ thời gian của một
người trong một tuần là T giờ trong một tuần, và T = h + L Ta có thể viết lại công
thức (3) như sau:
Trang 9Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 9
hay
Công thức cuối cùng thể hiện đường giới hạn ngân sách có dạng đường
thẳng với độ dốc là –w Tại đường ngân sách thể hiện trong hình 1.4 (a), điểm E
thể hiện rằng nếu một người quyết định không làm việc bất cứ giờ nào và dành tất
cả T giờ của quỹ thời gian cho nhàn rỗi thì người đó vẫn có thể mua được V đồng giá trị hàng hóa để tiêu dùng Điểm E được gọi là “điểm có sẵn” Nếu một người
sẵn lòng bỏ bớt một giờ nhàn rỗi để lao động thì người đó có thể di chuyển dọc
lên theo đường giới hạn ngân sách và mua được w đồng giá trị hàng hóa Thật ra, mỗi giờ nhàn rỗi được sẵn lòng từ bỏ cho phép người đó mua được thêm w đồng
giá trị hàng hóa Nói một cách khác, mỗi giờ nhàn rỗi được tiêu thụ đều có giá, và giá đó chính là lương một giờ lao động Nếu người lao động từ bỏ tất cả giờ nhàn rỗi thì điểm lựa chọn là giao điểm giữa đường giới hạn ngân sách là trục tung, và
người đó có thể mua được (wT + V) đồng giá trị hàng hóa
Phần diện tích ở dưới, được giới hạn bởi đường giới hạn ngân sách là phần
mà người lao động có thể lựa chọn được Vì thế, đường giới hạn ngân sách vạch ra đường giới hạn cho tập hợp các cơ hội cho một người lao động – là tập hợp tất cả các kết hợp tiêu dùng mà một người lao động cụ thể có thể mua được
Hình 1.4 Đường giới hạn ngân sách
(a) Có thu nhập ngoài lao động (b) Không có thu nhập ngoài lao động
Trang 10Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 10
Trường hợp tại hình 1.4(b) là trường hợp đặc biệt của 1.4(a) khi người lao
động không có thu nhập nào khác ngoài lương, lúc đó V = 0 và điểm có sẵn E nằm
trên trục hoành
4 Quyết định số giờ lao động:
4.1 Xác định số giờ làm việc khi không có thuế thu nhập cá nhân:
Ta giả định rằng, khi phải đưa ra quyết định, một người luôn chọn phương
án tối đa hóa mức thỏa dụng của mình Điều này có nghĩa là một người sẽ chọn mức giá trị hàng hóa tiêu dùng và thời giờ nhàn rỗi sao cho có thể đạt được mức
thỏa dụng U cao nhất với giới hạn ngân sách cho sẵn
Hình 1.5 mô tả giải pháp cho vấn đề này Như hình vẽ, đường giới hạn
ngân sách BC 1 mô tả các cơ hội cho người lao động Ava có tổng quỹ thời gian T trong một tuần và mức lương không đổi cho mỗi giờ lao động là w
Để lựa tối đa hóa thỏa dụng, người lao động Ava phải chọn điểm kết hợp nằm trên đường bàng quan xa gốc tọa độ O nhất – trong trường hợp này là đường
(iii) Tuy nhiên, điều này vượt quá giới hạn ngân sách của Ava nên để đảm bảo
giới hạn ngân sách thì điểm được chọn chỉ có thể nằm trên hai đường bàng quan
(i) và (ii) Mặt khác, nếu chọn trên đường bàng quan (i) thì sự lựa chọn không
mang lại thỏa dụng tối đa Do vậy, điểm A là lựa chọn tối ưu giữa giá trị hàng hóa
tiêu dùng và số giờ lao động được lựa chọn để đạt đồng thời thỏa mãn hai điều
kiện tối đa hóa thỏa dụng và trong giới hạn của đường ngân sách Tại A, đường (ii) tiếp xúc với BC và độ dốc của đường bàng quan (ii) bằng tỷ lệ thay thế biên của đường ngân sách – tức là w
Trang 11Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 11
4.2 Xác định số giờ làm việc khi có thuế thu nhập cá nhân:
Giả sử chính phủ quyết định thay đổi chính sách thuế và đánh thuế thu nhập
cá nhân (thuế trực thu) lên người lao động với thuế suất tỷ lệ t cho mỗi giờ lao
động Lúc này, thu nhập thực nhận của Ava là (1-t)w /giờ Chi phí cơ hội cho Ava khi không lao động một giờ giảm còn (1-t)w đồng Chi phí cơ hội thay đổi làm độ
dốc của đường ngân sách thay đổi Tại hình 1.6, đường ngân sách di chuyển từ
BC1 sang BC 2 với độ dốc đường ngân sách mới là -w(1-t)
Trang 12Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 12
Với sự thay đổi của đường giới hạn ngân sách, điểm tối ưu xác định lựa
chọn số giờ làm việc cũng thay đổi và chạy dọc theo đường BC 2 Điểm tối ưu mới
người lao động A Như minh họa tại hình 1.6, dưới tác động của thuế thu nhập cá nhân, số giờ A sẵn lòng làm việc trong một tuần giảm đi một lượng (L 1 – L 2 )
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra, có phải đánh thuế luôn làm giảm mức cung lao động như trong ví dụ về người lao động Ava ở trên không? Hình 1.7(b) lại cho thấy, khi bị đánh thuế thì người lao động lại gia tăng số giờ làm việc, nghĩa là
giảm giờ nhàn rỗi từ L 1 L 2 Vấn đề ở đây là phụ thuộc vào sở thích khác nhau của những người lao động khác nhau, dẫn đến hình dạng khác nhau của đường bàng quan và tác động đến số giờ làm việc sau khi bị đánh thuế
4.3 Hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế
Dưới tác động của thuế, tập hợp các điểm có khả năng chọn lựa của người lao động được mở rộng Tuy nhiên, việc thu nhập giảm cũng đồng thời làm giảm chi phí của một giờ nhàn rỗi và tác động
Trang 13là hiệu ứng thay thế với khuynh hướng làm giảm mức cung lao động Như vậy, dù
có làm việc bao nhiêu giờ thì thuế vẫn làm giảm thu nhập cá nhân
Thế nhưng, nhàn rỗi cũng là một loại hàng hóa giống như các hàng hóa khác, có sự lựa chọn trong tiêu dùng Nếu như các yếu tố khác không đổi, một khi thu nhập giảm sút, thì người lao động Ava phải cắt giảm số giờ nhàn rỗi Số giờ
nhàn rỗi giảm đi thì giờ lao động tăng lên Hiệu ứng thu nhập có khuynh hướng
làm cho Ava làm việc nhiều hơn
Như vậy, hai hiệu ứng này có tác động theo hai chiều ngược nhau Đơn giản là không thể biết được (nếu chỉ trên cơ sở lý thuyết) hiệu ứng thu nhập hay hiệu ứng thay thế nổi trội hơn Đối với Ava thể hiện trên hình 1.7 (a), hiệu ứng thay thế lớn hơn; còn trên hình 1.7 (b), hiệu ứng thu nhập lớn hơn
Để minh họa tác động của hai hiệu ứng trên, theo như hình 1.7, ta có phân tích qua một điểm trung gian Q nhằm tách rời hai hiệu ứng thu nhập và thay thế,
từ đó giải thích sự chuyển dịch từ điểm P sang điểm R Trên hình vẽ, ta vẽ thêm một đường giới hạn ngân sách song song với đường BC1 và tiếp xúc với đường bàng quan mới tại điểm Q Lúc này, ta có thể thấy tác động của từng hiệu ứng thông qua hai bước di chuyển của điểm lựa chọn tối ưu
Bước 1 - từ P đến Q – tăng giờ làm việc: đây là tác động của hiệu ứng thu nhập
do khi di chuyển từ P đến Q, độ dốc của đường giới hạn ngân sách không đổi,
Trang 14Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 14
tức là chi phí cơ hội của một giờ nhàn rỗi vẫn giữ nguyên nên không có tác động của hiệu ứng thay thế Trong khi đó, mức thỏa dụng của người lao động hay thu nhập thực giảm khiến cầu thời gian nhàn rỗi cũng giảm và tăng thời gian lao động
Bước 2 – từ Q đến R – giảm giờ làm việc: đây là tác động của hiệu ứng thay thế do tổng thỏa dụng hay thu nhập thực của người lao động không đổi; sự di chuyển bị hạn chế dọc theo đường bàng quan mới Do chi phí cơ hội của nhàn rỗi giảm khi thu nhập theo giờ giảm, lượng cầu hàng hóa “nhàn rỗi” tăng; từ
đó làm giảm giờ lao động
4.4 Thuế lũy tiến và phản ứng của cung lao động:
Việc phân tích thuế lũy tiến cũng tương tự như thuế tỷ lệ nhưng chia ra từng mức thu nhập khác nhau
Giả sử, biểu thuế lũy tiến của thuế thu nhập có thuế suất biên: ta cho X đồng thu nhập đầu tiên, t2 đối với X đồng thu nhập thứ hai, t3 đối với phần thu
nhập trên 2X đồng Đường ngân sách trước thuế là BC 1 như hình 1.8 Sau thuế,
đường ngân sách là đường gấp khúc BKHC 2
Hình 1.8 Đánh thuế lũy tiến và phản ứng cung lao động
Trang 15Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 15
Cho tới mức thu nhập X đồng trước thuế, chi phí cơ hội cho một giờ nghỉ
ngơi là (1 – t 1 )w, cũng là độ dốc (giá trị tuyệt đối) của đoạn C 2 H
Tại điểm H, thu nhập của Ava là (1 – t 1 ).X Trên đoạn HK có giá trị tuyệt
đối của độ dốc là (1 – t2)w HK ít dốc hơn đoạn C 2 H vì t 2 > t 1 Tại điểm K, thu nhập sau thuế là [(1 - t 1 ).X + (1-t 2).X] Đây chính là phần thu nhập tại điểm H
cộng với phần thu nhập tăng thêm X đồng với mức thuế t 2 Cuối cùng, trên đoạn
Ava có thể chọn bất kỳ điểm nào trên đoạn BKHC 2
5 Giới hạn làm việc và nguyên tắc trả thêm giờ:
Lý thuyết cơ bản nghiên cứu hiệu ứng của thuế đến cung lao động gắn với giả thiết thị trường lao động lý tưởng Các cá nhân có thể tự do điều chỉnh số giờ lao động của mình dần dần khi có sự thay đổi chính sách thuế Tuy nhiên, trên thị trường lao động, các cá nhân không thể tự do điều chỉnh giờ lao động của mình để tìm điểm tiếp tuyến giữa đường bàng quan và đường ngân sách Chẳng hạn, các công ty yêu cầu những người lao động phải làm việc cho một số giờ nào đó Sự giới hạn này có thể do bởi đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp Người lao động là một mắc xích của dây chuyền sản xuất, nên họ không thể làm việc 32 giờ mà phải làm việc tới 40 giờ/tuần
Một giới hạn khác làm gia tăng giờ làm việc là quy định trả thêm giờ Ở
Mỹ, chính phủ bắt buộc các công ty phải trả 1 giờ làm thêm bằng 1,5 giờ quy định (40 giờ) Quy định này tạo ra độ lỗi của giới hạn ngân sách, nhưng lại làm cho lao động trở nên đắt đỏ hơn đối với các doanh nghiệp trong việc thuê mướn lao động khi làm việc hơn 40 giờ/tuần Doanh nghiệp có thể lưỡng lự khi quyết định cho phép công nhân làm thêm giờ Nhìn chung, các giới hạn như thế sẽ đưa người lao động vào một kế hoạch thống nhất, vì thế làm giảm thấp sự phản ứng giờ làm việc
đối với tiền lương sau thuế
II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM:
1 Kết quả thực nghiệm:
Có quan điểm cho rằng thuế ảnh hưởng rất ít tới số giờ làm việc do:
Trang 16Nhóm 9- Đêm 4 – K22 Trang 16
Phần lớn các công việc đã quy định số giờ làm việc;
Mọi người có rất ít quyền quyết định về số giờ làm việc của mình
Số giờ quy định cho mỗi công việc là do những cân nhắc về công nghệ, cũng như các quy định của Công đoàn và Chính phủ quyết định
Những quy định và thể chế này chỉ tồn tại trong ngắn hạn, trong dài hạn, mọi chuyện có thể thay đổi kể cả các thể chế và quy định của Công đoàn và Chính phủ
Để xác định sự thay đổi cung lao động theo chính sách thuế cần đo lường được độ co giãn của cung lao động theo tiền lương Độ co giãn của cung lao động
đo lường phản ứng của cung lao động khi có sự thay đổi của tiền lương hay % thay đổi của cung lao động khi tiền lương sau thuế tăng 1%
Để ước lượng độ co giãn của cung lao động, chúng ta có thể tiếp cận từ 3 hướng chính
Thực nghiệm xã hội
Các dạng có tính chất thực nghiệm
Hồi quy tuyến tính
của cung lao động
Lý thuyết thực nghiệm phân chia lao động thành 2 nhóm:
Những người kiếm tiền sơ cấp: là thành viên tạo ra thu nhập chính
trong gia đình Theo truyền thống, người kiếm tiền sơ cấp thường là người chồng
Những người kiếm tiền thứ cấp: là những lao động khác còn lại
trong gia đình, thường là người vợ có trách nhiệm nuôi con cái Kết luận về độ co giãn của cung lao động như sau:
Người lao động sơ cấp: độ co giãn là +0.1, ảnh hưởng khá nh
Người lao động thứ cấp: độ co giãn thay đổi từ +0,.5 đến +1.0, ảnh
hưởng rất lớn Ảnh hưởng này xuất phát từ mở rộng biên (liệu có làm thêm hay không), chứ không phải thâm dụng biên (dựa vào số giờ thực tế lao động)