1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn

105 403 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 6,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So sánh một số dòng, giống lạc là một khâu quan trọng trong quá trình chọn tạo giống để đưa ra cái nhìn tổng quan về đặc điểm nông sinh học, sự khác biệt về năng suất cũng như những ưu,

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài

sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân.

Trước hết tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy, cô trong khoa Nông học, đặc biệt các thầy cô trong bộ môn Cây công nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ và có nhiều ý kiến quý báu giúp tôi xây dựng

và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Đình Chính và ThS Nguyễn Thị Thanh Hải đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ công nhân viên của Bộ môn Cây công nghiệp đã giúp đỡ và chia sẻ nhiều kinh nghiệm quý báu và tạo nhiều điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 06 tháng 01 năm 2012

Sinh viên

Trang 2

1.2 Mục đích - yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 3

PHẦN II 4

2.1.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam 10

2.2.2 Một số kết quả nghiên cứu về lạc ở Việt Nam 17

3.1.3 Địa điểm nghiên cứu 26

4.1.6 Động thái ra hoa của các dòng, giống 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 5

PHẦN I

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề.

Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, có nguồn

gốc từ Nam Mỹ, đã có lịch sử khoảng 3000 năm, là cây trồng có nhiều ý nghĩa đối với các nước vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và các vùng khí hậu ẩm Trong những năm qua , an ninh lương thực – một vấn đề cơ bản của người dân Việt Nam đã được giải quyết, từ đó nông dân có điều kiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang những cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn, trong

đó có cây lạc là cây trồng được quan tâm nhiều

Giá trị dinh dưỡng của cây lạc chủ yếu thể hiện ở thành phần sinh hóa của hạt lạc với 45 – 50% lipit, protein (22 – 26%) và gluxit (6 – 22%), trong

đó protein của lạc có chứa đầy đủ các axitamin không thay thế, dầu của hạt lạc chủ yếu chứa axit béo chưa no giúp cơ thể con người dễ hấp thụ và hạn chế cholesterol trong máu Bên cạnh đó, trong hạt lạc còn chứa gluxit, xellulo, nhiều loại khoáng chất Ca, Fe, Mg, P, K, Zn… và các vitamin (B1, B2, PP, E…) Do vậy, từ lâu loài người đã sử dụng lạc như một nguồn thực phẩm quan trọng như: sử dụng trực tiếp quả tươi dùng để luộc, nấu canh, quả khô thì dùng để rang, làm nhân, kẹo mứt … Đặc biệt, khi nền công nghiệp thực phẩm phát triển, người ta đã chế biến nhiều mặt hàng thực phẩm có giá trị từ lạc như lạc rút dầu, bơ lạc, pho mát lạc, sữa lạc … Chính vì vậy hạt lạc đã trở thành mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị kinh tế cao

Ngoài giá trị cung cấp dinh dưỡng cho con người thì lạc còn là nguồn cung cấp thức ăn cho gia súc do tỷ lệ các chất đường, đạm trong thân lá lạc khá cao, đặc biệt trong khô dầu lạc có chứa tới 80% protein

Bên cạnh đó, cây lạc có khả năng tạo ra tính đa dạng hóa cho sản xuất nông nghiệp bằng các hình thức trồng thuần, trồng xen canh, trồng gối vụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp Cùng với đó do đặc điểm ở bộ

Trang 6

rễ lạc có khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần Rhizobium vigna nên cây

lạc có khả năng cải tạo đất tốt Nhiều kết quả khác nghiên cứu cũng cho thấy trong than lạc có đến 4,45% N, 0,77% P2O5, 2,25% K2O, do đó cây lạc cũng

là nguồn cung cấp phân xanh quan trọng cho nhiều loại cây trồng khác Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các chân đất xấu bạc màu, vùng đất dốc, vùng

có điều kiện khí hậu biến động và canh tác đặc biệt khó khăn …

Mặc dù cây lạc mang lại nhiều giá trị to lớn, song việc sản xuất lạc ở nước ta đang còn gặp rất nhiều khó khăn, năng suất cây lạc còn thấp, khả năng thâm canh chưa cao Nghiên cứu chọn tạo giống lạc là một trong những biện pháp kỹ thuật góp phần làm tăng năng suất lạc, tăng giá trị kinh tế và thu nhập cho người dân

So sánh một số dòng, giống lạc là một khâu quan trọng trong quá trình chọn tạo giống để đưa ra cái nhìn tổng quan về đặc điểm nông sinh học, sự khác biệt về năng suất cũng như những ưu, nhược điểm giữa các dòng, giống lạc Từ đó đề xuất một số giống lạc mang đi khảo giống quốc gia nhằm đưa vào sản xuất đại trà, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng, từng địa phương

Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “So sánh một số

dòng, giống lạc trong điều kiện vụ Hè Thu năm 2011 trên đất Gia Lâm –

Trang 7

1.2.2 Yêu cầu

- Theo dõi đánh giá các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển, đặc điểm hình thái của các dòng, giống

- Theo dõi, đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý của các dòng, giống

- Theo dõi, đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh của các dòng, giống

- Xác định năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống

Trang 8

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và ở Việt Nam.

2.1.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới.

Mặc dù lạc được phát hiện và gieo trồng từ khoảng 500 năm nay, nhưng giá trị kinh tế của cây lạc mới chỉ được xác định khoảng 125 năm trở lại đây, đến giữa thế kỉ thứ XVIII sản xuất lạc vẫn mang tính tự cung, tự cấp cho từng vùng, cho tới khi ngành công nghiệp ép dầu lạc phát triển ở Pháp, việc buôn bán trở nên tấp nập và thành động lực thúc đẩy mạnh sản xuất lạc

Theo báo cáo của Fletcher và cộng sự (1992) thì tình hình sản xuất lạc trên thế giới trong thập niên 80 đều tăng so với thập niên 70 của thế kỷ XX Năng suất lạc tăng 0,15 tấn/ha, sản lượng tăng gần 3 triệu tấn, nhu cầu sử dụng lạc tăng 2,8 triệu tấn so với thập niên 70 Giữa hai thập niên 70 và 80 diện tích lạc thế giới chỉ tăng khoảng 88,6 nghìn ha nhưng do năng suất lạc tăng nên sản lượng tăng lên đáng kể, đạt 18,8 triệu tấn

Vào những 80 của thế kỉ XX, trên thế giới có 28 nước ở Châu Phi, 15 nước ở Châu Á, 8 nước ở Châu Mỹ, 2 nước ở Châu Âu, 1 nước ở Châu Đại Dương có trồng lạc với diện tích là 19.775.000ha Năng suất lạc quả đạt bình quân 9.55 tạ/ha và tổng sản lượng là 18.901.000 tấn Ở thời kỳ này, châu Á dẫn đầu thế giới về diện tích và tổng sản lượng lạc với 11.950.000 ha và 11.910.000 tấn lạc quả Trong đó các nước trồng nhiều lạc ở châu Á có Ấn

Độ, Trung Quốc, Myanma, Indonexia, Thái Lan và Việt Nam Các nước dẫn đầu thế giới về năng suất lạc là Ixaren (40.2 tạ/ha), Thổ Nhĩ Kì (27,27 tạ/ha),

Hy Lạp (24,12 tạ/ha), Tây Ban Nha (22,49 tạ/ha), Nhật Bản (19,85 tạ/ha), Trung Quốc (12,49 tạ/ha)

Vào những năm cuối thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI, sản xuất lạc có một số chuyển động Trên thế giới diện tích trồng lạc ở Châu Á giảm

Trang 9

xuống chỉ còn chiếm 60% tổng diện tích lạc trên thế giới, ở Châu Phi diện tích trồng lạc lại tăng lên và chiếm 30% tổng diện tích trồng lạc của thế giới Trên 60% sản lượng lạc của thế giới thuộc về 5 nước sản xuất chính đó là:

Ấn Độ 31%, Trung Quốc 15% sản lượng toàn thế giới, sau đó đến Xênêgan, Nigiênia, Hoa kỳ (Đường Hồng Dật, 2007)

Trong những năm gần đây, nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất lạc nên năng suất lạc trên thế giới không ngừng tăng Năng suất lạc trung bình trong những năm 80 là 9,55 tạ/ha, năm 90 là 11,5 tạ/ha

Theo thống kê của FAO, từ năm 2000 đến nay diện tích, năng suất và sản lượng lạc của thế giới có sự biến động Diện tích trồng lạc có xu hướng giảm nhẹ, năm 2000, diện tích trồng lạc là 23,25 triệu ha, sau đó tăng lên và đạt cao nhất vào năm 2005 (24,05 triệu ha), nhưng đến năm 2009 diện tích trồng lạc giảm xuống còn 23,95 triệu ha

Ngược lại với diện tích, năng suất lạc ngày càng tăng nhờ được áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất Năm 2000 năng suất lạc đạt 14,94 tạ/ha, tăng so với năng suất năm 1980 (11 tạ/ha) là 35,8%, năm 1990 (11,5 tạ/ha) là 29,9% Đến năm 2005, năng suất lạc thế giới đạt 15,99 tạ/ha cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây Tuy nhiên, năm 2009, năng suất lạc thế giới giảm xuống còn 15,22 tạ/ha

Diện tích sản xuất lạc hàng năm trên thế giới tăng lên đáng kể từ những năm 1960 đến nay Năm 1961 diện tích sản xuất lạc trên thế giới mới chỉ có 18,22 triệu ha, đến năm 1999 diện tích trồng lạc trên thế giới đã là 20,94 triệu

ha Diện tích vẫn tiếp tục tăng từ năm 2005 với 24,05 triệu ha, năm 2007 giảm xuống chỉ còn 22,47 triệu và đến năm 2009 diện tích trồng lạc là 23,95 triệu

ha Cùng với sự gia tăng về năng suất, sản lượng lạc thế giới cũng tăng lên, đạt cao nhất là 38,44 triệu tấn (năm 2005), sau đó giảm xuống cùng với sự tụt giảm năng suất, sản lượng lạc năm 2009 đạt 36,46 triệu tấn

Trang 10

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất lạc của thế giới trong những năm gần đây

Nguồn: FAOSTAT, tháng 11 năm 2011

Trên thế giới lạc phân bố không đều, thường tập trung ở vùng nhiệt đới

và á nhiệt đới, trong khoảng 400 Bắc đến 400 Nam (Vũ Công Hậu và CS, 1995) Diện tích, năng suất, sản lượng lạc giữa các khu vực có sự biến động đáng kể Nhiều khu vực có diện tích trồng lạc lớn song năng suất lại tương đối thấp Khu vực Bắc Mỹ tuy có diện tích trồng lạc không nhiều (20,0 – 28,0 tạ/ha) Trong khi đó Châu Phi diện tích trồng lạc khoảng 6.400.000 ha nhưng năng suất chỉ đạt 7,8 tạ/ha (Ngô Thế Dân và CS, 2000; Nguyễn Thị Dần và

CS, 1995) Châu Á có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới (chiếm 60% diện tích trồng và 70% sản lượng lạc trên thế giới – năm 2005) Trong khi đó diện tích khu vực Đông Á tăng mạnh nhất từ 2,0 triệu ha lên 3,7 triệu ha, khu vực Đông Nam Á tăng 15,5%, Tây Á tăng 14,1% Nhờ có sự nỗ lực của các quốc gia đầu tư, nghiên cứu áp dụng các tiến bộ kỹ thuật nên năng suất lạc tăng nhanh, từ 14,5 tạ/ha năm 1990 lên 18,28 tạ/ha năm 2009 Năng suất lạc trong khu vực Đông Nam Á nhìn chung còn thấp, năng suất bình quân đạt 11,7 tạ/ha Malayxia là nước có diện tích trồng lạc thấp nhưng lại là nước có năng

Trang 11

suất lạc cao nhất trong khu vực, năng suất trung bình đạt 23,3 tạ/ha, tiếp theo

là Indonesia và Thái Lan

Nghiên cứu về tình hình sản xuất lạc trên thế giới cho thấy hiện nay sản lượng lạc hàng năm chủ yếu tập trung ở một số nước như: Trung Quốc, Ấn

Độ Mỹ, Nigieria… Trong số này, Ấn Độ là nước có diện tích sản xuất lạc lớn nhất thế giới, nhưng do lạc được trồng chủ yếu ở những vùng khô hạn và bán khô hạn nên năng suất rất thấp và thấp hơn năng suất trung bình của thế giới Năm 1995, diện tích trồng lạc của Ấn Độ là 7,8 triệu ha, chiếm 37% diện tích trồng lạc trên thế giới, năng suất đạt 9,5 tạ/ha và sản lượng 7,3 triệu tấn (Florkowski V.J., 1994) Đến năm 2009, Ấn Độ đứng thứ 2 trên thế giới về sản lượng lạc, chiếm 15,12% tổng sản lượng toàn thế giới

Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc một số nước trên thế giới

Tên nước

Diện tích(triệu ha)

Năng suất(tạ/ha)

Sản lượng(triệu tấn)

2007 2008 2009 2007 2008 2009 2007 2008 2009Trung Quốc 3,97 4,27 4,40 32,96 33,60 33,57 13,0

8 14,34 14,76

Ấn Độ 6,29 6,16 5,47 14,59 11,64 10,0

7 9,18 7,17 5,51Nigeria 2,20 2,34 2,64 12,93 12,30 11,26 2,85 2,87 2,97

0 38,24 1,70 2,34 1,67Inđônêxia 0,66 0,64 0,62 20,96 12,16 12,49 1,38 0,77 0,78Senegal 0,61 0,84 1,06 5,45 8,74 9,75 0,33 0,73 1,03Sudan 0,60 0,95 0,95 9,43 7,51 9,96 0,56 0,72 0,94

Nguồn: FAOSTAT, tháng 11 năm

Trang 12

2000 – 2004, diện tích trồng lạc trung bình là 0,578 triệu ha/năm Năng suất trung bình hàng năm là 31,7 tạ/ha, cao hơn những năm trước là 13,6% (USDA, 2000 – 2006) Theo thống kê của FAO (2011) cho thấy diện tích gieo trồng của nước này năm 2009 đạt 0,44 triệu ha, năng suất đạt 38,24 tạ/ha và sản lượng là 1,67 triệu tấn Có thể thấy rằng mặc dù diện tích gieo trồng lạc tại đây không lớn song năng suất lạc lại cao nhất thế giới, do đó sản lượng lạc của Mỹ cũng khá cao và ổn định Chứng tỏ việc áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ cũng như trình độ thâm canh cây lạc tại Mỹ là rất cao.

Ngoài ra còn một số nước sản xuất lạc lớn khác như: Indonesia, Xenegan, Sudan…

Theo số liệu dự báo của Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ, sản lượng lạc của một số nước trong năm 2010 và năm 2011 có thể là : Mỹ 1,92 triệu tấn, Trung Quốc 14,8 triệu tấn, Ấn Độ 6,4 triệu tấn, Nigeria 1,55 triệu tấn, Việt Nam là 0,55 triệu tấn

Cùng với việc gia tăng về diện tích, năng suất và sản lượng, thị trường tiêu thụ lạc cũng diễn ra rất sôi nổi, lượng lạc xuất khẩu trên thế giới không ngừng tăng lên Những năm 70, 80 của thế kỷ trước, sản lượng lạc xuất khẩu trên thế giới bình quân chỉ đạt 1,11 – 1,16 triệu tấn/năm, đến năm 1997 – 1998 tăng lên 1,39 triệu tấn và đến năm 2001 – 2002 đạt 1,58 triệu tấn Đến năm 2009, lượng lạc xuất khẩu trên thế giới đạt 2,20 triệu tấn Như vậy, một khối lượng lạc lớn đã được lưu thông, trao đổi trên thị trường thế giới Lạc được sử dụng với mục đích làm thực phẩm và chế biến dầu là chủ yếu Ngoài ra còn sử dụng cho một số mục đích khác như làm thức ăn chăn nuôi và làm bánh kẹo

Các nước xuất khẩu lạc nhiều trên thế giới là: Mỹ, Argentina, Sudan, Senegan và Brazil… chiếm 71% tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới Trong những năm gần đây, Mỹ là nước xuất khẩu lạc hàng đầu Argentina là nước đứng thứ 2 về xuất khẩu lạc, trung bình hàng năm xuất khẩu 36,2 nghìn tấn, chiếm 12,3% lượng lạc xuất khẩu thế giới Hiện nay, nước này xuất khẩu đến 80% lượng lạc xuất khẩu

Trang 13

Trung Quốc và Ấn Độ là những nước đứng đầu về sản xuất lạc, nhưng xuất khẩu lạc của cả hai nước này chỉ chiếm 4% trên thế giới Do hầu hết các sản phẩm lạc được tiêu thụ trong nước là chính Lượng lạc tiêu thụ của Trung Quốc chiếm hơn một nửa lượng lạc của thế giới, năm 2009 tiêu thụ 3,8 triệu tấn.

Mức tiêu thụ lạc của nhân dân Ấn Độ tăng lên 60% tổng sản lượng, gấp đôi so với mức 30% cách đây 3 năm trong khi chỉ có 15% sản lượng dùng cho tiêu dùng và xuất khẩu Điều này thể hiện cơ cấu tiêu dùng lạc của Ấn Độ đã thay đổi Tiêu dùng các sản phẩm chế biến từ lạc như rang, muối và đóng gói tăng Trong khi để hạn chế nhập khẩu dầu ăn, lượng lạc đã được dùng làm dầu ăn tăng lên Sản lượng lạc niêm vụ 2009 – 2010 có thể đạt 3,5 triệu tấn

củ, trong đó lạc nhân là 2 triệu tấn (Nguyễn Hà Sơn, 2010)

Các nhà nhập khẩu lạc chính là liên minh châu Âu EU, Canada và Nhật Bản chiếm tổng 78% tổng lượng lạc nhập khẩu ở các nước trên thế giới Mỗi năm EU nhập khẩu khoảng 460.000 tấn (chiếm 60% lượng nhập khẩu của thế giới), tiếp đến là Nhật Bản khoảng 130.000 tấn, Canada khoảng 120.000 tấn, Hàn Quốc khoảng 30.000 tấn

Tổng xuất khẩu lạc trên thế giới năm 2010/11 dự báo đạt 2,35 triệu tấn, tăng nhẹ so với 2,20 triệu tấn của năm 2009/10 Tổng sản lượng lạc đem ép dầu trên thế giới dự báo đạt 15,54 triệu tấn trong năm 2010/11, cao hơn so với 14,36 triệu tấn của năm 2009/10 Tổng dự trữ lạc trên thế giới cuối niêm vụ 2010/11 dự báo đạt 1,19 triệu tấn, giảm nhẹ so với 1,24 triệu tấn của cuối niêm vụ 2009/10 (Thương nghiệp thị trường Việt Nam, 2010)

Xét về mặt kinh tế, cây lạc đã góp một phần sản không nhỏ vào việc cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nông dân Chính vì vậy, việc nghiên cứu và phát triển cây lạc trong hệ thống luân canh cây trồng là rất cần thiết nhằm từng bước thúc đẩy đa dạng hóa sản phẩm, sử dụng hợp lý hơn những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững

Trang 14

2.1.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam

Cây lạc du nhập vào nước ta từ bao giờ chưa có một tài liệu nào xác minh cụ thể Chỉ biết là so với những cây trồng khác như lúa, đậu tương, đậu xanh…thì cây lạc xuất hiện sau Hiện nay lạc đang được trồng rộng rãi trong khắp cả nước và đang chiếm vị trí hàng đầu trong số những câ công nghiệp ngắn ngày vì lạc là cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế có giá trị đa dạng và phong phú Diện tích trồng lạc chiếm khoảng 40% diện tích cây công nghiệp ngắn ngày Theo Lê Văn Diễn và CS (1991), ở Việt Nam cây lạc được trồng ở 59/64 tỉnh thành Trong cơ cấu cây công nghiệp hàng năm (đay, cói, mía, lạc, đậu tương, thuốc lá) thì diện tích lạc chiếm 32,93% tổng diện tích (năm 2008)

Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2011

Những năm gần đây, do việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sản xuất theo hướng sản phẩm hàng hóa, sản xuất lạc ở Việt Nam có chiều hướng tăng

cả về diện tích, năng suất và sản lượng

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Việt Nam, trong 11 năm trở lại đây (2000 – 2010), sản xuất lạc của nước ta cũng có nhiều biến động Từ năm

2001 – 2005 có sự biến động lớn nhất cả về diện tích, năng suất và sản lượng

Trang 15

Năm 2005 diện tích lạc đạt 269,6 nghìn ha, năng suất đạt 18,1 tạ/ha và sản lượng 489,3 nghìn tấn Cũng vào thời điểm này, Việt Nam đứng thứ 12 về diện tích và đứng thứ 9 về sản lượng lạc trên thế giới Những năm sau đó, diện tích lạc có xu hướng giảm dần, nhưng năng suất và sản lượng lạc lại có những chuyển biến tích cực Có được điều này là do việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu chọn tạo giống cũng như áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Năm 2010, năng suất trung bình cả nước đạt 21,0 tạ/ha, sản lượng đạt 485,7 nghìn tấn với diện tích trồng là 231,0 nghìn ha.

Về phân bố, lạc được trồng ở hầu hết các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam, tuy nhiên có 6 vùng sản xuất chính như sau:

Bảng 2.4: Diện tích các vùng trồng lạc ở Việt Nam (1000 ha)

Năm

Sơ bộ2010

Trang 16

giữ nguyên 72,8 nghìn tấn năm 2010 giảm 5,2 nghìn tấn so với năm 2007 và 9,6 nghìn tấn so với năm 2008.

Vùng trung du và miền núi phía Bắc: lạc được trồng chủ yếu ở Hà

Giang, Phú Thọ, Hoà Bình, Tuyên Quang với tổng diện tích năm 2010 là 50,2 nghìn ha, chiếm 21,73% và sản lượng 88,5 nghìn tấn, chiếm 18,22% sản lượng của cả nước Đây là vùng có diện tích cũng như sản lượng đứng thứ 2 của cả nước

Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung: đây là vùng trọng điểm về

sản xuất lạc bởi vùng có diện tích và sản lượng lớn nhất cả nước Lạc được trồng tập trung ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Nam với tổng diện tích 102,3 nghìn ha năm 2010 chiếm 44,29% và sản lượng 204,0 nghìn tấn, chiếm 42,00% sản lượng cả nước, trong đó Nghệ An có sản lượng cao nhất (48,2 nghìn tấn)

Bảng 2.5: Sản lượng các vùng trồng lạc ở Việt Nam (1000 tấn)

NămVùng trồng

Sơ bộ 2010

Trang 17

Vùng Đông Nam Bộ: lạc được trồng chủ yếu ở Tây Ninh, Bình Dương với

tổng diện tích 20,5 nghìn ha, chiếm 8,87%, sản lượng 51,6 nghìn tấn chiếm 10,62% Đây là vùng có diện tích và sản lượng đứng thứ 4 trong cả nước

Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long: lạc được trồng chủ yếu ở Long An,

Trà Vinh với tổng diện tích năm 2010 là 11,1 nghìn ha, chiếm 4,8%, sản lượng 39,5 nghìn tấn, chiếm 8,13% sản lượng cả nước Đây là vùng có diện tích trồng lạc thấp nhất cả nước nhưng lại là vùng có năng suất cao nhất cả nước (35,57 tạ/ha năm 2010)

Như vậy, trình độ thâm canh và sản xuất lạc của nước ta không đều, giữa các vùng có sự khác biệt lớn, thêm vào đó là do điều kiện khí hậu thời tiết giữa các vùng Nhiều nơi năng suất đạt khá cao như vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng; bên cạnh đó còn có những vùng có năng suất thấp như trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên

Về mặt xuất khẩu, cây lạc đã trở thành một trong 10 loại cây trồng chính có giá trị xuất khẩu cao Trong các cây trồng hàng năm, xuất khẩu lạc đứng thứ 2 (sau cây lúa) Ở Việt Nam, xuất khẩu lạc đứng thứ 5 trong 25 nước trồng lạc Châu Á, Theo FAO, 5 năm gần đây Việt Nam sản xuất 400 -

450 tấn, xuất khẩu từ 50 - 105 tấn thu về 30 - 50 triệu USD

Mặc dầu năng suất và sản lượng lạc của nước ta có tăng nhưng so với các nước đứng đầu vẫn còn ở mức thấp Tuy nhiên, trong thời gian tới lạc vẫn

là cây trồng giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng của nước ta, do mang lại hiệu quả kinh tế cao cũng như có nhiều lợi thế cạnh tranh đặc biệt trên đất nghèo dinh dưỡng, đất cằn, những vùng tưới tiêu gặp khó khăn

2.2 Một số kết quả nghiên cứu về lạc trên thế giới và ở Việt Nam.

2.2.1 Một số kết quả nghiên cứu về lạc trên thế giới

Trang 18

Giống là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sản lượng lạc Do đó từ nhiều năm qua, các Quốc gia, các nhà khoa học trên thế giới đã đặc biệt quan tâm đến chương trình chọn tạo giống lạc phục vụ sản xuất và việc cải tiến giống lạc tạo ra các giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, kháng được sâu bệnh, thích ứng rộng với điều kiện ngoại cảnh đã góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất và sản lượng lạc trên thế giới.

Ngay từ rất sớm, các nhà khoa học trên thế giới đã quan tâm đến việc thu thập và bảo tồn nguồn gen cây lạc Viện nghiên cứu cây trồng vùng nhiệt đới bán khô hạn (ICRISAT) là cơ sở lớn nhất nghiên cứu về cây lạc Tính đến năm 1993, viện đã thu thập được 13.915 lượt mẫu giống lạc từ 99 nước trên thế giới, trong đó Châu Phi 4.078, Châu Á 4.609, Châu Mỹ 3.905, Châu Đại Dương 59 Còn 1245 mẫu giống chưa rõ nguồn gốc Đặc biệt ICRISAT đã

thu thập được 301 lượt mẫu giống thuộc 35 loài dại của chi Arachis, đây là

nguồn gen có giá trị cao trong công tác cải tiến giống theo hướng chống bệnh

và chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận (Mengesha M.H, 1993)

Trong số các mẫu giống đã thu thập được thông qua các đặc tính hình thái, nông học, sinh lý, sinh hóa và khả năng chống chịu sâu bệnh, ICRISAT

đã phân lập theo các nhóm tính trạng khác nhau phục vụ cho nghiên cứu chọn tạo giống như: nhóm kháng bệnh, nhóm chống chịu hạn, nhóm hàm lượng dầu cao, nhóm chín trung bình, nhóm chín muộn, nhóm chín sớm… Trong đó các nhóm chín sớm điển hình là Chico, 91176, 91776, ICGS (E) 71, ICGV 86105(Nigam S.N et al, 1995), ICGS (E) 52, ICGV 86062 (Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Thị Yến, 1991),, giống lạc có năng suất cao như ICGV – SM

83005 (Nigam S.N et al, 1998), ICGV 88438, ICGV 89214, ICGV 91098 (Hadjichristodoulou A et al, 1997) và các giống lạc có khả năng kháng sâu bệnh như giống ICVG 86388, giống ICGV 86699, giống ICGV – SM 86715, ICGV 87165

Trang 19

Nhận thức được tầm quan trọng to lớn của giống lạc trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất, nhiều quốc gia trên thế giới đã sớm quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực này và thu được nhiều kết quả khả quan.

Ở Trung Quốc, theo Li Jangping (1992) và XuZeyong (1992) trong thập niên 80, có 95% diện tích trồng lạc đã sử dụng các giống lạc cải tiến làm tăng năng suất từ 5- 10% Một số giống lạc mới với những đặc tính nông học tốt và thời gian sinh trưởng ngắn như Shanyou 27, Yneyou 116, Yuesuan 92, Furonghuaheng, Elhua N04… được đưa vào sản xuất thay cho các giống cũ thuộc loại hình Spanish, Virginia

Thái Lan cũng cho ra đời với những giống lạc chín sớm, năng suất cao, chịu hạn và kháng bệnh đốm lá, gỉ sắt, đặc biệt có kích thước hạt lớn, phù hợp với tập quán sử dụng như: Khon Kean 60-3, Khon Kean 0-2, Khon Kean 0-1

và Tainan 9 (Sanun Joglog và CS, 1996)

Ở Philippin các giống đã được đưa vào sản xuất trong những năm 1986 -

1990 là UPLP n6, UPLP n8, và BPIPn8 Các giống này đều kháng bệnh với bệnh đốm lá muộn và gỉ sắt, đều có kích thước hạt lớn, đồng thời có 2- 3 hạt trên quả phù hợp với việc sử dụng gia đình (Perdido V.C and E.L Lopez, 1996)

Ở Mỹ, các nhà khoa học không ngừng cải tiến kỹ thuật, cơ cấu giống

và đã tạo được nhiều giống có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng kháng sâu bệnh phục vụ sản xuất (Florigant Florkowski V.J.1994), giống F2 VA93B (Coffelt T.A et al, 1994), VGP9 (Coffelt T.A et al, 1994) Giống VGS1 và VGS2 đều là 2 giống có năng suất cao được trồng nhiều ở Florida (Coffelt T.A et al, 1995) Giống Andru 93 là giống có năng suất cao, hàm lượng dầu là 50,7%, giống NC12C có khả năng kháng bệnh đốm lá, gỉ sắt và héo xanh vi khuẩn, năng suất cao từ 30 - 50 tạ/ha được trồng phổ biến ở Georgia, Florida và Alabam (Isleib T.G et al, 1997) Giống Tarmun 96, năng suất cao, có khả năng kháng bệnh thối quả và một số bệnh do virus khác (Smith và CS, 1998) Mỹ đã đưa vào sản xuất 16 giống lạc mới (9 giống

Trang 20

thuộc loại hình Runer, 5 giống thuộc loại hình Virginia, 2 giống thuộc loại hình Spanish) (S.Y.Nigam, 1992) Hiện đang có 3 chương trình nghiên cứu sử dụng lạc dại lai với lạc trồng để tạo ra giống chống sâu bệnh ở Carolina Oklahoma và Texas (Perdido V.C and E.L Lopez, 1996).

Tại Indonexia các giống có triển vọng đã được khuyến cáo và đưa vào sản xuất từ năm 1991 là Mahesa, Badak, Biawar và Komdo, tập trung vào năng suất cao, chín sớm, phẩm chất tốt và kháng bệnh héo xanh vi khuẩn, đốm lá muộn, gỉ sắt

Ấn Độ cũng là nước có nhiều thành tựu to lớn về công tác chọn tạo giống Theo lời dẫn của Ngô Thế Dân và CS (2000), trong chương trình hợp tác với ICRISAT, Ấn Độ đã phân lập và phát triển được giống lạc chín sớm phục vụ rộng rãi trong sản xuất, đó là BSR (D.Sudhakar và CS, 1995) Bên cạnh đó, các nhà khoa học của Ấn Độ cũng đã lai tạo và chọn được nhiều giống lạc thương mại mang tính đặc trưng cho từng vùng Mỗi bang của Ấn

Độ trồng các giống khác nhau Tại bang Andhra Pradessh , trồng giống Kadiri-2, giống Kadiri-3, chiều cao cây 23 – 28 cm, thời gian sinh trưởng 115 – 120 ngày, hạt chứa 43,7% dầu, tỷ lệ nhân 76% Bang Gujarat trồng giống GAUG-1, dạng cây đứng, thời gian sinh trưởng 95 – 100 ngày, thích ứng trong điều kiện canh tác nước trời…

Australia đã thu thập được 12.160 lượt mẫu giống từ nhiều nước trên thế giới như Châu Phi, Trung Quốc, Bắc Mỹ, Châu Á, Châu Âu, Châu Đại Dương Hầu hết các mẫu giống đều thuộc 2 kiểu phân cành liên tục và xen kẽ (theo FAO, 1991)

Bên cạnh công tác giống, các biện pháp kỹ thuật cũng được quan tâm như mùa vụ, che phủ, phân bón cho lạc và đặc biệt việc sử dụng cây lạc như một cây trồng che phủ, trồng xen với các cây trồng khác Cây lạc như một cây trồng cung cấp dinh dưỡng và chống xói mòn đất

Trang 21

2.2.2 Một số kết quả nghiên cứu về lạc ở Việt Nam

Ở Việt Nam công tác thu thập và bảo tồn những nguồn gen quý phục

vụ cho công tác chọn tạo giống lạc được quan tâm nhiều Từ những năm

1980, trung tâm giống cây trồng Việt Xô – Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Nghiệp Việt Nam đã tiến hành thu thập có hệ thống và nhập nội nguồn vật liệu từ nước ngoài Số lượng mẫu giống lạc thu thập và nhập nội đã lên tới 1.271 mẫu, trong đó gồm 100 giống địa phương và 1.171 giống nhập từ 40 nước trên thế giới (Ngô Thế Dân và CS, 2000)

Công tác chọn tạo giống tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào các mục tiêu: năng suất cao, thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh, thời gian sinh trưởng khác nhau phù hợp với công tác luân canh cây trồng, giống có chất lượng cao phục vụ ép dầu và xuất khẩu Do vậy công tác nghiên cứu, chọn tạo giống và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong thâm canh cây lạc đã thu được nhiều thành công đáng chú ý, tạo ra các giống mới có năng suất cao hơn hẳn giống địa phương

Những năm gần đây, Việt Nam đã thu thập và nhập nội được một lượng giống lạc tương đối lớn (Ngô Thế Dân và CS, 2000) Song việc mô tả, đánh giá, bảo quản còn nhiều hạn chế, do thiếu kinh phí Một lượng nhỏ mẫu giống (133 mẫu) được lưu giữ, mô tả trong ngân hàng gen Quốc Gia

Cùng với công tác thu thập và bảo tồn tập đoàn giống lạc, công tác chọn tạo giống ở Việt Nam cũng được quan tâm phát triển và thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận Mục tiêu chọn tạo giống tập trung vào các yếu tố: năng suất cao, thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh, thời gian sinh trưởng khác nhau phù hợp với các công thức luân canh cây trồng, giống có chất lượng cao phục vụ ép dầu và xuất khẩu

Từ năm 1974, Bộ môn Cây Công Nghiệp – Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội đã bắt đầu nghiên cứu chọn tạo giống lạc bằng phương pháp lai hữu tính và phương pháp đột biến phóng xạ Các giống được chọn bằng

Trang 22

phương pháp đột biến: Từ giống Bạch sa, sử dụng phương pháp đột biến phóng xạ tạo ra giống B5000 có hạt to, vỏ lụa màu hồng, năng suất cao, ổn định (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn và CS, 1996).

Giống lạc Sen lai 75/23 được chọn từ việc lai hữu tính 2 giống Mộc Châu Trắng và Trạm Xuyên có năng suất cao, sinh trưởng mạnh, tương đối chịu rét,

vỏ lạc màu hồng, hạt to phù hợp cho xuất khẩu (Lê Song Dự và CS, 1991)

Từ năm 1991 đến nay, Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm đậu đỗ - Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam với mục đích chọn tạo giống khác nhau, đã chọn tạo ra một số giống điển hình như V79, tỷ lệ dầu cao, đáp ứng cho nhu cầu sản xuất dầu ăn L05 là giống ngắn ngày có thời gian sinh trưởng 115 ngày trong vụ xuân, ngắn hơn Sen Nghệ An từ 5 – 7 ngày, dài hơn Cúc Nghệ An 10 ngày, chỉ số diện tích lá, khả năng tích lũy chất khô ở hai thời kỳ đầu tốt hơn hai dòng đối chứng Giống L05 có năng suất cao hơn Cúc Nghệ An là 34%, khối lượng

100 hạt đạt 56,7 – 61,4 (gam) vỏ hạt màu hồng sang, hợp thị hiếu người tiêu dùng

và xuất khẩu Giống L05 nhiễm các bệnh chính ở mức trung bình như Cúc Nghệ

An, khá hơn Sen Nghệ An (Nguyễn Thị Chinh và CS, 1998)

Kết quả đánh giá các đặc điểm nông sinh học của các giống lạc địa phương làm vật liệu cho công tác chọn tạo giống mới chống chịu tốt và chất lượng cao cho thấy các giống lạc địa phương có đặc điểm riêng biệt như kích thước lá, hình dạng mỏ quả, khối lượng quả, hạt, màu sắc quả Giống Trơ Hà Tĩnh có diện tích lá chét lớn nhất, có mỏ quả dài Giống Trơ Hà Tĩnh, Trốc Sư gân quả không rõ Giống Bắc Ninh và Ninh Bình có khối lượng quả lớn Giống Gié Vĩnh Phúc có khối lượng quả nhỏ Các giống Bắc Ninh, Đỏ Bắc Giang, Đỏ Tuyên Quang có khối lượng hạt lớn Giống Gié Vĩnh phúc có khối lượng hạt nhỏ Những giống có hạt màu đỏ: Đỏ Bắc Giang, Đỏ Tuyên Quang,

Đỏ Hòa Bình Các giống lạc địa phương còn khác nhau về khả năng sinh trưởng, diện tích lá, LAI, khả năng tích luỹ chất khô, tỷ lệ quả chắc, các yếu

tố cấu thành năng suất, năng suất hạt, hàm lượng đường, dầu và hàm lượng protein (Bùi Xuân Sửu và CS, 2010)

Trang 23

Từ năm 1986 đến năm 1990, Viện Khoa học Nông Nghiệp Miền Nam đã

xử lý đột biến 3 giống: Lỳ, Bạch Sa 77, Trạm Xuyên đã chọn lọc được các dòng triển vọng là: L15-2-1, L25-4-1, TX15-1-2, TX10-7-2BS 1-1-1 Giống 4329 được chọn tạo từ xử lý đột biến giống Hoa 17, giống có nguồn gốc Trung Quốc,

có thời gian sinh trưởng 130 - 140 ngày, năng suất đạt trên 20 tạ/ha, tỷ lệ hạt cao

Giống lạc LVT có nguồn gốc từ Trung Quốc do Viện nghiên cứu ngô tuyển chọn và được công nhận là gống tiến bộ kỹ thuật năm 1999 Thời gian sinh trưởng vụ Xuân 125 – 130 ngày, vụ Thu đông 110 ngày, khối lượng 100 hạt

từ 50 – 55g, tỷ lệ nhân 70 – 72% Năng suất trung bình 25 – 32 tạ/.ha, vỏ lụa màu hồng nhạt (Tiến bộ kỹ thuật về trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam, 1999)

* Giai đoạn 1996 - 2004 Chương trình giống Quốc Gia đã chọn tạo được 16 giống lạc, trong đó có giống lạc có năng suất vượt trội là L18, L14, giống có khả năng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn, năng suất khá MD7, giống chất lượng cao L08, giống chịu hạn L12 hiện đang phát triển mạnh ở các tỉnh phía Bắc Các giống lạc VD1, VD2 năng suất cao hơn giống Lỳ địa phương phù hợp cho các tỉnh phía Nam

Giống L02: Do viện KHKTNN Việt Nam tuyển chọn từ dòng lạc số 2 tuyển chọn từ Trung Quốc và được Bộ Nông Nghiệp và PTNT công nhận là giống tiến bộ

kỹ thuật năm 1998 (Hoàng Nghĩa Lợi, 1998) Giống có năng suất trung bình đạt 35 tạ/ha Trong điều kiện thâm canh tốt, năng suất có thể đạt tới 50 tạ/ha, kháng khá với bệnh đốm lá, gỉ sắt, héo xanh vi khuẩn (Dư Ngọc Thành, 2006)

Giống L08: Được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc quần thể từ dòng lạc mang tên QĐ2 trong tập đoàn nhập nội từ Trung Quốc năm 1996 Giống L08 được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật năm 2004 Giống L08 có đặc điểm nổi bật so với các giống khác là có tỷ lệ nhân, khối lượng 100 quả, khối lượng 100 hạt cao, hạt to đều, vỏ lụa màu cánh sen, đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu, năng suất trung bình đạt 30 tạ/ha, kháng sâu chích hút, bệnh hại lá

và bệnh héo xanh vi khuẩn ở mức trung bình (BNN&PTNT, 2005)

Trang 24

Giống MD7: Là giống có tính thích ứng rộng, trồng thuần hay trồng xem đều có năng suất, khối lượng hạt lớn, tỷ lệ nhân cao, năng suất trung bình đạt 35 tạ/ha, kháng bệnh héo xanh vi khuẩn rất cao, hiện được trồng phổ biến

ở nhiều vùng sinh thái của nước ta

Giống L18: Là giống thích hợp cho vùng thâm canh, năng suất cao từ

50 - 55 tạ/ha, nhiễm trung bình với các bệnh hại lá Thời gian sinh trưởng vụ xuân 120 - 130 ngày, vụ thu đông 95 - 105 ngày Là giống có đặc điểm chiều cao cây từ 35 - 45 cm, thân đứng, tán gọn, vỏ lụa màu hồng, khối lượng 100 quả đạt 168 - 178 gam, 100 hạt đạt 60 - 65 gam, tỷ lệ nhân 69 - 71% Năng suất đạt 55 - 70 tạ/ha Kháng bệnh lá (đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt) và héo xanh

vi khuẩn khá, chống đổ tốt, chịu thâm canh cao (Viện KHKTNNVN, 2003)

Giống L14: Là giống được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc quần thể từ dòng QĐ5 trong tập đoàn nhập nội từ Trung Quốc năm 1996, là giống

có tỷ lệ nhân cao 73-75%, năng suất 30-40 tạ/ha, là giống có khả năng chịu hạn, kháng bệnh hại lá khá

Giống L04: Là giống được tuyển chọn từ tập đoàn giống trung ngày nhập nội từ Trung Quốc và đưa vào khảo nghiệm giống Quốc gia năm 2000, thử nghiệm tại một số địa phương như Nghệ An, Thanh Hóa, Bắc Giang đều đạt năng suất cao hơn giống địa phương (Viện KHKTNNVN, 2003)

Giống L03: Do Viện KHKTNN lai tạo và chọn lọc từ tổ hợp giữa giống lạc ICGV 87157 (chịu hạn, năng suất cao, dài ngày của Viện Nghiên cứu cây trồng Quốc tế vùng nhiệt đới bán khô hạn – ICRISAT) với giống địa phương Sen Nghệ An (Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương, 2006)

Giống L12: thời gian sinh trưởng vụ Xuân 110 - 120 ngày, vụ Thu đông 95 - 110 ngày Đặc điểm chính: cây cao 40- 60 cm, dạng cây nửa đứng,

lá có màu xanh nhạt, gân quả mờ, eo quả trung bình, tỷ lệ nhân 70 - 75%, hạt đều, khối lượng 100 hạt đạt 50 - 53 gam, vỏ hạt có màu hồng sáng Năng suất trung bình đạt 30 - 35 tạ/ha Khả năng chống chịu: kháng bệnh lá (đốm nâu,

Trang 25

đốm đen, gỉ sắt) trung bình, tỷ lệ khối lượng quả trung bình, chịu hạn khá (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006).

Giống LDH01: Thời gian sinh trưởng vụ xuân 95 - 100 ngày, vụ hè 90 ngày Đặc điểm: khối lượng 100 quả đạt 125 gam, tỷ lệ nhân đạt 70%, năng suất đạt 35 - 40 tạ/ha, có khả năng chống chịu kháng bệnh héo xanh vi khuẩn trung bình, chịu hạn tốt, thích hợp cho vùng duyên hải Nam Trung Bộ (Ngô Lam Giang và CS, 1999)

Giống lạc L19: là sản phẩm của tổ hợp lai giữa L15 và V79, là giống lạc có nhiều triển vọng, đạt năng suất cao 45-50 tạ/ha, vỏ mỏng, khối lượng 100 hạt đạt 60-65 gam, màu sắc vở lụa đẹp, tỷ lệ nhân cao, kháng bệnh lá khá, là giống có khả năng mở rộng cho vùng nước trời (Viện KHKTNN Việt Nam, 2003)

Từ năm 1993 – 1998, Sở KHCNMT TP Hồ Chí Minh phối hợp với tỉnh Tây Ninh và Viện ICRISAT chọn tạo thành công hai giống lạc VD-1 và VD-5 có năng suất cao, ổn định thích hợp cho các tỉnh phía Nam Cả hai giống này đã được phép khu vực hóa và đưa vào sản xuất năm 1999

Dòng D332 và D329 chọn tạo bằng gây đột biến giống Sen lai có năng suất cao và ổn định (23 - 24 tạ/ha), khả năng chống chịu tốt Dòng D322 được

Bộ Nông Nghiệp và phát triển Nông thôn cho phép khu vực hóa năm 1995 (Hoàng Tuyết Minh và CS, 1995)

DT2 là dòng lạc triển vọng có thời gian sinh trưởng ngắn 94 ngày, sinh trưởng phát triển tốt, thân to, lá xanh đậm, năng suất cao trung bình đạt 29,6 tạ/ha, ít nhiễm sâu bệnh đặc biệt là bệnh héo xanh vi khuẩn và gỉ sắt, giống H125 và dòng DT có triển vọng, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, ít nhiễm sâu bệnh

Vụ Xuân năm 2006, 3 giống lạc L23, L24, TK10 được khảo nghiệm tại Trung tâm khảo nghiệm giống quốc gia (Nguyễn Tiên Phong và CS, 2007)

* Bằng nhiều phương pháp chọn tạo khác, các nhà chọn tạo giống Việt Nam đã có được những giống lạc mới có triển vọng theo mục đích chọn tạo

Trang 26

như giống chịu hạn tốt phù hợp cho vùng nước trời, giống cho vùng cát ven biển, giống chín sớm, giống cho vùng thâm canh cao, đó là:

Với đặc tính chịu hạn khá, các giống như V79, 9202-2, 11516, 86055NA, V79-87157, 11505, 9204-4, NC-38, 9205b, SL87157 (H5), X96, 9207-7, 9211-61, 90114 rất thích hợp để canh tác ở vùng nước trời, không chủ động được nước tưới (Ngô Thị Lam Giang, 1999)

Thích hợp cho vùng thâm canh cao có các giống TQ3 (NS 45,2 tạ/ha), TQ6 (NS39,7 tạ/ha), QĐ1 (NS37,7 tạ/ha), QĐ6 (NS 52,7 tạ/ha), QĐ3 (NS 48,6 tạ/ha), QĐ7 (NS 39,6 tạ/ha), QĐ4 (NS 50,6 tạ/ha), QĐ8 (NS 44,1 tạ/ha), QĐ5 (NS 50,8 tạ/ha), QĐ9 (NS 43,4 tạ/ha), QĐ2 (NS 33,6 tạ/ha), Đài Loan 1 (NS 39.8 tạ/ha), Trạm Xuyên (NS 35,0 tạ/ha)

Giống chín sớm có một số giống như: DT2, L05, Chico, JL24…

Giống có triển vọng trên vùng đất cát biển và có thể phát triển đại trà trên vùng đất cát là: ĐL02, L14, VĐ2, VĐ6

* Một số kết quả khảo nghiệm, so sánh và điều tra về giống trong nước cho thấy:

Kết quả thí nghiệm so sánh một số giống lạc mới lai tạo trong nước và nhập nội từ Trung Quốc cho thấy: Các dồng, giống lạc có năng suất cao, khối lượng 100 hạt lớn, tỷ lệ nhân cao là 77/35 vỏ gân, 77/35 vỏ nhẵn, 77/43 và 77/50 Trong đó giống có thời gian sinh trưởng ngắn nhất là 77/35 (131 ngày)

Năm 1995, Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương đã tiến hành khảo nghiệm 7 giống lạc mới được chọn tạo trong nước và nhập nội gồm 75/23, 77/43, 77/52, LVt, QT1, QT4 Kết quả các giống lạc QT4 và LVT năng suất cao và ổn định (2,30- 2,46 tấn/ha) và có thể mở rộng diện tích để sản xuất thử (Trần Đình Long và CS, 1999)

Trong giai đoạn 2002 - 2003 Trung tâm khuyến nông tỉnh Thái Bình đã tiến hành khảo nghiệm 5 giống lạc vụ xuân với giống đối chứng là giống lạc

đỏ Thái Bình Kết quả cho thấy giống lạc L14 có triển vọng nhất, hạt căng

Trang 27

đều, tỷ lệ nhân/quả đạt 72 - 73%, vỏ lụa hồng rất thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng Giống có năng suất cao đạt 39,7 tạ/ha, vượt 1,5 lần so với giống đối chứng (22,13 tạ/ha).

Năm 2007 Đại học Huế đã tiến hành sản xuất thử nghiệm và sản xuất các giống lạc mới chọn tạo: DL3, DL5 và DL23 (Dự án cấp Nhà nước, 2007)

Kết quả điều tra 13 giống cây trồng chủ lực của cả nước niên vụ 2003-

2004 cho thấy 10 giống lạc có diện tích lớn nhất trên cả nước:

+ Mười giống lạc có diện tích lớn nhất cả nước hai vụ là: L14, 75/23, MD7, VD1, Lỳ, Sẻ, Mỏ két, V79, HL25, Chùm cam lộ Với tổng diện tích mười giống này là 162.359 (ha), chiếm 57,33%

+ Mười giống lạc có diện tích lớn nhất cả nước vụ hè thu, thu đông, vụ đông năm 2003 là : VD1, Sẻ, L13, HL25, Lỳ, Mỏ két, VD2, MD7, VD5, 75/23 Tổng diện tích mười giống là 54.573 ha, chiếm 53,99%

+ Mười giống lạc có diện tích lớn nhất cả nước vụ đông xuân năm 2004

là L14, VD1, 75/23, MD7, Lỳ, V79, Mỏ két, Sẻ, Chùm, Sen, VD2 Tổng diện tích là 109,990 ha, chiếm 60,4% (Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương, 2006)

* Một số kết quả nghiên cứu khác về cây lạc tại Việt Nam

Về phân bón khi nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu ảnh hưởng của một số

liều lượng lân bón cho lạc xuân trên đất Tiên Du- Bắc Ninh”, tác giả Vũ Đình Chính đã có kết luận: Giống lạc L14 có các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển

và năng suất đều đạt cao nhất, đồng thời đạt hiệu quả kinh tế cao ở mức bón

90 P2O5 (Khoa học công nghệ quản lý nông học vì sự phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam, 2006)

Trong đề tài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của hạn sinh lý đến một số chỉ tiêu sinh hóa ở giai đoạn nảy mầm của một số giống lạc”, tác giả Nguyễn Thị

Tâm và Nguyễn Thị Thu Ngà đã kết luận: Khả năng chịu hạn của các giống

nghiên cứu ở giai đoạn nảy mầm được sắp xếp như sau: L12> L14> V79> L15> L25

Trang 28

Về trồng xen, trồng gối, khi nghiên cứu đề tài: “Trồng xen lạc, đậu tương có che phủ ni lông tự hủy với mía – Một giải pháp hữu hiệu góp phần nâng cao năng suất, tăng hiệu quả kinh tế và ổn định vùng mía nguyên liệu khu vực miền Trung”, tác giả Đoàn Thị Thanh Nhàn (2006) đã có kết luận như sau: Trồng xen lạc, đậu tương với mía giúp mía nảy mầm nhanh Lạc và đậu tương vẫn đảm bảo sinh trưởng phát triển tốt, năng suất cao, thu hoạch kịp thời trước khi mía khép tán Các cây trồng trong hệ thống xen canh đều đảm bảo tỷ lệ sâu bệnh hại không tăng so với trồng thuần Các kết quả nghiên cứu trên được đánh giá là một giải pháp hữu hiệu góp phần nâng cao năng suất, tăng hiệu quả kinh

tế và ổn định vùng mía nguyên liệu cho khu vực miền Trung (Hà Quang Hùng

và Cs, 2006)

Khi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Sự đa dạng di truyền phân tử của một

số giống lạc có khả năng chịu hạn khác nhau”, đề tài tiến hành trên 5 giống lạc là L14, ĐBG, LVT, MD7, L18, các tác giả Chu Hoàng Mậu và CS (1999)

đã có kết luận: Năm giống lạc tham gia nghiên cứu được xếp thành hai nhóm khác nhau về mức độ phản ứng đối với tác động của hạn Các giống ĐBG, L14, LVT, MD7 có khả năng chịu hạn tốt hơn phân bố cùng một nhóm, giống L18 chịu hạn kém nhất phân bố riêng một nhóm (Chương trình hợp tác khoa học giữa Bộ NN – CNTP và ICRISAT, 1999)

Như vậy công tác nghiên cứu chọn tạo giống lạc đã bước đầu gặt hái được những thành công góp phần năng cao năng suất, chất lượng lạc của cả nước Tuy nhiên đó mới chỉ là những thành công nhỏ, các nhà khoa học cần phải tập trung đi sâu đánh giá chọn tạo các giống theo các hướng cụ thể tìm ra

bộ giống phù hợp cho từng vùng như: vùng khô hạn sử dụng nước trời, vùng thâm canh, giống ngắn ngày, giống chất lượng tốt, năng suất cao, mẫu mã đẹp đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và làm tốt công tác nhân giống, như thế chúng ta mới có thể đưa nền sản xuất lạc của nước ta lên tầm cao mới

Trang 29

PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1 Đỗi tượng nghiên cứu.

Thí nghiệm bao gồm 14 dòng, giống:

1 75/23 − Giống đối chứng

2 S12 − Giống nhập nội của ICRISAT do bộ môn Cây Công nghiệp tuyển chọn

3 D35A − Dòng lai giữa B5000 x Bạch sa có vỏ gân

4 D40 – Dòng lai giữa Sen Nghệ An × B1000

5 D43 − Dòng lai giữa Sen Nghệ An x B10000

6 D52 − Dòng lai giữa Cúc x Hoa 17 do bộ môn cây công nghiệp lai tạo ra

7 TB25 − Giống nhập nội từ Trung Quốc do công ty giống Thái Bình tuyển chọn

8 MD7 – Giống nhập nội từ Trung Quốc do Bộ môn Cây công nghiệp tuyển chọn, đang khảo sát giống quốc gia

9 SD30 − Có nguồn gốc từ Trung Quốc nhập qua đường tiểu ngạch

10 L08 − Giống nhập nội từ Trung Quốc do trung tâm đậu đỗ tuyển chọn

11 L12 − Giống do trung tâm đậu đỗ lai tạo

12 L14 – Giống có nguồn gốc từ Trung Quốc

13 L15 − Giống nhập nội từ Trung Quốc do trung tâm đậu đỗ tuyển chọn

14 LCT1 − Giống nhập nội từ Trung Quốc do bộ môn Cây Công nghiệp tuyển chọn đang khảo nghiệm giống quốc gia

3.1.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm

- Tổng diện tích : 336m2

- Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 8m2

Trang 30

- Bố trí thí nghiệm: Theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ với 14 công thức và 3 lần nhắc lại.

3.1.3 Địa điểm nghiên cứu.

Đề tài tiến hành trên khu ruộng thí nghiệm của Khoa Nông Học − Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội

3.1.4 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trong thời gian từ tháng 7 năm 2011 đến cuối tháng 12 năm 2011

3.1.5 Đất thí nghiệm.

Đất màu có thành phần cơ giới nhẹ tại khu ruộng màu của bộ môn Cây Công Nghiệp − Khoa Nông Học − Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội

Trang 31

3.2 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm.

K2O: 60 kg/ha

CaO : 500 kg/ha

- Cách bón:

+ Bón lót: 100% Phân chuồng + 100% P2 O5 + 100% CaO

+ Bón thúc: 100% N + 100% K2O khi cây lạc có 2- 3 lá thật

3.2.4 Chăm sóc và vun xới

- Lần 1: Khi cây có 2- 3 lá thật, xới nhẹ, làm cho đất tơi xốp, diệt cỏ dại, cung cấp oxi cho vi khuẩn nốt sần

- Lần 2: Thực hiện sau lần 1 khoảng 15 ngày, xới làm cho đất tơi xốp, diệt cỏ dại

- Lần 3: Khi cây lạc ra hoa rộ 10- 15 ngày, xới xáo kết hợp với vun cao tạo điều kiện bóng tối và độ ẩm cho quả lạc phát triển kết hợp với tưới nước

và phòng trừ sâu bệnh

Trang 32

3.2.5 Các chỉ tiêu theo dõi

3.2.5.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển

- Thời gian từ gieo đến khi mọc mầm (ngày)

∑ni × xiThời gian mọc =

∑nTrong đó:

ni: là số cây mọc ngày theo dõi thứ ixi: là ngày theo dõi thứ i

∑n: tổng số cây mọc

Số cây mọc

Tỷ lệ mọc mầm (%) = × 100

Tổng số hạt gieo

- Chiều cao thân chính và chiều dài cành cấp 1 (cm)

+ Mỗi lần nhắc lại theo dõi 5 cây đã đánh dấu trước (đo từ đốt 2 lá mầm đến đỉnh sinh trưởng ngọn)

+ Đo lần thứ nhất sau mọc 35 ngày, sau đó 7 ngày đo 1 lần cho đến khi thu hoạch

- Động thái ra lá: Mỗi lần nhắc lại theo dõi 5 cây đã đánh dấu trước Đếm số lá trên thân chính qua 3 thời kỳ:

* Thời kỳ bắt đầu ra hoa

Trang 33

+ Xác định số lượng và khối lượng nốt sần: 5 cây/1 ô

+ Theo dõi qua 3 thời kỳ:

* Thời kỳ bắt đầu ra hoa

- Thời gian từ gieo đến ra hoa: từ gieo đến 50% số cây ra hoa (ngày)

- Động thái ra hoa: đếm số hoa nở/cây/ngày, theo dõi 5 cây/1 ô

- Đếm số bó mạch trên thân: cắt ngang thân, đếm số bó mạch lớn, tổng

số bó mạch, tiến hành khi cây ra hoa rộ

- Thời gian sinh trưởng: sau mọc 100, 120, 140 ngày Nếu tổng số quả già, tổng số quả chắc > 80% số quả/cây thì giống đã chín và có thể thu hoạch

Cách làm: mỗi ô nhổ thử 5 cây, đềm tổng số quả chắc/cây, tổng số quả già rồi tính ra %

Trang 34

3.2.5.2 Chỉ tiêu về mức độ nhiễm sâu bệnh

Theo dõi mức độ nhiễm sâu bệnh hại vào bất kỳ thời điểm nào nếu thấy xuất hiện sâu bệnh

Theo dõi 5 điểm đường chéo, mỗi điểm 10 cây, số cây bị hại đếm ra tỷ lệ %

3.2.5.3 Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

- Tổng số quả trên cây

- Tổng số quả chắc trên cây

- Khối lượng 100 quả (g), khối lượng 100 hạt (g)

- Tỷ lệ nhân: Cân khối lượng 100 quả khô, bóc vỏ cân khối lượng hạt tính ra tỷ lệ nhân

Khối lượng hạt

Tỷ lệ nhân (%) = ———————— x 100

Khối lượng quả

- Hệ số kinh tế (theo dõi 5 cây/1 ô)

Năng suất cá thể

Hệ số kinh tế = ———————— x 100

Khối lượng toàn cây

- Năng suất cá thể (g/cây)

Cân khối lượng quả chắc, khô của 5 cây lấy mẫu trung bình

P quả 5 câyNăng suất cá thể = ———————

Trang 35

3.2.5.4 Chỉ tiêu về đặc điểm hình thái:

Trang 36

PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN4.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển

Sinh trưởng và phát triển là kết quả tổng hợp của các hoạt động sinh lý diễn ra đồng thời trong suốt chu kỳ sống của cây Sinh trưởng là sự tăng trưởng về mặt lượng của các yếu tố cấu trúc nên cây, còn phát triển là quá trình phát triển về chất bên trong tế bào, mô và toàn cây để dẫn đến sự thay đổi về hình thái và chức năng của chúng Hai quá trình này diễn ra đan xen liên tục trong suốt chu kỳ sống của sinh vật với các giai đoạn khác nhau, đánh dấu bước trưởng thành mới trên cơ thể thực vật Mỗi loài sinh vật khác nhau đều

có các đặc trưng về sinh trưởng và phát triển riêng của mình Nghiên cứu về quy luật sinh trưởng và phát triển giúp con người hiểu rõ hơn về đời sống và nhu cầu sinh lý của mỗi loài, từ đó xác định các biện pháp tác động trong sản xuất để thu được hiệu quả kinh tế theo ý muốn Điều này càng có ý nghĩa với ngành nông nghiệp vì nó là cơ sở giúp các nhà khoa học và người sản xuất đưa ra các biện pháp kỹ thuật hợp lý đối với từng đối tượng cây trồng vật nuôi Do vậy khi nghiên cứu trên cây lạc, chúng tôi tiến hành theo dõi các đặc điểm sinh trưởng phát triển của các dòng, giống thí nghiệm theo một số chỉ tiêu sau:

4.1.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các dòng, giống

Sự nảy mầm của hạt là bước khởi đầu trong chu kỳ sinh trưởng của cây trồng nói chung và của cây lạc Ở giai đoạn này, trong hạt lạc có những biến đổi sinh hóa sâu sắc, chuyển từ trạng thái tiềm sinh sang trạng thái hoạt động

để hình thành cơ thể mới hoàn chỉnh Hạt hút nước mạnh, sau đó các men phân giải mà chủ yếu là men phân giải Protein, Lipit hoạt động, phân giải thành các chất đơn giản hơn, nhờ đó lạc mới mọc mầm được Trong thời kỳ này, thời gian và tỷ lệ mọc mầm là hai yếu tố liên quan trực tiếp đến phẩm chất hạt giống cũng như mật độ cây trên đồng ruộng

Trang 37

Thời gian mọc mầm liên quan chặt chẽ tới sinh trưởng và ảnh hưởng đến các giai đoạn khác trong đời sống của cây Tỷ lệ mọc mầm là chỉ tiêu đánh giá chất lượng hạt giống, quyết định đến số lượng cây trên đơn vị diện tích, qua đó ảnh hưởng đến năng suất Giống có thời gian mọc mầm ngắn, tỷ

lệ mọc mầm cao sẽ là những giống có sức sống tốt, đảm bảo mật độ khi gieo trồng, tạo điều kiện cho cây con phát triển tốt và có khả năng chống chịu cao với điều kiện bất thuận của môi trường Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của hạt không chỉ phụ thuộc vào bản chất di truyền của giống mà còn chịu tác động của các yếu tố khác như điều kiện thời tiết khí hậu, các biện pháp kỹ thuật canh tác được áp dụng

Kết quả theo dõi thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các dòng, giống tham gia thí nghiệm được trình bày trong bảng 4.1

Bảng 4.1: Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các dòng, giống.

Dòng, giống Thời gian từ gieo đến

Trang 38

và LCT1 có thời gian mọc mầm dài nhất là 7 ngày, giống đối chứng 75/23 và các dòng, giống còn lại đều có thời gian mọc mầm là 6 ngày Như vậy, trên cùng một loại đất, lượng phân bón và các biện pháp kỹ thuật tác động là như nhau song thời gian mọc mầm của các dòng, giống luôn có sự sai khác.

Tỷ lệ mọc mầm của các dòng, giống đạt cao nhất sau 7 ngày gieo, biến động trong phạm vi 88,00% - 94,00%, trong đó thấp nhất là giống MD7 (88,00%), cao nhất là giống L12 (94,00%) Giống đối chứng 75/23 đạt tỷ lệ mọc mầm là 91,67% Các dòng, giống S12, D35A, D43, L08, L12, LCT1 có tỷ lệ mọc mầm cao hơn giống đối chứng Các dòng, giống còn lại đều thấp hơn giống đối chứng

Như vậy, quá trình nảy mầm của các dòng, giống phụ thuộc nhiều vào bản chất giống, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu như nhiệt

độ, độ ẩm đất…nên với mỗi dòng, giống khác nhau luôn có thời gian và tỷ lệ mọc mầm khác nhau

4.1.2 Thời gian sinh trưởng của các dòng, giống.

Thời gian sinh trưởng là khoảng thời gian tính từ lúc gieo đến khi thu hoạch Trong sản xuất nông nghiệp thì đây là một chỉ tiêu quan trọng trong việc bố trí thời

vụ và cơ cấu cây trồng Đồng thời đây cũng là căn cứ để phân biệt các giống

Thời gian sinh trưởng không chỉ phụ thuộc vào đặc tính di truyền của từng giống mà còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện ngoại cảnh, kỹ thuật canh tác Trong điều kiện mưa nhiều, bón nhiều phân nhất là phân đạm muộn thì sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng của cây Các giống có thời gian nảy mầm ngắn, ra hoa sớm, tập trung thường cho nhiều quả chắc, năng suất cao Vì vậy nghiên cứu thời gian sinh trưởng của các dòng, giống lạc làm cơ sở cho việc

bố trí cơ cấu cây trồng, thời vụ, xác định được công thức luân canh và các biện pháp kỹ thuật tác động đến năng suất

Trang 39

Tiến hành theo dõi thời gian sinh trưởng của các dòng, giống từ khi mọc đến khi chín bằng cách xác định tỷ lệ quả chắc trên cây để xác định thời điểm thu hoạch trên đồng ruộng thu được kết quả trong bảng 4.2

Bảng 4.2 Thời gian sinh trưởng của các dòng, giống (ngày)

Dòng,

giống

Thời gian từ gieo – ra hoa

Thời gian từ

ra hoa – hết hoa

Thời gian từ hết hoa - chín

Tổng thời gian sinh trưởng

Trang 40

Thời gian từ gieo đến khi ra hoa của các dòng, giống giao động từ 22 -

25 ngày Trong đó dài nhất là giống đối chứng 75/23 và giống L08 với 25 ngày; ngắn nhất là S12, L14, TB25, SD30 với 22 ngày Các dòng, giống còn lại đều có thời gian từ khi gieo đến khi ra hoa là 23 - 24 ngày Như vậy thời gian bắt đầu ra hoa của các dòng, giống tuy có sự khác nhau nhưng cũng khá tập trung

Thời gian từ khi ra hoa đến hết hoa của các dòng, giống giao động trong khoảng 17 - 23 ngày Ngắn nhất là giống L15 (17 ngày), dài nhất là LCT1 (23ngày) Giống đối chứng 75/23 và các dòng, giống D35A, D43, MD7, L08, L14 có thời gian ra hoa là 19 ngày Các dòng, giống D40, SD30, D52 có thời gian ra hoa ngắn hơn giống đối chứng (18 ngày), các dòng, giống còn lại đều có thời gian ra hoa là 20 ngày

Sau khi hết hoa, lạc bước vào thời kì đâm tia và hình thành quả, quả vào chắc Do được quy định bởi đặc tính giống nên thời gian từ khi hết hoa đến chín của các giống có sự khác nhau Khoảng thời gian này khá dài và biến động giữa các dòng, giống trong khoảng từ 64 - 71 ngày, ngắn nhất là giống đối chứng 75/23 và giống TB25 (64 ngày), dài nhất là LCT1 (71 ngày) Các dòng, giống còn lại đều có thời gian từ khi hết hoa đến chín dài hơn giống đối chứng

Như vậy, để hoàn thành một chu kỳ sinh trưởng phát triển cây lạc đã trải qua rất nhiều giai đoạn khác nhau Mỗi một thời kỳ thì có những đặc điểm khác nhau và chiếm một khoảng thời gian nhất định trong chu kỳ sống của lạc Sự khác biệt giữa các giai đoạn phụ thuộc rất nhiều yếu tố, nhưng yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng rõ rệt nhất đối với cây lạc Mặt khác, cây lạc là cây công nghiệp ngắn ngày, có phản ứng yếu với quang chu kỳ, do vậy trong tất cả các thời kỳ đều chịu tác động mạnh mẽ của nhiệt độ trung bình trong ngày

Dựa vào thời gian sinh trưởng (TGST) của các dòng, giống lạc tham gia thí nghiệm trong vụ Thu năm 2011 cụ thể như sau:

+ Thời gian cho thu hoạch sau gieo 106 ngày có giống L15, TB25

Ngày đăng: 11/11/2014, 22:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT, “Kế hoạch phát triển nông nghiệp 5 năm 2006 – 2010”, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kế hoạch phát triển nông nghiệp 5 năm 2006 – 2010”
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
2. Bộ Nông nghiệp và PTNT – Viện KHKTNN Việt Nam, “Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp năm 2003”. NXB Nông Nghiệp, tr 61- 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp năm 2003”
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
3. Nguyễn Thị Chinh, Trần Văn Lài, Nguyễn Văn Thắng, Hoàng Minh Tâm, Trần Đình Long, “Kết quả nghiên cứu khoa học năm 1998”, NXB Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: K"ết quả nghiên cứu khoa học năm 1998”
Nhà XB: NXB Hà Nội)
4. Nguyễn Thị Chinh, Trần Đình Long, Nguyễn Văn Thắng, Vũ Ngọc Phượng, Nguyễn Thị Thúy Lương, kết quả bước đầu đánh giá một số giống lạc nhập nội từ Trung Quốc (2000-2002), “Tuyển tập các công trình khoa học kỹ thuật nông nghiệp năm 2003”. Bộ NN & PTNT, Viện KHKT Nông Nghiệp Việt Nam- NXB Nông Nghiệp Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các công trình khoa học kỹ thuật nông nghiệp năm 2003”
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
5. Chương trình hợp tác khoa học giữa Bộ NN – CNTP và ICRISAT, “Tiến bộ kỹ thuật về trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam”, NXB Nông Nghiệp 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiến bộ kỹ thuật về trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam”
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp 1999
6. Ngô Thế Dân (chủ biên), Nguyễn Xuân Hồng, Đỗ Thị Dung, Nguyễn Thị Chinh, Vũ Thị Đào, Phạm Văn Toản, Trần Đình Long, C.L.L. Gowda (2000), “Kỹ thuật đạt năng suất lạc cao ở Việt Nam”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật đạt năng suất lạc cao ở Việt Nam”
Tác giả: Ngô Thế Dân (chủ biên), Nguyễn Xuân Hồng, Đỗ Thị Dung, Nguyễn Thị Chinh, Vũ Thị Đào, Phạm Văn Toản, Trần Đình Long, C.L.L. Gowda
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
7. Nguyễn Thị Dần & CS (1995), Sử dụng phân bón thích hợp cho lạc thu trên đất bạc màu Hà Bắc. “Kết quả nghiên cứu khoa học cây đậu đỗ 1991 – 1995”.Viện KHKTNN Việt Nam – Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm đậu đỗ Hà Nội, 9/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu khoa học cây đậu đỗ 1991 – 1995”
Tác giả: Nguyễn Thị Dần & CS
Năm: 1995
9. Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, Vũ Đình Chính (1996), “Kết quả nghiên cứu của giống lạc B5000”, “Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học nông nghiệp”, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu của giống lạc B5000”, “"Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học nông nghiệp”
Tác giả: Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, Vũ Đình Chính
Năm: 1996
10. Lê Song Dự, Đào Văn Huynh và Ngô Đức Dương (1991), Giốn lạc Sen lai 75/23, “Tiến bộ kỹ thuật về trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam”, NXB Nông Nghiệp, tr.20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến bộ kỹ thuật về trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam”
Tác giả: Lê Song Dự, Đào Văn Huynh và Ngô Đức Dương
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1991
11. Ngô Thị Lam Giang, Phan Liêu, Nguyễn Thị Liên Hoa (1999), “Kết quả thử nghiệm và phát triển các kỹ thuật tiến bộ trồng lạc trên đồng ruộng nông dân Đông Nam Bộ”, Trích báo cáo: Hội thảo về kỹ thuật trồng lạc ở Việt Nam tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả thử nghiệm và phát triển các kỹ thuật tiến bộ trồng lạc trên đồng ruộng nông dân Đông Nam Bộ”
Tác giả: Ngô Thị Lam Giang, Phan Liêu, Nguyễn Thị Liên Hoa
Năm: 1999
12. Ngô Thị Lam Giang, Phan Liêu, Tạ Hùng (1991), “Nghiên cứu phát triển các giống lạc mới ở vùng Đông Nam Bộ”, Trích báo cáo: Hội thảo về kỹ thuật trồng lạc ở Việt Nam tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu phát triển các giống lạc mới ở vùng Đông Nam Bộ”
Tác giả: Ngô Thị Lam Giang, Phan Liêu, Tạ Hùng
Năm: 1991
13. Trần Đình Long, Nguyễn Văn Thắng, Lê Huy Phương (1991), “Nguồn gen cây lạc ở Việt Nam”, Trích trong: Tiến bộ kỹ thuật trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nguồn gen cây lạc ở Việt Nam”
Tác giả: Trần Đình Long, Nguyễn Văn Thắng, Lê Huy Phương
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1991
14. Nguyễn Thị Thanh Hải, Vũ Đình Chính, Đinh Thái Hoàng (2010), “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và bước đầu thử khả năng kết hợp của một số dòng, giống lạc ưu tú” – Trích trong: Tạp chí Khoa học và Phát triển 2010: Tập 8, số 3: 375 – 383, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và bước đầu thử khả năng kết hợp của một số dòng, giống lạc ưu tú” – Trích trong: "Tạp chí Khoa học và Phát triển 2010
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hải, Vũ Đình Chính, Đinh Thái Hoàng
Năm: 2010
15. Vũ Công Hậu, Ngô Thế Dân, Trần Thị Dung (1995), Cây lạc NXB Nông Nghiệp, tr 201 – 225 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây lạ
Tác giả: Vũ Công Hậu, Ngô Thế Dân, Trần Thị Dung
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1995
16. Nguyễn Thị Hiền (2008), “So sánh năng suất một số dòng giống lạc và phương pháp bón vôi cho lạc trong điều kiện vụ xuân tại Việt Yên- Bắc Giang”, Luận văn thạc sỹ Nông Nghiệp Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh năng suất một số dòng giống lạc và phương pháp bón vôi cho lạc trong điều kiện vụ xuân tại Việt Yên- Bắc Giang”
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2008
17. Hà Quang Hùng, Nguyễn Văn Đĩnh. Báo cáo khoa học, hội thảo khoa học: “Khoa học công nghệ quản lý nông học vì sự phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam”, NXB Nông Nghiệp 2006, tr 47 – 54, 135 – 142, 163 – 170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khoa học công nghệ quản lý nông học vì sự phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam”
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp 2006
18. Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh (2005), “Kết quả chọn tạo và phát triển giống đậu đỗ 1985-2005 và định hướng phát triển 2006-2010”, “Khoa học công nghệ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 20 năm đổi mớ”i, Trồng trọt bảo vệ thực vật, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, tr 102-113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chọn tạo và phát triển giống đậu đỗ 1985-2005 và định hướng phát triển 2006-2010”, “"Khoa học công nghệ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 20 năm đổi mớ”i
Tác giả: Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
19. Đoàn Thị Thanh Nhàn (chủ biên), Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự, Bùi Xuân Sửu (1996), “Giáo trình cây công nghiệp”, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây công nghiệp”
Tác giả: Đoàn Thị Thanh Nhàn (chủ biên), Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự, Bùi Xuân Sửu
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
20. Nguyễn Tiên Phong và CS (2007), “Kết quả khảo nghiệm giống lạc ở các tỉnh phía Bắc vụ Xuân 2005”, Kết quả khảo nghiệm và kiểm nghiệm giống cây trồng năm 2006, NXB Nông Nghiệp, tr 15, 157 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo nghiệm giống lạc ở các tỉnh phía Bắc vụ Xuân 2005”
Tác giả: Nguyễn Tiên Phong và CS
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2007
21. Bùi Xuân Sửu, Đinh Thái Hoàng, Vũ Đình Chính, Ninh Thị Phíp, “Đánh giá các đặc điểm nông sinh học của các giống lạc địa phương làm vật liệu cho công tác chọn tạo giống mới chống chịu tốt và chất lượng cao”, Tạp chí Khoa học và Phát triển 2010: Tập 8, số 4: 630 – 637, Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các đặc điểm nông sinh học của các giống lạc địa phương làm vật liệu cho công tác chọn tạo giống mới chống chịu tốt và chất lượng cao”

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất lạc của thế giới trong những năm gần đây - đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất lạc của thế giới trong những năm gần đây (Trang 10)
Bảng  2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc một số nước trên thế giới - đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn
ng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc một số nước trên thế giới (Trang 11)
Bảng 2.4: Diện tích các vùng trồng lạc ở Việt Nam (1000 ha) - đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn
Bảng 2.4 Diện tích các vùng trồng lạc ở Việt Nam (1000 ha) (Trang 15)
Bảng 4.3: Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính: - đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn
Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính: (Trang 42)
Hình 4.1: Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính - đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn
Hình 4.1 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính (Trang 43)
Bảng 4.4: Động thái tăng trưởng chiều dài cành cấp 1 (cm) - đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn
Bảng 4.4 Động thái tăng trưởng chiều dài cành cấp 1 (cm) (Trang 45)
Hình 4.2: Động thái tăng trưởng chiều dài cành cấp 1 - đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn
Hình 4.2 Động thái tăng trưởng chiều dài cành cấp 1 (Trang 46)
Hình 4.3: Động thái ra lá trên thân chính - đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn
Hình 4.3 Động thái ra lá trên thân chính (Trang 48)
Hình 4.4. Động thái ra hoa của một số dòng, giống - đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn
Hình 4.4. Động thái ra hoa của một số dòng, giống (Trang 50)
Bảng 4.6: Động thái ra hoa và tổng số hoa nở của các dòng, giống (hoa/cây/ngày) - đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn
Bảng 4.6 Động thái ra hoa và tổng số hoa nở của các dòng, giống (hoa/cây/ngày) (Trang 51)
Bảng 4.8: Chỉ số diệp lục của các dòng, giống (Spad) - đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn
Bảng 4.8 Chỉ số diệp lục của các dòng, giống (Spad) (Trang 56)
Bảng 4.10: Khối lượng rễ khô và tỷ lệ khối lượng rễ/toàn cây - đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn
Bảng 4.10 Khối lượng rễ khô và tỷ lệ khối lượng rễ/toàn cây (Trang 61)
Bảng 4.11: Số lượng và khối lượng nốt sần của các dòng, giống - đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn
Bảng 4.11 Số lượng và khối lượng nốt sần của các dòng, giống (Trang 64)
Bảng 4.12: Số bó mạch của các dòng, giống - đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn
Bảng 4.12 Số bó mạch của các dòng, giống (Trang 67)
Bảng 4.13: Mức độ nhiễm sâu, bệnh của các dòng, giống - đánh giá tình hình quản lý đất đai giai đoạn 2006 - 2011 của xã đề thám, huyện tràng định, tỉnh lạng sơn
Bảng 4.13 Mức độ nhiễm sâu, bệnh của các dòng, giống (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w