Do đó tìm ra các chủng loại mấm rơm cónăng suất cao trên nguyên liệu thích hợp để đưa vào sản xuất đại trà đang làmột vấn đề then chốt có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trồng nấm nhằmđe
Trang 1Lời cảm ơn!
Trong quá trình học tập, rèn luyện tại Trường Cao Đẳng Nông Lâm huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang Được sự chỉ đạo của Ban Giám Hiệu nhà trường, sự giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô giáo trong trường.
Đặc biệt em đã nhận được sự hướng dẫn giúp đỡ trực tiếp của Gv Trần Thị Hiền đã giúp em hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn.
Thời gian học tập rèn luyện tại trường đó là một thời gian vô cùng quý giá đối với em để em tiếp thu những kiến thức chuyên môn, tích luỹ những kinh nghiệm đó làm hành trang giúp em tiến bước trong cuộc sống.
Trong thời gian thực tập tại trung tâm giống nấm Bắc Giang em nhận được sự giúp đỡ tận tình của giám đốc trung tâm Nguyễn Danh Thắng và Th.s: Nguyễn Hữu Hiệp và tất cả cán bộ nhân viên của trung tâm đã giúp em có thêm kiến thức và hoàn thiện báo cáo này
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn chân thành nhất đến tất cả mọi người.
Bắc Giang, ngày 04 tháng 06 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Văn Đạt
Trang 2nó còn kéo theo các nghành nghề khác phát triển: như công nghiệp, chếbiến, lâm-ngư nghiệp, chăn nuôi…và giải quết vấn đề việc làm cho conngười, làm tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho con người Trong đónghành trồng nấm đang dần chiếm một vai trò quan trọng trong ngành sảnxuất nông nghiệp.Nghành sản xuất nấm ăn đã hình thành và phát triển trênthế giới hàng trăm năm nay.Do đặc tính khác biệt với động vật và thực vật
vì dinh dưỡng và quang hợp nên nấm được xếp thành giới riêng
Cây nấm có giá trị dinh dưỡng rất cao như: rất giàu protêin, gluxit, cácaxit amin, vitamin, chất khoáng…,nấm còn có các hoạt chất sinh học như:các chất đa lượng, các axit nuclêic, xenlulô,vitamin… vì thế mà nấm đượcxem như là một loại “rau sạch”, “thịt sạch” Ngoài ra nấm còn có tác dụnglàm thuốc như: làm thuốc phòng chống khối u, tăng cường khẳ năng miễndịch của cơ thể, thuốc trợ tim, làm giảm lượng mỡ trong máu, giải độc bổgan, bổ dạ dày, hạ đường huyết, chống phóng xạ…(như nấm linh chi, mộcnhĩ trắng, nấm hương…)
Ngoài ra việc sản xuất nấm còn mang lại hiệu quả kinh tế cao giúp nôngdân xoá đói giảm nghèo làm giàu cho bà con nông dân, góp phần giải quyếtviệc làm cho người lao động, các sản phẩm phụ của ngành sản xuất nấmcòn làm phân vi sinh bón cho cây trồng rất hiệu quả,(nguyên liệu làm nấmlinh chi, nấm sò…) và còn tận dụng được các sản phẩm phụ như bông phếliệu, rơm rạ, mùn cưa, cỏ, bạ mía…làm nguyên liệu cho sản xuất nấm, gópphần bảo vệ môi trường - hạn chế ô nhiệm môi trường Không những thếngành sản xuất nấm còn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng nấmlàm, tăng thu nhập quốc dân (GDP) cho quốc gia, và còn kéo theo cácngành khác phát triển mạnh như chế biến tái sản xuất, công nghiệp, chính
Trang 3vì thế mà việc trồng và phát triển nấm đang được Đảng và Nhà nước quantâm chú trọng.
Ngày nay có rất nhiều các loại nấm có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh
tế cao như linh chi, đùi gà, mộc nhĩ, trân châu,…trong đó nấm rơm có giátrị dinh dưỡng cao
Nấm rơm(Volvariella Volvacea), đang dược trồng rộng rãi ở hầu hết cácvùng trồng nấm vì sản xuất nấm rơm không đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật nhưcác nấm khác mà nó lại mang lại giá trị dinh dưỡng rất cao.Việc sản xuấtnấm rơm nhằm đạt năng suất cao và giá trị dinh dưỡng cao đang là vấn đềquan tâm của các nhà trồng nấm Do đó tìm ra các chủng loại mấm rơm cónăng suất cao trên nguyên liệu thích hợp để đưa vào sản xuất đại trà đang làmột vấn đề then chốt có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trồng nấm nhằmđem lại hiệu quả kinh tế, năng suất cao và có giá trị dinh dưỡng cao chongười sản xuất nấm.Do đó để góp phần phát triển ngành sản xuất nấm rơmtrong khuân khổ cho phép nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sự sinh trưởng và phát triển của nấm rơm (Volvariella Volvava) và hiệu quả kinh tế của việc trồng nấm rơm trên một số giá thể khác nhau tại trung tâm nấm Bắc Giang vụ hè năm 2010”
1.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu trồng nấm rơm trên: một số loại nguyên liệu (bông phếliệu,rơm,mùn cưa,trộn 50%bông+ 50%mùn cưa )đưa trồng nấm rơm tạitrung tâm giống nấm Bắc Giang
Trang 41.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
- So sánh sự sinh trưởng và phát triển của nấm rơm trên một sốnguyên liệu
- Đánh giá ảnh hương của yếu tố sản xuất tác động đến hiệu quả kinh
tế của trông nấm rơm trên một số nguyên liệu đó
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Tìm ra các loại nguyên liệu tốt nhất cho trồng nấm có năng suất cao,
để đưa vào sản xuất đại chà,thúc đẩy nghành sản xuất nấm phát triển tạiBắc Giang
Trang 5Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NẤM RƠM
2.1.1 Đặc tính sinh học của nấm rơm
2.1.1.1 Điều kiện sống của nấm rơm
Nấm rơm có tiên khoa học của nấm rơm VolvaviellaVolvacea, nấmrơm có hơn 100 loài và chỉ khác nhau về màu sắc có loại màu xám trắng,xám đen,có loại màu đen nhung kích thước, đường kính “cây nấm” lớnnhỏ tùy thuộc từng chủng loại giống khác nhau Cây nấm rất thích hợp đểsinh trưởng và phát triển ở các vùng nhiệt đới cận nhiệt đới như: TrungQuốc, Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan, Việt Nam…,rất thích hợp về nhiệt
độ, ẩm độ để cây nấm rơm sinh trưởng và phát triển
Nấm rơm rất thich hợp để sinh trưởng và phát triển trong điều kiệnnhiệt độ cao 30-320C, độ ẩm của nguyên liệu (cơ chất) là từ 65 - 75%, độ
ẩm không khí thích hợp là 80%, pH = 7, ưa thông thoáng đầy đủ oxy, ánhsáng yếu nhiệt độ giữa ngày và đêm không chênh lệch quá 100C và nấmrơm sử dụng nguồn dinh dưỡng xenlulô trưc tiếp từ nguyên liệu
2.1.1.2 Vị trí phân loại
- Tên khoa học của nấm rơm: Volvariella Volvacea
- Tên tiếng Anh: Paddy straw mushroom
- Tên khác: Nấm rạ, nấm đen, thảo cô, nấm trứng
Nấm rơm thuộc họ Pluteaceae, bộ Agaricales, lớp Hymenomycetes,ngành phụ Basidiomycotina, ngành nấm thật –Eumycota, giới Nấm- Fungi.Nấm rơm có hơn 100 loài chi khác nhau như V.diplasia, V.bombycina…
2.1.1.3 Đặc điểm hình thái
* Bao gốc (Volva)
- Bao gốc dài và cao lúc nhỏ bao lấy mũi nấm, khi mũ nấm trưởngthành gây nứt bao, bao gốc chỉ còn lại phần trùm lấy gốc chân cuống nấm.Bao nấm là hệ sợi tơ nấm chứa sắc tố melanin tạo ra mầu đen ở bao gốc Độ
Trang 6đậm nhạt tùy thuộc vào loài và áng sáng, ánh sáng càng nhiều thì bao gốccàng đen.
Bao gốc có tác dụng:
+ Chống tia tử ngoại của mặt trời
+ Ngăn cản sự phá hoại của côn trùng
+ Giữ nước và ngăn sự thoát hơi nước của các cơ quan bên trong.+ Do đóng vai trò bảo vệ nên thành phần dinh dưỡng của bao gốc rất ít
* Cuống nấm(Stipe)
Là bó hệ sợi xốp, xếp theo kiểu vòng tròn đồng tâm Khi còn non thìmềm và giòn, khi già xơ cứng lại và khó bẻ gẫy
Vai trò của cuống nấm là:
- Cuống nấm phát triển cùng quả nấm, đưa mũ nấm lên cao để pháttán bào tử đi xa
- Vận chuyển chất dinh dưỡng để cung cấp cho mũ nấm
* Mũ nấm(pileus)
Mũ nấm hình nón cũng có chứa melanin nhưng nhạt dần từ trungtâm ra rìa mép Bên dưới mũ có chứa nhiều phiến nấm xếp theo dạng tiakiểu vòng tròn đồng tâm Mỗi phiến mấn có thể sinh ra khoảng 2.500.000bào tử Mũ nấm cấu tạo bởi hệ sợi tơ đam chéo nhau rất giàu chất dinhdưỡng dự trữ, giữa vai trò sinh sản
2.1.1.4 Chu kỳ sống của nấm rơm
Vòng đời của nấm rơm cũng tương tự như các loài nấm trồng khácnghĩa là cũng bắt đầu từ các đảm bào từ và được xem là kết thúc khi bắtđầu hình thành tai nấm hoàn chỉnh nhưng chu kỳ sống của nấm rơm ngắnhơn 25-30 (tùy vào nguyện liệu, nhiệt độ, ẩm độ và kỹ thuật trồng)
Nấm rơm có chu kỳ sống rất điển hình của các loại nấm tán (nấmđảm - Bassidiomycetes) Chu trình sống của nấm rơm bắt đầu từ sự nẩymầm của đảm bào tử (Bassi diomycetes)
Đảm bào tử có hình trứng, bên ngoài có lớp vỏ dày Lúc còn non cómàu trắng, sau chuyển dần sang màu nâu bóng Khi chín cấu tạo thêm chấtcetin nấm có mầu hồng thịt Phía đầu của đảm bào tử có một lỗ nhỏ là nơi
Trang 7để ống mầm chui ra khi nảy mầm Bên trong bào tử đảm chứa nguyên sinhchất, nhân và một số giọt dầu Đảm bào tử chỉ chứa một nửa số nhiễm sắcthể (n) so với các tế bào khác của cái nấm (2n).
Đảm bào tử nảy mầm tạo ra sợi nấm sơ cấp có tế bào chứa n nhiễmsắc thể (haploide) Các sợi nấm sơ cấp tự kết hợp nhau tạo thành các sợithứ cấp với tế bào có 2n nhiễm sắc thể (diploide)
Sợi nấm thứ cấp tăng trưởng, tích lũy dinh dưỡng gặp điều kiềnthuận lợi tạo thành quả thể Nếu gặp điều kiện không thích hợp, sợi thứ cấp
có tạo thành bào tử gọi là bì bào tử (chlamydospore) (còn gọi là hậu bào tử,bào tử có áo, bào tử vách dày) thường thấy ở các túi giống nấm rơm có sợinấm trưởng thành
Bì bào tử là một kiểu sinh sản vô tính của nấm rơm tạo bào tử có 2nnhiễm sắc thể Bì bào tử được hình thành khi các sợi nấm thứ cấp già hoặcmôi trường kém dinh dưỡng Khi gặp điều kiện thuận lợi các bì bào tử nảymầm cho hệ sợi nấm thứ cấp 2n
- Qúa trình tạo quả thể nấm rơm gồm 6 giai đoạn:
+ Giai đọan sợi nấm biến thành đầu đinh ghim (pinhead:meo nấm).+ Giai đoạn hình thành nút nhỏ (tinny button)
+ Giai đoạn hình thành nút (button)
+ Giai đoạn hình thành trứng (egg)
+ Giai đoạn hình chuông, hình trứng kéo dài (elongation)
+ Giai đoạn trưởng thành (mature:nở xòe)
Chu trình sinh trưởng và phát triển của nấm rơm rất nhanh chóng Từlúc trồng đến khi thu hoạch chỉ sau 12-14 ngày Đối với từng lọai nguyênliệu khác nhau mà hệ sợi phát triển nhanh chậm khác nhau Đối với nguyênliệu là bông phế liệu thì thời gian cho ra đinh ghim kéo dài hơn 11-14 ngày.Sau khi ra đinh ghim 2-3 ngày nấm lớn rất nhanh bằng hạt ngô, quả táo,quả trứng (giai đoạn hình trứng); lúc trưởng thành (giai đoạn phát tán bào
tử, nở xòe) trông giống như một chiếc ô dù có cấu thành các phần hoànchỉnh(cả vòng đời khoảng 1tháng Nấm rơm thường cho thu hoặch từ 2-3lứa(thường là 2 lứa) trong đó lứa 1 chiếm 80% sản lượng
Trang 8n H?p nhân
Kéo dài hay hình chuông Hình tr?ng Hình nút
Hình nút nh?
Đ?u dinh ghim (n? n?m)
To th? c?p tang tru?ng Kh?i s? t?o qu? th?
Hình 2.1: Chu trình sống của nấm rơm(Tài liệu 1)
2.1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm rơm
- Nhiệt độ : Nấm rơm rất thich hợp để sinh trưởng và phát triển trongđiều kiện nhiệt độ cao 30-320C, Nếu mà vượt qua khoảng thích hợp (15-
420C) thì việc ra quả thể hoặc từ ngay giai đoạn đầu đinh ghim cũng khôngthể ra được
- Độ ẩm của nguyên liệu (cơ chất) là từ 65 - 75%, độ ẩm không khíthích hợp là 80%, pH = 7, ưa thông thoáng đầy đủ oxy, ánh sáng yếu nhiệt
độ giữa ngày và đêm không chênh lệch quá 100C và nấm rơm sử dụngnguồn dinh dưỡng xenlulô trưc tiếp từ nguyên liệu rất tốt
- Chế độ chăm sóc tưới nước đẩm bảo độ ẩm và nhiệt độ, ánh sáng
- Sâu bệnh hại gây thối hỏng chết giống,cạnh tranh cơ chất…
Khëi sù t¹o qu¶ thÓ
Trang 9- Cơ chất trồng nấm rơm :tùy loại cơ chất nấm rơm có thể sinh trưởngnhanh hay chậm…
Các giai đoạn phát
triển
NHIỆT ĐỘ (0C) Độ ẩm của
không khí(%)
Ánh sángCực tiểu Tối ưu Cựcđại
Tăng trưởng của hệ
Khởi sự tạo quả thể 20 30 35 80-90 Cần có
Sự phát triển của
Hình 1.1.5 :Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đối với nấm rơm
2.2 Giá trị dinh dưỡng của nấm rơm
Nấm rơm được xem là một loại rau sạch, thịt sạch, rau cao cấp Nấmrơm rất giàu dinh dưỡng như: protein, lipit, gluxit, các axit amin.…
Nếu nhận xét về hàm lượng đạm (protein) có thấp hơn thịt, cá nhưnglại cao hơn bất kỳ một loại rau quả nào khác Đặc biệt là có sự hiện diệngần như đủ các loại axit amin không thay thế, trong đó có 9 loại axit amincần thiết cho con người như VTM-A, VTM-D,VTM-C… Nấm rơm rấtgiàu leucin và lysin là hai loại axit amin ít trong ngũ cốc Do đó xét về chấtlượng thì đạm ở nấm rơm không thua gì đạm ở thực vật Xét trong nấm ănthì nấm rơm chiếm (20-40%) lượng đạm tỷ lệ % so với 100g chất khô
Nấm ăn nói chung, nấm rơm nói riêng có đặc điểm dinh dưỡng làchứa nhiều đạm, ít calo ngoài ra còn có các chất có ích cho cơ thể conngười như đường đa, khoáng và sinh tố Người ta xem nguồn chất đạm củanấm ăn, của thực vật, của động vật sẽ là 3 nguồn đạm quan trọng của conngười sau này
Theo phân tích của các nhà khoa học trong 112 loại nấm ăn có hàmlượng bình quân: protein 25%; lipit 8%; gluxit 60% (trong đó đường là 5%,
Trang 10xơ là 8%); chất tro 7% đặc biệt là nấm mỡ (A.bisporus) có hàm lượngprôtêin cao tới 44% (Trạch Điền Mãn Hỷ 1983 – AdriAno and cruz 1933),xếp sau nấm mỡ là nấm rơm có hàm lượng protêin cao nhất 40% Tỷ lệ %tính theo 100g chất khô
Bảng1:thành phần phân tích của nấm rơm
Mẫu
phân
tích
Độ ẩm ban đầu
(%)
Các bonhydra t
(%)
Tro
(%)
Năng lượng cung cấp
(Kcal)
Nguồn tham khảo
* Hàm lượng protein của nấm ăn
Theo phân tích của sinh hóa học và sinh học phân tử đã chứng minhprotein và axit nucleic là cơ sở vật chất quan trọng nhất trong quá trình hoạtđộng của sự sống Hoạt động của các hệ thống enzim trong cơ thể cũng cóbản chất là protein, chất kích thích có tác dụng điều tiết quá trình trao đổichất là prôtêin hoặc dẫn xuất của prôtêin Các hoạt động co duỗi của cơchính là prôtêin tạo thành, các phản ứng miễn dịch của cơ thể đều nhờ cóprotein mà thực hiện được Cơ thể con người được cung cấp nguồn protein
từ nấm có lợi ích là không chứa cholesteron như nguồn protein từ động vật.Trong nấm có khoảng 17-19 loại axit amin Trong đó có đủ 9 loại axitamin không thay thế Theo tài liệu thống kê trong 9 loại nấm thường dùngnhư nấm mỡ, nấm rơm, nấm hương, nấm kim châm, nấm sò, nấm mộc nhĩđen, nấm mộc nhĩ trắng, nấm đầu khỉ, nấm đùi gà (sò vua) có tổng hàmlượng axit amin bình quân là 15,75% (tính theo trọng lượng 100g chất khô)hàm lượng axit amin không thay thế là 6,43% chiếm 40,53% tổng hàmlượng axit amin
Trang 11- Hàm lượng axit nucleic: axit nucleic là chất cao phân tử có tácdụng quan trọng trong quá trình sinh trưởng và sinh sản của cá thể sinh vật
và cũng là vật chất cơ bản di truyền Trong nấm mỡ, nấm sò, nấm rơm hàmlượng axit nucleic đạt tới 5,4% - 8,8% (trọng lượng khô) (Trương ThụĐình 1982) Theo tài liệu của liên hợp quốc 1970 mỗi ngày người trưởngthành cần khoảng 4g axit nucleic trong đó tới 2g có thể lấy từ vi sinh vật,
vì vậy ăn nấm tươi là nguồn cung cấp rất tốt axit nucleic cho cơ thể
- Hàm lượng Lipit: Hàm lượng chất béo thô trong nấm ăn dao động
từ 1% tới 15% - 20% theo trọng lượng khô, nhưng tất cả đều thuộc các axitbéo không no như mono, di, tri- glyceride, steral, sterol ester và photpholipide (Holtz và Schider 1971)
* Hàm lượng Gluxit và Xenlulo:
Trong nấm ăn có tới 30- 93% là chất gluxit nó không chỉ là chất dinhdưỡng mà còn có chất đa đường (poly saccharide) và hợp chất của đađường có tác dụng chữa bệnh, nhất là chống khối u Thành phần đa đườngtrong nấm ăn là các đường đơn như Glucose, Semi – lactose, xylose,arabinose, các chất đường đơn như hexose (6 cácbon) vừa là nguồn nănglượng vừa là hợp chất đường đa
- Nấm chứa ít chất đường với hàm lượng thay đổi từ 3-28% trọnglượng tươi Ở nấm rơm, lượng đường tăng lên trong giai đoạn phát triển từdạng nút sang dạng kéo dài, nhưng lại giảm khi trưởng thành
- Nấm rơm chứa nhiều sinh tố A, B, C, K, E…
- Nấm rơm được ghi nhận là dòng giàu Na, K, Ca, P và Mg, chúngchiếm từ 56-70% lượng tro tổng cộng
Nấm rơm là món ăn có tác dụng ngăn ngừa ung thư Đặc biệt trong nấm rơm đều có chất chống lão hóa mang tên L – ergothionrine, chất này chỉ có ở nấm và không bị mất đi trong quá trình chế biến
Trong thành phần của nấm rơm có hàm lượng khoáng chất potassiumcao, có khả năng ngăn chặn chứng cao huyết áp rất nguy hiểm ở người Người ăn nấm nhiều còn có tác dụng làm đẹp cho làn da cơ thể
Trang 12Nấm rơm được người đời sử dụng rộng rãi Loại nấm dân dã nàyđược từ vua cho tới dân thường ai cũng sử dụng được cả Nấm rơm tínhmát, thanh nhiệt giải độc.
1.1.3 Ý nghĩa kinh tế
Nấm rơm không những có giá trị dinh dưỡng câo mà con mang lạihiệu quả kinh tế cao cho người trồng nấm, nó vừa góp phần vào việc xóađói giảm nghèo cho người dân vừa là mặt hàng xuất khẩu khẩu có giá trịkinh tế cao đối với các tỉnh trồng nấm như: An Giang, Long An, BìnhDương, Ninh Bình, Nam Định, Cần Thơ,…Mỗi năm nó đã thu về hàng trục
Nấm rơm còn là cây thực phẩm sạch có giá trị kinh tế cao, nguyênliệu của nấm rơm còn là nguyên liệu dể sản xuất các nấm khác như: nấm
Ngoài ra sản xuất nấm rơm còn góp phần bảo vệ môi trường, hạn chế
sự ô nhiễm môi trường do câc sản phảm thừa của nông nghiệp
Trang 132.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm rơm trên thế giới
Ngành sản xuất nấm nói chung và ngành sản xuát nấm rơm nói riêng
đã hình thành và phát triển trên thế giới từ hàng trục năm nay Nấm rơmđược trồng đầu tiên tại Trung Quốc sau đó lan rộng sang các nước ĐôngNam á và Bắc Phi và dần lan rộng ra khắp các nước trên thế giới
Các nước trên thế giới hiện nay tập trung nghiên cứu và sản xuấtnhiều loại nấm ăn như nấm rơm, nấm mỡ, nấm hương, nấm sò…, khu vựcBắc Mỹ và Châu Âu, trồng nấm theo phương pháp công nghiệp Nhữngnhà máy sản xuất nấm có công suất từ 200 - 1000 tấn/năm được cơ giới hóacao Khu vực Châu á (Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Hàn Quốc, TrungQuốc…)
Thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, ĐàiLoan, các nước Châu Âu…, hàng năm các nước này phải nhập khẩu từTrung Quốc (nấm muối và nấm đóng hộp) Tại các nước này do khó khăn
về nguồn nguyên liệu và giá công lao động rất đắt nên những người nuôitrồng nấm và kinh doanh mặt hàng này đang chuyển dịch sang các nướcchậm phát triển để mua nguyên liệu và chế biến tại chỗ Nguồn nguyên liệurơm rạ ở các nước có nền nông nghiệp lúa nước, lúa mạch phát triển rấtnhiều không được sử dụng vào trồng nấm, mà người dân đem đốt trên cáccánh đồng, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt củacon người, phá hoại các vi sinh vật, động vật có ích cho công tác sản xuấtcho nông nghiệp
Bảng 2: Sản lượng nấm rơm trên thế giới trong nhưng năm gần đây
Trang 14dạng đóng hộp, nấm khô ở các nước này do khó khăn về điều kiện khí hậu,giá nhân công lao động, nguyên vật liệu nên các nước này đang có xuhướng là đầu tư khoa học kỹ thuật, vốn vào các nước chậm phất triển.Các nước ở khgu vực Châu á như Đài Loan, Singgapo, Thái Lan,Trung Quốc, Malayxia, Indonesia, Triều Tiên,…nghề trồng nấm cũng pháttriển mạnh một số nấm như nấm rơm, nấm sò, nấm mỡ… Sản phẩm đượctiêu thụ dưới dạng đóng hộp, muối, sấy khô, và làm thuốc bổ.
Hàng năm trên thế giới tiêu thụ khoảng 15 triệu tấn nấm rơm, giá củanấm rơm là từ 1.700-6.500 USD/tấn Nhưng nhìn chung là nấm tươi đốivới các nước thi thường tiêu thụ trong nước
Trên thế giới, tập trung nghiên cứu và sản xuất nhiều loại nấm ăn,Trung Quốc là nước có nền sản xuất nấm lớn nhất thế giới (gồm hơn 2000
cơ quan sản xuất, nuôi trồng, nghiên cứu Doanh thu 5000 tỷ USD; xuấtkhẩu từ 400 – 600 nghìn tấn nấm các loại /năm) Đứng thứ hai sau TrungQuốc là Thái Lan, có lượng nấm lớn chủ yếu là nấm đông cô, kim châm,trân châu, nấm rơm và các loại nấm khác
Ở Châu á, trồng nấm mang tính chất thủ công, năng xuất không cao,nhưng sản xuất ở gia đình đông, nên tổng sản lượng lớn.Hiện nay nghềtrồng nấm đã phổ biến rất rộng rãi tại Trung Quốc và đạt tới sản lượng nấmcao nhất thế giới Hiện đã có rất nhiều cơ quan nghiên cứu và chỉ đạo triểnkhai nuôi trồng nấm ăn ở Trung Quốc và trên các nước đều có cơ quannghiên cứu về nấm rơm
- Viện vi sinh vật học, Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc (phụtrách việc phân loại và bảo quản các loại nấm ăn)
- Viện nghiên cứu Nấm ăn, Viện khoa học Nông nghiệp Thượng Hải
Trang 15the Mycologicial Society of Japan (Nhật Bản), Mushrooms Journal (Anh),Mushrooms News (Mỹ), Mushrooms Information (Italia), MushroomsJournal for the Tropios (Hội nấm nhiệt đới quốc tế), Mushrooms Science(Các hội nghị quốc tế về nấm),v.v…
Nhìn chung, nghề trồng nấm phát triển mạnh và rộng khắp Nhất làtrong 20 năm gần đây Theo đánh giá của Hiệp hội khoa học nấm ăn Quốc tế(ISMS), có thể sử dụng 250 phế phụ liệu của Nông – Lâm nghiệp để trồngnấm, đem lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội Sản xuất đem lại nguồn thực phẩmsạch, tạo công ăn việc làm tại chỗ, vệ sinh môi trường đồng ruộng, chống lạiviệc đốt rơm rạ, xử lý gọn các phế liệu bông khi đã thu lấy sợi xong, tạo ranguồn phân hữu cơ cho cải tạo đất, góp phần vào chu trình chuyển hóa vậtchất Trong sinh học, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong nghề nấm
về chọn, tạo giống nấm, về kỹ thuật nuôi trồng và sự bùng nổ thông tin Nghềtrồng nấm đã và đang trên toàn thế giới được coi là nghề xóa đói giảm nghèo
và làm giàu, thích hợp với các vùng nông thôn, miền núi
2.3 Thực trạng về tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm rơm ở Việt Nam
Ở Việt Nam nấm ăn cũng được biết đến từ lâu, từ những năm 70 củathế kỷ XX nhân dân ta đã biết trồng nấm Tuy nhiên chỉ khoảng 10 nămgần đây nghề trồng nấm mới được xem như một nghề mang lại hiệu quảkinh tế và mới thật sự phát triển
Khoảng hơn 10 năm trở lại đây đời sống nhân dân tăng lên cùng với sựphát triển của các khoa học công nghệ, thông tin… Thì cây nấm mới đượcquan tâm và nghiên cứu về nó với việc tạo ra hàng loạt các chủng giống cónăng suất cao mang lại hiệu quả kinh tế giúp xóa đói giảm nghèo cho bà connông dân thì nghề trồng nấm mới thu hút được sự quan tâm có các nhà khoahọc, các trung tâm, viện nghiên cứu các giống và đưa vào sản xuất cho phùhợp với từng vùng, khí hậu.Và cũng từ đó lập ra hàng loạt các trung tâmnghiên cứu
- Năm 1984, thành lập trung tâm nghiên cứu nấm ăn thuộc Đại họcTổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội)
Trang 16- Năm 1985, tổ chức FAO tài trợ và ủy ban nhân dân thành phố Hà Nộiquyết định thành lập trung tâm sản xuất giống nấm Tương Mai – Hà Nội (nayđổi tên thành công ty sản xuất giống, chế biến và xuất khẩu nấm Hà Nội.
- Năm 1986, được tổ chứ FAO tài trợ, ủy ban nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh quyết định thành lập xí nghiệp nấm thành phố Hồ Chí Minh.Ngoài ra, còn một số đơn vị: Công ty nấm Thanh Bình (tỉnh Thái Bình), xínghiệp nấm thuộc công ty rau quả Vegetexco, các công ty liên doanh sảnxuất và chế biến nấm ở niềm nam (công ty MeKo ở Cần Thơ, Đà Lạt, ),
- Năm 1991 – 1993, Bộ khoa học công nghệ và môi trường triển khai
dự án sản xuất nấm theo công nghệ Đài Loan (xuất phát t21ừ Unimex HàNội mua công nghệ của Đài Loan năm 1990)
- Năm 1992 – 1993, công ty nấm Hà Nội nhập thiết bị chế biến đồhộp và nhà trồng nấm chuyên nghiệp của Italia
- Năm 1994, thành lập trung tâm Công nghệ sinh học thực vật – Viện
Di truyền nông nghiệp Với tổng diện tích trên 5000m2 Trung tâm Côngnghệ sinh học thực vật là đơn vị hoạt động theo luật doanh nghiệp nhànước (Quyết định thành lập doanh nghiệp nhà nước số 360/NN- TCCB/QĐngày 27/01/1994 của Bộ Nông Nghiệp và Công Nghiệp thực phẩm)
- Năm 2007 Trung tâm giống nấm Bắc Giang chính thức hoạt độngcung cấp giống cho nhân dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới rất thích hợp cho sản xuấtnấm ăn nhất là các tỉnh phía Nam có khí hậu thuận lợi, nhiệt độ cao nhiệt
độ chênh lệch giữa ngày và đêm không quá 100C nên có thể sản xuất quanhnăm Nơi đây lại là nơi vựa lúa của cả nước nên có nguồn nguyên liệu dùng
để sản xuất rất dồi dào Nguồn lao động ở các vùng nông thôn, những ngàynông nhàn, thậm chí trong mùa vụ số lượng không có việc làm rất lớn Trên
cơ sở đó, thì con đường phát triển nuôi trồng nấm tương đối dễ thực hiện.Sản lượng nấm tính theo cấp số nhân: Từ trước năn 1990 mới đạt con
số vài tấn /năm Đến năm 2001 đạt trên 40.000 tấn/năm Tới nay, năng suấtđạt trên 150.000 tấn/năm Sản lượng các tỉnh phía Nam chiếm tới 90% tổngsản lượng nấm rơm của cả nước chủ yếu ở các tỉnh như: Long An, An
Trang 17Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ, Tiền Giang…Các tỉnhnày phát triển rất nhanh và ngày càng quy mô hơn.
* Ở miền Bắc : do sự ảnh hưởng của khí hậu có hai mùa nóng và lạnh
rõ rệt nên ngành sản xuất nấm rơm còn có sự hạn chế và các tỉnh chủ yếusản xuất nấm Sò, nấm Linh Chi, Mộc Nhí, nấm Mỡ Còn nấm rơm thì tranhthủ vào mùa hè trồng với diện tích là không lớn lắm, nên sản lượng cònthấp chủ yếu là dùng trong nội địa như các tỉnh: Hà Nội, Hải Phòng, NamĐịnh,…Thị trường tiêu thụ chủ yếu là các thành phố lớn như: Hà Nội, HảiPhòng Giá bán ở Hà Nội từ 20.000 - 30.000 đồng/Kg nấm tươi
Bên cạnh đó, do thiếu sự liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp nêndẫn tới tình trạng nấm làm ra không biết bán cho ai, trong khi doanh nghiệpthì khan hàng.Theo như nhận định của GS TS Nguyễn Hữu Đống (Trungtâm Công nghệ Sinh học Thực vật - Viện Di truyền Nông nghiệp) cho rằng:
“Việt Nam có nhiều khả năng xuất khẩu nấm nhưng do vùng sản xuấtnguyên liệu chưa đủ lớn nên các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trongviệc thu mua, chế biến và xuất khẩu" Hàng năm việc sản xuất nấm rơm đãmang lại cho ngân sách nhà nước hàng trục tỉ đồng nhờ vào suất khẩu chủyếu là các tỉnh phía Nam và mặt hàng là nấm khô và nấm muối vào cácnước là: Mỹ, Bắc Âu, Nhật Bản, Đức…Và một số công ty của một số nướcnày cũng đã liên kết với các cơ sở sản xuất nấm rơm ở các tỉnh nước ta.Nhờ vào thịt trường rộng lớn nên việc sản xuất nấm rơm đang dần pháttriển ở nước ta và ngày càng được các cấp chính quyền quan tâm
Trước đây nguồn rơm rạ của vụ Đông Xuân, Hè Thu của Đồng Bằng Sông Cửu Long bỏ đi rất lãng phí gây ôi nhiễm môi trường, bầu khí quyển khi đốt rơm rạ, làm tắc nghẽn dòng chảy Từ khi nghề trồng nấm phát triển thì rơm rạ trở thành mặt hàng có giá trị kinh tế lớn Giá trị kinh tế từ phong trào sản xuất nấm rơm đến năm 2006 thu được gần 43 tỷ đồng, góp phần cung cấp nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, tạo việc làm cho hơn 51.000 lao động nông nhàn và tăng thu nhập cho hộ nông dân đồng thời tận dụng nguồn rơm phế thải sau khi chất nấm sử dụng làm phân bón cho vườn cây ăn trái Tại huyện Vũng Liêm - vùng chuyên
Trang 18sản xuất nấm rơm đang từng bước hình thành các làng nghề sản xuất – thu mua – sơ chế nấm rơm tại 5 xã Trung Nghĩa, Trung Chánh, Trung Hiếu, Hiếu Thành và Trung Thành Tây cung ứng cho các công ty chế biến xuất khẩu ở trong và ngòai tỉnh Hiện nay, phong trào sản xuất nấm rơm tiếp tụcphát triển tại các huyện Tam Bình 2.851 ha, Bình Minh 1.000 ha, Long Hồ,Mang Thít mỗi huyện từ 390 – 500 ha Tuy nhiên tỉnh chỉ mới khai thác từ
20 – 25% lượng rơm trong 2 vụ sản xuất Hè Thu và Thu Đông để sản xuất nấm 2 khó khăn lớn nhất hiện nay trong phát triển phong trào sản xuất nấmrơm là xây dựng kênh tiêu thụ đa dạng và thương hiệu cho nấm rơm Hai doanh nghiệp chế biến nấm rơm tỉnh Vĩnh Long là công ty chế biến thực phẩm Phú Quý và công ty chế biến xuất khẩu Cửu Long chưa thật sự gắn kết với người trực tiếp sản xuất và vùng sản xuất mà chủ yếu mua qua thương lái thu mua lưu động, chưa hướng dẫn kỷ thuật trồng, thu họach và
sơ chế đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu Tuy các sản phẩm nấm hộp, nấm muối, nấm luộc có thị trường tiêu thụ rộng lớn ở Đài Loan, Hồng Kông,
Mỹ, Canada, sản lượng nấm rơm xuất khẩu năm nay tăng so với năm 2005 nhưng chỉ đạt 92% kế họach năm
*Một số tỉnh trồng nấm rơm tiêu biểu như:
- Tỉnh An Giang trong chương trình khai thác thế mạnh kinh tếchuyển đổi cũng xem trồng nấm rơm mang lại cho nông dân nhiều mối lợicần phát huy đúng mức Lợi nhuận thu được 4 triệu đồng/công Chưa kểkhoản tiền thu được từ việc bán tro rơm (nông dân đốt nền rơm sau khi thuhoạch nấm) Bình quân 1 công nấm, tận thu được 280 giạ tro, giá bán2.500đ/giạ Như vậy, nhà nông phụ thu thêm được 700.000đồng
Theo báo cáo của Trung tâm Khuyến nông An Giang, về tình hìnhhình phát triển trồng nấm rơm trong thời gian qua, cho thấy phần lớn các
hộ sản xuất đều mang tính cá thể, tự phát Việc tiêu thụ chủ yếu lệ thuộcvào thương lái, giá cả thường không ổn định, do chưa hình thành đượcvùng sản xuất tập trung cần tiêu thụ 10 – 30 tấn nấm mỗi ngày Hiện nay,thị trường đang thiếu nấm rơm cho xuất khẩu và sản phẩm nấm rơm ViệtNam đang được ưa chuộng trên thị trường nước ngoài Toàn tỉnh có 51 tổ
Trang 19sản xuất nấm, trong đó có 3.400ha nấm rơm sản xuất luân vụ quanh nămcho thu nhập trên 50 triệu đồng/ha, cao gấp 3 lần so với trồng lúa Năngsuất cao tập trung tại các huyện: Thoại Sơn, Chợ Mới, Châu Phú Nằmtrong chương trình khuyến nông chuyển đổi sản xuất trên nền trồng lúa.Tỉnh An Giang trong năm 2007 đã hỗ trợ 1 tỷ đồng tiền vốn ưu đãi chohàng chục cơ sở chế biến và tiêu thụ nấm rơm trên địa bàn phục vụ mụcđích mở mang nghề trồng nấm rơm Nhờ vậy, đã giúp tạo công ăn việc làmcho trên 3.500 lao động thường xuyên và gần 20.000 lao động mùa vụ.Việc gắn sản xuất với tiêu thụ hàng hóa cho nông dân trong chương trìnhchuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi khẳng định hướng đi đúng của AnGiang trong tầm nhìn về cây nấm rơm trong tương lai
- Tỉnh Sóc Trăng, gần đây còn xây dựng đề án khuyến khích trồngnấm ăn và nấm dược liệu trong đồng bào Khơme, nhằm giúp bà con tháo
gỡ bế tắc, nhanh chóng có thêm thu nhập, ổn định đời sống Hiện nay, nghềtrồng nấm rơm đang phát triển tại các huyện thuần nông của tỉnh SócTrăng: Thạch Trị, Mỹ Tú, Ngã Năm với hàng ngàn hộ nông dân tham giacho sản lượng nấm rơm mỗi năm và ba ngàn tấn phục vụ tiêu dùng và chếbiến xuất khẩu Nghề trồng nấm rơm phát đạt đã kéo theo mở mang các cơ
sở dịch vụ cần thiết như: cung ứng meo giống, thu mua, sơ chế tiêu thụnấm rơm thương phẩm cũng giúp thu hút một lượng lao động nông thôn
- Cư dân 2 huyện Thốt Nốt và Ô Môn (Cần Thơ) xem trồng nấm rơm
là nghề truyền thống của họ Người có tuổi nghề ít nhất là 20 năm cho
nên.Một số năm trở lại đây, nghề trồng nấm rơm ở Cần Thơ phát triển rất
mạnh Theo tin của thông tấn xã Việt Nam, các doanh nghiệp ở Cần Thơvừa xuất khẩu 753 tấn nấm rơm muối và đóng hộp trị giá hơn 6.900 USD,sang 14 nước châu á, châu Âu, châu Mỹ Cần Thơ là địa phương có lượngnấm rơm cao nhất trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Trong thời gianqua, các doanh nghiệp sản xuất nấm rơm của tỉnh cũng đã ký được nhiềuhợp đồng xuất khẩu sang Ai Cập, Pakistan, Oxtraylia Năm nay Cần Thơ
có xuất khẩu từ 4.000 – 5.000 tấn nấm rơm các loại Và hiện nay có rất
nhieuf cơ sở tổ chúc xấy nấm
Trang 20- Hải Phòng là địa phương có rất nhiều tiềm năng để phát triển nghềtrồng nấm.Thực ra nghề trồng nấm, đã có thời kỳ phát triển thành phongtrào ở Hải Phòng Đó là vào những năm 80 của thế kỷ XX Tuy nhiên thời
kỳ đó người tiêu dùng không có thói quen sử dụng nấm như một loại thựcphẩm nên nấm không có đầu ra, không thu được lợi ích kinh tế, phong tràosản xuất nấm cũng vì thế mà lắng xuống, hay mai một dần một vài nămgần đây, việc phát triển nghề trồng nấm trở nên sôi động tại rất nhiều địaphương trong cả nước: Hà Nội, Bắc Giang, Ninh Bình, Hưng Yên, HảiDương, Cần Thơ, An Giang, Mỹ Tho,…
Nhận thấy hiệu quả mà nghề trồng nấm mang lại, cho người nông dântại các tỉnh thành phố, liên minh hợp tác xã, thành phố Hải Phòng đã tiếnhành triển khai sản xuất nấm thương phẩm tới một số huyện trên địa bàn vàđem lại một số hiệu quả kinh tế cao Sau 9 tháng triển khai ở một số hợptác xã, doanh nghiệp và 42 hộ gia đình với 100 tấn nguyên liệu, thu được24.000 kg nấm thương phẩm, trị giá 300 triệu đồng, lãi gần 200 triệu đồng.Tính hiệu quả kinh tế, đạt gần 600 triệu đồng/ ha trong thời gian 4 tháng,vượt xa so với cây lúa
- Nghề trồng nấm ở tỉnh ven biển như Nam Định mấy năm trở lại đâyrất phát triển, một số huyện như: Nghĩa Hưng, Xuân Trường,…, hàng nămđưa ra thị trường hàng trăm tấn nấm Nghề nấm ở đây phát triển rộng khắptrên toàn tỉnh, giảm bớt được lượng phế liệu đáng kể của nông nghiệp,vừagiảm thiểu ôi nhiễm môi trường mà thu hút được sự chú ý của nhiều dânnghèo nhất là đối với chị em hội phụ nữ ở đây giảm bớt gánh nặng gia đình
và nhất là cho hộ gia đình đang muốn thoát nghèo của tỉnh
Cùng với sự phát triển nấm của các tỉnh phía Bắc, Tỉnh Bắc Giang từnăm 1995 Giáp Tết, nấm, mọc nhĩ khô được đóng vào từng bao tải lớn đưa
đi tiêu thụ ở Hà Nội, Quảng Ninh, Lạng Sơn Còn với nấm sò, nấmmỡ,nấm rơm thu hái đến đâu được bán tươi đến đó So với trồng rau và cấylúa, trồng nấm có thu nhập cao hơn hẳn Thế nhưng, chỉ được chừng 5 nămsôi động, Xác định Bắc Giang có điều kiện thuận lợi để phát triển nghềtrồng nấm bởi nguồn lao động và nguyên liệu dồi dào, thị trường tiêu thụ
Trang 21ngày càng mở rộng, từ năm 2005, ngành Nông nghiệp đã chuẩn bị một kếhoạch dài hạn phát triển nghề trồng nấm Việc đầu tư trang thiết bị cho cơ
sở sản xuất giống nấm được xúc tiến với tổng số vốn gần 1 tỷ đồng Côngtác chuyển giao kỹ thuật, mô hình liên kết sản xuất, thu mua nấm được xâydựng với mục đích thăm dò thị trường và tạo điểm để nhân rộng Năm
2006, thì 6 xã trong huyện Yên Dũng được chọn xây dựng mô hình điểmtrồng nấm mỡ và nấm rơm Thành công ở mô hình điểm tại Yên Dũng cũngnhư các điều kiện cơ sở vật chất khác đã tạo tiền đề để năm 2007, UBNDtỉnh triển khai Đề án phát triển sản xuất nấm giai đoạn 2007-2010 Tổngkinh phí hơn 43,7 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh hỗ trợ hơn 6 tỷ đồng,còn lại là vốn đối ứng của nhân dân Đây là đề án có quy mô, mức hỗ trợlớn nhất từ trước tới nay về phát triển nghề trồng nấm trên địa bàn Khắcphục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, đề án nêu rõ vùng quy hoạch trồng nấmbao gồm các huyện: Yên Dũng, Lạng Giang, Tân Yên, Việt Yên, Lục Nam,nơi có nhiều rơm rạ và các sản phẩm phụ khác từ nông nghiệp Với sự trợlực từ Đề án phát triển sản xuất nấm giai đoạn 2007-2010, sự đổi mới trongphương thức tổ chức sản xuất, nghề trồng nấm đang đứng trước cơ hội pháttriển rất lớn
Từ thực tế trồng nấm ở xã Khánh Phú Yên Khánh – Ninh Bình, việchình thành các trung tâm thu mua nấm là cần thiết để điều tiết cung – cầu.Đây cũng là điều kiện tốt để đẩy mạnh việc xúc tiến mặt hàng nấm vào thịtrường EU, Mỹ, Nhật Bản Thông thường, các doanh nghiệp chỉ thu muanấm đã qua sơ chế, thương lái cũng chỉ tập trung thu mua ở những khu vựcsản xuất lớn
Trong những năm qua, tổng quan ngân sách nhà nước và các địaphương đã được đầu tư hàng chục tỷ đồng cho việc nghiên cứu và triểnkhai sản xuất nấm ở các tỉnh phía Bắc, bên cạnh những thành công đáng
kể, thì không tránh khỏi những thành công và thất bại dẫn đến kết quả đạtđược rất thấp Nhiều cơ sở sản xuất nấm thua lỗ, làm mất vốn của nhànước, chưa tạo được uy tín trên thị trường, mặc dù tiềm năng để phát triểnnghề nấm là rất lớn
Trang 22* Tiềm năng phát triển nấm rơm ở nước ta :
- Nguồn nguyên liệu trồng nấm sẵn có như: rơm rạ, mùn cưa, bôngphế liệu,… Ở các nhà máy dệt, bã mía ở các nhà mày đường Ước tính cảnứơc có trên 40 triệu tấn phế liệu, chỉ cần sử dụng khoảng 10 – 15% lượngnguyên liệu này để nuôi trồng nấm, đã tạo ra trên 1 triệu tấn nấm/năm vàhàng trăm ngàn tấn phân hữu cơ
- Trong những năm gần đây, nhiều đơn vị nghiên cứu ở các viện,trường, trung tâm đã chọn, tạo ra được một số chủng giống nấm có khảnăng thích ứng với môi trường Việt Nam cho năng suất khá cao, các tiến bộ
kỹ thuật về nuôi trồng, chăm sóc, bảo quản và chế biến ngày càng đượchoàn thiện Trình độ và kinh nghiệm của người dân được nâng cao Năngsuất trung bình các loại nấm đang nuôi trồng hiện nay cao gấp 1,5 - 3 lần sovới 10 năm về trước
- Vốn đầu tư để nuôi trồng nấm, so với các ngành sản xuất kháckhông lớn vì đầu tư chủ yếu là công lao động (chiếm khoảng 30% - 40%giá thành một đơn vị sản phẩm) Nếu tính trung bình để giải quyết việc làmcho một lao động chuyên trồng nấm ở nông thôn hiện nay có mức thu nhập800.000 - 900.000đồng/tháng, chỉ cần một số vốn đầu tư khoảng 10 triệuđồng và 100m2 diện tích đất để làm lán trại
- Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và xuất khẩu ngày càng mở rộngnhư EU, Trung Quốc, Nhật Bản,Mỹ…
- Vòng đời của nấm rơm là rất ngắn nhanh thu hoạch, nhanh thu hồiđược vốn do đó có thể lấy ngắn nuôi dài để sản cuất mặt hàng khác và cũng
có thể ngừng sản xuất nếu thị trường nấm rơm biến động đây cũng là lợithế của việc sản xuất nấm rơm
- Phát triển nghề sản xuất nấm rơm còn có ý nghĩa góp phần giảiquyết vấn đề ô nhiễm môi trường Phần lớn, rơm rạ sau khi thu hoạch lúa ởmột số địa phương đều bị đốt bỏ ngoài đồng ruộng, hoặc ném xuống kênhrạch, sông ngòi gây tắc nghẽn dòng chảy Đây là nguồn tài nguyên rất lớnnhưng chưa được sử dụng, nếu đem trồng nấm, không những tạo ra nguồn
Trang 23thực phẩm có giá trị cao mà phế liệu sau khi trồng nấm được chuyển sanglàm phân bón hữu cơ, tạo độ phì nhiêu cho đất.
* Với những tiềm năng phát triển nghề trồng nấm của nước ta làtương đối thuận tiện cho nghề trồng nấm, để đi đến được những thành côngthì không tránh khỏi những thất bại Sau đây là những nguyên nhân chưathành công của nghề trồng nấm (đối với các tỉnh phía Bắc) là:
- Việc tổ chức sản xuất nấm của các đơn vị chuyên ngành về nấm cònnhiều yếu kém:
+ Chất lượng giống nấm chưa được đảm bảo từ khâu sản xuất chođến quá trình nuôi giống, bảo quản, cách sử dụng Các loại giống nấm đãđang được nuôi ở Việt Nam, từ nhiều nguồn giống khác nhau Một sốgiống nhập từ Hà Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Italia, Nhật Bản,… Một sốkhác được sưu tầm trong nước, song việc chọn lọc, kiểm tra, để đánh giátiềm năng về năng suất và chất lượng của từng loại từ đó để nhân giống đạitrà phục vụ sản xuất hầu như chưa có đơn vị nào đảm trách
+ Khâu hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng, chế biến nấm muốn đạt đếnchất lượng xuất khẩu, đến từng hộ gia dình không đầu đủ, do thiếu cán bộ
và trình độ kỹ thuật còn non kém Đội ngũ cán bộ nghiên cứu và làm côngtác kỹ thuật về nấm ăn được đào tạo cơ bản tại các trường đại học, có kinhnghiệm lâu năm, chuyên tâm với nghề nghiệp còn quá ít
+ Hợp đồng xuất khẩu nấm thường không đủ về số lượng, chất lượngthấp dẫn đến mất lòng tin với khách hàng nước ngoài
- Các thiết bị, công nghệ trồng nấm nhập khẩu từ nước ngoài khôngphù hợp với Việt Nam về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội: giá thành sảnxuất 1kg nấm theo công nghệ Đài Loan và Italia cao hơn nhiều so với giáthành 1kg nấm sản xuất trong dân
- Thiết bị trồng nấm, chủ yếu là máy băm rơm rạ, hệ thống quạt gió,
hệ thống tưới nước, máy đảo ủ nguyên liệu,…
- Nhà trồng nấm tập trung theo kiểu “trang trại”nhỏ lẻ hộ gia đình
- Công nghệ nuôi trồng và hệ thống thiết bị không đồng bộ thô sơ
Trang 24- Công tác nghiên cứu về công nghệ chọn, tạo giống, công nghệ nuôitrồng các loại nấm ăn đạt năng suất cao, giá thành hạ, công nghệ bảo quản,chế biến nấm đạt chất lượng ở các trung tâm nghiên cứu và cơ sở sản xuấtchưa được chú trọng.
Công nghệ sản xuất giống, nuôi trồng và chế biến nấm hiện nay, được
du nhập từ Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan và các nước Châu Âu Trongquá trình nghiên cứu và triển khai sản xuất có sự thay đổi để phù hợp vớiđiều kiện tự nhiên, xã hội của Việt Nam, song năng suất thu hoạch còn rấtthấp (đạt 50% so với thế giới)
- Việc tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn về giá trị dinh dưỡng vàcách ăn, nấm trên các thông tin đại chúng còn quá ít Mọi người chưa tiếpxúc với nấm ăn còn rất nhiều, có người còn chưa được nhìn thấy, có cảmgiác lạ và sợ nấm Phần lớn nguời dân Việt Nam chỉ biết đến nấm hương,mộc nhĩ và nấm sò Để tạo ra thị trường tiêu thụ nội địa được tốt, mọingười Việt Nam đều biết ăn nấm, xem nấm như là một loại thực phẩm quýthì công tác tuyên truyền là rất cần thiết Hiện nay giá bán nấm tươi ngoàithị trường rất cao (nấm rơm 20.000 - 30.000đồng/1kg) người sản xuất chỉbán với giá bằng 30 - 50% giá bán lẻ trên với số lượng lớn là thị trường đãnhộn nhịp hẳn lên rồi Nhiều nguời muốn ăn nấm mà không biết mua ở đâu
và ngược lại người trồng ra nấm không biết bán nơi nào
- Hiện tượng “tranh mua, tranh bán”, đối với các cơ quan chức năng,làm công tác xuất khẩu nấm đã diễn ra Số lượng nấm rơm, thời gian qua ởcác tỉnh phía Bắc chưa đáng kể, chủ yếu là tiêu thụ nội địa, một số đơn vịthu gom xuất khẩu mỗi nơi chào một giá khác nhau ở các tỉnh miền Nam,
số lượng nấm rơm rất nhiều, các khách hàng nước ngoài khai thác được “
sự cạnh tranh không lành mạnh” này đã ép cấp, ép giá Nhà nước chưa có
hệ thống tổ chức chỉ đạo tổng thể từ cơ quan nghiên cứu đến các cơ sở sảnxuất, xuất khẩu nấm
- Nhiề hộ gia đình vẫn chưa thực sự gắn bó tâm huyết với nghề nấm
- Điều kiện thời tiết ở tỉnh phía Bắc không thuận lợi như phía Namnên hầu như mỗi mùa lại tr ồng một loại nấm
Trang 252.4 Những nét chính về cơ sở thực tập
Theo hướng phát triển của tỉnh Bắc Giang đến năm 2010 có từ 35đến 40 xã sản xuất nấm rơm, nấm mỡ thành các vùng tập trung thuộc 5huyện Yên Dũng, Lạng Giang, Việt Yên, Lục Nam và Tân Yên, thu hút từ
3000 đến 4000 lao động; có từ 15 đến 20 trang trại nuôi trồng mộc nhĩ, linhchi với qui mô sản xuất công nghiệp với mỗi trang trại có khoảng 20 đến
30 lao động có chuyên môn; sản lượng nấm tươi các loại đạt từ 5000 đến
6000 tấn và xuất khẩu khoảng 3.000 đến 4.000 tấn
Năm 2007, các xã đã trồng nấm phấn đấu sản xuất tối thiểu 50 tấnnguyên liệu (rơm, rạ) làm nấm rơm và 100 tấn nguyên liệu/vụ (mỗi năm 4vụ) làm nấm mỡ; các xã mới bắt đầu trồng nấm sản xuất tối thiểu 20 tấnnguyên liệu/vụ làm nấm rơm và 50 tấn nguyên liệu/vụ làm nấm mỡ Trongnăm sau, mức tăng tương ứng của các xã trên là 50 tấn và 100 tấn nguyênliệu/ vụ
Hiện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Giang đã triểnkhai các mô hình sản xuất nấm cho hiệu quả kinh tế cao tại 6 xã của huyệnYên Dũng, 4 huyện còn lại đang xây dựng thí điểm mỗi huyện một môhình trước khi triển khai trên diện rộng Bắc Giang hiện có khoảng 700 giađình tham gia trồng các loại nấm ăn như nấm rơm, nấm sò, nấm mỡ, mộcnhĩ Nhiều gia đình đã đầu tư sản xuất với qui mô 20 tấn đến 30 tấn nguyênliệu/vụ và mức thu nhập bình quân của mỗi gia đình trồng nấm từ 30 triệuđến 40 triệu đồng/năm
Chính vì vậy 04- 2007 Trung Tâm Giống nấm Bắc Giang thuộc SởNông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn tỉnh Bắc Giang , Trung tâm mớiđược thành lập nên hiện có gần 15 cán bộ trong đó ( 1 Giám Đốc, 1phóGiám đốc, 1 thư ký, 1 thủ quỹ, 8 cán bộ,…) cùng với hơn 20 công nhân làngười địa phương chủ yếu là nữ giới
Với diện tích rất là nhỏ và chỉ có 2 lò hơi (trong đó 1 lò hoạt động) và
1 nhà ươm cùng với 10 nhà treo nấm khoảng 40m2 trên một nhà,cùng với 1
Trang 26xe tải cỡ nhỏ để vận chuyển nguyên vật liệu và giống, 2 máy phay bôngcùng với nhiều dụng cụ nông nghiệp khác
Trước kia trung tâm giống nấm Bắc Giang là cơ sở trực thuộc trungtâm giống cây trồng Bắc Giang thành lập 2004.Sau đó để đáp ứng cùng với
sự phát triển của địa phương và của tỉnh Bắc Giang về sự phát triển củatình hình sản xuất nấm nên Trung tâm giống nấm Bắc Giang đã được tách
ra từ năm 2007 với nhiệm vụ chính là:
+ Nơi cung cấp giống nấm cho bà con nông dân trong tỉnh và một sốtỉnh lân cận.Các giống nấm cơ bản như :nấm sò, nấm rơm, nấm linh chi…+ Trung tâm thực hiện chuyển giao công nghệ cho các hộ trồng nấmtrong vùng
+ Trung tâm cử cán bộ đi giao lưu học hỏi kinh nghiệm và kiến thức
về sản xuất nâm ở địa phương , các tỉnh khác và chuyên đề nâng cao thêm
về phát triển trung tâmvà trồng nấm trong địa bàn tỉnh
+ Đào tạo cán bộ và nhiều người về kiến thức trong sản xuất nấm+ Tạo điều kiện công ăn việc làm cho nhiều người thất nghiệp trongđịa bàn tỉnh, nhiều người đến học hỏi kinh nghiệm kỹ thuật sản xuất nấm.+ Cung ứng một phần nhu cầu về sản phẩm nấm cho các nhà hàng vànhân dân trong địa bàn huyện Đem lại nguồn thu ngân sách tỉnh càng ngàycàng tăng lên
Trung tâm với lợi thế giao thông thuận lợi, do đây là đầu mối cungứng các sản phẩm nấm, thuận tiện trao đổi giao lưu kinh tế với các vùngmiền (chủ yếu là các tỉnh phía Bắc cửa ngõ giao lưu các tỉnh Thái Nguyên,
Hà Nội,Lạng sơn,Bắc Ninh)
Trang 272.5 Quy trình công nghệ nuôi trồng nấm rơm
Hình 2.5: Tóm tắt quy trình trồng nấm rơmTrong quá trình trồng nấm rơm, tùy vào điều kiện từng vùng, từngmiền cụ thể mà ta có thể áp dụng quy trình công nuôi trồng nấm rơm khácnhau Trong quá trình thực tập tốt nghiệp và vận dụng công nghệ nuôitrồng nấm rơm của Trung tâm giống nấm Bắc Giang nghiệp để hoàn thành
đề tài tốt nghiệp Sau đây là quy trình trồng nấm rơm
2.5.2.1 Thu và trữ nguyên liệu
Nguyên liệu (rơm) thu trữ từ đồng ruộng về phải phơi khô đánh thànhđống để dùng dần Nên chọn rơm ở những ruộng sạch bệnh để giảm tải tốithiểu áp lực gây bệnh cho nấm sau này Rơm rạ phơi khô, có mùi thơm,không bị nhiễm mốc, thối nhũn, rơm rạ phải óng, không bị lát vụn, khônglẫn tạp hóa chất (thuốc BVTV).Hoặc với bông và mùn cưa thì mua ở địa
Trang 28chỉ tin cậy và cơ sở lớn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật như lẫn ít tạpchất,khô,không chứa quá nhiều thành phần hoá học độc hại, có mùi thơmđặc trưng của nguyên liệu.
2.5.2.2 Xử lý nguyên liệu và khử trùng nền phòng trồng nấm
* Làm ướt nguyên liệu:
Ta hòa loãng vôi tôi vào 1m3 nước sao cho ptt = 12 - 13.Với rơm ta tiến hành cho nguyên liệu vào bể chứa dung dịch nước vôi loãng, để
nguyên liệu ngậm no nước vôi trong khoảng 10 - 15 phút, sau đó vớt
nguyên liệu ra để cho nguyên liệu thoát vôi nước (từ 5 - 7 phút).Với bông
ta phải lam tơi nhỏ(phay bong) sau đó tưới hoặc phun nước vôi đã pha sẵn lên theo tưng lớp sao cho ướt đều Rồi mới tiến hành ủ đống
* Ủ đống nguyên liệu:
Sau khi nguyên liệu đã được làm ướt bằng một trong các cách trên,
để thoát nước và chất thành đống theo các kiểu sau:
- Ủ đống theo dạng hình nón
- Ủ theo khuôn dạng hình khối vuông (1,5 x 1,5 x 1,5m) ở đáy đống
ủ ta đặt các kệ lót 1,5 x 1,5m hoặc 2,25 x 1,5m hoặc 3 x 1,5m tùy thuộc vàokhối lượng đống ủ chiều cao đống ủ đạt 1,5 m là tốt nhất
Thời gian ủ đống: Đối với rơm từ 6 - 7 ngày, đối với rạ 8 - 10 ngày, đối với bông phế liệu 5 - 6 ngày,với mùn cưa cần nhiều hơn cang tốt…vì đây là giai đoạn làm chín và kiểm tra nguyên liệu đảm bảo đủ độ ẩm và đống ủ đủ nóng 60- 75 0C
Trong quá quá trình ủ đống cần chú ý: Sau khi đánh đống ủ xong lấy nilon quây xung quanh trừ phần ngọn đống ủ, phần chân phải vuông đứng, chóp tạo mui rùa, ở giữa phải có cọc thông khí, nếu chiều dày đống ủ mà lớn hơn 1,5m thì ta thêm 1 cọc hoặc 2 cọc…
Trong đống ủ thường chứa khí CO, CO2, SO, CH4….do vậy ta không được bịt kín đống ủ , cần làm mái che phần lóc đống ủ để nếu mưa to hoặc nắng to không bị ảnh hưởng tới đống ủ
Chú ý: ủ 1 đống nguyên liêu là rơm phải có từ 300kg trở lên, còn trên bông phế liệu thì khả năng lên nhiệt rất tốt do đó có thể ủ từ 60kg trở lên
Trang 29* Đảo đống ủ:
Để quá trình lên mên trong đống được đều đặn ta cần phải đảo đống ủnguyên liệu sao cho lớp trên xuống dưới, lớp dưới lên trên, từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong…
Khi đảo đống ủ cần chú ý kiểm tra độ ẩm mỗi lần đảo Nếu khô thì cho thêm nước và ướt thì phơi ra cho bớt nước và vào lại đống ẩm độ đạt tiêu chuẩn là khi ta vắt một nắm rơm nhỏ mà thấy nước chảy thành 2 - 3 giọt liên tục là đạt, lúc đó ẩm độ đạt 70 - 75%
Cứ 3 - 4 ngày đảo 1 lần (đối với rơm rạ), rơm thì đảo 2 lần, lần 2 cáchlần 1 từ 2 - 3 ngày, đảo lần 2 ta kiểm tra ẩm độ nếu đạt tiêu chuẩn thì tiến hành rũ tơi rơm và cấy giống
Đối với rạ do thời gian ủ lâu lơn do vậy phải cần qua 2 lần đảo chính thức và 1 lần đảo phụ, lần đảo thứ 2 cách lần đảo thứ 1 từ 3 - 4 ngày Lần đảo phụ (ngày cấy giống) cách đảo lần 2 từ 2 - 3 ngày
Đối với bông phế liệu ngắn hơn: Đảo lần 1 sau ngày đánh đống ủ 2 -
3 ngày và ủ lại 2 - 3 ngày sau tiến hành cấy giống Đối với đảo bông phế liệu ta đảo đống ủ bằng cánh dùng máy đánh tơi bông ra và ủ lại như cũ.Chú ý: Trong quá trình đảo đống ủ là cần phải kiểm tra nhiệt độ và
ẩm độ của đống ủ, đống ủ phải đủ lớn để có thể tạo nhiệt bên trong đống ủ
và tiết kiệm diện tích.Trải một lớp nguyên liệu dày từ 7 - 10cm vào khuôn
và cấy một lớp giống xung quanh cách mép khuôn từ 3 - 5cm.Ta tiếp tục như vậy cấy đủ 3 lớp.Lớp giống thứ 3- 4 (lớp trên cùng) trải rộng đều khắp trên bề mặt, sau đó phủ một lớp mỏng nguyên liệu nên bề mặt mô nấm.Chú ý: Đối với bông thì ta chỉ cấy 3 lớp giống, chiều cao của mô nấm
từ 25 - 35 cm trung bình 1 mô nấm trên đạt khoảng 100 mô nấm
Trang 30Trên rơm rạ ta nắm lại thành từng nắm rơm rạ nhỏ và xếp vào khuôn theo kiểu xương cá Trung bình 1 tấn rơm rạ khô cấy được 75 - 80 mô nấm.
2.5.4 Chọn giống nấm
Là khâu quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất trồng nấm.Chọn meo giống tốt, đúng tuổi, không nhiễm tạp khuẩn sẽ cho năng suấtcao và chất lượng nấm tốt
- Tiêu chuẩn bịch meo tốt: Sợi tơ nấm màu trắng trong, mở nắp bịch
có mùi tương tự như nấm rơm Tơ nấm phát triển đều khắp mặt trong bịchmeo (Riêng một số meo giống, khi tơ trưởng thành, bắt đầu kết tụ lại thànhnhững hạt màu đỏ nâu vẫn cho năng suất tốt) Một bịch meo giống nặngtrung bình 120g, có thể gieo trên mô nấm rộng 0,5m, cao 0,4- 0,5m, chiềudài liếp 4-5m
- Chú ý khi chọn meo giống: Không chọn sử dụng bịch meo có đốm
màu nâu, đen, vàng cam vì đã bị nhiễm nấm dại Không chọn bịch meophía dưới đáy bịch bị ướt, bị nhão và có mùi hôi chua
- Khi lấy giống nấm phải chú ý độ tuổi của nấm, không nên cấygiống quá non hoặc quá già, giống nấm rơm đủ tuổi cấy từ 12 – 15 ngày
là tốt nhất
2.5.5 Chăm sóc
* Đối với điều kiện trồng nấm trong nhà:
- Khi trời mát nhiệt độ dưới 250C: Sau khi cấy giống xong dùng nilonche phủ toàn bộ các mô nấm, cứ 25 - 30 cm thì phải cắt một lỗ thông khímỗi lỗ thông khí có đường kính 6cm Trong quá trình hô hấp cần lưu thôngkhông khí với đường kính 6cm Trong quá trình hô hấp cần lưu thôngkhông khí với môi trường để sợi nấm phát triển tốt thì năng suất sẽ cao
Ta phủ nilon 2 - 3 ngày: không phải tưới nước cho mô nấm
Khi cấy giống xong mà nhiệt trên 280C thì ta không được dùng nilonche phủ cho mô nấm mà để các mô nấm tự do Sau đó đóng kín toàn bộ nhànuôi trồng lại nhưng phải chú ý biện pháp phòng trừ diệt chuột và các côn
Trang 31trùng khác như kiến, gián… 2 - 3 ngày đầu cũng không phải tưới cho mônấm.
Đến ngày thứ 4, kể từ khi cấy giống nấm ta dùng nhiệt kế có thang đođến 1000C cắm vào giữa mô nấm để kiểm tra điều kiện tốt cho sợi nấm pháttriển tốt
Dùng bình phun nhẹ nhành tưới trực tiếp vào mô nấm sao cho lớpnguyên liệu bề mặt ngoài luôn ẩm, trung bình 1 ngày tưới 2 - 3 lần Nếunhiệt độ mô nấm mà trên 450C kéo dài liên tục trong 6 - 8h thì sợi nấm sẽ
bị chết dần và ảnh hưởng đến năng suất, để khắc phục tình trạng này tadùng cọc tre có đường kính từ 3 - 4 cm tạo các lỗ chính giữa mô nấm đểcho nhiệt độ thoát ra ngoài, ta tạo từ 5 - 7 lỗ/mô, đến khi kiểm tra thấynhiệt độ ổn định dưới 450C thì ta bịt kín lỗ lại
- Ngày thứ 5, 6, 7 sau khi cấy giống vẫn tưới nước bổ xung cho mônấm và kiểm tra nhiệt độ như ngày thứ 4
- Ngày thứ 8 tưới đón nấm, đây là ngày quyết định đến năng suất củanấm rơm, nếu ngày này sợi nấm đã ăn ra ngoài mà không tưới đón nấm thìnăng suất sẽ giảm xuống từ 10 - 20%
- Ngày thứ 9 đóng kín của phòng không tưới cho mô nấm, ở ngày nàynấm xuất hiện quả thể nấm hình đinh ghim dày đặc trên mô nấm, nếu tưới
sẽ làm cho quả thể bị thui, hỏng và dẫn đến năng suất thấp
- Ngày thứ 10 nấm lớn dần nên khá nhanh, nếu thời tiết khô và nóngthì ta có thể tưới bổ xung khi tưới phải ngửa vòi để cho hạt nước tung lêncao rồi nhẹ nhàng rơi xuống mô nấm, tránh không được để nấm uống quánhiều nước
- Ngày thứ 11 tiến hành thu hái bói những quả nấm đầu tiên
- Ngày thứ 12,13, 14 thu hái nấm tương đối đồng loạt nếu chăm sócđúng kĩ thuật
Trước khi thu hái phải ngừng việc tứơi nước trước đó 4 - 6h
* Chăm sóc các mô nấm trồng ở ngoài trời