việc độc quyền phát hành tiền thì chính phủ có thể điều chỉnh được lượng tiền lưuthông để có thể kiểm soát lạm phát và từ đó có thể tăng giảm lãi suất để tăng lượngcầu hay giảm lượng cầu
Trang 1
Mục lục Lời nói đầu: 1
Phần 1: Những lý luận chung về chính sách tiền tệ 2
1.Quá trình hình thành và phát triển của tiền tệ 2
Phần 2: Phân tích tình hình và thực trạng của tiền tệ 3
1.Tiền và giá trị của tiền 3
2.Ngân hàng trung ương 3
3.Lãi suất 7
4 Tất cả những vấn đề nêu trên ảnh hưởng tới thị trường tài chính Việt Nam Bây giờ chúng ta sẽ đi tìm hiểu về thực trạng và định hướng phát triển những năm tới 8
5 MỤC TIÊU ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VIỆT NAM ĐẾN 2010 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2015 9
Phần 3: Liên hệ việc phát huy vai trò của tiền tệ ở Việt Nam 10
1 Chính sách tiền tệ và những dấu mốc đáng nhớ 10
2 Tác động của chính sách tiền tệ - dư âm còn đọng lại 14
3 Điều hành chính sách tiền tệ và một số điểm cần lưu ý 17
Lời nói đầu
* * Trong lịch sử loài người, Nhà nước ra đời trong cuộc đấu tranh của xã hội
có giai cấp, nó là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, Nhà nước xuất hiện với tư cách là cơ quan có quyền lực công cộng để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ về nhiều mặt như quản lý hành chính, chức năng kinh tế, chức năng chấn áp và các nhiệm vụ xã hội
* * Để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình Nhà nước cần phải có
nguồn lực tài chính – Tiền Tệ Nhà Nước, đó là cơ sở vật chất cho Nhà nước tồn tại
và hoạt động
Ngày nay kinh tế thị trường càng phát triển kinh tế hàng hóa, đồng tiền càng chiếm
Trang 2vai trò quan trọng trong tất cả các lĩnh vực kinh tế Do đó, cùng với chính sách tàikhóa, chính sách tiền tệ là một công cụ không thể thiếu được trong việc điều tiết vĩ
mô nền kinh tế
* * Tiền là thứ dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bảnthân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sửdụng) Tiền là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và
dịch vụ Thông qua việc chứng thực các giá trị này dưới dạng của một vật cụ thể(thí dụ như tiền giấy hay tiền kim loại) hay dưới dạng văn bản (dữ liệu được ghinhớ của một tài khoản) mà hình thành một phương tiện thanh toán được một cộngđồng công nhận trong một vùng phổ biến nhất định Một phương tiện thanh toántrên nguyên tắc là dùng để trả nợ Khi là một phương tiện thanh toán tiền là phươngtiện trao đổi chuyển tiếp vì hàng hóa hay dịch vụ không thể trao đổi trực tiếp chonhau được Người ta cũng có thể nhìn tiền như là vật môi giới, biến việc trao đổitrực tiếp hàng hóa và dịch vụ, thường là một trao đổi phải mất nhiều công sức tìmkiếm, thành một sự trao đổi có 2 bậc Tiền thường được nghiên cứu trong các lýthuyết về kinh tế quốc dân nhưng cũng được nghiên cứu trong triết học và xã hộihọc
* * Xuất phát từ ý nghĩa, vai trò quan trọng của Tiền, cũng như những vấn đềđang tồn tại trong tình hình kinh tế hiện nay, cả thế giới đang lâm vào tình trạngkhủng hoảng nền kinh tế (đặc biệt là đồng tiền Việt Nam đang dần mất giá so với
đồng tiền thế giới) mà nhóm em đã chọn đề tài “Chính Sách Tiền Tệ” làm đề tài
cho bài tiểu luận của mình
Bài Tiểu luận của em gồm ba phần:
Phần 2: Phân tích vai trò và chức năng của tiền tệ và ngân hàng trung ương Phần 3: Liên hệ việc phát huy vai trò tiền tệ Nhà nước ở Việt Nam
Phần 1: Những lý luận chung về chính sách tiền tệ
- Trong xã hội nguyên thủy con người sống theo bầy đàn và tự cung tự cấp là
chính.Và hình thái phôi thai của giá trị là trao đổi ngẫu nhiên nguyên thủy hàng đổihàng Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển, và sự phát triển cao hơn nữa của lựclượng sản xuất và phân công lao động xã hội, thì hàng hóa được đưa ra trao đổithường xuyên, đa dạng và nhiều hơn Nhu cầu trao đổi do đó trở nên phức tạp hơn,
vì thế sự trao đổi trực tiếp (hàng đổi hàng) đã không còn thích hợp và gây trở ngạicho trao đổi, con người đã tìm cách để hóa giải nó bằng cách tìm ra vật trung giantrong trao đổi được cố định lại ở hàng hóa được nhiều người ưa chuộng Nhưng rồi
Trang 3xã hội ngày càng phát triển hơn nữa thì vật được nhiều người ưa chuộng khôngcòn thích hợp trong trao đổi nữa Khi đó con người đã phải cố định lại ở vật độctôn và phổ biến và đã xuất hiện hình thái tiền tệ của giá trị Và đồng tiền đầu tiên
đã ra đời đó là những con sò ở gần dòng sông Nin huyền thoại và tiếp đó là đồngvàng và đồng bạc ra đời Nhưng đồng vàng và đồng bạc là kim loại khi tích chữthường bị hư hỏng và khó bảo quản, một hình thái mới nhất của tiền tệ đã ra đời đó
là những đồng giấy bạc có giá trị xuất hiện Nó gọn nhẹ dễ cất giữ và bảo quản dễhơn
- Tiền ra đời từ nhu cầu kinh tế thực tế của loài người khi mà nền sản xuất đạt
đến một trình độ nhất định và con người đã có thể tự do đi lại trong một phạm vilãnh thổ tương đối rộng lớn Khi đó, thay vì phải chuẩn bị hành lý cồng kềnh chochuyến đi dài ngày, con người chỉ cần mang theo một lượng nhỏ kim loại quý hoặctiền được ưa chuộng ở nhiều nơi để đổi cho mình những nhu yếu phẩm cần thiết Từ
đó các hoạt động thương mại đã ra đời, tiền tệ được quy ước và ban hành, quản lýbởi nhà nước Đổi lại, nhà nước có quyền thu thuế từ các hoạt động thương mại.Nói một cách chặt chẽ thì tiền chỉ là những gì mà luật pháp bắt buộc phải công nhận
là một phương tiện thanh toán Tiền là phương tiện thanh toán được chấp nhậnchung và được dùng bất kỳ lúc nào, để thanh toán bất kỳ một khoản là bao nhiêu,
cho bất kỳ ai
- Tiền cơ sở là thuật ngữ kinh tế chỉ loại tiền có mức độ thanh khoản cao nhấttrong các thành phần của cung tiền Tiền cơ sở bao gồm tiền mặt trong lưu thông docác cá nhân (hộ gia đình và doanh nghiệp không phải ngân hàng nắm giữ) và dự trữbắt buộc của ngân hàng thương mại tại ngân hàng trung ương Mọi sự thay đổi củalượng tiền cơ sở đều là tác nhân quan trọng gây ra thay đổi trong tổng lượng cung
tiền Chính vì vậy, tiền cơ sở còn được gọi là tiền có mãnh lực Để biết rõ hơn về
điều này chúng ta sẽ cùng nhau tim hiểu về tình hình và thực trạng của tiền tệ
Phần 2: Phân tích tình hình và thực trạng của tiền tệ
Trang 4- Tiền tệ là tiền khi chỉ xét tới chức năng là phương tiện thanh toán, là đồng tiền được luật pháp quy định để phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia hay nền kinh tế Vì định nghĩa như vậy, tiền tệ còn được gọi là " tiền lưu thông" Tiền tệ có thể mang hình thức tiền giấy hoặc tiền kim loại (tiền xu) do Nhà nước (ngân hàng trung ương, Bộ Tài chính, v.v ) phát hành Khi phân biệt tiền tệ của quốc gia này với tiền tệ của quốc gia khác, người ta dùng cụm từ " đơn
vị tiền tệ" Đơn vị tiền tệ của nhiều quốc gia có thể có cùng một tên gọi (ví dụ: dollar, franc ) và để phân biệt các đơn vị tiền tệ đó người ta thường phải gọi kèm tên quốc gia sử dụng đồng tiền (ví dụ: dollar Úc) Với sự hình thành của các khu vực tiền tệ thống nhất, ngày nay có nhiều quốc gia dùng chung một đơn vị tiền tệ như đồng EUR Đơn vị tiền tệ của Việt nam được gọi là đồng, ký hiệu dùng trong nước là " đ" , ký hiệu quốc tế là VND, đơn vị nhỏ hơn của đồng là hào (10 hào = 1 đồng) và xu (10 xu = 1 hào) Tiền tệ là phương tiện thanh toán pháp quy nghĩa là luật pháp quy định người ta bắt buộc phải chấp nhận nó khi được dùng để thanh toán cho một khoản nợ được xác lập bằng đơn vị tiền tệ ấy Một
tờ séc có thể bị từ chối khi được dùng để thanh toán nợ nhưng tiền giấy và tiền kim loại thì không Từ đó ta thấy đượ giá trị tiền tệ của nó: Tiền tệ có giá trị không phải vì những gì tiền tệ có thể trao đổi được Giá trị của tiền tệ là số lượng hàng hóa và dịch vụ mua được bằng một đơn vị của tiền tệ Giá cả của tiền tệ chính là lãi suất, giá cả của tiền tệ là số tiền mà người ta phải trả cho cơ hội được vay nó trong một khoảng thời gian xác định.Giá trị của tiền tệ là 1 lượng vàng nguyên chất nhất định làm đơn vị tiền tệ.
Từ giá trị trên ta thấy tiền tệ có những tính chất sau: Tính được chấp nhận rộng rãi:đây là tính chất quan trong nhất của tiền tệ, người dân phải sẵn sàng chấp nhận tiềntrong lưu thông, nếu khác đi nó sẽ không được coi là tiền nữa Kể cả một tờ giấybạc do ngân hàng trung ương phát hành cũng sẽ mất đi bản chất của nó khi mà trongthời kỳ siêu lạm phát, người ta không chấp nhận nó như là một phương tiện trao đổi.Tính dễ nhận biết, tính có thể chia nhỏ được, tính lâu bền, tính dễ vận chuyển, tínhkhan hiếm, tính đồng nhất
* * Tiền được tạo ra từ đâu, và nó được phát hành như thế nào, ai làm
nhiệm vụ này? Đó chính là ngân hàng, chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm hiểu:Ngân
hàng đã có những biện pháp gì để duy trì khả năng và sự tồn tại của mình?
2.Ngân hàng trung ương
hành độc quyền tiền trên toàn quốc như phương tiện trao đổi, ngân hàng trung ươngtrực tiếp quản lý cung ứng tiền mặt Việc quản lý mức độ cung ứng tiền mặt là công
cụ thứ nhất giúp ngân hàng trung ương điều tiết mức cung ứng tiền tổng hợp Với
Trang 5việc độc quyền phát hành tiền thì chính phủ có thể điều chỉnh được lượng tiền lưuthông để có thể kiểm soát lạm phát và từ đó có thể tăng giảm lãi suất để tăng lượngcầu hay giảm lượng cầu ứng với mỗi thời điểm của nền kinh tế.
- Ngân hàng trung ương là chủ ngân hàng của hệ thống các ngân hàng trung gian:
Ngân hàng trung ương là trung tâm thanh toán, chuyển nhượng, bù trừ của các ngânhàng trung gian Vai trò này giúp ngân hàng trung ương kiểm soát, theo dõi, quản lýhoạt động của toàn bộ hệ thống tài chính trong nước Mặt khác có thể quản lý đượclượng tín dụng ra vào trong hệ thống tài chính vào những thời điểm nhất định Ngânhàng trung ương là ngân hàng quản lý dự trữ bắt buộc của hệ thống ngân hàng trunggian Dự trữ bắt buộc là tiền mặt, và tỉ lệ dự trữ bắt buộc tối thiểu là tỉ lệ % tiền mặttrên tổng số tiền mặt do nhân dân gửi vào mà các ngân hàng thành viên phải lưu lạitrong kho tiền mặt của ngân hàng hay kí gửi tại ngân hàng trung ương, không đượccho vay hết Khi tỉ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên, cung ứng tiền ngân hàng của hệthống ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính cũng giảm ngay tức khắc vàngược lại Bằng cách việc quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc ngân hàng trung ương quản
lý một cách chặt chẽ tốc độ và cung ứng tiền ngân hàng của hệ thống ngân hàngtrung gian Những đợt rút tiền ồ ạt của nhân dân ( vì lãi suất thấp, vì lạm phát caocho nên lãi suất trở thành âm, vì có thể những loại đầu tư khác có lợi cao hơn hoặc
vì không đủ tin tưởng vào ngân hàng…) sẽ rất dễ làm cho ngân hàng trung gian vỡ
nợ vì không đủ tiền mặt chi trả cho nhân dân Trong trường hợp như thế khi ngânhàng trung gian không còn chỗ vay mượn nào khác, không thu hồi về kịp những
khoản vay về kịp thì nó phải đến ngân hàng trung ương vay tiền như cứu cánh cuốicùng Ngân hàng trung ương cho ngân hàng trung gian vay với phương thức gọi làcho vay chiết khấu Đó là hình thức cho vay qua cửa sổ chiết khấu Lãi suất của sựcho vay này là lãi suất chiết khấu Ngân hàng trung ương là ngân hàng duy nhấtkhông thể vỡ nợ hay kẹt tiền mặt, đơn giản vì nó rất mất ít thời gian đẩ in tiền mới.Cho nên nó có thể cho ngân hàng trung gian vay khi có yêu cầu Ngân hàng trunggian có thể cho vay hết dự trữ bắt buộc vì khi cần thiết nó có thể vay ngân hàngtrung ương với lãi suất cũng giống như vay của nhân dân để thanh toán cho nhândân “Như vậy khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu thì sẽ làm giảmlượng cung tiền của hệ thống ngân hàng trung gian, tức là giảm lượng cung tiềntrong toàn bộ nền kinh tế và ngược lại”
- Ngân hàng trung ương là chủ ngân hàng, đại lý và cố vấn cho chính phủ: Ngân
hàng trung ương là chủ ngân hàng của chính phủ Tùy theo đặc điểm tổ chức của
từng nước, chính phủ có thể ủy quyền cho bộ tài chính hay kho bạc đứng tên và làmchủ tài khoản ở ngân hàng trung ương Hàng quý, hàng năm, tiền thuế thu được vànhững khoản thu khác của ngân sách được gửi vào ngân hàng trung ương để ngânhàng trung ương sử dụng và trả lãi Khi chính phủ cần, bộ tài chính hay kho bạccũng phải làm thủ tục để rút tiền gửi từ ngân hàng trung ương như một khách hàngbình thường Khi chính phủ thâm hụt ngân sách, chính phủ có nhiều cách bù vàonhư: vay của dân bằng cách phát hành công trái, vay của nước ngoài, vay ứng trước
Trang 6thuế, …, và vay của ngân hàng trung ương Nếu vay của ngân hàng trung ương thì
về nguyên tắc có thể thế chấp bằng các loại tài sản mà chính phủ có như: chứng thưchủ quyền tài sản, chứng khoán, vàng… Trong trường hợp chính phủ vay mà khôngthế chấp thì ngân hàng có quyền từ chối Nếu ngân hàng trung ương không từ chốiđược thì nó đành phát hành tiền mặt ngoài dự kiến cho chính phủ làm cho tổng cung
về tiền tăng lên và nền kinh tế cũng sẽ biến động theo Thông qua vai trò là chủngân hàng của chính phủ với nghiệp vụ là cho vay, ngân hàng trung ương làm thayđổi lượng tiền tệ trong nền kinh tế, nghĩa là can thiệp vào những biến động của kinh
tế vĩ mô Ngân hàng trung ương là đại lý của chính phủ Với tư cách là đại lý cho
chính phủ, ngân hàng trung ương thay mặt chính phủ tổ chức thu thuế qua hệ thốngngân hàng của nó Đồng thời nó thay mặt chính phủ trong các thỏa thuận tài chính,viện trợ, vay mượn, chuyển nhượng và thanh toán với nước ngoài Ngoài ra với tưcách này nó có thể phát hành trái phiếu, cổ phiếu…cho chính phủ kể cả trong vàngoài nước Bằng việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu…ngân hàng trung ương đãlàm trực tiếp tăng (giảm) lượng cung ứng tiền cho nền kinh tế Và thông qua đó đãlàm tác động đến kinh tế vĩ mô Ngân hàng trung ương là cố vấn tài chính cho chính
phủ Ngân sách có tác động khá quan trọng đến nền kinh tế vĩ mô vì nếu hoạt động
của ngân sách không hài hòa với chính sách tiền tệ nó sẽ làm cản trở hiệu quả củachính sách tiền tệ trong điều tiết vĩ mô Với lý do trên ngân hàng trung ương phảitham gia cố vấn cho chính phủ trong chính sách tài chính và kinh tế Với vai trò nàyngân hàng trung ương gián tiếp ảnh hưởng đến việc cung ứng trái phiếu của chínhphủ và các hoạt động chi tiêu khác cho hợp lý với ngân sách
- Ngân hàng trung ương là ngân hàng trực tiếp quản lý dự trữ quốc gia: Dự trữ
quốc gia bao gồm những dự trữ chiến lược cho những trường hợp khẩn cấp như canthiệp vào điều tiết kinh tế, nhập khẩu hàng khẩn cấp để chống khan hiếm và chốnglạm phát, khi có thiên tai, chiến tranh…Dự trữ bao gồm: vàng, tiền tệ, … Với tưcách là ngân hàng của chính phủ, ngân hàng trung ương được giao phó nhiệm vụquản lý dự trữ quốc gia Khi nắm trong tay công cụ này ngân hàng trungương(NHTU) có thể can thiệt bất kì lúc nào vào thị trường ngoại tệ để giữ giá đồngtiền trong nước, hay tăng hoặc giảm giá NHTU với nghiệp vụ mua bán trên thịtrường vàng và ngoại tệ, nó tạo ra hai tác động quan trọng là thay đổi cung ứng tiền
và thay đổi tỉ giá hối đoái của đồng tiền trong nước Hai điều này tác động đến tổngcầu, sản xuất, thu nhập và giá cả và đương nhiên điều này có tác động đến kinh tế vĩmô
- Vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của ngân hàng trung ương: Mọi họat động của
ngân hàng trung ương đều ảnh hưởng mật thiết đến cung ứng tiền trong nền kinh tế.Cung ứng tiền thay đổi làm biến động giá cả, sản lượng quốc gia, do đó một cáchgián tiếp mọi họat động ngân hàng ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế Ảnh hưởngcủa cung ứng tiền đến nền kinh tế Sự khác biệt trong chính sách cung ứng tiền làkhoảng cách giữa chính sách cung ứng nới lỏng và chính sách cung ứng thắt chặt.Giả sử vào thời điểm ta nghiên cứu, đường cung ứng tiền tương ứng của ngân hàng
Trang 7là LS0 ứng với nhu cầu tiền trong nền kinh tế là LD Nền kinh tế đạt bình quân tạmthời trên thị trường tiền tệ tại điểm bình quân E0 cho biết: với mức bình quân ấylượng cung ứng tiền là L0 và lãi suất là R0 Bây giờ, cho rằng ngân hàng trungương quyết định thắt chặt cung ứng tiền để hạn chế lạm phát (LS0 tới LS1) trongkhi LD vẫn không thay đổi Chính điều này đã làm cho lãi suất tăng vọt từ R0 đếnR1 E0 di chuyển đến E1 Lúc này tiền sẽ khan hiếm hơn (do lượng cung giảm).Tiền khan hiếm thì giá trị của đồng tiền sẽ tăng theo do đó lạm phát sẽ giảm Ngượclại, giả sử sau một khoảng thời gian chống lạm phát với cái giá là sự suy thoái, ngânhàng trung ương bắt đầu chuyển sang cung ứng tiền nới lỏng Tổng cung tiền tệtăng từ LS1 lên LS2, cắt LD tại E2, lúc này lượng tiền tệ tăng lên L2 và lãi suấtgiảm xuống còn R2 Lúc này thì nền kinh tế phải đối mặt với thách thức mới là lạmphát có thể gia tăng
Chính sách cung ứng tiền nới lỏng làm cho tiền tệ trở nên dồi dào hơn Điều nàykích thích tiêu dùng cho cuộc sống và cho đầu tư nhiều hơn Sự gia tăng tiêu dùng
và đầu tư làm sản xuất liên tục được mở rộng, tuyển mộ thêm công nhân, giảm thấtnghiệp và gia tăng thu nhập quốc dân Nền kinh tế tăng trưởng với giá cả tăng caohơn trước Chính sách cung ứng tiền thắt chặt làm cho chi phí để có tiền cao hơn vàtiền trở nên khan hiếm Sản xuất thiếu vốn, người mua thiếu tiền buộc phải cắt giảmchi tiêu và đầu tư, điều này dẫn đến tổng cầu giảm và giá cả hạ Cái giá phải trả làsản xuất bị thu hẹp, thất nghiệp tăng, thu nhập quốc dân giảm và nền kinh tế giảmsút
►Do đó cung ứng tiền là sức mạnh đầy quyền lực của ngân hành trung ương Khingân hàng trung ương điều tiết cung ứng tiền tức là nó bắt đầu tiến hành điều tiếtnền kinh tế Chính sách tiền tệ phải phục vụ cho mục đích đảm bảo cho nền kinh tế
có tăng trưởng, tức là giảm thất nghiệp, gia tăng thu nhập quốc dân và mở rộng tiềmnăng sản xuất, chống suy thoái…Chính sách tiền tệ phải hướng về ổn định giá cả
Trang 8Phải tạo cho nền kinh tế có một nền tảng tài chính ổn định Góp phần mở rộng sảnlượng tiềm năng của nền kinh tế
* * Tiền khi được tạo ra ta không thể để nó đứng im, mà ta phải làm cho
nó đẻ ra ngày càng nhiều, đó chính là tạo thêm lãi suất cho tiền, lúc đó tiền mới thực sự là nguồn nhân lực có hiệu quả,vậy lãi suất thực chất là cái gì?
3.Lãi suất
- Lãi suất là đòn bẩy, kích thích sự tăng trưởng kinh tế, góp phần thực hiện mụctiêu của chính sách tiền tệ quốc gia Chính sách lãi suất, nếu tạo ra được mức lãisuất cho vay thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân sẽ có tác dụng thúc đẩy kích thíchcác doanh nghiệp tăng nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, trang bịcông nghệ sản xuất hiện đại bằng nguồn vốn vay ngân hàng Hiệu quả cuối cùng sẽtạo ra một nguồn vốn của cải cho xã hội, tổng thu nhập quốc dân tăng lên rất nhiều Lãi suất là công cụ thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại, lãi suất
là giá cả của vốn Lãi suất là công cụ dùng để điều chỉnh các hoạt động đầu tưtrong nền kinh tế, hay nói cách khác, khi các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư cóvốn, muốn đầu tư vào lĩnh vực nào cũng phải lấy lãi suất tín dụng trong nền kinh tếlàm cơ sở và quyết định, ít nhất hiệu quả đầu tư vào các lĩnh vực khác để sinh lờiphải có tỷ lệ lớn hơn hoặc cùng lắm phải bằng lãi suất tín dụng Lãi suất còn là công
cụ để kềm chế lạm phát rất hữu hiệu thông qua chính sách tiền tệ của ngân hàngtrung ương Trong trường hợp nền kinh tế có lạm phát, ngân hàng trung ương sẽ sửdụng chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất để thu hút tiền nhàn rỗi trong lưuthông về, nhằm điều hòa lượng tiền trong lưu thông, cân đối với khối lượng hànghóa
Trang 9+ Giả sử lúc đầu lãi suất của thị trường tiền tệ là R0, ở mức lãi suất này nhu cầutiêu dùng của nhân dân là AD0 và sản lượng quốc gia là Y0.Bây giờ cho rằng ngân hàng trung ương và chính phủ quyết định nâng lãi suất đểgiảm lạm phát Lãi suất cao hơn làm cho việc vay tiền trở nên khó khăn hơn do thếsản xuất không dám tiêu dùng nhiều vốn và sản xuất có xu hướng giảm sút Do lãisuất cao nên người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn và nhu cầu tiêu dùng giảmxuống Đường cầu AD0 dịch chuyển đến AD1 Tiêu dùng và đầu tư giảm làm giá cảgiảm từ P0 xuống P1, sản lượng tụt xuống Y1 và nền kinh tế đi vào tình trạng suythoái.
+ Ngược lại khi lãi suất hạ xuống R2, sản xuất sẽ tiêu dùng nhiều vốn hơn, sản xuấtđược đẩy mạnh, lãi suất thấp người tiêu dùng sẽ tiết kiệm ít hơn và đầu tư và chitiêu nhiều hơn do đó cầu sẽ tăng lên Giá và sản lượng quốc gia đó sẽ tăng theo.+ Như vậy khi ngân hàng trung ương thực hiện nghiệp vụ bán, nó thắt chặt cungứng tiền, tăng lãi suất, giảm tỉ giá và giá cả hạ xuống và ngược lại khi thực hiệnnghiệp vụ mua.Ngân hàng còn điều tiết nền kinh tế bằng cách cho vay và lãi suấtcho vay chiết khấu có cả hai tác dụng: trực tiếp và gián tiếp Tác động gián tiếp là
nó làm tăng, giảm lãi suất cho vay của ngân hàng trung gian và do đó tác động đếncung ứng tiền và tín dụng Tác động trực tiếp là nó làm tăng hay giảm dự trữ củangân hàng trung gian và do đó tác động đến lượng cho vay tiêu dùng và đầu tưtrong kinh tế Khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu thì đó là biến cốquan trọng Lãi suất tăng khiến ngân hàng trung gian không thể vay mượn của ngânhàng trung ương nhiều và dễ dàng như trước Do đó nó phải giảm lượng cho vay vàhậu quả là tổng cầu và sản lượng giảm theo.Khi ngân hàng tung tiền mặt ra muangọai tệ trên thị trưởng ngọai tệ, tức khắc nó làm tăng giá trị của đồng ngọai tệ(ngọai tệ trong lưu thông ít đi, lượng tiền nội tệ thì tăng thêm ), nâng tỉ giá lên cao.Cung ứng tiền nội tệ tổng thể lập tức bành trướng sau đó và ngược lại khi bán ngọaitệ
+ Khi ngân sách chính phủ thâm hụt nó sẽ cho chính phủ vay, lượng tiền mặt nócho vay làm tăng lượgn tiền trong lưu thông và tăng cung ứng tiền trong nền kinh tếthông qua việc chi tiêu của chính phủ
4 Tất cả những vấn đề nêu trên ảnh hưởng tới thị trường tài chính Việt Nam Bây giờ chúng ta sẽ đi tìm hiểu về thực trạng và định hướng phát triển những năm tới
- Thực tế ở nước ta trong giới khoa học kinh tế nói chung và chuyên ngành tàichính - tiền tệ nói riêng đang tồn tại một số quan niệm không trùng khớp nhau vềthị trường vốn và thị trường tài chính Một số người quan niệm rằng, thị trường vốnbao gồm thị trường vốn ngắn hạn và thị trường vốn dài hạn; trong đó thị trường vốndài hạn là thị trường chứng khoán Một số khác thì cho rằng, thị trường vốn baogồm thị trường tiền tệ và thị trường tài chính; trong đó, thị trường tài chính là thịtrường chứng khoán
Trang 10- Về thực trạng phát triển thị trường tiền tệ: Tham gia là thành viên của các dạng thịtrường tiền tệ có 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng chính sách xã hội,
36 Ngân hàng thương mại cổ phần, 4 Ngân hàng liên doanh, 27 chi nhánh Ngânhàng nước ngoài, Qũy tín dụng TW, 900 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, một số công
ty bảo hiểm và tái bảo hiểm, Quỹ đầu tư Về cơ chế tác động và can thiệp trên thịtrường tiền tệ, được thể hiện tập trung ở các công cụ điều hành chính sách tiền tệ vànghiệp vụ Ngân hàng Trung ương Tác động vào lãi suất còn có công cụ dự trữ bắtbuộc Khi Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, có tác độnglàm tăng chi phí đầu vào của các TCTD Do đó hoặc là các TCTD giữ nguyên lãisuất huy động vốn thì phải tăng lãi suất cho vay; hoặc là đồng thời vừa phải tăng lãisuất cho vay, vừa phải tăng lãi suất huy động vốn Các Ngân hàng thương mại và
Tổ chức tín dụng được chủ động trong các hoạt động huy động vốn và cho vay củamình, tham gia tích cực, năng động và cạnh tranh mạnh mẽ với nhau trên thị trườngtiền tệ, theo đó, nó cũng có điều kiện thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển
5 MỤC TIÊU ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VIỆT NAM ĐẾN 2010 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2015
- Mục tiêu: Ổn định và phát triển thị trường tiền tệ để thực hiện có hiệu quả vai tròđiều tiết cung cầu vốn ngắn hạn, đáp ứng yêu cầu thúc đẩy nền kinh tế phát triểnbền vững phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Định hướng: Để thực hiện mục tiêu trên, thị trường tiền tệ Việt Nam cần phát triểntheo định hướng sau: Phát triển thị trường tiền tệ an toàn hiệu quả, đồng bộ, mangtính cạnh tranh cao nhằm tạo cơ sở quan trọng cho hoạch định và điều hành chínhsách tiền tệ, huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực tài chính, giảm thiểurủi ro cho các tổ chức tín dụng Theo đó, thị trường tiền tệ sẽ phát triển mạnh trên
cơ sở tổ chức lại và củng cố thị trường liên ngân hàng với cơ chế hoạt động thôngthoáng, tăng cường vai trò giám sát, điều hành, khả năng kiểm soát, điều tiết thịtrường của NHNN; phát triển thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc; tăng cườnghoạt động nghiệp vụ thị trường mở, tăng số lượng và chủng loại chứng khoán có độ
an toàn và tính thanh khoản cao được phép giao dịch; tăng cường sự liên kết giữacác thị trường tiền tệ bộ phận, giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoánnhằm tăng tính linh hoạt của thị trường, khả năng phòng ngừa và khả năng chuyểnđổi rủi ro giữa các thị trường,hạn chế can thiệp hành chính vào thị trường tiền tệ
- Giải pháp phát triển thị trường tiền tệ đến năm 2010 và tầm nhìn 2015: Khôngngừng hoàn thiện khung pháp lý cho sự phát triển của thị trường tiền tệ Hoàn chỉnhcác văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Công cụ chuyển nhượng để mở rộng áp dụngcác công cụ mới trên thị trường Đối với các công cụ đã hình thành trên thị trườngnhư chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu của các NHTM cần tiếp tục chuẩn hóa để tạođiều kiện cho các công cụ này được giao dịch trên thị trường thứ cấp Ban hànhđồng bộ văn bản hướng dẫn thực hiện các công cụ phái sinh, công cụ phòng ngừarủi ro theo thông lệ quốc tế; đẩy mạnh các nghiệp vụ kỳ hạn và hoán đổi, cho phép
Trang 11các NHTM thực hiện giao dịch quyền chọn, tương lai để phòng ngừa rủi ro tỷ giá,góp phần cải thiện tính thanh khoản cho thị trường Tiếp tục hoàn thiện các văn bảntạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của thị trường thứ cấp Thực hiện các giảipháp nhằm nâng cao vai trò điều tiết, hướng dẫn thị trường của NHNN Nâng caonăng lực, hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc đổi mới và hoànthiện các công cụ chinh sách tiền tệ gián tiếp nhất là nghiệp vụ thị trường mở