1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng thương mại cổ phần quân đội chi nhánh hoàng quốc việt

56 507 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 362 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm phương thức thanh toán TDCT Phương thức TDCT: là phương thức thanh toán, trong đó theo yêu cầucủa khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức thư gọi là thư tín dụng– letter

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của chuyên đề

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, kinh doanh và rủi ro làhai phạm trù song song cùng tồn tại Rủi ro là sự bất trắc gây ra mất mát thiệthại, song lại là hiện tượng đồng hành với các hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng

Là một trong những lĩnh vực hoạt động kinh doanh của ngân hàngthương mại, thanh toán quốc tế ra đời và phát triển không ngừng như một tấtyếu khách quan Nó là một mắt xích không thể thiếu trong việc buôn bán,giao thương giữa các quốc gia Trong đó, tín dụng chứng từ đang trở thànhphương thức thanh toán ưu việt và ngày càng được sử dụng phổ biến trongthanh toán xuất nhập khẩu Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của mình,Thanh toán quốc tế không chỉ đơn thuần mang lại những lợi ích kinh tế màcòn phát sinh những nguy cơ có thể gây rủi ro, tổn thất trực tiếp cho ngânhàng, cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và cả nềnkinh tế quốc gia

Qua hơn 10 năm thành lập, hoạt động thanh toán quốc tế của Ngânhàng TMCP Quân Đội-chi nhánh Hoàng Quốc Việt còn mới mẻ nhưng đã đạtđược những thành tựu nhất định Sự mở rộng và phát triển đa dạng các sảnphẩm thanh toán quốc tế đã tạo tiền đề căn bản thúc đẩy phương thức tín dụngchứng từ phát huy tính hiệu quả và trở thành công cụ đắc lực đáp ứng ngàymột tốt hơn nhu cầu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Tuy vậy, thực tiễn

áp dụng các tập quán quốc tế cho thấy tín dụng chứng từ không phải là nghiệp

vụ đơn giản, nó tiềm ẩn nhiều rủi ro về tài chính và uy tín không chỉ cho cácdoanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu mà cho các ngân hàng thương mạitrong đó có Ngân hàng TMCP Quân Đội chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu các vấn đề về rủi ro trong thanhtoán quốc tế bằng tín dụng chứng từ để từ đó tìm ra các biện pháp phòng ngừa

Trang 2

và hạn chế rủi ro là việc làm cần thiết mà các Ngân hàng thương mại và cácdoanh nghiệp phải chú trọng, quan tâm Đây cũng là lý do để tôi quyết định

lựa chọn chuyên đề: "Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh

toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội chi nhánh Hoàng Quốc Việt" cho chuyên đề tốt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề về rủi ro và các biện pháp phòngngừa và hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Nghiên cứu rủi ro và các biện pháp phòng ngừa và hạnchế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng quânđội chi nhánh Hoàng Quốc Việt

+ Về thời gian : Thời gian nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2011 vàkiến nghị cho các năm tiếp theo

4 Phương pháp nghiên cứu

Chuyên đề sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với duyvật lịch sử làm cơ sở nghiên cứu, đồng thời áp dụng các phương pháp cụ thểsau:

- Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp tài liệu;

Trang 3

- Phương pháp đối chiếu, so sánh;

- Phương pháp diễn giải, quy nạp;

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

- ……

5 Kết cấu của chuyên đề

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đềđược bố cục thành 3 chương như sau:

- Chương 1 : Lý luận chung về phương thức thanh toán tín dụng

chứng từ và rủi ro trong phương thức thức thanh toántín dụng chứng từ

- Chương 2 : Thực trạng rủi ro trong phương thức thanh toán tín

dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phầnQuân đội chi nhánh Hoàng Quốc Việt

- Chương 3 : Những kiến nghị và đề xuất giải pháp phong ngừa rủi

ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụngchứng từ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân độichi nhánh Hoàng Quốc Việt

Trang 4

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1.1 TDCT KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA VÀ QUY TRÌNH CỦA PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

1.1.1 Khái niệm phương thức thanh toán TDCT

Phương thức TDCT: là phương thức thanh toán, trong đó theo yêu cầucủa khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức thư (gọi là thư tín dụng– letter of credit) cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ

ba khi người này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợpvới những điều kiện và điều khoản quy định trong thư tín dụng

Thư tín dụng thương mại là một công cụ quan trọng của phương thứcTDCT Thư tín dụng thương mại được định nghĩa như sau: Thư tín dụngthương mại (L/C): là một chứng thư (điện hoặc chứng chỉ), trong đó ngân hàngphát hành L/C sẽ cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình đượccác chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản quy định trong LC

Thư tín dụng được hình thành trên cơ sở của hợp đồng cơ sở, nhưngsau khi được phát hành, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng cơ sở Đây làtính chất quan trọng của L/C Tính chất của L/C được quy định rất chặt chẽtrong điều 4 UCP 600 (2008) ICC “Về bản chất L/C là một giao dịch riêngbiệt với các hợp đồng mua bán hoặc các hợp đồng khác mà các hợp đồng này

có thể làm cơ sở của L/C Các ngân hàng không liên quan đến hoặc bị ràngbuộc bởi các hợp đồng như thế, thậm chí ngay cả trong L/C có bất cứ sự dẫnchiếu nào đến các hợp đồng như thế”

1.1.2 Ý nghĩa của phương thức thanh toán TDCT

Đối với nhà xuất khẩu

Là người hưởng lợi của thư tín dụng, nhà xuất khẩu được đảm bảo rằng

Trang 5

khi xuất trình bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của thưtín dụng (L/C) cho ngân hàng, nhà xuất khẩu sẽ nhận được tiền thanh toán

Tình trạng tài chính của người mua được thay thế bằng việc ngân hàng

mở thư tín dụng cam kết trả tiền, chấp nhận hoặc chiết khấu trên cơ sở chứng

từ được trao phù hợp với các điều khoản của L/C

Đối với nhà nhập khẩu

Trước hết, nhà nhập khẩu sẽ nhận được hàng hoá như thể hiện trong cácchứng từ được ngân hàng mở L/C ghi rõ trong thư tín dụng Anh ta cũng đượcbảo đảm rằng tài khoản của mình sẽ chỉ bị ghi nợ số tiền của thư tín dụng khitất cả các chỉ thị của thư tín dụng được thực hiện đúng

Trong trường hợp ngân hàng áp dụng mức miễn ký quỹ 100% hoặc một

tỷ lệ miễn ký quỹ nhất định nào đó, nhà nhập khẩu sẽ không bị đọng vốn vìkhông phải ứng trước tiền Hơn nữa, nhờ có sự bảo đảm về thanh toán, nhànhập khẩu có thể tiến hành thương lượng các điều kiện tốt hơn về hàng hóanhư giá cả, chất lượng và trên hết là có thêm cơ hội để nhập được hàng hoá

mà mình cần

Đối với NHTM

Có thể nói, thanh toán theo phương thức TDCT là một loại hình dịch

vụ không thể thiếu của ngân hàng phục vụ cho người nhập khẩu nên khi hoạtđộng thanh toán đạt hiệu quả cao sẽ đem lại nguồn thu lớn cho ngân hàng vớimột mức rủi ro tương đối thấp

Khi tiến hành nghiệp vụ thanh toán L/C, ngân hàng có được một nguồnthu ổn định từ việc thu phí như phí mở, sửa đổi, điều chỉnh L/C, phí thôngbáo, thanh toán, xác nhận L/C (các khoản phí trong nghiệp vụ thanh toán L/Cnói chung khá cao, cao hơn so với những phương thức thanh toán khác vìnghiệp vụ này tương đối phức tạp, đòi hỏi trình độ nghiệp vụ cao) Ngoài rakhi quy định các khoản ký quỹ cho doanh nghiệp mở L/C, ngân hàng còn huyđộng thêm được một lượng vốn đáng kể phục vụ cho hoạt động của các

Trang 6

nghiệp vụ khác như cho vay xuất nhập khẩu, xác nhận, bảo lãnh Hơn nữa,với việc thực hiện tốt nghiệp vụ thanh toán L/C sẽ góp phần nâng cao uy tíncủa ngân hàng trên nhiều phương diện khác nhau không chỉ ở trong nước màngay cả trên trường quốc tế

1.1.3 Quy trình của phương thức thanh toán TDCT

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ phương thức thanh toán TDCT

(2) (5) (8) (8) (7) (6) (1) (8) (5) (3)

(1) Gửi đơn yêu cầu phát hành thư tín dụng và tiến hành ký quỹ

(2) Phát hành L/C qua ngân hàng đại lý cho người xuất khẩu hưởng lợi

(3) NH thông báo tiến hành thông báo L/C và chuyển bản gốc L/C cho Ngườihưởng lợi

(4) Giao hàng

(5) Xuất trình chứng từ đòi tiền ngân hàng phát hành L/C

(6) ngân hàng phát hành thông báo kết quả kiểm tra chứng từ cho Người yêucầu

(7) Người yêu cầu chấp nhận hay từ chối thanh toán

(8) ngân hàng phát hành thông báo chấp nhận hay từ chối nhận chứng từ Nếunhận thì tiến hành thanh toán

1.2 KHÁI NIỆM RỦI RO TRONG TTQT

Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro được xem như một yếu tố khôngthể tách rời với quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Rủi ro vừa

Trang 7

là nguyên nhân, vừa là hậu quả của những hoạt động kinh tế kém hiệu quả.

Nó là nhân tố trong quá trình đào thải các doanh nghiệp hoạt động yếu kémđồng thời thúc đẩy sự chấn chỉnh thích nghi cuả các doanh nghiệp

Rủi ro trong TTQT có thể hiểu như sau: Rủi ro trong hoạt động TTQT của NHTM là vấn đề xảy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh chung của NHTM Rủi ro trong TTQT xảy ra khi quyền lợi của các bên tham gia bị vi phạm, không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc chứng từ không được thanh toán, mà đó còn là rủi ro về sự chậm trễ trong cáckhâu của quá trình thanh toán, về tỷ giá biến động, về thay đổi môi trường chính trị hoặc về đạo đức kinh doanh

1.3 PHÂN LOẠI RỦI RO TRONG THANH TOÁN TDCT

Rủi ro trong thanh toán L/C xảy ra khi quyền lợi của các bên tham gia

bị vi phạm Trong trường hợp này, rủi ro không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp

là việc chứng từ không được thanh toán mà còn được hiểu là bất kỳ sự khúcmắc, chậm trễ nào trong các khâu của quá trình thanh toán Rủi ro trong thanhtoán L/C có rất nhiều loại, tùy từng phương diện và căn cứ mà rủi ro lại cónhững tên gọi và đặc điểm khác nhau Sau đây là hai căn cứ được sử dụngphổ biến nhất để phân loại rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theophương thức tín dụng chứng từ

1.3.1 Căn cứ vào đối tượng bị thiệt hại

Rủi ro đối với người nhập khẩu

Người nhập khẩu nhận được hàng hoá không đúng số lượng, chấtlượng với quy định của hợp đồng Do ngân hàng chỉ phải kiểm tra tính chânthực “bề ngoài” của bộ chứng từ, mà không chịu trách nhiệm về tính chất “bêntrong” của bộ chứng từ, tức là không chịu trách nhiệm với hàng hóa thựcgiao Rủi ro này xảy ra khi người xuất khẩu chủ tâm gian lận có thể xuất trình

bộ chứng từ giả mạo (có bề ngoài phù hợp với L/C) cho ngân hàng được chỉđịnh thanh toán

Trang 8

Người nhập khẩu chưa nhận được bộ chứng từ để làm thủ tục nhậnhàng mặc dù hàng đã cập cảng khiến người nhập khẩu phải chịu chi phí lưukho, lưu bãi Trường hợp muốn nhận hàng hóa ngay, người nhập khẩu sẽ đềnghị ngân hàng phát hành một thư bảo lãnh gửi hãng tàu để nhận hàng và phảichịu rủi ro chấp nhận thanh toán với mọi sai sót của bộ chứng từ.

Người xuất khẩu không gửi hàng nhưng vẫn lập bộ chứng từ giả xuấttrình đòi tiền NHPH Loại rủi ro này tuy không chiếm tỷ lệ lớn song vẫn tồn tại

Rủi ro đối với người xuất khẩu

Người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C dẫnđến mọi thanh khoản thanh toán/chấp nhận có thể bị từ chối Trong trườnghợp này người xuất khẩu phải tự xử lý hàng như dỡ hàng, lưu kho, bán đấugiá hay chở hàng quay về nước và chịu các loại chi phí như phí lưu tàu quáhạn, phí lưu kho và mua bảo hiểm cho hàng hoá, trong khi không biết ngườinhập khẩu có đồng ý nhận hàng hay không

Rủi ro do nhà nhập khẩu lừa đảo, cấu kết với những cá nhân hay tổchức phi ngân hàng lập nên những bộ chứng từ giả để lừa đảo hòng chiếmđoạt hàng mà không phải trả tiền Mặc dù rủi ro này không dễ dàng thực hiệnnhưng trên thực tế không phải là không xảy ra

Rủi ro đối với Ngân hàng thương mại

- Rủi ro đối với Ngân hàng phát hành

Thứ nhất, rủi ro có thể xảy ra trong việc kiểm tra bộ chứng từ Như đã biết,thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán dựa vào chứng từ.Chứng từ không chỉ có giá trị quan trọng đối với người xuất khẩu mà còn vớingân hàng và người nhập khẩu Bộ chứng từ hoàn hảo là cơ sở ràng buộctrách nhiệm giữa người nhập khẩu với ngân hàng, giữa NHPH với người xuấtkhẩu, giữa ngân hàng thanh toán với ngân hàng hoàn trả, NHPH với ngânhàng xác nhận Với tính chất thay mặt người nhập khẩu trả tiền cho ngườixuất khẩu nên NHPH phải đánh giá chính xác về chất lượng bộ chứng từ

Trang 9

Nhưng thực tế cho thấy việc kiểm tra bộ chứng từ phù hợp với L/C là việclàm không hoàn toàn dễ, chỉ cần một sai sót rất nhỏ cũng dẫn đến rủi ro choNHPH Bởi khi chấp nhận bộ chứng từ thì NHPH sẽ thực hiện thanh toán chongười xuất khẩu, sau đó mới chuyển bộ chứng từ cho người nhập khẩu để đòitiền Tuy nhiên người xuất khẩu có thể từ chối thanh toán nếu phát hiện bộchứng từ không phù hợp với L/C

Thứ hai, rủi ro do nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản:Đây là loại rủi ro gây thiệt hại nặng nề nhất cho NHPH, do ngân hàng phảithanh toán cho bộ chứng từ hoàn hảo trong khi không thể thu hồi lại vốn từngười mua

Thứ ba, rủi ro do nhà xuất khẩu có hành vi lừa đảo, giả mạo chứng từ:NHPH mặc dù đã kiểm tra chứng từ với “sự cẩn thận hợp lý” nhưng khôngphát hiện sai sót và tiến hành thanh toán Nếu phía xuất khẩu là một tổ chức

“ma” hoặc bị phá sản, trong khi nhà nhập khẩu không đủ năng lực tài chính

để bồi thường thì NHPH cuối cùng sẽ là người phải gánh chịu rủi ro đó

Thứ tư, rủi ro do nhà nhập khẩu không nhận hàng: Khi tỷ giá biến độngtheo hướng bất lợi hoặc giá hàng trên thị trường giảm mạnh, nhà nhập khẩukhông muốn nhận hàng vì sợ thua lỗ nên không tiến hành thanh toán Trongtrường hợp này, nếu tỷ lệ ký quỹ L/C không bù đắp được tỷ lệ trượt giá củanội tệ thì rủi ro này sẽ do NHPH gánh chịu

- Rủi ro đối với NHTB:

Về mặt nguyên tắc, NHTB chỉ chịu trách nhiệm có sự quan tâm hợp lý đểđảm bảo tính chân thực của L/C mình thông báo mà không chịu trách nhiệmthanh toán Tuy nhiên, nếu không hoàn thành tốt trách nhiệm và để xảy ra saisót thì NHTB cũng phải gánh chịu rủi ro như không nhận được phí dịch vụ,thậm chí nghiêm trọng hơn là bị khởi kiện và đòi bồi thường thiệt hại

- Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận:

Thứ nhất, rủi ro do NHPH không có khả năng thanh toán: NHXN phải

Trang 10

thanh toán cho bộ chứng từ hoàn hảo bất luận có truy đòi được từ NHPH haykhông Như vậy, NHXN phải chịu rủi ro tín dụng đối với NHPH cũng như rủi

ro chính trị và rủi ro ngoại hối của nước NHPH

Thứ hai, rủi ro trong khâu kiểm tra chứng từ: Trường hợp NHXNkhông phát hiện sai sót của bộ chứng từ và tiến hành thanh toán thì không thểtruy đòi lại từ NHPH

- Rủi ro đối với NHCK chứng từ:

Các rủi ro mà NHCK có thể gặp phải là: Rủi ro do những nguyên nhânbất khả kháng; rủi ro do nhà nhập khẩu trì hoãn thanh toán; rủi ro trong quátrình vận chuyển; rủi ro do nhà nhập khẩu từ chối thanh toán bộ chứng từ; rủi

ro do ngân hàng mở bị phá sản; rủi ro do ngân hàng chiết khấu không hànhđộng đúng theo quy định của UCP600

Theo UCP600, NHPH được miễn trách nhiệm thanh toán trong trườnghợp bộ chứng từ có lỗi nên nếu NHCK chiết khấu miễn truy đòi cho bộ chứng

từ sai sót thì sẽ phải một mình gánh chịu rủi ro này,…

1.3.2 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro

Rủi ro tín dụng:

Là loại rủi ro về mất khả năng thanh toán của một trong các bên tham giaphương thức tín dụng chứng từ

Rủi ro từ phía nhà nhập khẩu: Bản chất của L/C là cam kết trả tiền

chắc chắn của NHPH khi người hưởng lợi xuất trình bộ chứng từ phù hợp.Nếu L/C được ký quỹ >= 100% thì sẽ không xảy ra rủi ro cho NHPH Songphần lớn các ngân hàng khi mở L/C đều tài trợ cho khách hàng bằng cách chovay vốn hoặc tài trợ bằng uy tín của khách hàng và chỉ yêu cầu kỹ quỹ một tỷ

lệ nhất định Nếu người nhập khẩu bị vỡ nợ hay phá sản dẫn đến mất khảnăng thanh toán hoặc vì một lý do nào đó (Hàng hóa bị giảm giá mạnh dẫnđến lỗ vốn, hàng hóa bị rủi ro trên đường vận chuyển,…) mà khách hàng cốtình không thanh toán thì sẽ gây rủi ro tín dụng cho NHPH

Trang 11

Rủi ro từ phía nhà xuất khẩu: Rủi ro này thường xảy ra đối với

NHCK Có hai loại chiết khấu là chiết khấu miễn truy đòi và chiết khấu cóbảo lưu quyền truy đòi Chiết khấu có bảo lưu quyền truy đòi là khi NHPH từchối thanh toán hay mất khả năng thanh toán thì NHCK có quyền truy đòi lạinhà xuất khẩu số tiền họ đã thanh toán và lãi phát sinh Tuy nhiên, nếu nhàxuất khẩu không còn khả năng hoàn lại số tiền đó thì NHCK đã gặp rủi ro

Rủi ro tín dụng từ phía NHPH: nếu NHPH mất khả năng thanh toán

vì một lý do nào đó hoặc phải đóng cửa hoặc vỡ nợ thì cũng dẫn tới rủi ro chongười xuất khẩu và NHCK Điều này phụ thuộc nhiều vào mức độ tín nhiệmcủa NHPH¸tuy rất hiếm xảy ra nhưng cũng đã có những NHTM bị sụp đổ Vìvậy, để tránh xảy ra tình huống như trên, tốt nhất nhà xuất khẩu nên yêu cầunhà nhập khẩu chọn những NHTM lớn, có uy tín để phát hành L/C

cả trong quá trình vận chuyển, bảo quản và tiêu thụ Thậm chí hàng hóa còn cóthể bị mất do đắm tầu, máy bay bị cháy, khủng bố, cướp biển, Điều này sẽgây thiệt hại cho các bên liên quan là người nhập khẩu, người xuất khẩu vàngân hàng Do đó, các bên tham gia cần phải tính toán, dự đoán trước nhữngrủi ro để có biện pháp rào chắn hợp lý như mua bảo hiểm với những loại hìnhbảo hiểm phù hợp Ngoài ra về phía ngân hàng là người tài trợ cho người nhậpkhẩu nên cũng cần quan tâm đúng mức đến mặt an toàn của hàng hóa

Rủi ro ngoại hối:

Rủi ro ngoại hối là khả năng xảy ra những tổn thất mà các bên tham gia giaodịch phải gánh chịu khi tỷ giá thay đổi vượt dự tính

Trang 12

Nếu ngoại tệ lên giá thì bất lợi cho nhà nhập khẩu và có lợi cho nhàxuất khẩu và ngược lại Sự biến động của tỷ giá phụ thuộc vào nhiều yếu tốnhư: Chính sách tỷ giá, tốc độ lạm phát, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối,cung cầu ngoại hối,… của từng quốc gia

Đối với NH, trường hợp thường xảy ra nhất đối với loại rủi ro này làtrạng thái ngoại hối về đồng tiền thanh toán khác 0 Nếu trạng thái ngoại tệ

âm (tức là ngân hàng đã ứng trước để bán cho khách hàng - vay từ nguồnkhác để bán hay bán khống) thì ngân hàng phải đối mặt với rủi ro đồng tiềnthanh toán lên giá Nếu trạng thái ngoại tệ dương thì ngân hàng phải đối mặtvới rủi ro đồng tiền thanh toán giảm giá so với đồng bản tệ

Rủi ro quốc gia:

Rủi ro quốc gia là những rủi ro về kinh tế, chính trị, chính sách của một quốcgia khiến cho các bên tham gia quá trình mua bán không thể thực hiện đượcnghĩa vụ và quyền lợi của mình Vì thế, việc phân tích rủi ro quốc gia trởthành một bộ phận không thể thiếu trong thương mại quốc tế Nguyên nhânchính dẫn đến rủi ro quốc gia chính là những biến động về kinh tế, chính trịcủa quốc gia đó Cụ thể như sau:

- Chính sách thương mại và các quy định khác về hoạt động xuất nhập khẩunhư hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu, xuất khẩu đối với một số mặt hàng

sẽ rất dễ gây thiệt hại cho các bên tham gia

- Chính sách quản lý ngoại hối của nước nhập khẩu: đó là việc quản lýngoại hối, cấp giấy phép sử dụng và chuyển ngoại tệ ra nước ngoài Trongtrường hợp chính phủ của nước nhập khẩu đột ngột áp dụng các biện phápthắt chặt ngoại hối hoặc cấm vận trong thanh toán thì gây rủi ro cho nhàxuất khẩu và ngân hàng

- Suy thoái kinh tế nghĩa là sức mua của người tiêu dùng giảm, điều này ảnhhưởng đến doanh thu tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp (gồm cả doanhnghiệp xuất nhập khẩu) Những doanh nghiệp này khó có thể tiêu thụ được

Trang 13

hàng hóa nhập khẩu.

- Tỷ lệ nợ nước ngoài quá lớn so với GDP, tăng trưởng vượt quá tiềm năngcủa nền kinh tế dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán của nền kinh tếtrong dài hạn Nếu nước nhập khẩu rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất,không có khả năng trả nợ và chính phủ tuyên bố vỡ nợ hoặc hoãn thanhtoán các khoản nợ nước ngoài thì sẽ đẩy các ngân hàng vào tình trạngkhông thanh toán được các khoản ngoại tệ cho nước ngoài

- Sự cấm vận về kinh tế: khi một quốc gia bị cấn vận kinh tế thì mọi hoạtđộng thương mại quốc tế bị kiểm soát gắt gao, kể cả tài khoản Nostro củanước đó tại nước ngoài cũng bị kiểm soát thậm chí bị phong tỏa nênNHPH không thể thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu

Rủi ro pháp lý:

Rủi ro pháp lý là rủi ro không tuân thủ các yêu cầu pháp lý, sự vậndụng không đồng nhất các nguồn luật điều chỉnh L/C như UCP600 và yêu cầu

về quản lý của nhà nước

TTQT bằng phương thức L/C được các ngân hàng trên thế giới thực hiệntrên cơ sở UCP, nhưng ở từng giao dịch còn bị chi phối bởi hệ thống luật quốcgia Nhìn chung luật quốc gia thông thường tôn trọng và ít khi có đối đầu vớithông lệ quốc tế Tuy nhiên trong trường hợp có khác biệt hoặc đối nghịch vớiUCP thì Luật quốc gia sẽ vượt trội lên trên tất cả và được tuân thủ Nói như vậy

là bởi theo quan điểm của ICC thì UCP không thể thay đổi được luật quốc giacho nên nếu có tranh chấp thì tốt nhất để tòa án xem xét và giải quyết

Ngoài ra, rủi ro pháp lý còn do hệ thống luật pháp không đồng bộ, thậmchí nhiều khi còn mâu thuẫn nhau trong hệ thống luật pháp của một nước

Như vậy, để giảm thiểu xảy ra rủi ro quốc gia thì trước khi ký kết hợpđồng ngoại thương, các bên cần xem xét luật của quốc gia đối tác và quy định

rõ trong hợp đồng ngoại thương khi tranh chấp xảy ra thì áp dụng theo luậtnào và thứ tự ưu tiên như thế nào

Trang 14

Rủi ro đạo đức:

Rủi ro đạo đức là rủi ro xảy ra khi một bên tham gia tín dụng chứng từ cố tìnhkhông thực hiện nghĩa vụ của mình, gây thiệt hại tới quyền lợi của các bêncòn lại Đây là loại rủi ro mà các bên tham gia tín dụng chứng từ khó có thểlường trước và kiểm soát được

Rủi ro từ phía người nhập khẩu: Nếu không phải bạn hàng lâu năm,

không có uy tín trong kinh doanh, nhà nhập khẩu thường lợi dụng những saisót nhỏ của chứng từ, lỗi không ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà nhập khẩutheo hợp đồng mua bán để trì hoãn thanh toán ép người bán giảm giá, đặc biệtkhi giá cả hàng hóa biến động theo hướng bất lợi cho nhà nhập khẩu

Rủi ro từ phía người xuất khẩu: Khi nhà xuất khẩu giao hàng không

đúng hợp đồng hoặc không giao hàng nhưng lại giả mạo chứng từ để xuấttrình đòi tiền thanh toán Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, do giá cả trên thịtrường quốc tế tăng lên, người bán không muốn giao hàng nên mặc dù L/C đãđược mở nhưng không có giá trị thanh toán Điều này sẽ gây thiệt hại chongười mua vì đã phá vỡ kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ và họ vẫn phảichịu những chi phí ngân hàng liên quan

Rủi ro từ phía người chuyên chở: Đã có trường hợp, người chuyên

chở nhận hàng từ người bán, lấy tiền cước rồi biến mất Khi đó, ngân hàngvẫn phải có trách nhiệm thanh toán cho nhà xuất khẩu, còn việc kiện hãng tàu,chủ tàu hoặc đòi bồi thường bảo hiểm hoàn toàn tách rời với L/C

Rủi ro đạo đức từ phía ngân hàng: Nhiều ngân hàng cố tình lợi dụng

những sai sót nhỏ của bộ chứng từ để trì hoãn hay từ chối thanh toán Có ngânhàng mở L/C trả chậm, khi không nhận được tiền từ người nhập khẩu thì họcũng không tiến hành thanh toán cho người xuất khẩu theo như cam kết

Rủi ro tác nghiệp:

Đây là những rủi ro về sai sót kỹ thuật nghiệp vụ do chính bản thân các bêntham gia gây nên

Trang 15

Đối với nhà xuất khẩu, đó là rủi ro không lập được bộ chứng từ hoànhảo theo quy định của L/C Phương thức tín dụng chứng từ đòi hỏi một cáchkhắt khe về sự phù hợp tuyệt đối giữa bộ chứng từ thanh toán và L/C Một sựsai khác dù nhỏ nhất cũng có thể bị người mua và NHPH bắt lỗi và từ chốithanh toán Đây là một trở ngại rất lớn với người xuất khẩu vì họ gặp nhiềukhó khăn trong việc đáp ứng những yêu cầu khắt khe đó

Đối với nhà nhập khẩu, đó là rủi ro do không nắm vững về nghiệp vụtín dụng chứng từ nên quy định các điều khoản về chứng từ xuất trình theo L/

C không chặt chẽ, khiến nhà xuất khẩu dễ dàng lập được bộ chứng từ hoànhảo mặc dù giao hàng không theo đúng quy định của hợp đồng

NH đóng vai trò quan trọng trong phương thức L/C, là người thaymặt nhà nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ và cam kết thanh toán cho nhàxuất khẩu trên cơ sở bộ chứng từ sạch Vì vậy, nếu cán bộ ngân hàngkhông tinh thông nghiệp vụ sẽ gây khó khăn và rủi ro cho cả ngân hàng vàkhách hàng Ví dụ: ngân hàng chỉ có thời gian hợp lý, tối đa không quá 05ngày làm việc kể từ sau ngày nhận được chứng từ để kiểm tra Quá 05 ngàylàm việc, NHPH sẽ mất quyền từ chối bộ chứng từ sai sót và phải chịu mọirủi ro liên quan đến hành vi của mình

Trang 16

Đối với NH, việc phát hành L/C là việc ngân hàng dùng uy tín củamình để tài trợ cho khách hàng, đứng ra cam kết thanh toán cho nhà xuấtkhẩu khi xuất trình phù hợp Uy tín của ngân hàng phụ thuộc vào trình độnghiệp vụ, tính chuyên nghiệp, việc thực hiện các cam kết, tình hình tài chínhcũng như lịch sử phát triển,… Nếu một ngân hàng vì lý do nào đó bị giảm uytín thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc mở L/C L/C họ mở ra sẽ bị từ chối,

bị yêu cầu xác nhận và chi phí sẽ rất tốn kém

1.4 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

1.4.1 Các biện pháp né tránh rủi ro

- Chủ động né tránh từ trước khi rủi ro xảy ra: Ví dụ: ngân hàng A chuẩn bị

mở L/C cho khách hàng B Tuy nhiên, trong quá trình thẩm định, ngânhàng đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng không được đảm bảonên ngân hàng quyết định dừng cung cấp dịch vụ

- Né tránh bằng cách loại bỏ những nguyên nhân gây ra rủi ro: ví dụ: Hợpđồng quy định nhà nhập khẩu mở 1 L/C cho nhà xuất khẩu hưởng, trong

đó bộ chứng từ yêu cầu xuất trình có vận tải đơn theo lệnh nhà nhập khẩu.Đây chính là nguyên nhân gây rủi ro cho NHPH do nhà nhập khẩu khôngcần hoàn thành nghĩa vụ thanh toán với ngân hàng vẫn có thể nhận hàng

Để ngăn ngừa rủi ro này, NHPH phải yêu cầu vận tải đơn theo lệnh (Toorder of) của NHPH

Trang 17

1.4.2 Các biện pháp ngăn ngừa rủi ro

Ngăn ngừa rủi ro là sử dụng các biện pháp để giảm thiểu số lần xuấthiện rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại Nhóm biện phápngăn ngừa tổn thất bao gồm:

- Các biện pháp tập trung tác động vào chính mối nguy để ngăn ngừa tổnthất Chẳng hạn trước khi ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài, để hạnchế thiệt hại, doanh nghiệp có thể chủ động thuê tư vấn luật, nhờ cácchuyên gia giỏi nghiệp vụ ngoại thương thương thảo hợp đồng

- Các biện pháp tập trung tác động vào môi trường rủi ro: Môi trường rủi ro

ở đây có thể là môi trường văn hoá, chính trị, luật pháp,… Rủi ro sẽ xảy ranếu nhân viên của doanh nghiệp không có những hiểu biết cần thiết về môitrường văn hoá, chính trị,… của nước đối tác, dẫn đến hành xử khôngđúng và gặp rủi ro Biện pháp phòng ngừa: Đào tạo, huấn luyện, nâng caotrình độ cho cán bộ, đặc biệt là kiến thức về văn hoá, luật pháp và cáchứng xử

- Các biện pháp tập trung vào sự tương tác giữa nguy cơ và môi trường rủi

ro Ví dụ: Khi ngân hàng ban hành các quy trình, quy chế mới điều chỉnhphương thức tín dụng chứng từ cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn nhưngkhông phải CN, cán bộ nào cũng có thể thích ứng ngay Cách phòng ngừa

là phải thường xuyên theo dõi, cập nhật đầy đủ, kịp thời các thông tin,chính sách, quy trình, quy chế của NH

1.4.3 Các biện pháp giảm thiểu rủi ro

Đây là các biện pháp để giảm thiểu những tổn thất, thiệt hại, mất mát

do rủi ro mang lại, bao gồm:

- Cứu vớt những tài sản còn sử dụng được

- Chuyển nợ Ví dụ: Sau khi thanh toán cho người hưởng lợi theo phươngthức tín dụng chứng từ, NHPH sẽ đòi tiền thanh toán từ người yêu cầu mởL/C

Trang 18

- Xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro

1.4.4 Các biện pháp dự phòng

Trong hoạt động kinh doanh, ngân hàng và doanh nghiệp có thể đưa rarất nhiều biện pháp dự phòng, hạn chế rủi ro ví dụ: Khi nhập khẩu hàng hoá trịgiá lớn, hàng “nhạy cảm” như phân bón, xăng dầu, sắt thép,… người bánthường yêu cầu người mua mở L/C tuần hoàn hoặc L/C cho phép đòi tiền bằngđiện Khi đó, độ rủi ro trong thanh toán là rất cao Vì vậy, nhà nhập khẩu sẽyêu cầu người bán cung cấp một bảo lãnh thực hiện hợp đồng hay thư tín dụng

dự phòng hoặc không chấp nhận mở L/C tuần hoàn hay đòi tiền bằng điện

Trang 19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG

QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT

2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT

2.1.1 Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng TMCP Quân Đội

Ngân hàng TMCP Quân Đội (MB) Trụ sở chính tọa lạc tại số 3 LiễuGiai, Ba Đình, Hà Nội, trải qua 13 năm hoạt động, MB luôn khẳng định vị trídẫn đầu trên thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam

Giữ vững phương châm hoạt động “VỮNG VÀNG – TIN CẬY”, bêncạnh việc gắn bó với khối khách hàng truyền thống, MB không ngừng mởrộng cung cấp các sản phẩm dịch vụ đến mọi đối tượng khách hàng thuộcnhiều thành phần kinh tế và góp sức vào nhiều công trình lớn của đất nướcnhư Nhà máy Thuỷ điện Hàm Thuận-Đa mi, cảng Hàng không Nội Bài, TânSơn Nhất

Tính đến ngày cuối năm 2006, vốn điều lệ của MB đã đạt 1.045 tỷ đồng,tăng hơn 50 lần so với ngày đầu thành lập, trong đó có hơn 4.000 cổ đôngpháp nhân và thể nhân, thể hiện sự đa dạng hoá trong sở hữu của MB Huyđộng vốn tính đến ngày 31/12/2006 đạt 11.200 tỷ đồng, trong đó vốn huyđộng từ dân cư ngày càng tăng, chiếm 50% tỷ lệ nguồn vốn huy động, vượt

kế hoạch của cả năm là 20% Lợi nhuận trước thuế đạt 252 tỷ đồng, vượt 25%

kế hoạch Tổng tài sản đạt 13.864 tỷ đồng, tăng 69% so với năm 2005, dư nợđạt xấp xỉ 6.200 tỷ đồng Tỷ lệ lợi tức trên vốn cổ phần của MB luôn dẫn đầutrong khối các ngân hàng TMCP Đặc biệt, tỷ lệ chia cổ tức cho cổ đông năm

2006 là 60% trong đó 42% được chia bằng cổ phiếu và 18% được chia bằngtiền mặt

Hiệu quả hoạt động của MB luôn được các cơ quan quản lý, đối tác cũng

Trang 20

như khách hàng đánh giá cao Liên tục được Ngân hàng Nhà nước xếp hạng

A và trao tặng nhiều bằng khen cho những thành tích xuất sắc; nhiều năm liềnnhận được các giải thưởng thanh toán quốc tế do các ngân hàng uy tín quốc tếtrao tặng như HSBC, Standard Chatered Bank, UBOC; được người tiêu dùngbình chọn là Thương hiệu mạnh liên tục trong hai năm liền 2005 và 2006; đạtcúp vàng Top ten thương hiệu Việt, ngành hàng: Ngân hàng – tài chính năm2006; …và nhiều giải thưởng có uy tín, giá trị khác

Các sản phẩm dịch vụ của MB không ngừng được đa dạng hoá theohướng hoàn thiện và phát huy dịch vụ truyền thống kết hợp với phát triển cácdịch vụ hiện đại như, hệ thống thanh toán qua thẻ, Mobile Banking, InternetBanking Dịch vụ của MB liên tục được cải thiện, mang lại cho khách hàngkhông những hiệu quả cao về tài chính mà còn cả sự yên tâm tuyệt đối

Song song với việc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, MB đặc biệtchú trọng mở rộng mạng lưới kênh phân phối tại các khu vực kinh tế trọngđiểm của cả nước Hiện nay, MB đang có 40 điểm giao dịch trên khắp đấtnước, đặt quan hệ đại lý với gần 600 ngân hàng trên thế giới để hợp tác cungcấp các dịch vụ ngân hàng toàn cầu Dự kiến, đến cuối năm 2008, mạng lướichi nhánh của MB sẽ tăng lên con số 65

Nhận thức được chất lượng đội ngũ nhân viên chính là sức mạnh củaNgân hàng, hàng năm, hàng ngàn lượt cán bộ, nhân viên chủ chốt của MB đãđược cử đi đào tạo trong và ngoài nước Trong vòng từ năm 2005 đến đầunăm 2008, gần 600 cán bộ, nhân viên đã được MB tuyển dụng vào làm việctại Ngân hàng Bởi vậy, hiện nay hơn 1.000 cán bộ, nhân viên đang cống hiến

và làm việc tại Ngân hàng với những chính sách, chế độ đãi ngộ thoả đáng

Dự kiến đến cuối năm 2008, con số này sẽ tăng lên 50-60%

Cùng với số lượng nhân viên trẻ, dồi dào và có chuyên môn hoá cao,

MB đang phát triển trở thành ngân hàng đa năng với việc thành lập các công

ty chứng khoán Thăng Long, Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, Công

Trang 21

ty Quản lý quỹ đầu tư Hà nội, tham gia góp vốn đầu tư các công ty trựcthuộc đã hoạt động hiệu quả, có lợi nhuận và tạo lập được uy tín trên thịtrường Công tác quản trị rủi ro được đặt lên hàng đầu nhằm đưa ra các giảipháp tổng thể để giảm thiểu rủi ro không chỉ cho Ngân hàng mà cho cảkhách hàng MB luôn đảm bảo tỷ lệ an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế và tỷ lệ

nợ xấu ở mức hợp lý

Kế thừa bản lĩnh và đạo đức của người lính, mỗi nhân viên thuộc đại giađình Ngân hàng Quân Đội đang quyết tâm và đồng lòng hướng tới mục tiêuphát triển ngân hàng trở thành một trong những ngân hàng TMCP hàng đầutại Việt Nam, trở thành một đối tác tin cậy, an toàn và trung thực, đem lại lợiích tối đa cho khách hàng thông qua việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng tiệních và ưu việt, cung cấp các sản phẩm đa dạng, luôn cải tiến phù hợp theo xuthế thị trường và yêu cầu ngày càng cao của khách hàng

2.1.2 Khái quát về Ngân hàng TMCP Quân Đội – chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Tên CN Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Tên đơn vị quản lý HO

Tỉnh thành Hà Nội

Quận huyện Quận Cầu Giấy

Liên hệ Số 126 - Hoàng Quốc Việt - Cầu Giấy - Hà Nội

Trang 22

Hoạt động TTQT được coi là một trong những hoạt động hiệu quả củaMB-Hoàng Quốc Việt và doanh thu phí từ hoạt động TTQT đóng góp mộtphần đáng kể vào thu nhập của ngân hàng.

Biểu đồ 2.1 : Doanh thu TTQT trong tổng doang thu của MB

-Hoàng Quốc Việt

Doanh thu TTQT trong tổng doanh thu của MB-Long

Doanh thu TTQT Tổng doanh thu

Nguồn: MB-Hoàng Quốc ViệtDoanh thu phí từ hoạt động TTQT tăng trưởng đều qua các năm, chiếm

tỷ lệ tương đối trong tổng doanh thu của ngân hàng

Và từ 2009 đến nay, doanh thu từ phí TTQT tăng khá mạnh qua các

2008 2009 2010 2011

Trang 23

năm Năm 2010 đạt 5462 triệu đồng, tăng 1.77 lần so với năm 2009 Năm

2011, doanh thu từ phí TTQT đạt 7907 triệu đồng, bằng 1.45 lần doanh thu củanăm 2010 Rõ ràng, doanh thu từ phí TTQT ngày càng gia tăng với tốc độ lớn.Cũng như các NHTM khác, MB-Hoàng Quốc Việt có 3 phương thứcTTQT được áp dụng phổ biến, đó là: Phương thức tín dụng chứng từ,nhờ thu và chuyển tiền

Bảng 2.1: Tỷ trọng các phương thức TTQT tại MB-Hoàng Quốc Việt

Tín dụng chứng từ Nhờ thu Chuyển tiền

2.2.2 Thực trạng hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ

Như đã phân tích ở chương I, phương thức tín dụng chứng từ có ưuđiểm là đảm bảo tính an toàn và tương đối bình đẳng cho người nhập khẩu vàxuất khẩu nên được áp dụng rất phổ biến, đặc biệt là ở các quốc gia châu Á,trong đó có Việt Nam Điều này cũng phản ánh rõ nét trong cơ cấu sản phẩmthanh toán quốc tế của MB-Hoàng Quốc Việt với trung bình tỷ trọng giá trịthanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ qua các năm chiếm tới hơn70% trong tổng giá trị thanh toán xuất nhập khẩu

Trang 24

Thanh toán hàng hóa nhập khẩu theo L/C

Việt Nam là nước nhập siêu trong nhiều năm liền nên số lượng các giaodịch thanh toán quốc tế cho việc nhập khẩu luôn chiếm tỷ trọng cao.Và cácgiao dịch thanh toán quốc tế tại MB-Hoàng Quốc Việt cũng không nằm ngoài

xu hướng này, đặc biệt là thanh toán qua L/C

Từ khi hoạt động thanh toán quốc tế của MB-Hoàng Quốc Việt đi vàohoạt động năm 1996 thì lượng L/C nhập khẩu luôn chiếm tỷ trọng lớn, luônluôn chiếm trên 55% doanh số thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thứctín dụng chứng từ và doanh thu từ hoạt động thư tín dụng nhập khẩu luônchiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng doanh thu phí từ hoạt động thanh toánquốc tế

Bảng 2.2: Tỷ trọng L/C xuất khẩu và nhập khẩu tại MB –Hoàng Quốc Việt

Đơn vị tính: triệu đồng

Năm

Tổng KL thanh toán L/

C

L/C nhập

L/C xuất khẩu

Trang 25

doanh nghiệp thuộc Bộ quốc phòng là khách hàng truyền thống của Hoàng Quốc Việt Bên cạnh đó, việc gia tăng đó cũng phần nào do bối cảnhkinh tế trong nước và thế giới năm 2010 Sự phục hồi của kinh tế thế giới saukhủng hoảng đã có những tác động tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ViệtNam đạt 5.32% năm 2010 Hơn nữa, giá cả thế giới tăng đặc biệt là giá xăngdầu đã khiến giá nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam tăng lên đáng kể Vìnhững lý do trên mà doanh số thanh toán hàng hóa nhập khẩu tăng lên đáng

MB-kể ở tất cả các NHTM trong đó có MB-Hoàng Quốc Việt

Năm 2011 doanh số thanh toán hàng nhập khẩu theo L/C tại MB tiếptục tăng, tuy nhiên không có biến động lớn

Nhìn chung, sự gia tăng liên tục của doanh số thanh toán hàng hóa nhập khẩutheo tín dụng chứng từ của một chi nhánh ngân hàng TMCP như MB-HoàngQuốc Việt cũng là một thành tích đáng nể Đóng góp vào thành công nàychính là sự tin tưởng, đồng thuận của khách hàng vào dịch vụ TTQT của MB-Hoàng Quốc Việt

Thanh toán hàng hóa xuất khẩu theo L/C

Theo số liệu bảng 2 tỷ trọng của L/C xuất khẩu tuy vẫn thấp nhưng đãtăng lên một mức đáng kể Đặc biệt, năm 2009, trị giá L/C xuất khẩu chỉ đạt

747 triệu đồng, chiếm 31% tổng giá trị thanh toán theo L/C thì con số này đãtăng thành 1581 triệu đồng, chiếm 25% tổng giá trị thanh toán xuất nhậpkhẩutheo L/C vào cuối năm 2011 Cơ cấu xuất khẩu qua các năm chủ yếu làcác mặt hàng gia công may mặc,… Các khách hàng xuất trình bộ chứng từxuất khẩu qua MB-Hoàng Quốc Việt chủ yếu là khách hàng tại các Chi nhánhkhu mục Hoàng Quốc Việt, May 10,…

Trang 26

Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng doanh thu L/C xuất khẩu và nhập khẩu trong tổng

doanh thu thanh toán L/C:

Tỷ trọng doanh thu L/C xuất khẩu và nhập khẩu trong tổng doanh thu

Nguồn: MB-Hoàng Quốc Việt.Qua đồ thị 3 ở trên thấy rằng lượng L/C xuất khẩu tại MB luôn chiếm tỷtrọng nhỏ, luôn luôn dưới 45% doanh số thanh toán xuất nhập khẩu theophương thức tín dụng chứng từ, gây mất cân đối về cơ cấu L/C xuất khẩu và L/

C nhập khẩu Tình trạng mất cân đối này một mặt do nguyên nhân khách quan

là tình trạng nhập siêu của các doanh nghiệp Việt Nam, mặt khác cũng donguyên nhân chủ quan từ phía MB-Hoàng Quốc Việt chưa chủ động tìm nguồnkhách hàng Sự mất cân đối này có thể dẫn đến tình trạng mất cân đối ngoại tệ

và ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế Mặc dù trong những năm qua,MB-Hoàng Quốc Việt đã có những cố gắng trong việc làm giảm tỷ lệ mất cânđối này song vẫn cần phải nỗ lực hơn nữa để thúc đẩy L/C xuất khẩu phát triển

2008 2009 2010 2011

Trang 27

2.2.3 Thực trạng rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại MB-Hoàng Quốc Việt

Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán có nhiều ưu điểm, antoàn hơn so với các phương thức thanh toán khác, song không có nghĩa làphương pháp này không có rủi ro Với phương thức chuyển tiền hay nhờthu, vai trò của ngân hàng chỉ là trung gian thanh toán hộ còn rủi ro chủ yếu

do người mua và người bán gánh chịu Còn theo phương thức tín dụngchứng từ thì ngân hàng, kể cả NHPH và NHTB, được coi là chủ thể của hợpđồng, nên nếu rủi ro xảy ra thì ngân hàng cũng sẽ là người chịu thiệt hại Rủi

ro trong trong thanh toán tín dụng chứng từ có thể xảy ra với tất cả các ngânhàng tham gia nhất là đối với NHPH L/C, và dù lỗi là từ phía ngân hàng hay

từ khách hàng thì nó sẽ làm xấu đi tình hình tài chính của ngân hàng và ảnhhưởng đến uy tín và thương hiệu ngân hàng

Theo kết quả điều tra, những rủi ro xảy ra tại MB Hoàng Quốc Việt vừaqua có thể xếp vào những loại rủi ro chính, đó là rủi ro đạo đức, rủi ro tácnghiệp, rủi ro hối đoái và rủi ro quốc gia

Rủi ro đạo đức.

Rủi ro đạo đức xảy ra do các nhà xuất nhập khẩu đã vi phạm các camkết với NH, không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đã quy định trong LC.Rủi ro này xảy ra đối với LC trả chậm, nhà nhập khẩu sau khi nhận hàng thìkinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán hoặc đang trong vòng tố tụngnên đến hạn không thể thanh toán cho MB Hoàng Quốc Việt Trong trườnghợp này, MB Hoàng Quốc Việt vẫn phải đứng ra trả tiền thay cho nhà nhậpkhẩu theo như quy định trong LC

Rủi ro tác nghiệp.

Thứ nhất, rủi ro tác nghiệp xảy ra do các nhà xuất khẩu lập những bộchứng từ không hoàn hảo Trong thời gian qua, MB Hoàng Quốc Việt đã gặpphải trường hợp nhận được bộ chứng từ thanh toán theo LC số 00125/14/6543

Trang 28

trong đó có sự mâu thuẫn giữa các chứng từ như mô tả hàng hoá trong hoáđơn và giấy chứng nhận đóng gói không thống nhất với nhau, giấy chứngnhận đóng gói chỉ ghi trọng lượng, số lượng, mã hàng và số hoá đơn thươngmại tương ứng mà không mô tả hàng hoá MB Hoàng Quốc Việt gửi chứng từđến nhà nhập khẩu và họ đã phát hiện ra sai sót Nhờ đó mà NH đã từ chốithanh toán, tránh được rủi ro.

Thứ hai, rủi ro tác nghiệp tại MB Hoàng Quốc Việt còn xảy ra trongquá trình xử lý nghiệp vụ của các thanh toán viên Đó là trường hợp thanhtoán viên kiểm tra chứng từ không phát hiện hết lỗi hoặc không thực hiệnđúng theo quy định của UCP 600 Như trong LC 00164/43/9872 ngày17/05/2011 của công ty liên doanh TNHH Ngọc Sơn xuất khẩu lô áo khoáccho công ty AVS của Mỹ, MB Hoàng Quốc Việt đóng vai trò là NH thôngbáo Khi công ty Ngọc Sơn gửi bộ chứng từ thanh toán cho MB Hoàng QuốcViệt và yêu cầu thanh toán, MB Hoàng Quốc Việt đã kiểm tra bộ chứng từnhưng không phát hiện ra sai sót, và đã gửi thẳng ra nước ngoài yêu cầu NHphát hành thanh toán Sau đó, NH phát hành đã từ chối thanh toán bộ chứng

từ với lý do bộ chứng từ thanh toán thiếu vận đơn gốc và bản danh mục đónggói hàng chi tiết như đã quy định trong LC Điều này đã ảnh hưởng đến uy tíncủa MB Hoàng Quốc Việt đối với NH nước ngoài

Rủi ro hối đoái.

- Do khách hàng không lường trước được sự tăng giá của đồng tiềnthanh toán, nên dẫn đến mất khả năng thanh toán, và trở thành nợ khó đòi đốivới NH, nhất là đối với LC có mức ký quỹ thấp hoặc được miễn ký quỹ

Điển hình là trường hợp MB Hoàng Quốc Việt mở LC số0136/52/4736 ngày 12/6/2011 theo yêu cầu của công ty CP thép và vật tưĐông Thành cam kết trả tiền cho công ty Steel of China để thực hiện hợpđồng mua 50.000 tấn thép cuộn của công ty trên, đồng tiền thanh toán làUSD Công ty CP thép vật tư Đông Thành vốn là khách hàng quen thuộc và

Ngày đăng: 11/11/2014, 22:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ phương thức thanh toán TDCT - giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng thương mại cổ phần quân đội chi nhánh hoàng quốc việt
Sơ đồ 1.1 Quy trình nghiệp vụ phương thức thanh toán TDCT (Trang 6)
Bảng 2.1: Tỷ trọng các phương thức TTQT tại MB-Hoàng Quốc Việt (2008-2011) - giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng thương mại cổ phần quân đội chi nhánh hoàng quốc việt
Bảng 2.1 Tỷ trọng các phương thức TTQT tại MB-Hoàng Quốc Việt (2008-2011) (Trang 23)
Bảng 2.2: Tỷ trọng L/C xuất khẩu và nhập khẩu tại MB –Hoàng Quốc Việt                     Đơn vị tính: triệu đồng - giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng thương mại cổ phần quân đội chi nhánh hoàng quốc việt
Bảng 2.2 Tỷ trọng L/C xuất khẩu và nhập khẩu tại MB –Hoàng Quốc Việt Đơn vị tính: triệu đồng (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w